Chương 35
35

Quyền Tự Do Lương Tâm Bị Đe Dọa

Chương 35—Quyền Tự Do Lương Tâm Bị Đe Dọa

Ngày nay, những người Tin lành nhìn nhận Giáo hội La-mã với thiện cảm lớn hơn nhiều so với những năm trước. Tại những quốc gia mà Công Giáo không chiếm ưu thế, và những người theo giáo hoàng đang theo đuổi đường lối hòa giải để gây ảnh hưởng, thì sự thờ ơ ngày càng gia tăng đối với các giáo lý vốn phân biệt các hội thánh cải chánh khỏi hệ thống phẩm trật của giáo hoàng; ý kiến đang lan rộng rằng, xét cho cùng, chúng ta không khác biệt quá xa trên những điểm thiết yếu như người ta tưởng, và một chút nhượng bộ về phía chúng ta sẽ đưa chúng ta đến sự thông hiểu tốt hơn với La-mã. Đã có thời kỳ những người Tin lành xem trọng quyền tự do lương tâm đã được mua chuộc bằng giá đắt. Họ dạy con cái mình ghê tởm chế độ giáo hoàng và cho rằng tìm kiếm sự hòa hợp với La-mã là bất trung với Đức Chúa Trời. Nhưng những quan điểm được bày tỏ hiện nay khác biệt biết bao! GC 563.1

Những người bênh vực giáo hoàng tuyên bố rằng hội thánh đã bị vu khống, và thế giới Tin lành có khuynh hướng chấp nhận lời tuyên bố ấy. Nhiều người nài nỉ rằng thật bất công khi phán xét hội thánh ngày nay bằng những điều ghê tởm và phi lý đã đánh dấu triều đại của bà trong những thế kỷ ngu dốt và tăm tối. Họ bào chữa cho sự tàn ác khủng khiếp của bà như là kết quả của sự man rợ thời đại và biện hộ rằng ảnh hưởng của nền văn minh hiện đại đã thay đổi tình cảm của bà. GC 563.2

Những người này đã quên lời tuyên bố về sự không thể sai lầm mà quyền lực kiêu ngạo này đã đưa ra trong tám trăm năm chăng? Lời tuyên bố ấy chẳng những không hề bị từ bỏ, mà còn được khẳng định trong thế kỷ mười chín với sự quả quyết mãnh liệt hơn bao giờ hết. Vì La-mã khẳng định rằng “hội thánh không hề sai lầm; cũng sẽ không sai lầm, theo như Kinh Thánh” (John L. von Mosheim, Institutes of Ecclesiastical History, quyển 3, thế kỷ II, phần 2, chương 2, mục 9, chú thích 17), thì làm sao bà có thể từ bỏ những nguyên tắc đã chi phối đường lối của bà trong các thời đại đã qua? GC 564.1

Giáo hội của giáo hoàng sẽ không bao giờ từ bỏ lời tuyên bố về sự không thể sai lầm của mình. Tất cả những gì bà đã làm trong việc bắt bớ những người chối bỏ tín điều của bà, bà cho là đúng; và chẳng phải bà sẽ lặp lại những hành động ấy sao, nếu có cơ hội? Hãy để những hạn chế hiện đang được các chính quyền thế tục áp đặt được dỡ bỏ và La-mã được phục hồi quyền lực trước kia của bà, thì sẽ nhanh chóng có sự phục hồi của sự bạo ngược và bắt bớ của bà. GC 564.2

Một nhà văn nổi tiếng nói như sau về thái độ của hệ thống phẩm trật giáo hoàng đối với quyền tự do lương tâm, và về những nguy hiểm đặc biệt đe dọa Hoa Kỳ từ sự thành công trong chính sách của bà: GC 564.3

“Có nhiều người có khuynh hướng quy mọi nỗi sợ Công Giáo La-mã ở Hoa Kỳ cho sự cuồng tín hoặc trẻ con. Những người ấy không thấy điều gì trong đặc tính và thái độ của Giáo hội La-mã thù nghịch với các thể chế tự do của chúng ta, hoặc không thấy điều gì đáng ngại trong sự phát triển của nó. Vậy, trước hết chúng ta hãy so sánh một số nguyên tắc căn bản của chính phủ chúng ta với những nguyên tắc của Giáo hội Công Giáo. GC 564.4

“Hiến pháp Hoa Kỳ bảo đảm quyền tự do lương tâm. Không có gì quý hơn hay căn bản hơn. Giáo hoàng Pius IX, trong Thông điệp ngày 15 tháng 8 năm 1854, đã nói: ‘Những giáo lý phi lý và sai lầm hay những lời cuồng ngôn bênh vực quyền tự do lương tâm là một sai lầm cực kỳ độc hại—một dịch bệnh, hơn mọi dịch bệnh khác, đáng phải khiếp sợ nhất trong một quốc gia.’ Cũng chính giáo hoàng ấy, trong Thông điệp ngày 8 tháng 12 năm 1864, đã nguyền rủa ‘những kẻ khẳng định quyền tự do lương tâm và tự do thờ phượng tôn giáo,’ cũng như ‘tất cả những kẻ duy trì rằng hội thánh không được sử dụng vũ lực.’ GC 564.5

“Giọng điệu hòa bình của La-mã ở Hoa Kỳ không có nghĩa là có sự thay đổi trong lòng. Bà khoan dung nơi mà bà bất lực. Giám mục O’Connor nói: ‘Quyền tự do tôn giáo chỉ đơn thuần được chấp nhận cho đến khi điều ngược lại có thể được thực hiện mà không gây nguy hiểm cho thế giới Công Giáo.’… Tổng giám mục St. Louis có lần đã nói: ‘Tà giáo và vô tín là tội ác; và tại các quốc gia Cơ-đốc, như ở Ý và Tây Ban Nha chẳng hạn, nơi mà toàn dân đều là người Công Giáo, và nơi mà tôn giáo Công Giáo là một phần thiết yếu của luật pháp đất nước, chúng bị trừng phạt như những tội ác khác.’… GC 565.1

“Mỗi hồng y, tổng giám mục, và giám mục trong Giáo hội Công Giáo đều tuyên thệ trung thành với giáo hoàng, trong đó có những lời sau: ‘Những kẻ tà giáo, ly giáo, và phản nghịch với chúa của chúng tôi (giáo hoàng), hoặc những người kế vị nói trên của ngài, tôi sẽ hết sức bắt bớ và chống lại.’”—Josiah Strong, Our Country, chương 5, đoạn 2-4. [Xem Phụ lục để có các tham chiếu đã được sửa chữa.] GC 565.2

Thật vậy, có những Cơ-đốc nhân chân chính trong cộng đồng Công Giáo La-mã. Hàng ngàn người trong hội thánh ấy đang phụng sự Đức Chúa Trời theo ánh sáng tốt nhất mà họ có. Họ không được phép tiếp cận Lời Đức Chúa Trời, và vì thế họ không phân biệt được lẽ thật. [Xuất bản năm 1888 và 1911. Xem Phụ lục.] Họ chưa bao giờ thấy sự tương phản giữa sự phụng sự sống động từ tấm lòng và một loạt các hình thức và nghi lễ đơn thuần. Đức Chúa Trời nhìn những linh hồn này với sự trìu mến thương xót, vì họ được giáo dục trong một đức tin lừa dối và không thỏa mãn. Ngài sẽ khiến những tia sáng xuyên qua bóng tối dày đặc bao quanh họ. Ngài sẽ bày tỏ cho họ lẽ thật như trong Đức Chúa Giê-su, và nhiều người rồi sẽ đứng về phía dân sự của Ngài. GC 565.3

Nhưng Giáo hội La-mã như một hệ thống thì ngày nay không hòa hợp với tin lành của Đấng Christ hơn bất kỳ thời kỳ nào trước đây trong lịch sử của bà. Các hội thánh Tin lành đang ở trong sự tăm tối lớn, nếu không họ đã phân biệt được các dấu hiệu của thời đại. Giáo hội La-mã có những kế hoạch và phương thức hoạt động sâu rộng. Bà đang sử dụng mọi mưu kế để mở rộng ảnh hưởng và gia tăng quyền lực của mình để chuẩn bị cho một cuộc xung đột dữ dội và quyết liệt nhằm giành lại quyền kiểm soát thế giới, tái lập sự bắt bớ, và phá hủy tất cả những gì đạo Tin Lành đã làm được. Công Giáo đang tiến triển ở khắp mọi phía. Hãy xem số lượng nhà thờ và nhà nguyện ngày càng tăng của bà tại các quốc gia Tin lành. Hãy nhìn vào sự phổ biến của các trường cao đẳng và chủng viện của bà ở Mỹ, được những người Tin lành bảo trợ rộng rãi. Hãy nhìn vào sự phát triển của chủ nghĩa nghi thức tại Anh và những sự đào ngũ thường xuyên sang hàng ngũ người Công Giáo. Những điều này phải đánh thức mối lo âu của tất cả những ai quý trọng các nguyên tắc thuần khiết của tin lành. GC 565.4

Những người Tin lành đã đùa giỡn với và bảo trợ cho chế độ giáo hoàng; họ đã thỏa hiệp và nhượng bộ đến nỗi chính những người theo giáo hoàng cũng ngạc nhiên khi thấy và không hiểu được. Người ta đang nhắm mắt lại trước đặc tính thật của Giáo hội La-mã và những nguy hiểm phải e ngại từ quyền tối thượng của bà. Dân chúng cần được đánh thức để chống lại những bước tiến của kẻ thù nguy hiểm nhất này đối với quyền tự do dân sự và tôn giáo. GC 566.1

Nhiều người Tin lành cho rằng tôn giáo Công Giáo không hấp dẫn và rằng sự thờ phượng của nó là một loạt nghi lễ tẻ nhạt, vô nghĩa. Ở đây họ lầm. Tuy Giáo hội La-mã dựa trên sự lừa dối, nhưng đó không phải là một trò giả mạo thô thiển và vụng về. Nghi thức tôn giáo của Giáo hội La-mã là một lễ nghi đầy ấn tượng. Sự phô trương lộng lẫy và các nghi lễ trang nghiêm của nó mê hoặc các giác quan của dân chúng và dập tắt tiếng nói của lý trí và của lương tâm. Mắt bị mê hoặc. Những nhà thờ nguy nga, những đám rước uy nghi, bàn thờ bằng vàng, các đền đài nạm ngọc, những bức tranh chọn lọc, và những tác phẩm điêu khắc tinh xảo đều lôi cuốn lòng yêu vẻ đẹp. Tai cũng bị quyến rũ. Âm nhạc thì không gì sánh bằng. Những nốt nhạc phong phú của đàn đại phong cầm trầm ấm, hòa với giai điệu của nhiều giọng hát khi nó dâng lên qua các mái vòm cao và các dãy hành lang có cột của những thánh đường vĩ đại của bà, không thể không gây ấn tượng cho tâm trí với sự kính sợ và tôn kính. GC 566.2

Sự huy hoàng bề ngoài, phô trương, và lễ nghi này, chỉ chế nhạo những khao khát của linh hồn đau khổ vì tội lỗi, là bằng chứng của sự bại hoại bên trong. Tôn giáo của Đấng Christ không cần những hấp dẫn như vậy để được đề cao. Trong ánh sáng chiếu ra từ thập tự giá, Cơ-đốc Giáo chân chính trông thật thuần khiết và đáng yêu đến nỗi không sự trang hoàng bên ngoài nào có thể tăng thêm giá trị thật của nó. Ấy là vẻ đẹp của sự thánh khiết, một tâm thần dịu dàng và yên lặng, là điều có giá trị trước mặt Đức Chúa Trời. GC 566.3

Sự rực rỡ của phong cách không nhất thiết là chỉ dấu của tư tưởng thuần khiết, cao thượng. Những quan niệm cao về nghệ thuật, sự tinh tế của thẩm mỹ, thường tồn tại trong những tâm trí thuộc về đất và xác thịt. Chúng thường bị Sa-tan sử dụng để dẫn dắt con người quên đi những nhu cầu của linh hồn, mất tầm nhìn về sự sống bất tử trong tương lai, quay lưng khỏi Đấng Cứu Giúp vô hạn của họ, và chỉ sống cho thế giới này mà thôi. GC 567.1

Một tôn giáo dựa vào bên ngoài thì hấp dẫn đối với tấm lòng chưa được đổi mới. Sự phô trương và lễ nghi của sự thờ phượng Công Giáo có một quyền lực quyến rũ, mê hoặc, qua đó nhiều người bị lừa dối; và họ đi đến chỗ xem Giáo hội La-mã là chính cửa thiên đàng. Không ai ngoài những người đã đặt chân mình vững chắc trên nền tảng của lẽ thật, và có tấm lòng được Thánh Linh Đức Chúa Trời đổi mới, mới miễn nhiễm với ảnh hưởng của bà. Hàng ngàn người không có một sự hiểu biết từng trải về Đấng Christ sẽ bị dẫn dắt đến chỗ chấp nhận hình thức của sự tin kính mà không có quyền năng. Một tôn giáo như vậy chính là điều mà số đông mong muốn. GC 567.2

Sự tuyên xưng của giáo hội về quyền tha tội khiến người Công Giáo La-mã cảm thấy tự do phạm tội; và nghi thức xưng tội, mà nếu không có thì sự tha thứ của giáo hội không được ban, cũng có khuynh hướng cho phép điều ác. Kẻ quỳ gối trước con người sa ngã, và mở lòng xưng ra những tư tưởng và ý nghĩ thầm kín của lòng mình, là đang hạ thấp nhân phẩm của mình và làm suy đồi mọi bản năng cao thượng của linh hồn mình. Khi bày tỏ những tội lỗi của đời mình cho một thầy tế lễ—một con người hay lầm lạc, đầy tội lỗi, và thường xuyên bị rượu chè và sự dâm dật làm hư hỏng—tiêu chuẩn phẩm hạnh của người ấy bị hạ thấp, và kết quả là người ấy bị ô uế. Quan niệm của người ấy về Đức Chúa Trời bị hạ thấp xuống giống như nhân tính sa ngã, vì thầy tế lễ đứng làm người đại diện cho Đức Chúa Trời. Sự xưng tội hạ thấp phẩm giá này của con người đối với con người chính là nguồn suối bí mật từ đó đã tuôn chảy nhiều điều ác đang làm ô uế thế giới và chuẩn bị cho sự hủy diệt cuối cùng của nó. Tuy nhiên, đối với kẻ yêu sự nuông chiều bản thân, xưng tội với một con người đồng loại dễ chịu hơn là mở linh hồn ra với Đức Chúa Trời. Điều dễ chấp nhận hơn đối với bản tính con người là làm việc đền tội hơn là từ bỏ tội lỗi; dễ hơn khi hành xác bằng bao gai, gai nhọn và xiềng xích đau đớn hơn là đóng đinh những dục vọng xác thịt. Nặng nề thay là ách mà tấm lòng xác thịt sẵn sàng mang thay vì cúi đầu dưới ách của Đấng Christ. GC 567.3

Có một sự tương đồng nổi bật giữa Giáo hội La-mã và hội thánh Do Thái vào thời kỳ sự giáng sinh lần thứ nhất của Đấng Christ. Trong khi người Do Thái âm thầm chà đạp lên mọi nguyên tắc của luật pháp Đức Chúa Trời, thì bề ngoài họ lại nghiêm ngặt tuân giữ các giới luật của nó, chất lên nó những đòi hỏi và truyền thống khiến sự vâng phục trở nên đau đớn và nặng nề. Như người Do Thái tuyên xưng tôn kính luật pháp, thì người Công Giáo La-mã cũng tuyên bố tôn kính thập tự giá. Họ tôn vinh biểu tượng của sự thống khổ của Đấng Christ, trong khi đời sống của họ lại chối bỏ Đấng mà biểu tượng đó đại diện. GC 568.1

Người Công Giáo La-mã đặt thập tự giá trên các nhà thờ của họ, trên bàn thờ của họ, và trên y phục của họ. Khắp nơi đều thấy dấu hiệu của thập tự giá. Khắp nơi nó được bề ngoài tôn kính và đề cao. Nhưng những lời dạy của Đấng Christ thì bị chôn vùi dưới một khối lớn những truyền thống vô nghĩa, những lời giải thích sai lạc, và những đòi hỏi khắc nghiệt. Những lời của Đấng Cứu Thế về những người Do Thái cố chấp còn áp dụng với sức mạnh lớn hơn cho các lãnh đạo của Giáo hội Công Giáo La-mã: Bọn ấy buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta, còn mình thì không muốn động ngón tay vào.

(Ma-thi-ơ 23:4)Những linh hồn có lương tâm bị giữ trong sự khiếp sợ liên tục về cơn thịnh nộ của một Đức Chúa Trời bị xúc phạm, trong khi nhiều bậc chức sắc của giáo hội đang sống trong sự xa hoa và khoái lạc nhục dục. GC 568.2

Việc thờ lạy hình tượng và thánh tích, sự kêu cầu các thánh đồ, và sự đề cao giáo hoàng là những mưu chước của Sa-tan để lôi kéo tâm trí con người ra khỏi Đức Chúa Trời và ra khỏi Con Ngài. Để hoàn thành sự hủy diệt của họ, nó nỗ lực làm cho sự chú ý của họ rời khỏi Đấng duy nhất mà qua Ngài họ có thể tìm được sự cứu rỗi. Nó sẽ hướng họ đến bất kỳ đối tượng nào có thể thay thế cho Đấng đã phán: Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.

(Ma-thi-ơ 11:28) GC 568.3

Đó là nỗ lực không ngừng của Sa-tan để trình bày sai trật bản tính của Đức Chúa Trời, bản chất của tội lỗi, và những vấn đề thực sự đang được đặt ra trong cuộc tranh đấu vĩ đại. Những lý luận ngụy biện của nó làm giảm nhẹ sự ràng buộc của luật pháp thiêng liêng và cho con người giấy phép phạm tội. Đồng thời nó khiến họ ấp ủ những quan niệm sai lầm về Đức Chúa Trời đến nỗi họ nhìn Ngài với sự sợ hãi và thù ghét hơn là với tình yêu thương. Sự tàn nhẫn cố hữu trong bản tính riêng của nó được gán cho Đấng Tạo Hóa; nó được thể hiện trong các hệ thống tôn giáo và được bày tỏ trong các phương thức thờ phượng. Như vậy, tâm trí của con người bị làm cho mù quáng, và Sa-tan bắt được họ làm tay sai của nó để chiến đấu chống lại Đức Chúa Trời. Bởi những quan niệm sai trật về các thuộc tính thiêng liêng, các dân tộc ngoại giáo đã bị dẫn đến chỗ tin rằng những sự tế người là cần thiết để được ơn huệ của Thần Linh; và những sự tàn nhẫn kinh khủng đã được thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau của việc thờ hình tượng. GC 569.1

Giáo hội Công Giáo La-mã, kết hợp những hình thức của tà giáo và Cơ-đốc Giáo, và, giống như tà giáo, trình bày sai trật bản tính của Đức Chúa Trời, đã viện đến những thực hành không kém phần tàn nhẫn và ghê tởm. Trong những ngày La-mã thống trị, có những dụng cụ tra tấn để buộc người ta phải chấp nhận những giáo lý của nó. Có cột thiêu cho những kẻ không chịu nhượng bộ trước những tuyên xưng của nó. Có những cuộc tàn sát trên quy mô mà sẽ không bao giờ được biết đến cho đến khi được bày tỏ trong sự phán xét. Các bậc chức sắc của giáo hội đã học, dưới sự dạy dỗ của Sa-tan là chủ nhân của họ, để phát minh ra những phương tiện gây ra sự tra tấn lớn nhất có thể mà không kết thúc mạng sống của nạn nhân. Trong nhiều trường hợp, tiến trình địa ngục này được lặp đi lặp lại đến giới hạn tột cùng của sức chịu đựng con người, cho đến khi thân xác không còn sức vật lộn, và người chịu khổ chào đón cái chết như một sự giải thoát ngọt ngào. GC 569.2

Đó là số phận của những kẻ chống đối La-mã. Còn đối với những người theo nó, nó có kỷ luật roi vọt, của sự đói khát hành hạ, của những sự khổ hạnh thể xác dưới mọi hình thức có thể tưởng tượng, đau lòng. Để được ơn huệ của Thiên đàng, những người sám hối đã vi phạm các luật pháp của Đức Chúa Trời bằng cách vi phạm các luật của tự nhiên. Họ được dạy phải cắt đứt những mối ràng buộc mà Ngài đã tạo ra để ban phước và làm vui lòng cuộc sống trần gian của con người. Nghĩa trang chứa hàng triệu nạn nhân đã tiêu hao đời mình trong những nỗ lực vô ích để chế ngự những tình cảm tự nhiên của họ, để đè nén, như điều đáng ghê tởm đối với Đức Chúa Trời, mọi ý nghĩ và cảm xúc cảm thông với đồng loại của họ. GC 569.3

Nếu chúng ta muốn hiểu sự tàn nhẫn cố quyết của Sa-tan, được bày tỏ trong hàng trăm năm, không phải giữa những người chưa từng nghe về Đức Chúa Trời, mà ở ngay chính trung tâm và khắp nơi trong thế giới Cơ-đốc Giáo, chúng ta chỉ cần nhìn vào lịch sử của Công Giáo La-mã. Qua hệ thống lừa dối khổng lồ này, kẻ cầm đầu sự ác hoàn thành mục đích của nó là đem lại sự sỉ nhục cho Đức Chúa Trời và sự khốn khổ cho con người. Và khi chúng ta thấy nó thành công thế nào trong việc ngụy trang chính mình và thực hiện công việc của nó qua các lãnh đạo của giáo hội, chúng ta có thể hiểu rõ hơn tại sao nó có sự căm ghét lớn đối với Kinh Thánh. Nếu Sách ấy được đọc, lòng thương xót và tình yêu của Đức Chúa Trời sẽ được bày tỏ; sẽ thấy rằng Ngài không đặt trên con người bất kỳ gánh nặng nề nào như vậy. Tất cả những gì Ngài đòi hỏi là một tấm lòng tan vỡ và thống hối, một tâm linh khiêm nhường, vâng phục. GC 570.1

Đức Chúa Giê-su không nêu gương nào trong đời sống Ngài cho nam nữ tự giam mình trong các tu viện để được thích hợp cho thiên đàng. Ngài chưa bao giờ dạy rằng tình yêu và sự cảm thông phải bị đè nén. Tấm lòng của Đấng Cứu Thế tràn đầy tình yêu thương. Con người càng đến gần sự hoàn hảo về đạo đức, thì các cảm xúc của họ càng nhạy bén, sự nhận thức của họ về tội lỗi càng sắc sảo, và sự cảm thông của họ đối với người đau khổ càng sâu sắc. Giáo hoàng tuyên xưng là người đại diện của Đấng Christ; nhưng bản tính của ông ta có thể so sánh thế nào với bản tính của Đấng Cứu Thế chúng ta? Có bao giờ Đấng Christ được biết đến là đã kết án người ta vào tù hay lên giá tra tấn vì họ không tỏ lòng tôn kính Ngài là Vua của thiên đàng không? Có bao giờ tiếng Ngài được nghe kết án tử hình những kẻ không tiếp nhận Ngài không? Khi Ngài bị dân của một làng Sa-ma-ri khinh bỉ, sứ đồ Giăng đầy phẫn nộ, và hỏi: Gia-cơ và Giăng là môn đồ Ngài, thấy vậy, nói rằng: Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu họ chăng?

(Lu-ca 9:54)Đức Chúa Giê-su nhìn môn đồ Ngài với lòng thương xót, và quở trách tinh thần khắc nghiệt của ông, phán rằng: Rồi Ngài cùng môn đồ đi qua làng khác. (Lu-ca 9:56) Tinh thần của người tự xưng là đại diện của Ngài khác biệt biết bao so với tinh thần được Đấng Christ bày tỏ. GC 570.2

Giáo hội La-mã hiện nay trình bày một bề ngoài đẹp đẽ cho thế giới, che đậy bằng những lời biện hộ cho hồ sơ đầy những sự tàn nhẫn khủng khiếp của nó. Nó đã khoác lên mình y phục giống Đấng Christ; nhưng nó không hề thay đổi. Mọi nguyên tắc của giáo hoàng đã tồn tại trong các thời đại quá khứ đều tồn tại ngày nay. Những giáo lý được tạo ra trong những thời kỳ tăm tối nhất vẫn được giữ vững. Đừng ai tự lừa dối mình. Giáo hoàng mà những người Tin lành bây giờ sẵn sàng tôn kính cũng chính là giáo hoàng đã cai trị thế giới trong thời kỳ cuộc Cải chánh, khi những người của Đức Chúa Trời đã đứng lên, liều cả mạng sống mình, để vạch trần sự gian ác của nó. Nó có cùng một sự kiêu ngạo và sự giả định ngạo mạn đã thống trị các vua và các hoàng tử, và tuyên xưng các đặc quyền của Đức Chúa Trời. Thần khí của nó ngày nay không kém phần tàn nhẫn và chuyên chế so với khi nó đã nghiền nát sự tự do của con người và giết hại các thánh đồ của Đấng Chí Cao. GC 571.1

Giáo hoàng đúng như lời tiên tri đã tuyên bố rằng nó sẽ trở thành, sự bội đạo của thời kỳ sau rốt. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, tức là kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời.

(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3-4)Một phần trong chính sách của nó là khoác lấy tính cách nào sẽ hoàn thành tốt nhất mục đích của mình; nhưng bên dưới vẻ ngoài biến đổi của con tắc kè hoa, nó che giấu nọc độc bất biến của con rắn. “Không nên giữ đức tin với những kẻ theo tà giáo, hay những người bị nghi ngờ theo tà giáo” (Lenfant, tập 1, trang 516), nó tuyên bố. Lẽ nào quyền lực này, mà hồ sơ trong suốt một ngàn năm được viết bằng máu của các thánh đồ, nay lại được công nhận là một phần của hội thánh Đấng Christ? GC 571.2

Không phải không có lý do mà lời tuyên bố đã được đưa ra tại các nước Tin Lành rằng Công Giáo khác biệt ít hơn so với Tin Lành so với những thời trước. Đã có một sự thay đổi; nhưng sự thay đổi đó không phải ở nơi giáo hoàng. Công Giáo thật sự giống với phần lớn Tin Lành hiện đang tồn tại, bởi vì Tin Lành đã suy thoái quá nhiều kể từ thời các nhà Cải chánh. GC 571.3

Khi các hội thánh Tin Lành tìm kiếm sự ưu ái của thế gian, lòng bác ái giả dối đã làm mù mắt họ. Họ không thấy được rằng việc tin điều tốt về mọi điều ác là sai, và hậu quả tất yếu là cuối cùng họ sẽ tin điều ác về mọi điều tốt. Thay vì đứng ra bảo vệ đức tin đã một lần trao cho các thánh đồ, giờ đây họ, có thể nói là, đang xin lỗi La-mã vì ý kiến thiếu bác ái của mình về nó, cầu xin sự tha thứ cho sự cố chấp của mình. GC 571.4

Một số đông, ngay cả trong số những người không có thiện cảm với chủ nghĩa La-mã, cũng ít lo lắng về quyền lực và ảnh hưởng của nó. Nhiều người lập luận rằng sự tối tăm về trí tuệ và đạo đức phổ biến trong thời kỳ Trung Cổ đã thuận lợi cho việc lan truyền các giáo điều, mê tín và sự áp bức của nó, và rằng sự thông sáng cao hơn của thời hiện đại, sự phổ biến tri thức, và sự tự do ngày càng tăng trong các vấn đề tôn giáo ngăn cản sự phục hồi của lòng cố chấp và sự bạo ngược. Chính ý tưởng rằng một tình trạng như vậy sẽ tồn tại trong thời đại khai sáng này bị chế nhạo. Quả thật là ánh sáng lớn, về trí tuệ, đạo đức, và tôn giáo, đang chiếu rọi trên thế hệ này. Trên những trang mở của Lời Thánh của Đức Chúa Trời, ánh sáng từ trời đã soi chiếu trên thế gian. Nhưng cần ghi nhớ rằng càng được ban cho nhiều ánh sáng thì bóng tối của những ai làm sai lệch và khước từ nó càng lớn. GC 572.1

Một sự nghiên cứu Kinh Thánh với tinh thần cầu nguyện sẽ cho những người Tin lành thấy được bản chất thật của giáo hoàng và sẽ khiến họ ghê tởm và tránh xa nó; nhưng nhiều người quá tự phụ trong sự kiêu ngạo của mình đến nỗi không cảm thấy cần phải khiêm nhường tìm kiếm Đức Chúa Trời để có thể được dẫn vào lẽ thật. Mặc dù tự hào về sự khai sáng của mình, họ lại không biết gì về Kinh Thánh cũng như quyền năng của Đức Chúa Trời. Họ phải có một phương tiện nào đó để làm yên lương tâm mình, và họ tìm kiếm điều nào ít thuộc linh và ít hạ mình nhất. Điều họ mong muốn là một phương cách để quên Đức Chúa Trời mà có thể được coi như một phương cách để nhớ đến Ngài. Giáo hoàng rất thích hợp để đáp ứng những nhu cầu của tất cả những người này. Nó được chuẩn bị cho hai hạng người, bao gồm gần như toàn thể thế gian—những ai muốn được cứu bởi công đức của mình, và những ai muốn được cứu trong tội lỗi của mình. Đây là bí mật của quyền lực nó. GC 572.2

Một ngày tối tăm lớn về trí tuệ đã được chỉ ra là thuận lợi cho sự thành công của giáo hoàng. Sẽ còn được chứng minh rằng một ngày ánh sáng lớn về trí tuệ cũng thuận lợi tương tự cho sự thành công của nó. Trong các thời đại quá khứ, khi con người không có lời Đức Chúa Trời và không có sự hiểu biết về lẽ thật, mắt họ bị bịt kín, và hàng ngàn người bị sập bẫy, không thấy tấm lưới giăng dưới chân mình. Trong thế hệ này có nhiều người mắt bị lóa bởi ánh chói của những suy đoán loài người, “sự tri thức ngụy xưng là tri thức”; họ không nhận ra tấm lưới, và bước vào đó dễ dàng như thể bị bịt mắt. Đức Chúa Trời định rằng các năng lực trí tuệ của con người phải được coi là món quà từ Đấng Tạo Hóa của mình và phải được dùng trong sự phục vụ lẽ thật và sự công bình; nhưng khi sự kiêu ngạo và tham vọng được nuôi dưỡng, và con người tôn cao những lý thuyết riêng của mình lên trên lời Đức Chúa Trời, thì khi ấy trí thông minh có thể gây hại nhiều hơn là sự ngu dốt. Vì vậy, khoa học giả dối của thời nay, vốn làm xói mòn đức tin vào Kinh Thánh, sẽ thành công trong việc mở đường cho việc chấp nhận giáo hoàng, với những hình thức làm đẹp lòng của nó, như sự ngăn trở tri thức đã mở đường cho sự bành trướng của nó trong thời kỳ Trung Cổ. GC 572.3

Trong những phong trào đang diễn ra ở Hoa Kỳ nhằm bảo đảm cho các cơ sở và tập tục của hội thánh sự hỗ trợ của nhà nước, những người Tin lành đang đi theo bước chân của những người theo giáo hoàng. Hơn nữa, họ đang mở cửa cho giáo hoàng giành lại tại Mỹ quốc Tin Lành quyền tối thượng mà nó đã mất ở Cựu Thế giới. Và điều càng khiến phong trào này có ý nghĩa hơn là sự việc mục tiêu chính đang được dự kiến là việc cưỡng bách giữ ngày Chủ nhật—một tập tục bắt nguồn từ La-mã, và mà nó tuyên bố là dấu hiệu của quyền hành nó. Chính tinh thần của giáo hoàng—tinh thần tuân theo các tập tục thế gian, sự tôn sùng các truyền thống loài người trên các điều răn của Đức Chúa Trời—đang thấm vào các hội thánh Tin Lành và dẫn dắt họ làm cùng công việc tôn vinh ngày Chủ nhật mà giáo hoàng đã làm trước họ. GC 573.1

Nếu người đọc muốn hiểu các phương tiện sẽ được sử dụng trong cuộc tranh chiến sắp đến, người chỉ cần lần theo hồ sơ về những phương tiện mà La-mã đã sử dụng cho cùng mục đích trong các thời đại đã qua. Nếu người muốn biết những người theo giáo hoàng và những người Tin lành liên hiệp sẽ đối xử thế nào với những ai khước từ các giáo điều của họ, hãy để người xem tinh thần mà La-mã đã bày tỏ đối với ngày Sa-bát và những người bảo vệ nó. GC 573.2

Các sắc lệnh hoàng gia, các công đồng chung, và các điều luật của hội thánh được nhà cầm quyền thế tục ủng hộ là những bước mà lễ hội ngoại giáo đã đạt được địa vị vinh dự trong thế giới Cơ-đốc. Biện pháp công khai đầu tiên cưỡng bách giữ ngày Chủ nhật là luật do Constantine ban hành. (năm 321 S.C.; xem ghi chú Phụ lục cho trang 53.) Sắc lệnh này yêu cầu cư dân thành thị nghỉ ngơi vào “ngày đáng tôn kính của mặt trời,” nhưng cho phép người dân nông thôn tiếp tục công việc nông nghiệp của họ. Mặc dù thực chất là một đạo luật ngoại giáo, nó đã được hoàng đế thi hành sau khi ông chấp nhận Cơ-đốc Giáo trên danh nghĩa. GC 574.1

Mệnh lệnh hoàng gia không chứng tỏ đủ để thay thế cho thẩm quyền thiêng liêng, Eusebius, một giám mục tìm kiếm sự ưu ái của các vương hầu, và là người bạn đặc biệt và là kẻ xu nịnh Constantine, đã đưa ra lời tuyên bố rằng Đấng Christ đã chuyển ngày Sa-bát sang ngày Chủ nhật. Không một chứng cứ nào trong Kinh Thánh được đưa ra để chứng minh giáo lý mới này. Chính Eusebius, mà không hay biết, đã thừa nhận sự giả dối của nó và chỉ ra các tác giả thực sự của sự thay đổi. “Tất cả mọi điều,” ông nói, “bất cứ điều gì mà đáng phải làm vào ngày Sa-bát, chúng ta đã chuyển sang Ngày của Chúa."—Robert Cox, Sabbath Laws and Sabbath Duties, trang 538. Nhưng lập luận về ngày Chủ nhật, dù vô căn cứ như nó vốn có, đã làm cho người ta mạnh dạn chà đạp ngày Sa-bát của Chúa. Tất cả những ai muốn được thế gian tôn trọng đều chấp nhận lễ hội phổ biến này. GC 574.2

Khi giáo hoàng đã được thiết lập vững chắc, công việc tôn vinh ngày Chủ nhật vẫn được tiếp tục. Trong một thời gian, dân chúng làm công việc nông nghiệp khi không đi nhóm họp, và ngày thứ bảy vẫn được coi là ngày Sa-bát. Nhưng dần dần một sự thay đổi đã được thực hiện. Những người trong chức vụ thánh bị cấm xét xử bất cứ vụ tranh chấp dân sự nào vào ngày Chủ nhật. Ngay sau đó, tất cả mọi người, bất kể cấp bậc nào, đều bị ra lệnh phải kiêng làm công việc thông thường nếu không sẽ bị phạt tiền đối với người tự do và bị đánh đòn trong trường hợp là đầy tớ. Về sau có sắc lệnh rằng người giàu sẽ bị phạt bằng việc mất một nửa điền sản; và cuối cùng, nếu vẫn ngoan cố họ sẽ bị biến thành nô lệ. Các tầng lớp thấp hơn sẽ phải chịu lưu đày vĩnh viễn. GC 574.3

Các phép lạ cũng được viện đến. Trong số những điều kỳ diệu khác, có kể lại rằng khi một người làm ruộng sắp cày ruộng của mình vào ngày Chủ nhật đang lau chiếc cày của mình bằng một thanh sắt, thì thanh sắt đó dính chặt vào tay anh, và trong hai năm anh phải mang nó đi khắp nơi, “khiến anh vô cùng đau đớn và nhục nhã."—Francis West, Historical and Practical Discourse on the Lord’s Day, trang 174. GC 575.1

Về sau, giáo hoàng ra chỉ thị rằng các linh mục giáo xứ phải khiển trách những kẻ vi phạm ngày Chủ nhật và mong họ đi đến nhà thờ để cầu nguyện, kẻo họ chuốc lấy tai họa lớn cho mình và cho kẻ lân cận. Một công đồng giáo hội đã đưa ra lập luận — lập luận mà nay đã được sử dụng rộng rãi, ngay cả bởi những người Tin lành — rằng vì đã có người bị sét đánh trong khi lao động vào ngày Chủ nhật, nên đó hẳn phải là ngày Sa-bát. Các giáo phẩm nói: “Điều này cho thấy rõ Đức Chúa Trời đã bất bình đến mức nào trước sự bỏ bê ngày ấy của họ.” Rồi một lời kêu gọi được đưa ra rằng các linh mục và mục sư, các vua và các hoàng thân, cùng toàn thể tín hữu trung thành phải “dùng mọi nỗ lực và sự chăm lo hết sức để ngày ấy được khôi phục lại vinh dự của nó, và vì danh tiếng của Cơ-đốc Giáo, từ nay về sau phải được tuân giữ một cách sốt sắng hơn.” — Thomas Morer, Discourse in Six Dialogues on the Name, Notion, and Observation of the Lord’s Day, trang 271. GC 575.2

Khi các sắc lệnh của các công đồng tỏ ra không đủ hiệu lực, người ta đã cầu viện đến các nhà cầm quyền thế tục để ban hành một sắc chỉ gieo rắc sự kinh hãi vào lòng dân chúng và buộc họ phải kiêng lao động trong ngày Chủ nhật. Tại một hội nghị giáo hội được tổ chức ở La-mã, mọi quyết định trước đó đã được tái khẳng định với sức mạnh và sự long trọng lớn hơn. Chúng cũng được đưa vào luật giáo hội và được các nhà cầm quyền dân sự thi hành trong hầu hết toàn thể thế giới Cơ-đốc. (Xem Heylyn, History of the Sabbath, ph. 2, ch. 5, mục 7.) GC 575.3

Dầu vậy, sự thiếu vắng thẩm quyền Kinh Thánh cho việc giữ ngày Chủ nhật đã gây nên không ít lúng túng. Dân chúng đặt câu hỏi về quyền của những kẻ dạy dỗ họ trong việc gạt bỏ lời tuyên bố rõ ràng của Đức Giê-hô-va, “Ngày thứ bảy là ngày Sa-bát của Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi,” để tôn vinh ngày của mặt trời. Để bù đắp cho sự thiếu vắng bằng chứng Kinh Thánh, cần phải có những mưu kế khác. Một người nhiệt thành cổ xúy ngày Chủ nhật, vào khoảng cuối thế kỷ mười hai đã đi thăm các hội thánh ở Anh, đã bị những chứng nhân trung thành cho lẽ thật chống đối; và những nỗ lực của ông tỏ ra vô hiệu đến nỗi ông phải rời khỏi đất nước ấy một thời gian và tìm kiếm phương cách nào đó để áp đặt sự dạy dỗ của mình. Khi ông trở lại, sự thiếu thốn ấy đã được bù đắp, và trong công việc về sau của ông, ông đã gặt hái được thành công lớn hơn. Ông đem theo một cuộn sách được cho là do chính Đức Chúa Trời ban xuống, chứa đựng mạng lệnh cần thiết cho việc tuân giữ ngày Chủ nhật, cùng với những lời đe dọa khủng khiếp để làm khiếp sợ những kẻ bất tuân. Tài liệu quý báu này — một đồ giả mạo đê hèn chẳng kém gì chính định chế mà nó hậu thuẫn — được cho là đã rơi từ trời xuống và được tìm thấy ở Giê-ru-sa-lem, trên bàn thờ của Thánh Si-mê-ôn, tại Gô-gô-tha. Nhưng thật ra, dinh giáo hoàng tại La-mã mới là nguồn gốc từ đó nó xuất phát. Những sự gian trá và giả mạo nhằm thúc đẩy quyền lực và sự thịnh vượng của giáo hội, trong mọi thời đại, đều được hệ thống giáo phẩm giáo hoàng xem là hợp pháp. GC 576.1

Cuộn sách ấy cấm lao động từ giờ thứ chín, tức ba giờ chiều thứ Bảy, cho đến khi mặt trời mọc sáng thứ Hai; và thẩm quyền của nó được tuyên bố là đã được xác chứng bởi nhiều phép lạ. Người ta thuật lại rằng những người lao động quá giờ đã định đều bị đánh bại liệt. Một người xay bột định xay lúa mì của mình, thay vì bột, lại thấy một dòng máu tuôn ra, và bánh xe cối xay đứng sững lại, mặc dầu sức nước chảy xiết. Một phụ nữ để bột nhào vào lò, khi lấy ra thì thấy vẫn còn sống, dù lò rất nóng. Một người khác đã nhào bột để nướng vào giờ thứ chín, nhưng quyết định để dành đến thứ Hai, ngày hôm sau thấy rằng bột đã được nắn thành từng ổ bánh và đã được quyền năng thiêng liêng nướng chín. Một người đàn ông nướng bánh sau giờ thứ chín ngày thứ Bảy, khi bẻ bánh vào sáng hôm sau thì thấy máu chảy ra từ đó. Bằng những sự bịa đặt vô lý và mê tín như vậy, những kẻ cổ xúy ngày Chủ nhật đã cố thiết lập tính thánh khiết của nó. (Xem Roger de Hoveden, Annals, t. 2, tr. 526-530.) GC 576.2

Tại Tô-cách-lan, cũng như tại Anh, sự tôn trọng ngày Chủ nhật đã được bảo đảm thêm bằng cách kết hợp với nó một phần của ngày Sa-bát cổ. Nhưng thời gian được đòi hỏi phải giữ làm thánh thì khác nhau. Một sắc chỉ của vua Tô-cách-lan tuyên bố rằng “từ mười hai giờ trưa thứ Bảy phải được kể là ngày thánh,” và từ lúc đó cho đến sáng thứ Hai, không ai được tham gia vào việc thế tục. — Morer, trang 290, 291. GC 577.1

Nhưng bất chấp mọi nỗ lực để thiết lập tính thánh khiết của ngày Chủ nhật, chính những người Công Giáo đã công khai thừa nhận thẩm quyền thiêng liêng của ngày Sa-bát và nguồn gốc do loài người của định chế đã thay thế nó. Vào thế kỷ mười sáu, một công đồng giáo hoàng đã tuyên bố rõ ràng: “Hết thảy những người Cơ-đốc hãy nhớ rằng ngày thứ bảy đã được Đức Chúa Trời biệt ra thánh, và đã được tiếp nhận và tuân giữ, không chỉ bởi người Do Thái, mà còn bởi tất cả những kẻ khác tự xưng là thờ phượng Đức Chúa Trời; dầu rằng chúng ta là những người Cơ-đốc đã đổi ngày Sa-bát của họ thành Ngày của Chúa.” — Sđd., trang 281, 282. Những kẻ mạo phạm luật pháp thiêng liêng không phải là không biết bản chất công việc của mình. Họ đã cố ý đặt mình cao hơn Đức Chúa Trời. GC 577.2

Một minh họa nổi bật về chính sách của La-mã đối với những kẻ bất đồng với nó được thấy trong cuộc bắt bớ lâu dài và đẫm máu đối với người Waldenses, trong số đó có những người giữ ngày Sa-bát. Những người khác cũng chịu khổ theo cách tương tự vì sự trung thành của họ với điều răn thứ tư. Lịch sử các hội thánh ở Ê-thi-ô-pi và A-by-si-ni đặc biệt có ý nghĩa. Giữa bóng tối của thời kỳ Trung Cổ, những người Cơ-đốc ở Trung Phi đã bị thế giới quên lãng và không còn được ai biết đến, và trong nhiều thế kỷ họ đã được hưởng tự do trong việc thực hành đức tin của mình. Nhưng cuối cùng La-mã đã biết đến sự tồn tại của họ, và hoàng đế A-by-si-ni chẳng bao lâu đã bị dỗ dành để thừa nhận giáo hoàng là đại diện của Đấng Christ. Những nhượng bộ khác đã tiếp nối. Một sắc chỉ được ban hành cấm việc tuân giữ ngày Sa-bát với những hình phạt khắt khe nhất. (Xem Michael Geddes, Church History of Ethiopia, trang 311, 312.) Nhưng ách giáo hoàng chẳng bao lâu đã trở nên nặng nề đến nỗi người A-by-si-ni quyết tâm phá bỏ nó khỏi cổ mình. Sau một cuộc đấu tranh khủng khiếp, những người Công Giáo La-mã đã bị trục xuất khỏi lãnh thổ của họ, và đức tin cổ xưa đã được khôi phục. Các hội thánh vui mừng trong sự tự do của mình, và họ không bao giờ quên bài học đã học được về sự lừa dối, sự cuồng tín, và quyền lực chuyên chế của La-mã. Trong vương quốc cô lập của mình, họ bằng lòng ở lại, không được phần còn lại của thế giới Cơ-đốc biết đến. GC 577.3

Các hội thánh ở Phi Châu đã giữ ngày Sa-bát như giáo hội giáo hoàng đã từng giữ trước khi nó bội đạo hoàn toàn. Trong khi họ giữ ngày thứ bảy theo điều răn của Đức Chúa Trời, họ cũng kiêng lao động vào ngày Chủ nhật theo phong tục của giáo hội. Khi đã giành được quyền lực tối cao, La-mã đã chà đạp ngày Sa-bát của Đức Chúa Trời để tôn cao ngày của riêng mình; nhưng các hội thánh ở Phi Châu, đã ẩn mình gần một ngàn năm, không dự phần vào sự bội đạo này. Khi bị đặt dưới ách của La-mã, họ đã bị buộc phải gạt bỏ ngày sa-bát thật và tôn cao ngày sa-bát giả; nhưng vừa giành lại được nền độc lập, họ đã trở về vâng giữ điều răn thứ tư. (Xem Phụ Lục.) GC 578.1

Những ghi chép về quá khứ này cho thấy rõ ràng mối thù nghịch của La-mã đối với ngày Sa-bát thật và những người bênh vực nó, cùng với những phương cách mà nó sử dụng để tôn vinh định chế do nó tạo ra. Lời Đức Chúa Trời dạy rằng những cảnh tượng này sẽ được lặp lại khi những người Công Giáo La-mã và những người Tin lành liên kết nhau để tôn cao ngày Chủ nhật. GC 578.2

Lời tiên tri trong Khải Huyền 13 tuyên bố rằng quyền lực được tượng trưng bởi con thú có hai sừng giống như chiên con sẽ khiến “đất và dân cư trên đất” thờ lạy giáo hoàng—nơi đây được tượng trưng bằng con thú “giống như con beo.” Con thú hai sừng cũng sẽ bảo “những kẻ ở trên đất rằng phải làm một tượng cho con thú”; hơn nữa, nó sẽ ra lệnh cho mọi người, “nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi,” phải nhận dấu của con thú. Tôi lại thấy từ dưới đất lên một con thú khác, có hai sừng như sừng chiên con, và nói như con rồng. Nó cũng dùng mọi quyền phép của con thú trước tại trước mặt con thú ấy, và nó bắt thế gian cùng dân cư nó phải thờ lạy con thú trước, là con có vết thương đến chết đã được lành. Nó làm những phép lạ lớn, đến nỗi khiến lửa từ trên trời rơi xuống đất trước mặt người ta. Nó lừa dối dân cư trên đất bằng những phép lạ nó đã được phép làm ra trước mặt con thú; và khuyên dân cư trên đất tạc tượng cho con thú đã bị thương bằng gươm và đã sống lại. Nó cũng được quyền hà hơi sống vào tượng con thú, hầu cho tượng ấy nói được và khiến hết thảy những kẻ nào không thờ lạy tượng con thú đó bị giết đi. Nó cũng khiến mọi người, nhỏ và lớn, giàu và nghèo, tự chủ và tôi mọi, đều chịu ghi dấu hoặc trên tay hữu, hoặc trên trán,

(Khải-huyền 13:11-16)Người ta đã chỉ ra rằng Hoa Kỳ là quyền lực được tượng trưng bởi con thú có hai sừng giống như chiên con, và lời tiên tri này sẽ được ứng nghiệm khi Hoa Kỳ cưỡng bách việc giữ ngày Chúa nhật, điều mà La-mã tuyên bố là sự công nhận đặc biệt về quyền tối thượng của mình. Nhưng trong sự tôn kính này dành cho giáo hoàng, Hoa Kỳ sẽ không đơn độc. Ảnh hưởng của La-mã tại các quốc gia từng công nhận quyền thống trị của nó vẫn còn lâu mới bị tiêu diệt. Và lời tiên tri báo trước sự khôi phục quyền lực của nó. “Tôi thấy một trong các đầu nó như bị thương đến chết; nhưng vết thương chí tử ấy được chữa lành, và cả thế gian đều lấy làm lạ mà theo con thú đó.” Một cái trong các cái đầu nó như bị thương đến chết; nhưng vết thương chết ấy được lành, và cả thế gian đều lấy làm lạ mà theo con thú đó. (Khải-huyền 13:3) Vết thương chí tử được giáng xuống chỉ về sự sụp đổ của giáo hoàng vào năm 1798. Sau đó, tiên tri nói rằng, “vết thương chí tử ấy được chữa lành, và cả thế gian đều lấy làm lạ mà theo con thú đó.” Phao-lô tuyên bố rõ ràng rằng “người tội ác” sẽ tiếp tục tồn tại cho đến sự tái lâm. Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra, tức là kẻ đối địch, tôn mình lên trên mọi sự mà người ta xưng là Đức Chúa Trời hoặc người ta thờ lạy, rất đỗi ngồi trong đền Đức Chúa Trời, chính mình tự xưng là Đức Chúa Trời. Anh em há không nhớ khi tôi còn ở với anh em, thì đã nói về những sự đó sao? Hiện nay anh em biết rõ điều làm ngăn trở nó, hầu cho nó chỉ hiện ra đúng kỳ nó thôi. Vì đã có sự mầu nhiệm của điều bội nghịch đương hành động rồi; song Đấng còn ngăn trở cần phải cất đi. Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Giê-su sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến. (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3-8) Cho đến cuối cùng của thời gian, nó sẽ tiếp tục thực hiện công việc lừa dối. Và người được mặc khải cũng tuyên bố, cũng nói đến giáo hoàng: “Hết thảy những dân sự trên đất đều thờ lạy nó, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống.” Hết thảy những dân cư trên đất đều thờ lạy nó, là những kẻ không có tên ghi trong sách sự sống của Chiên Con đã bị giết từ buổi sáng thế. (Khải-huyền 13:8) Tại cả Cựu Thế Giới và Tân Thế Giới, giáo hoàng sẽ nhận được sự tôn kính qua sự tôn vinh dành cho thể chế ngày Chúa nhật, là điều chỉ dựa trên thẩm quyền của Giáo hội La-mã. GC 578.3

Từ giữa thế kỷ mười chín, những học viên lời tiên tri tại Hoa Kỳ đã trình bày lời chứng này cho thế giới. Trong những sự kiện đang diễn ra hiện nay có thể thấy một bước tiến nhanh chóng tới sự ứng nghiệm của lời tiên báo. Nơi các giáo sư Tin Lành có cùng lời tuyên bố về thẩm quyền thiêng liêng cho việc giữ ngày Chúa nhật, và cùng sự thiếu bằng chứng từ Kinh Thánh, như nơi các lãnh đạo giáo hoàng đã bịa đặt những phép lạ để thay thế cho một mệnh lệnh từ Đức Chúa Trời. Lời khẳng định rằng sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng xuống trên loài người vì họ vi phạm ngày Sa-bát Chúa nhật sẽ được lặp lại; điều đó đã bắt đầu được nêu ra. Và một phong trào cưỡng bách việc giữ ngày Chúa nhật đang nhanh chóng lan rộng. GC 579.1

Giáo hội La-mã thật là kỳ diệu trong sự khôn khéo và mưu mô của mình. Nó có thể đọc được điều sẽ xảy đến. Nó chờ đợi thời cơ của mình, thấy rằng các hội thánh Tin Lành đang bày tỏ sự tôn kính đối với nó qua việc chấp nhận ngày Sa-bát giả, và rằng họ đang chuẩn bị cưỡng bách ngày đó bằng chính những phương tiện mà chính nó đã từng sử dụng trong những ngày xa xưa. Những kẻ khước từ ánh sáng của lẽ thật rồi sẽ tìm kiếm sự trợ giúp của quyền lực tự xưng là không thể sai lầm này để tôn cao một thể chế đã bắt nguồn từ chính nó. Nó sẽ sẵn sàng đến giúp đỡ người Tin lành trong công việc này biết bao là điều không khó để dự đoán. Ai hiểu rõ hơn các lãnh đạo giáo hoàng về cách đối xử với những kẻ không vâng phục hội thánh? GC 580.1

Giáo hội Công Giáo La-mã, với tất cả các chi nhánh của nó khắp thế giới, tạo nên một tổ chức rộng lớn đặt dưới sự kiểm soát, và được thiết kế để phục vụ quyền lợi của tòa thánh giáo hoàng. Hàng triệu tín đồ của nó, trong mỗi quốc gia trên địa cầu, được hướng dẫn phải xem mình bị ràng buộc trong sự trung thành với giáo hoàng. Dù quốc tịch hay chính phủ của họ là gì, họ phải xem thẩm quyền của hội thánh là trên hết mọi thẩm quyền khác. Dù họ có thể tuyên thệ trung thành với nhà nước, nhưng đằng sau lời thề đó là lời thệ nguyện vâng phục La-mã, giải trừ họ khỏi mọi cam kết thù nghịch với quyền lợi của nó. GC 580.2

Lịch sử chứng thực về những nỗ lực khôn khéo và bền bỉ của nó nhằm len lỏi vào công việc của các quốc gia; và sau khi đã có được chỗ đứng, để đẩy mạnh các mục đích riêng của mình, ngay cả khi điều đó gây ra sự sụp đổ của các bậc vua chúa và dân chúng. Vào năm 1204, Giáo hoàng Innocent III đã trích xuất từ Phê-rô II, vua xứ Arragon, lời thề phi thường sau đây: “Ta, Phê-rô, vua của người Arragon, tuyên xưng và hứa nguyện luôn trung thành và vâng phục chúa của ta, Giáo hoàng Innocent, những người kế vị Công Giáo của ngài, và Giáo hội La-mã, và trung thành gìn giữ vương quốc của ta trong sự vâng phục ngài, bảo vệ đức tin Công Giáo, và bắt bớ sự tà vạy của dị giáo.”—John Dowling, The History of Romanism, b. 5, ch. 6, sec. 55. Điều này phù hợp với những tuyên bố về quyền lực của giáo hoàng La-mã “rằng ngài có quyền truất phế các hoàng đế” và “rằng ngài có thể giải trừ thần dân khỏi sự trung thành của họ đối với các nhà cai trị bất chính.”—Mosheim, b. 3, cent. 11, pt. 2, ch. 2, sec. 9, note 17. (Xin xem thêm ghi chú Phụ lục cho trang 447.) GC 580.3

Và hãy nhớ rằng, đó là lời tự hào của La-mã rằng nó không bao giờ thay đổi. Các nguyên tắc của Gregory VII và Innocent III vẫn là các nguyên tắc của Giáo hội Công Giáo La-mã. Và nếu nó chỉ có quyền lực, nó sẽ thi hành những nguyên tắc đó với sức mạnh như trong các thế kỷ trước. Những người Tin lành biết quá ít về điều mình đang làm khi họ đề nghị chấp nhận sự trợ giúp của La-mã trong công việc tôn cao ngày Chúa nhật. Trong khi họ chăm chú vào việc hoàn thành mục đích của mình, La-mã đang nhắm đến việc tái lập quyền lực của nó, để khôi phục lại quyền tối thượng đã mất. Một khi nguyên tắc ấy được thiết lập tại Hoa Kỳ rằng hội thánh có thể sử dụng hoặc kiểm soát quyền lực của nhà nước; rằng các nghi thức tôn giáo có thể được thi hành bởi các luật lệ thế tục; tóm lại, rằng thẩm quyền của hội thánh và nhà nước phải chi phối lương tâm, thì sự chiến thắng của La-mã tại xứ này là điều chắc chắn. GC 581.1

Lời Đức Chúa Trời đã ban sự cảnh báo về mối nguy hiểm sắp đến; hãy để điều đó không được lưu tâm, và thế giới Tin Lành sẽ chỉ biết được các mục đích thật sự của La-mã là gì, khi đã quá trễ để thoát khỏi cạm bẫy. Nó đang âm thầm lớn mạnh trong quyền lực. Các giáo lý của nó đang bày tỏ ảnh hưởng trong các sảnh đường lập pháp, trong các hội thánh, và trong lòng loài người. Nó đang dựng lên những công trình đồ sộ và nguy nga của mình, trong những ngóc ngách bí mật ấy các cuộc bắt bớ trước đây của nó sẽ được lặp lại. Một cách lén lút và không bị nghi ngờ, nó đang củng cố lực lượng của mình để đẩy mạnh các mục đích riêng khi thời điểm đến để nó ra tay. Tất cả những gì nó mong muốn là vị thế thuận lợi, và điều này đã đang được trao cho nó. Chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ thấy và sẽ cảm nhận được mục đích của thành phần La-mã là gì. Bất cứ ai tin và vâng theo Lời Đức Chúa Trời sẽ do đó gánh chịu sự sỉ nhục và bắt bớ. GC 581.2