Chương 33
33

Sự Lừa Dối Lớn Đầu Tiên

Chương 33—Sự Lừa Dối Lớn Đầu Tiên

Ngay từ buổi sơ khai của lịch sử loài người, Sa-tan đã bắt đầu những nỗ lực của mình để lừa dối nhân loại chúng ta. Kẻ đã xúi giục cuộc nổi loạn trên thiên đàng mong muốn đưa cư dân trên đất hợp sức với nó trong cuộc chiến chống lại chính quyền của Đức Chúa Trời. A-đam và Ê-va đã hoàn toàn hạnh phúc trong sự vâng phục luật pháp Đức Chúa Trời, và sự thật này là một bằng chứng liên tục chống lại lời cáo buộc mà Sa-tan đã đưa ra trên thiên đàng, rằng luật pháp của Đức Chúa Trời là áp bức và nghịch lại với sự tốt lành của các tạo vật của Ngài. Hơn nữa, lòng ghen tị của Sa-tan trỗi dậy khi nó nhìn vào ngôi nhà xinh đẹp được sắm sẵn cho đôi vợ chồng vô tội. Nó quyết tâm gây ra sự sa ngã của họ, để khi đã tách họ khỏi Đức Chúa Trời và đưa họ dưới quyền lực của chính nó, nó có thể chiếm hữu trái đất và thiết lập vương quốc của mình ở đây để đối lập với Đấng Chí Cao. GC 531.1

Nếu Sa-tan đã bày tỏ mình trong bản chất thật, nó sẽ bị khước từ ngay lập tức, vì A-đam và Ê-va đã được cảnh báo về kẻ thù nguy hiểm này; nhưng nó hành động trong bóng tối, che giấu mục đích, để có thể đạt được ý đồ một cách hiệu quả hơn. Dùng con rắn—lúc ấy là một sinh vật có vẻ ngoài quyến rũ—làm phương tiện, nó nói với Ê-va: Vả, trong các loài thú đồng mà Giê-hô-va Đức Chúa Trời đã làm nên, có con rắn là giống quỉ quyệt hơn hết. Rắn nói cùng người nữ rằng: Mà chi! Đức Chúa Trời há có phán dặn các ngươi không được phép ăn trái các cây trong vườn sao?

(Sáng-thế Ký 3:1)Nếu Ê-va đã không bước vào cuộc tranh luận với kẻ cám dỗ, bà sẽ được an toàn; nhưng bà đã liều đối đáp với nó và trở thành nạn nhân cho những mưu kế của nó. Đó cũng là cách mà nhiều người vẫn bị khuất phục ngày nay. Họ nghi ngờ và tranh luận về các đòi hỏi của Đức Chúa Trời; và thay vì vâng theo các mạng lịnh thiên thượng, họ chấp nhận những lý thuyết của loài người, là những điều chỉ ngụy trang các mưu chước của Sa-tan. GC 531.2

“Người nữ đáp rằng: Chúng ta được ăn trái các cây trong vườn, song về phần trái của cây mọc giữa vườn, Đức Chúa Trời có phán rằng: Hai ngươi chẳng nên ăn đến và cũng chẳng nên đá động đến, e khi hai ngươi phải chết chăng. Rắn bèn nói với người nữ rằng: Hai ngươi chẳng chết đâu; nhưng Đức Chúa Trời biết rằng hễ ngày nào hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời, biết điều thiện và điều ác.” (Sáng-thế Ký 3:2-5) Nó tuyên bố rằng họ sẽ trở nên giống như Đức Chúa Trời, sở hữu sự khôn ngoan lớn hơn trước và có khả năng đạt đến một trạng thái tồn tại cao hơn. Ê-va chịu thua cám dỗ; và qua ảnh hưởng của bà, A-đam bị dẫn vào tội lỗi. Họ chấp nhận lời của con rắn, rằng Đức Chúa Trời không có ý như Ngài đã phán; họ ngờ vực Đấng Tạo Hóa của mình và tưởng tượng rằng Ngài đang hạn chế sự tự do của họ và rằng họ có thể đạt được sự khôn ngoan và tôn cao lớn lao bằng cách vi phạm luật pháp Ngài. GC 532.1

Nhưng sau khi phạm tội, A-đam đã thấy ý nghĩa của những lời “ngày nào ngươi ăn trái cây đó, ngươi chắc sẽ chết” là gì? Ông có thấy những lời ấy mang ý nghĩa, như Sa-tan đã khiến ông tin, là ông sẽ được đưa vào một trạng thái tồn tại cao trọng hơn chăng? Nếu vậy thì quả thật có lợi ích lớn lao đạt được qua sự vi phạm, và Sa-tan đã được chứng minh là ân nhân của nhân loại. Nhưng A-đam đã không thấy đó là ý nghĩa của phán quyết thiên thượng. Đức Chúa Trời phán rằng như một hình phạt cho tội lỗi của ông, loài người sẽ trở về với đất bụi từ đó mình được lấy ra: ngươi sẽ làm đổ mồ hôi trán mới có mà ăn, cho đến ngày nào ngươi trở về đất, là nơi mà có ngươi ra; vì ngươi là bụi, ngươi sẽ trở về bụi.

(Sáng-thế Ký 3:19)Những lời của Sa-tan, “Mắt các ngươi sẽ mở ra,” chỉ được chứng minh là đúng theo nghĩa này: Sau khi A-đam và Ê-va đã bất tuân Đức Chúa Trời, mắt họ được mở ra để nhận biết sự dại dột của mình; họ đã biết điều ác, và họ đã nếm trái đắng của sự vi phạm. GC 532.2

Ở giữa vườn Ê-đen mọc lên cây sự sống, mà trái của nó có quyền năng kéo dài sự sống. Nếu A-đam vẫn vâng phục Đức Chúa Trời, ông sẽ tiếp tục được tự do đến gần cây này và sẽ sống mãi mãi. Nhưng khi ông phạm tội, ông bị cắt đứt khỏi việc dự phần cây sự sống, và ông trở nên phải chịu sự chết. Phán quyết thiên thượng, “Ngươi là bụi đất, và sẽ trở về bụi đất,” chỉ đến sự tuyệt diệt hoàn toàn của sự sống. GC 532.3

Sự bất tử, đã được hứa cho loài người với điều kiện vâng phục, đã bị mất đi bởi sự vi phạm. A-đam không thể truyền lại cho dòng dõi mình điều mà chính ông không sở hữu; và sẽ không có hi vọng nào cho nhân loại sa ngã nếu Đức Chúa Trời, qua sự hi sinh của Con Ngài, đã không đem sự bất tử đến trong tầm với của họ. Trong khi “sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người, vì mọi người đều phạm tội,” Đấng Christ “đã… bởi tin lành phô bày sự sống và sự không hề chết ra cho rõ ràng.” Cho nên, như bởi một người mà tội lỗi vào trong thế gian, lại bởi tội lỗi mà có sự chết, thì sự chết đã trải qua trên hết thảy mọi người như vậy, vì mọi người đều phạm tội…

(Rô-ma 5:12)mà bây giờ mới bày ra bởi sự hiện ra của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, Cứu Chúa chúng ta, Ngài đã hủy phá sự chết, dùng Tin lành phô bày sự sống và sự không hề chết ra cho rõ ràng. (II Ti-mô-thê 1:10) Và chỉ qua Đấng Christ mà sự bất tử mới có thể đạt được. Đức Chúa Giê-su phán: Ai tin Con, thì được sự sống đời đời; ai không chịu tin Con, thì chẳng thấy sự sống đâu, nhưng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời vẫn ở trên người đó. (Giăng 3:36) Mọi người đều có thể sở hữu phước hạnh vô giá này nếu họ tuân theo các điều kiện. Hết thảy “ai bền lòng làm lành, tìm sự vinh hiển, sự tôn trọng và sự chẳng hề chết,” sẽ nhận được “sự sống đời đời.” Ai bền lòng làm lành, tìm sự vinh hiển, sự tôn trọng và sự chẳng hề chết, thì báo cho sự sống đời đời; (Rô-ma 2:7) GC 533.1

Kẻ duy nhất hứa ban cho A-đam sự sống trong sự bất tuân là kẻ lừa dối lớn. Và lời tuyên bố của con rắn với Ê-va trong vườn Ê-đen—“Hai ngươi chẳng chết đâu”—là bài giảng đầu tiên từng được rao giảng về sự bất tử của linh hồn. Thế mà lời tuyên bố này, chỉ dựa trên thẩm quyền của Sa-tan, lại được vang lên từ các bục giảng của thế giới Cơ-đốc Giáo và được đa số nhân loại tiếp nhận một cách sẵn sàng như tổ phụ đầu tiên của chúng ta đã tiếp nhận. Phán quyết thiên thượng, “Linh hồn nào phạm tội, linh hồn ấy sẽ chết” (Linh hồn nào phạm tội thì sẽ chết. Con sẽ không mang sự gian ác của cha, và cha không mang sự gian ác của con. Sự công bình của người công bình sẽ được kể cho mình, sự dữ của kẻ dữ sẽ chất trên mình.

(Ê-xê-chi-ên 18:20)được giải nghĩa rằng: Linh hồn nào phạm tội, linh hồn ấy sẽ không chết, nhưng sẽ sống đời đời. Chúng ta không thể không lấy làm lạ về sự mê hoặc kỳ lạ khiến loài người lại cả tin đến thế đối với lời của Sa-tan và không tin đến thế đối với lời của Đức Chúa Trời. GC 533.2

Nếu loài người sau khi sa ngã được phép tự do đến gần cây sự sống, họ sẽ đã sống mãi mãi, và như vậy tội lỗi sẽ được bất tử hóa. Nhưng các chê-ru-bim và lưỡi gươm lòe lửa đã canh giữ “con đường đi đến cây sự sống” (Vậy, Ngài đuổi loài người ra khỏi vườn, rồi đặt tại phía đông vườn Ê-đen các thần chê-ru-bim với gươm lưỡi chói lòa, để giữ con đường đi đến cây sự sống.

(Sáng-thế Ký 3:24)và không một ai trong gia đình của A-đam đã được phép vượt qua rào cản đó và dự phần trái cây ban sự sống. Vì vậy, không có một tội nhân bất tử nào. GC 533.3

Nhưng sau sự sa ngã, Sa-tan truyền lệnh cho các thiên sứ của nó nỗ lực cách đặc biệt để gieo vào lòng loài người niềm tin về sự bất tử tự nhiên của con người; và sau khi đã dẫn dắt dân chúng tiếp nhận sự sai lầm này, chúng phải đưa họ đến kết luận rằng tội nhân sẽ sống trong sự khốn khổ đời đời. Bây giờ vua của bóng tối, hành động qua các tay sai của mình, miêu tả Đức Chúa Trời như một bạo chúa thù hận, tuyên bố rằng Ngài ném xuống địa ngục tất cả những ai không làm đẹp lòng Ngài, và khiến họ mãi mãi cảm nhận cơn thịnh nộ của Ngài; và rằng trong khi họ chịu nỗi thống khổ không thể tả xiết và quằn quại trong ngọn lửa đời đời, Đấng Tạo Hóa của họ nhìn xuống họ với sự thỏa mãn. GC 534.1

Như vậy, kẻ đầu sỏ của quỷ dữ đã khoác lên Đấng Tạo Hóa và Đấng Ban Ơn cho nhân loại những thuộc tính của chính nó. Sự tàn ác là thuộc về Sa-tan. Đức Chúa Trời là tình yêu thương; và tất cả những gì Ngài dựng nên đều thanh sạch, thánh khiết và đáng yêu, cho đến khi tội lỗi được đem vào bởi kẻ phản loạn lớn đầu tiên. Chính Sa-tan là kẻ thù cám dỗ loài người phạm tội, rồi hủy diệt họ nếu có thể; và khi nó đã nắm chắc nạn nhân của mình, nó liền đắc thắng trong sự hủy hoại mà nó đã gây ra. Nếu được phép, nó sẽ quét cả nhân loại vào lưới của mình. Nếu không có sự can thiệp của quyền năng thiên thượng, không một con trai hay con gái nào của A-đam thoát khỏi. GC 534.2

Sa-tan ngày nay đang tìm cách chế ngự loài người, như nó đã chế ngự tổ phụ đầu tiên của chúng ta, bằng cách làm lung lay lòng tin cậy của họ nơi Đấng Tạo Hóa và dẫn dụ họ nghi ngờ sự khôn ngoan trong chính quyền của Ngài và sự công bình trong các luật pháp của Ngài. Sa-tan và các sứ giả của nó miêu tả Đức Chúa Trời còn tệ hơn cả chính chúng, để biện minh cho sự độc ác và sự phản loạn của chúng. Kẻ lừa dối lớn cố gắng trút bản chất tàn nhẫn kinh khủng của chính mình lên Cha thiên thượng của chúng ta, để nó có thể khiến mình hiện ra như một kẻ bị đối xử bất công cách lớn lao bởi việc bị trục xuất khỏi thiên đàng vì không chịu khuất phục một vị cai trị quá ư bất công như thế. Nó trình bày trước thế gian sự tự do mà họ có thể hưởng dưới quyền cai trị dịu dàng của nó, trong sự tương phản với ách nô lệ do các sắc lệnh nghiêm khắc của Đức Giê-hô-va áp đặt. Như vậy nó thành công trong việc quyến dụ các linh hồn rời xa lòng trung thành với Đức Chúa Trời. GC 534.3

Thật ghê tởm biết bao đối với mọi cảm xúc yêu thương và thương xót, và ngay cả đối với ý thức công bình của chúng ta, là giáo lý dạy rằng những kẻ ác đã chết bị hành hạ bằng lửa và diêm sinh trong một hỏa ngục cháy đời đời; rằng vì những tội lỗi của một đời sống ngắn ngủi trên trần gian, họ phải chịu đau đớn chừng nào Đức Chúa Trời còn sống. Tuy vậy, giáo lý này đã được rao giảng rộng rãi và hiện vẫn còn được ghi trong nhiều bản tín điều của Cơ-đốc Giáo. Một tiến sĩ thần học uyên bác nói: “Cảnh tượng những sự đau đớn nơi hỏa ngục sẽ làm gia tăng hạnh phúc của các thánh đồ đời đời. Khi họ thấy những kẻ khác cùng bản chất và sinh ra trong cùng hoàn cảnh như mình bị chìm đắm trong sự khốn khổ dường ấy, còn mình thì được phân biệt như thế, điều đó sẽ khiến họ ý thức được mình hạnh phúc biết bao.” Một người khác đã dùng những lời này: “Trong khi án lệnh đoán phạt đang được thi hành đời đời trên các bình thạnh nộ, thì khói của sự đau đớn họ sẽ bốc lên đời đời trước mắt các bình thương xót, là những kẻ thay vì đứng về phía những đối tượng khốn khổ này, sẽ nói: A-men, Ha-lê-lu-gia! hãy ngợi khen Chúa!” GC 535.1

Ở đâu, trong các trang Lời Đức Chúa Trời, có thể tìm thấy sự dạy dỗ như vậy? Phải chăng những kẻ được cứu chuộc ở trên trời sẽ mất hết mọi cảm xúc thương hại và trắc ẩn, thậm chí mất cả những cảm giác nhân đạo thông thường? Những điều đó có phải đổi lấy sự dửng dưng của người khắc kỷ hay sự tàn nhẫn của kẻ man rợ không? Không, không; đó không phải là sự dạy dỗ của Sách Đức Chúa Trời. Những người trình bày các quan điểm được nêu trong các câu trích dẫn trên có thể là những người uyên bác và thậm chí thành thật, nhưng họ đã bị lừa dối bởi sự ngụy biện của Sa-tan. Nó dẫn họ giải thích sai những lời mạnh mẽ của Kinh Thánh, khoác cho ngôn ngữ ấy màu sắc cay đắng và ác độc vốn thuộc về chính nó, chứ không thuộc về Đấng Tạo Hóa của chúng ta. Hãy nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui, nhưng vui về nó xây bỏ đường lối mình và được sống. Các ngươi khá xây bỏ, xây bỏ đường lối xấu của mình. Sao các ngươi muốn chết, hỡi nhà Y-sơ-ra-ên?

(Ê-xê-chi-ên 33:11) GC 535.2

Đức Chúa Trời sẽ được ích lợi gì nếu chúng ta thừa nhận rằng Ngài vui thích chứng kiến những sự hành hạ không ngừng; rằng Ngài được tiêu khiển bởi những tiếng rên rỉ, kêu la và nguyền rủa của các tạo vật đau khổ mà Ngài giam giữ trong ngọn lửa của hỏa ngục? Những âm thanh kinh khủng ấy có thể là âm nhạc cho tai của Tình Yêu Vô Hạn chăng? Người ta lập luận rằng việc giáng sự khốn khổ vô tận trên kẻ ác sẽ cho thấy Đức Chúa Trời ghét tội lỗi như một điều ác hủy hoại sự bình an và trật tự của vũ trụ. Ôi, sự phạm thượng khủng khiếp! Dường như sự ghét tội lỗi của Đức Chúa Trời lại là lý do khiến tội lỗi được duy trì vĩnh viễn. Vì, theo sự dạy dỗ của các nhà thần học này, sự hành hạ liên tục không hy vọng thương xót làm điên cuồng các nạn nhân khốn khổ, và khi họ trút cơn thịnh nộ trong những lời nguyền rủa và phạm thượng, họ mãi mãi gia tăng gánh nặng tội lỗi của mình. Vinh hiển của Đức Chúa Trời không được gia tăng bởi việc duy trì tội lỗi không ngừng gia tăng qua các thời đại vô tận như vậy. GC 536.1

Trí óc con người không thể nào ước lượng được điều ác đã gây ra bởi tà thuyết về sự đau đớn đời đời. Tôn giáo của Kinh Thánh, đầy tình yêu thương và lòng nhân từ, dư dật lòng trắc ẩn, đã bị mê tín làm cho tối tăm và bị khoác lên sự kinh hoàng. Khi chúng ta xem xét Sa-tan đã sơn phết tánh hạnh của Đức Chúa Trời bằng những màu sắc giả dối nào, chúng ta có thể lấy làm lạ rằng Đấng Tạo Hóa thương xót của chúng ta bị sợ hãi, kinh khiếp, và thậm chí bị thù ghét không? Những quan điểm kinh hoàng về Đức Chúa Trời lan truyền khắp thế gian từ các sự dạy dỗ nơi bục giảng đã biến hàng ngàn, phải, hàng triệu người thành những kẻ hoài nghi và vô tín. GC 536.2

Thuyết về sự đau đớn đời đời là một trong những giáo lý giả dối cấu thành rượu của sự gớm ghiếc của Ba-by-lôn, mà nó khiến mọi nước phải uống. Một vị thiên sứ khác, là vị thứ hai, theo sau mà rằng: Ba-by-lôn lớn kia, đã đổ rồi, đã đổ rồi, vì nó có cho các dân tộc uống rượu tà dâm thạnh nộ của nó.

(Khải-huyền 14:8)Các vua trong thiên hạ phạm tội tà dâm với nó, và dân sự trong thế gian cũng say sưa vì rượu tà dâm của nó. (Khải-huyền 17:2) Việc các tôi tớ của Đấng Christ lại chấp nhận tà thuyết này và rao giảng nó từ bục thánh quả là một điều bí ẩn. Họ đã nhận nó từ La-mã, như họ đã nhận ngày Sa-bát giả. Quả thật, nó đã được dạy bởi những người vĩ đại và tốt; nhưng ánh sáng về đề tài này đã không đến với họ như đã đến với chúng ta. Họ chỉ chịu trách nhiệm về ánh sáng đã chiếu trong thời đại họ; chúng ta chịu trách nhiệm về ánh sáng chiếu trong thời đại chúng ta. Nếu chúng ta quay lưng khỏi chứng cứ của Lời Đức Chúa Trời và chấp nhận các giáo lý giả dối vì tổ phụ chúng ta đã dạy, thì chúng ta rơi vào sự đoán phạt đã tuyên trên Ba-by-lôn; chúng ta đang uống rượu của sự gớm ghiếc của nó. GC 536.3

Một nhóm đông những người cảm thấy ghê tởm trước giáo lý về sự đau đớn đời đời thì lại bị đẩy sang sai lầm đối nghịch. Họ thấy rằng Kinh Thánh trình bày Đức Chúa Trời là đấng yêu thương và thương xót, và họ không thể tin rằng Ngài sẽ giáng các tạo vật của Ngài vào ngọn lửa của hỏa ngục cháy đời đời. Nhưng vì cho rằng linh hồn vốn bất tử tự nhiên, họ không thấy giải pháp nào khác ngoài việc kết luận rằng cuối cùng cả nhân loại sẽ được cứu. Nhiều người xem những lời đe dọa của Kinh Thánh chỉ được đặt ra để dọa loài người vâng lời, chứ không phải để được thực hiện theo nghĩa đen. Như thế, kẻ có tội có thể sống trong thú vui ích kỷ, bất chấp những đòi hỏi của Đức Chúa Trời, mà vẫn mong cuối cùng được tiếp nhận vào ân huệ của Ngài. Một giáo lý như vậy, dựa dẫm vào sự thương xót của Đức Chúa Trời nhưng làm ngơ sự công bình của Ngài, thì làm vừa lòng tấm lòng xác thịt và làm cho kẻ ác bạo gan hơn trong sự gian ác của mình. GC 537.1

Để cho thấy những người tin sự cứu rỗi phổ quát đã xuyên tạc Kinh Thánh thế nào hầu biện hộ cho các giáo điều hủy hoại linh hồn của mình, chỉ cần trích dẫn chính lời nói của họ là đủ. Tại tang lễ của một thanh niên vô tín, người đã bị chết ngay lập tức vì tai nạn, một mục sư thuộc phái Cứu rỗi Phổ quát đã chọn làm đề tài cho mình câu Kinh Thánh nói về Đa-vít: Đoạn, vua Đa-vít bỏ không đuổi theo Áp-sa-lôm nữa, vì vua đã được giải buồn về sự chết của Am-nôn.

(II Sa-mu-ên 13:39) GC 537.2

“Tôi thường được hỏi,” vị diễn giả nói, “số phận của những ai lìa đời trong tội lỗi, chết có lẽ trong trạng thái say sưa, chết với những vết nhơ đỏ thắm của tội ác chưa được rửa sạch khỏi áo mình, hoặc chết như người thanh niên này đã chết, chưa bao giờ xưng nhận hay có kinh nghiệm tôn giáo, thì sẽ ra sao. Chúng tôi hài lòng với Kinh Thánh; câu trả lời của Kinh Thánh sẽ giải đáp nan đề khủng khiếp ấy. Am-nôn cực kỳ gian ác; hắn không ăn năn, hắn bị làm cho say, và trong khi say đã bị giết. Đa-vít là một tiên tri của Đức Chúa Trời; ông hẳn phải biết liệu Am-nôn sẽ được hay không được ở thế giới tương lai. Những tình cảm nơi lòng ông là gì? ‘Lòng vua Đa-vít mong muốn đi thăm Áp-sa-lôm; vì vua đã được yên ủi về Am-nôn, bởi người đã chết rồi.’ Câu 39. GC 537.3

“Và điều suy luận rút ra từ lời nói này là gì? Chẳng phải là sự đau đớn vô tận không hề là một phần của đức tin tôn giáo ông sao? Chúng tôi nghĩ vậy; và tại đây chúng tôi khám phá một luận cứ đắc thắng ủng hộ giả thuyết dễ chịu hơn, sáng suốt hơn, nhân từ hơn về sự thanh sạch và bình an phổ quát cuối cùng. Ông được yên ủi, vì thấy con mình đã chết. Và tại sao vậy? Vì bằng con mắt tiên tri, ông có thể nhìn về tương lai vinh quang và thấy đứa con ấy được đem ra khỏi mọi cám dỗ, được giải thoát khỏi ách nô lệ và được tẩy sạch khỏi những sự bại hoại của tội lỗi, và sau khi được nên thánh và sáng suốt đầy đủ, được tiếp nhận vào hội chúng của các thần linh đã thăng thiên và đang vui mừng. Sự yên ủi duy nhất của ông là, trong việc được đem ra khỏi trạng thái hiện tại của tội lỗi và đau khổ, đứa con yêu dấu của ông đã đi đến nơi mà những hơi thở cao siêu nhất của Đức Thánh Linh sẽ được tuôn đổ trên linh hồn tăm tối của nó, nơi tâm trí nó sẽ được mở ra cho sự khôn ngoan của thiên đàng và những sự vui sướng ngọt ngào của tình yêu bất tử, và như thế được chuẩn bị bằng một bản tánh đã được thánh hóa để hưởng sự nghỉ ngơi và sự hiệp thông của cơ nghiệp thiên đàng. GC 538.1

“Trong những tư tưởng này, chúng tôi muốn được hiểu rằng chúng tôi tin sự cứu rỗi của thiên đàng không tùy thuộc vào bất cứ điều gì chúng ta có thể làm trong đời này; không tùy thuộc vào sự thay đổi tấm lòng hiện tại, cũng không tùy thuộc vào niềm tin hiện tại, hay sự xưng nhận tôn giáo hiện tại.” GC 538.2

Như vậy, người tự xưng là tôi tớ của Đấng Christ này lặp lại lời dối trá mà con rắn đã nói trong vườn Ê-đen: “Hai ngươi chẳng chết đâu.” “Trong ngày hai ngươi ăn trái cây đó, mắt mình mở ra, sẽ như Đức Chúa Trời.” Ông tuyên bố rằng những kẻ tội lỗi đê tiện nhất — kẻ giết người, kẻ trộm cắp, và kẻ ngoại tình — sau khi chết sẽ được chuẩn bị để bước vào sự phước hạnh bất tử. GC 538.3

Và kẻ xuyên tạc Kinh Thánh này rút ra kết luận của mình từ đâu? Từ một câu duy nhất bày tỏ sự thuận phục của Đa-vít đối với sự an bài của Đấng Quan Phòng. Linh hồn vua “mong mỏi đi đến cùng Áp-sa-lôm; vì vua đã được yên ủi về Am-nôn, thấy nó đã chết rồi.” Nỗi đau đớn thống thiết của vua đã được thời gian làm dịu đi, tư tưởng vua xoay từ người con đã chết sang người con còn sống, kẻ đã tự lưu đày vì sợ hình phạt công bình cho tội ác của mình. Và đây lại là bằng chứng cho thấy Am-nôn loạn luân và say sưa kia, vào lúc chết, đã được đưa ngay lập tức đến chốn phước hạnh, để tại đó được thanh tẩy và chuẩn bị cho sự kết bạn với các thiên sứ vô tội! Quả là một câu chuyện hoang đường dễ chịu, rất thích hợp để làm thoả lòng xác thịt! Đây chính là giáo lý của Sa-tan, và nó hoàn thành công việc của hắn một cách hữu hiệu. Chúng ta có nên ngạc nhiên chăng khi với sự dạy dỗ như vậy, điều ác lan tràn? GC 538.4

Đường lối của một giáo sư giả này minh họa cho đường lối của nhiều kẻ khác. Một vài lời trong Kinh Thánh bị tách khỏi văn mạch, mà trong nhiều trường hợp văn mạch ấy sẽ cho thấy ý nghĩa hoàn toàn trái ngược với cách giải nghĩa đã được áp đặt; và những đoạn rời rạc như thế bị xuyên tạc và được dùng để chứng minh các giáo lý không có nền tảng trong Lời Đức Chúa Trời. Lời chứng được viện dẫn làm bằng cớ rằng Am-nôn say sưa đang ở trên thiên đàng chỉ là một suy diễn, trái ngược trực tiếp với lời tuyên bố rõ ràng và xác quyết của Kinh Thánh rằng không một kẻ say sưa nào sẽ được hưởng nước Đức Chúa Trời. Chớ tự dối mình: Phàm những kẻ tà dâm, kẻ thờ hình tượng, kẻ ngoại tình, kẻ làm giáng yểu điệu, kẻ đắm nam sắc, kẻ trộm cướp, kẻ hà tiện, kẻ say sưa, kẻ chưởi rủa, kẻ chắt bóp, đều chẳng hưởng được nước Đức Chúa Trời đâu.

(I Cô-rinh-tô 6:10)Chính như vậy mà những kẻ nghi ngờ, vô tín và hoài nghi biến lẽ thật thành điều dối trá. Và vô số người đã bị lừa dối bởi sự ngụy biện của họ và bị ru ngủ trong chiếc nôi an toàn của xác thịt. GC 539.1

Nếu quả thật linh hồn của mọi người đều đi thẳng lên thiên đàng ngay trong giờ lìa đời, thì chúng ta có lẽ nên ham chết hơn là ham sống. Nhiều người đã bị dẫn dắt bởi niềm tin này mà kết liễu đời mình. Khi bị đè nặng bởi hoạn nạn, bối rối và thất vọng, thì việc bẻ gãy sợi chỉ mong manh của sự sống để bay vút vào phước hạnh của thế giới đời đời dường như là một điều dễ dàng. GC 539.2

Đức Chúa Trời đã ban trong Lời Ngài bằng chứng dứt khoát rằng Ngài sẽ trừng phạt những kẻ vi phạm luật pháp Ngài. Những ai tự phỉnh dối mình rằng Ngài quá nhân từ nên không thể thi hành công lý trên kẻ có tội, chỉ cần nhìn lên thập tự giá tại Gô-gô-tha. Sự chết của Con Đức Chúa Trời vô tì vết làm chứng rằng “tiền công của tội lỗi là sự chết,” rằng mỗi sự vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời đều phải chịu hình phạt công bình của nó. Đấng Christ vô tội đã trở nên tội lỗi vì loài người. Ngài đã gánh chịu tội lỗi của sự vi phạm, và sự Đức Chúa Cha giấu mặt Ngài đi, cho đến khi lòng Ngài tan vỡ và sự sống Ngài bị nghiền nát. Tất cả sự hy sinh ấy được thực hiện để những kẻ có tội có thể được cứu chuộc. Không có con đường nào khác để con người có thể được giải thoát khỏi hình phạt của tội lỗi. Và mỗi linh hồn nào từ chối dự phần vào sự chuộc tội được cung ứng với giá đắt như vậy thì chính mình phải gánh lấy tội lỗi và hình phạt của sự vi phạm. GC 539.3

Chúng ta hãy xem Kinh Thánh còn dạy gì nữa về những kẻ gian ác và không ăn năn, là những kẻ mà người theo thuyết Phổ Cứu đặt trên thiên đàng như những thiên sứ thánh khiết, hạnh phúc. GC 540.1

“Ta sẽ ban nhưng không cho kẻ nào khát, uống nơi suối nước sự sống.” Ngài lại phán cùng tôi rằng: Xong rồi! Ta là An-phaÔ-mê-ga, nghĩa là đầu tiên và cuối cùng. Kẻ nào khát, ta sẽ lấy nước suối sự sống mà ban cho nhưng không.

(Khải-huyền 21:6)Lời hứa này chỉ dành cho những ai khao khát. Không ai ngoài những người cảm biết nhu cầu của mình về nước sự sống, và tìm kiếm nó dù phải mất mọi sự khác, sẽ được cung cấp. “Kẻ nào thắng sẽ được những sự ấy làm cơ nghiệp; ta sẽ làm Đức Chúa Trời người và người sẽ làm con ta.” Câu 7. Ở đây cũng vậy, các điều kiện đã được nêu rõ. Để thừa hưởng mọi sự, chúng ta phải chống cự và chiến thắng tội lỗi. GC 540.2

Chúa phán qua tiên tri Ê-sai: “Hãy rao cho kẻ công bình được phước.” “Khốn cho kẻ hung ác, ắt mang họa; vì họ sẽ bị báo trả tùy theo việc tay mình làm.” Hãy rao cho kẻ công bình được phước; vì họ sẽ ăn trái của việc làm mình. Khốn cho kẻ hung ác, ắt mang họa! Vì họ sẽ thâu lại việc tự tay mình làm ra!

(Ê-sai 3:10-11)Dầu kẻ có tội làm ác một trăm lần,” người khôn ngoan nói, “và được trường thọ, nhưng ta biết rằng kẻ kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời, sau rốt ắt được phước. Nhưng kẻ ác chẳng sẽ được phước.” Vì kẻ có tội làm ác một trăm lần vẫn được trường thọ; dầu vậy, ta biết rằng kẻ kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời, sau rốt ắt được phước. Nhưng kẻ ác sẽ chẳng được phước; cũng sẽ không được sống lâu, vì đời nó giống như bóng qua; ấy tại nó không kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời. (Truyền-đạo 8:12-13) Và Phao-lô làm chứng rằng kẻ có tội đang chất chứa cho chính mình “cơn giận về ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm;” “sự hoạn nạn khốn khổ giáng cho mọi linh hồn của người làm ác.” Bởi lòng ngươi cứng cỏi, không ăn năn, thì tự chất chứa cho mình sự giận về ngày thạnh nộ, khi sẽ hiện ra sự phán xét công bình của Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ trả lại cho mỗi người tùy theo công việc họ làm: (Rô-ma 2:5-6) Sự hoạn nạn khốn khó giáng cho mọi người làm ác, trước cho người Giu-đa, sau cho người Gờ-réc; (Rô-ma 2:9) GC 540.3

“Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Christ và Đức Chúa Trời.” Vì anh em phải biết rõ rằng kẻ gian dâm, ô uế, tham lam, tức là kẻ thờ hình tượng, không một kẻ nào được dự phần kế nghiệp của nước Đấng Cơ-đốc và Đức Chúa Trời.

(Ê-phê-sô 5:5)A.R.V. “Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời.” Hãy cầu sự bình an với mọi người, cùng tìm theo sự nên thánh, vì nếu không nên thánh thì chẳng ai được thấy Đức Chúa Trời. (Hê-bơ-rơ 12:14) Phước thay cho những kẻ giữ các điều răn Ngài, hầu cho mình được phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành! Những loài chó, những thuật sĩ, những kẻ tà dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ hình tượng, và kẻ nào ưa thích cùng làm sự giả dối đều ở ngoài hết thảy.” Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành! Những loài chó, những thuật sĩ, những kẻ tà dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ hình tượng, và những kẻ ưa thích cùng làm sự giả dối đều ở ngoài hết thảy. (Khải-huyền 22:14-15) GC 541.1

Đức Chúa Trời đã ban cho loài người một sự công bố về bản tánh Ngài và phương cách Ngài đối xử với tội lỗi. “Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội.” Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời.

(Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6-7)Ngài sẽ hủy diệt hết thảy những kẻ ác.” “Còn kẻ phạm pháp sẽ cùng nhau bị hủy hoại; sự tương lai kẻ ác sẽ bị diệt đi.” Đức Giê-hô-va bảo hộ những kẻ yêu mến Ngài, Song hủy diệt những kẻ ác. (Thi-thiên 145:20) Còn các kẻ vi phạm sẽ cùng nhau bị hủy hoại; Sự tương lai kẻ ác sẽ bị diệt đi. (Thi-thiên 37:38) Quyền năng và thẩm quyền của chính phủ thiên thượng sẽ được sử dụng để dẹp tan sự phản nghịch; song mọi sự biểu hiện của công lý báo trả sẽ hoàn toàn phù hợp với bản tánh của Đức Chúa Trời là một Đấng nhân từ, nhịn nhục và nhân lành. GC 541.2

Đức Chúa Trời không ép buộc ý chí hay phán đoán của một ai. Ngài không vui thích trong sự vâng phục nô lệ. Ngài mong muốn rằng các tạo vật do tay Ngài dựng nên sẽ yêu mến Ngài bởi vì Ngài xứng đáng được yêu mến. Ngài muốn họ vâng phục Ngài vì họ có sự trân quý khôn ngoan đối với sự khôn ngoan, công bình và nhân lành của Ngài. Và tất cả những ai có một quan niệm đúng đắn về các đức tính này sẽ yêu mến Ngài vì họ bị hấp dẫn đến với Ngài trong sự ngưỡng mộ các phẩm tính của Ngài. GC 541.3

Các nguyên tắc về lòng nhân ái, thương xót và yêu thương, được Đấng Cứu Thế của chúng ta dạy dỗ và làm gương, là bản sao của ý chỉ và bản tánh của Đức Chúa Trời. Đấng Christ tuyên bố rằng Ngài không dạy điều gì ngoài điều Ngài đã nhận từ Cha Ngài. Các nguyên tắc của chính phủ thiên thượng hoàn toàn hòa hợp với giới răn của Đấng Cứu Thế, “Hãy yêu kẻ thù nghịch các ngươi.” Đức Chúa Trời thi hành sự công bình trên kẻ ác, vì lợi ích của vũ trụ, và thậm chí vì lợi ích của chính những kẻ bị phán xét Ngài giáng trên. Ngài sẽ làm cho họ được hạnh phúc nếu Ngài có thể làm điều đó phù hợp với các luật của chính phủ Ngài và sự công bình của bản tánh Ngài. Ngài bao phủ họ bằng các dấu hiệu của tình yêu Ngài, Ngài ban cho họ sự hiểu biết về luật pháp Ngài, và theo đuổi họ với những lời đề nghị của lòng thương xót Ngài; nhưng họ khinh dể tình yêu Ngài, vô hiệu hóa luật pháp Ngài và từ chối lòng thương xót Ngài. Trong khi không ngớt nhận các ân tứ của Ngài, họ lại làm nhục Đấng Ban Cho; họ ghét Đức Chúa Trời vì họ biết rằng Ngài gớm ghiếc tội lỗi của họ. Chúa nhịn nhục lâu với sự ngoan cố của họ; nhưng giờ quyết định cuối cùng sẽ đến, khi số phận của họ phải được định đoạt. Khi ấy Ngài có sẽ xiềng những kẻ phản nghịch này bên cạnh Ngài chăng? Ngài có sẽ ép họ làm theo ý muốn Ngài chăng? GC 541.4

Những ai đã chọn Sa-tan làm thủ lãnh và đã bị quyền lực hắn điều khiển thì không được chuẩn bị để bước vào sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Kiêu ngạo, lừa dối, phóng đãng, tàn nhẫn, đã trở nên cố định trong nhân cách của họ. Họ có thể vào thiên đàng để ở đời đời với những người mà họ đã khinh dể và ghét bỏ trên đất chăng? Lẽ thật sẽ chẳng bao giờ vừa lòng kẻ nói dối; sự nhu mì sẽ không làm thỏa mãn sự tự cao và kiêu ngạo; sự tinh sạch không được kẻ bại hoại chấp nhận; tình yêu vô vị lợi không có vẻ hấp dẫn đối với kẻ ích kỷ. Thiên đàng có thể cống hiến nguồn vui thú nào cho những kẻ hoàn toàn chìm đắm trong các lợi ích trần tục và ích kỷ? GC 542.1

Những người đã dành cả đời sống để nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời, giả sử họ bỗng nhiên được đưa lên thiên đàng và chứng kiến trạng thái cao cả, thánh khiết và trọn vẹn luôn ngự trị nơi đó—mỗi linh hồn tràn đầy tình yêu thương, mỗi gương mặt rạng rỡ niềm vui, tiếng nhạc say đắm lòng người trỗi lên những giai điệu du dương tôn vinh Đức Chúa Trời và Chiên Con, cùng những dòng ánh sáng không ngừng tuôn đổ trên những người được cứu chuộc từ thiên nhan của Đấng ngự trên ngôi—liệu những kẻ có lòng đầy căm ghét Đức Chúa Trời, ghét lẽ thật và sự thánh khiết, có thể hòa mình với đoàn dân trên trời và cùng cất tiếng ca ngợi được chăng? Liệu họ có thể chịu nổi sự vinh hiển của Đức Chúa Trời và Chiên Con chăng? Không, không bao giờ; những năm tháng thử thách đã được ban cho họ, để họ có thể hun đúc nhân cách xứng hợp với thiên đàng; nhưng họ chưa bao giờ tập cho tâm trí mình biết yêu mến sự thanh sạch; họ chưa bao giờ học ngôn ngữ của thiên đàng, và giờ đây đã quá trễ. Một đời sống nổi loạn chống nghịch Đức Chúa Trời đã khiến họ không còn thích hợp với thiên đàng. Sự thanh sạch, thánh khiết và bình an nơi đó sẽ là sự hành hạ đối với họ; sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sẽ là một đám lửa thiêu nuốt. Họ sẽ khao khát chạy trốn khỏi nơi thánh ấy. Họ sẽ đón nhận sự hủy diệt, hầu cho được giấu mình khỏi thiên nhan của Đấng đã chịu chết để cứu chuộc họ. Số phận của kẻ ác được định đoạt bởi chính sự lựa chọn của họ. Việc họ bị loại ra khỏi thiên đàng là do chính họ tự nguyện, và về phía Đức Chúa Trời thì đó là điều công bình và thương xót. GC 542.2

Giống như những dòng nước của cơn Đại hồng thủy, lửa của ngày lớn ấy công bố lời phán quyết của Đức Chúa Trời rằng kẻ ác không thể cứu chữa được. Họ không có lòng thuận phục thẩm quyền thiên thượng. Ý chí họ đã được vận dụng trong sự phản nghịch; và khi đời sống kết thúc, đã quá trễ để quay chuyển dòng suy nghĩ của họ sang hướng ngược lại, quá trễ để từ bỏ sự phạm pháp mà trở lại vâng phục, từ bỏ lòng căm ghét mà trở về yêu thương. GC 543.1

Khi tha mạng sống cho Ca-in, kẻ giết người, Đức Chúa Trời đã cho thế gian một tấm gương về kết quả sẽ ra sao nếu để kẻ có tội tiếp tục sống mà đeo đuổi con đường gian ác không kiềm chế. Qua ảnh hưởng từ lời dạy và gương xấu của Ca-in, vô số con cháu của hắn đã bị lôi cuốn vào tội lỗi, cho đến khi Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn;

(Sáng-thế Ký 6:5)Thế gian bấy giờ đều bại hoại trước mặt Đức Chúa Trời và đầy dẫy sự hung ác. (Sáng-thế Ký 6:11) GC 543.2

Vì thương xót thế gian, Đức Chúa Trời đã xóa sạch những cư dân gian ác của nó trong thời Nô-ê. Vì thương xót, Ngài đã hủy diệt những cư dân bại hoại của thành Sô-đôm. Qua quyền lực lừa dối của Sa-tan, những kẻ làm ác nhận được sự đồng cảm và ngưỡng mộ, và nhờ đó không ngừng dẫn dắt người khác vào sự phản nghịch. Đã như vậy trong thời Ca-in và thời Nô-ê, trong thời Áp-ra-ham và Lót; thời chúng ta cũng vậy. Chính vì thương xót cả vũ trụ mà cuối cùng Đức Chúa Trời sẽ hủy diệt những kẻ chối bỏ ân điển của Ngài. GC 543.3

“Vì tiền công của tội lỗi là sự chết; nhưng sự ban cho của Đức Chúa Trời là sự sống đời đời trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, Chúa chúng ta.” (Rô-ma 6:23) Trong khi sự sống là cơ nghiệp của người công bình, thì sự chết là phần của kẻ ác. Môi-se đã tuyên bố cùng dân Y-sơ-ra-ên rằng: Hãy xem, ngày nay ta đặt trước mặt ngươi sự sống và phước lành, sự chết và tai họa, (Phục-truyền Luật-lệ Ký 30:15) Sự chết được nói đến trong các đoạn Kinh Thánh này không phải là sự chết đã tuyên án trên A-đam, vì cả nhân loại đều chịu hình phạt của sự phạm pháp của ông. Đó là “sự chết thứ hai” được đặt đối chiếu với sự sống đời đời. GC 544.1

Bởi tội lỗi của A-đam, sự chết đã đến trên toàn thể nhân loại. Hết thảy đều đi xuống mồ mả như nhau. Và qua sự sắp đặt của chương trình cứu rỗi, hết thảy đều sẽ được đưa ra khỏi mồ mả. và tôi có sự trông cậy này nơi Đức Chúa Trời, như chính họ cũng có vậy, tức là sẽ có sự sống lại của người công bình và không công bình.

(Công-vụ các Sứ-đồ 24:15)Như trong A-đam mọi người đều chết, thì cũng một lẽ ấy, trong Đấng Cơ-đốc mọi người đều sẽ sống lại, (I Cô-rinh-tô 15:22) Nhưng có một sự phân biệt giữa hai hạng người được đưa ra. Chớ lấy điều đó làm lạ; vì giờ đến, khi mọi người ở trong mồ mả nghe tiếng Ngài và ra khỏi; ai đã làm lành thì sống lại để được sống, ai đã làm dữ thì sống lại để bị xét đoán. (Giăng 5:28-29) Những người đã được “kể là xứng đáng” với sự sống lại của sự sống là “có phước và thánh”. Phước thay và thánh thay những kẻ được phần về sự sống lại thứ nhất! Sự chết thứ nhì không có quyền gì trên những người ấy; song những người ấy sẽ làm thầy tế lễ của Đức Chúa Trời và của Đấng Cơ-đốc, cùng sẽ trị vì với Ngài trong một ngàn năm. (Khải-huyền 20:6) Nhưng những người đã không, qua sự ăn năn và đức tin, nhận được sự tha thứ, thì phải chịu hình phạt của sự phạm pháp—“tiền công của tội lỗi”. Họ chịu hình phạt khác nhau về thời gian và mức độ, “tùy theo công việc họ”, nhưng cuối cùng kết thúc trong sự chết thứ hai. Vì Đức Chúa Trời không thể, phù hợp với sự công bình và lòng thương xót của Ngài, cứu kẻ có tội trong tội lỗi của nó, nên Ngài tước đi sự hiện hữu mà những sự phạm pháp của nó đã làm mất đi và mà nó đã chứng tỏ mình không xứng đáng. Một tác giả được Đức Thánh Linh cảm thúc nói rằng: Một chút nữa kẻ ác không còn. Ngươi sẽ xem xét chỗ hắn, thật không còn nữa. (Thi-thiên 37:10) Và một người khác tuyên bố: [[BIBLE:Obadiah 16]]. Bị phủ đầy ô nhục, họ chìm vào cõi quên lãng đời đời không hy vọng. GC 544.2

Như vậy sẽ có sự chấm dứt tội lỗi, cùng với tất cả những khốn khổ và đổ nát do nó gây ra. Tác giả Thi Thiên nói rằng: Chúa đã quở trách các nước, hủy diệt kẻ ác, Xóa sạch danh chúng nó đời đời. Kẻ thù nghịch đã đến cùng, bị hủy diệt đời đời; Còn các thành Chúa đã phá đổ, Dầu kỷ niệm nó cũng đã bị hư mất rồi.

(Thi-thiên 9:5-6)Giăng, trong sách Khải Huyền, nhìn tới trạng thái đời đời, nghe một bài ca tôn vinh phổ quát không bị quấy rầy bởi một nốt nhạc bất hòa nào. Mọi loài thọ tạo trên trời và dưới đất đều được nghe dâng vinh hiển lên Đức Chúa Trời. Tôi lại nghe mọi vật dựng nên trên trời, dưới đất, bên dưới đất, trên biển, cùng mọi vật ở đó đều nói rằng: Chúc cho Đấng ngồi trên ngôi cùng Chiên Con được ngợi khen, tôn quí, vinh hiển và quyền phép cho đến đời đời! (Khải-huyền 5:13) Khi ấy sẽ không còn linh hồn hư mất nào phạm thượng Đức Chúa Trời trong khi quằn quại giữa cực hình không bao giờ dứt; không có những sinh linh khốn khổ nào trong hỏa ngục hòa tiếng kêu rên với những bài ca của những người được cứu. GC 545.1

Trên sai lầm căn bản về sự bất tử tự nhiên mà học thuyết về sự ý thức trong sự chết được dựng lên—một học thuyết, cũng như sự thống khổ đời đời, đối nghịch với lời dạy của Kinh Thánh, với lý trí và với cảm xúc nhân đạo của chúng ta. Theo quan niệm phổ biến, những người được cứu chuộc ở trên trời biết tất cả những gì xảy ra trên đất và đặc biệt biết đời sống của các bạn hữu mà họ đã để lại phía sau. Nhưng làm thế nào mà việc biết những nỗi phiền muộn của người sống, chứng kiến những tội lỗi do chính những người thân yêu của mình phạm phải, và nhìn thấy họ chịu đựng mọi sự buồn rầu, thất vọng và đau đớn của đời sống, lại có thể là nguồn hạnh phúc cho người chết? Những người lơ lửng phía trên các bạn hữu mình trên đất sẽ hưởng được bao nhiêu sự vui thỏa của thiên đàng? Và niềm tin rằng ngay khi hơi thở rời khỏi thân xác thì linh hồn của kẻ không ăn năn liền bị đày vào lửa hỏa ngục, quả là kinh khủng biết bao! Những người nhìn thấy các bạn hữu mình xuống mồ mà chưa được chuẩn bị, để bước vào cõi đời đời đầy khốn khổ và tội lỗi, chắc phải chìm vào vực sâu đau khổ nào! Nhiều người đã bị đẩy đến chỗ điên loạn vì ý nghĩ khắc khoải này. GC 545.2

Kinh Thánh nói gì về những điều này? Đa-vít tuyên bố rằng con người không có ý thức trong sự chết. Hơi thở tắt đi, loài người bèn trở về bụi đất mình; Trong chánh ngày đó các mưu mô nó liền mất đi.

(Thi-thiên 146:4)Sa-lô-môn cũng làm chứng như vậy: Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết, chẳng được phần thưởng gì hết; vì sự kỷ niệm họ đã bị quên đi. Sự yêu, sự ghét, sự ganh gỗ của họ thảy đều tiêu mất từ lâu; họ chẳng hề còn có phần nào về mọi điều làm ra dưới mặt trời. (Truyền-đạo 9:5-6) Mọi việc tay ngươi làm được, hãy làm hết sức mình; vì dưới Âm phủ, là nơi ngươi đi đến, chẳng có việc làm, chẳng có mưu kế cũng chẳng có tri thức hay là sự khôn ngoan. (Truyền-đạo 9:10) GC 545.3

Khi, để đáp lời cầu nguyện của mình, đời sống của Ê-xê-chia được kéo dài thêm mười lăm năm, vị vua biết ơn đã dâng lên Đức Chúa Trời lời ca ngợi vì lòng thương xót lớn lao của Ngài. Trong bài ca ấy, ông nói rõ lý do vì sao mình vui mừng như vậy: Nơi Âm phủ chẳng ngợi khen Ngài được, và sự chết chẳng tôn vinh Ngài được; những kẻ đã xuống mồ rồi chẳng còn trông cậy sự thành thật của Ngài nữa. Duy kẻ sống, kẻ sống mới hay tôn vinh Ngài, như tôi làm ngày nay; kẻ làm cha sẽ cho con cái mình biết sự thành thật của Ngài.

(Ê-sai 38:18-19)Thần học phổ thông mô tả những người công bình đã chết là đang ở trên thiên đàng, đã bước vào sự vui thỏa và ngợi khen Đức Chúa Trời bằng một cái lưỡi bất tử; nhưng Ê-xê-chia không thể thấy viễn cảnh vinh hiển nào như vậy trong sự chết. Lời của ông đồng ý với lời chứng của tác giả Thi Thiên: Vì trong sự chết chẳng còn nhớ đến Chúa nữa; Nơi Âm phủ ai sẽ cảm tạ Chúa? (Thi-thiên 6:5) Kẻ chết hoặc kẻ xuống cõi nín lặng chẳng ngợi khen Đức Giê-hô-va. (Thi-thiên 115:17) GC 546.1

Phi-e-rơ trong ngày lễ Ngũ Tuần đã tuyên bố rằng tộc trưởng Đa-vít “đã chết và chôn rồi, ngày nay mồ mả người còn ở giữa chúng ta.” “Vì vua Đa-vít chẳng hề lên trời.” Hỡi anh em, ta thật có thể nói cách vững vàng với anh em về tổ Đa-vít rằng người đã chết và chôn rồi, ngày nay mồ mả người còn ở giữa chúng ta.

(Công-vụ các Sứ-đồ 2:29)Vì vua Đa-vít chẳng hề lên trời, nhưng chính người có nói: Chúa đã phán cùng Chúa tôi rằng: Hãy ngồi bên hữu ta, (Công-vụ các Sứ-đồ 2:34) Sự kiện Đa-vít vẫn còn ở trong mồ mả cho đến ngày sống lại chứng tỏ rằng những người công bình không lên thiên đàng khi chết. Chỉ nhờ sự sống lại, và bởi vì Đấng Christ đã sống lại, nên cuối cùng Đa-vít mới có thể ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. GC 546.2

Và Phao-lô nói: “Vì nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì Đấng Christ cũng đã chẳng sống lại; và nếu Đấng Christ đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời.” Vì nếu kẻ chết chẳng sống lại, thì Đấng Cơ-đốc cũng đã chẳng sống lại nữa. Và nếu Đấng Cơ-đốc đã chẳng sống lại, thì đức tin anh em cũng vô ích, anh em còn ở trong tội lỗi mình. Vậy, những kẻ ngủ trong Đấng Cơ-đốc cũng phải hư mất đời đời.

(I Cô-rinh-tô 15:16-18)Nếu trong bốn ngàn năm những người công bình đã đi thẳng lên thiên đàng khi chết, thì làm sao Phao-lô có thể nói rằng nếu không có sự sống lại, thì “những kẻ ngủ trong Đấng Christ cũng phải hư mất đời đời”? Sự sống lại sẽ không còn cần thiết nữa. GC 546.3

Người tử đạo Tyndale, khi đề cập đến tình trạng của người chết, đã tuyên bố: “Tôi công khai thú nhận rằng tôi không tin là họ đã ở trong sự vinh hiển trọn vẹn mà Đấng Christ đang ở, hay các thiên sứ được chọn của Đức Chúa Trời đang ở. Đó cũng không phải là một tín điều đức tin của tôi; vì nếu quả như vậy, tôi không thấy sự rao giảng về sự sống lại của xác thịt còn ý nghĩa gì nữa."—William Tyndale, Lời tựa Tân Ước (xuất bản 1534). In lại trong British Reformers—Tindal, Frith, Barnes, trang 349. GC 547.1

Đó là một sự thật không thể chối cãi rằng niềm hy vọng về sự hạnh phúc bất tử ngay khi chết đã dẫn đến sự lơ là rộng khắp đối với giáo lý của Kinh Thánh về sự sống lại. Khuynh hướng này đã được Tiến sĩ Adam Clarke nhận xét rằng: “Giáo lý về sự sống lại dường như đã được xem là có tầm quan trọng lớn hơn nhiều giữa vòng những người Cơ-đốc thời sơ khai so với ngày nay! Tại sao lại như vậy? Các sứ đồ đã liên tục nhấn mạnh về điều đó, và khích lệ những người theo Đức Chúa Trời siêng năng, vâng phục và vui mừng nhờ giáo lý ấy. Còn những người kế thừa họ trong thời nay thì hiếm khi đề cập đến nó! Các sứ đồ đã rao giảng như vậy, và những người Cơ-đốc thời sơ khai đã tin như vậy; chúng ta rao giảng như thế này, và thính giả của chúng ta cũng tin như thế này. Không có một giáo lý nào trong tin lành được nhấn mạnh nhiều hơn; và không có một giáo lý nào trong hệ thống giảng đạo hiện nay bị đối xử lơ là hơn!"— Commentary, nhận xét về [[BIBLE:1 Corinthians 15]], đoạn 3. GC 547.2

Tình trạng này đã tiếp diễn cho đến khi lẽ thật vinh hiển về sự sống lại gần như hoàn toàn bị che khuất và bị thế giới Cơ-đốc đánh mất. Vì vậy, một nhà văn tôn giáo nổi tiếng, khi bình luận về lời của Phao-lô trong Hỡi anh em, chúng tôi chẳng muốn anh em không biết về phần người đã ngủ, hầu cho anh em chớ buồn rầu như người khác không có sự trông cậy. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê-su đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Giê-su cùng đến với Ngài. Vả, này là điều chúng tôi nhờ lời Chúa mà rao bảo cho anh em: chúng ta là kẻ sống, còn ở lại cho đến kỳ Chúa đến, thì không lên trước những người đã ngủ rồi. Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau.

(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:13-18)nói rằng: “Đối với tất cả các mục đích thực tế về sự an ủi, giáo lý về sự bất tử phước hạnh của những người công bình thay thế cho chúng ta bất kỳ giáo lý đáng ngờ nào về sự tái lâm của Chúa. Khi chúng ta chết, Chúa đến nhận chúng ta. Đó là điều chúng ta phải chờ đợi và trông mong. Những người chết đã bước vào vinh hiển rồi. Họ không chờ đợi tiếng kèn để được phán xét và hưởng phước hạnh.” GC 547.3

Nhưng khi sắp từ giã các môn đồ, Đức Chúa Giê-su đã không bảo họ rằng họ sẽ sớm đến cùng Ngài. “Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ,” Ngài phán. “Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta.” Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó.

(Giăng 14:2-3)Và Phao-lô còn cho chúng ta biết thêm rằng “chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống với tiếng kêu lớn của thiên sứ lớn và tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn.” Và ông thêm rằng: “Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau.” Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau. (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-18) Sự tương phản giữa những lời an ủi này và những lời của vị mục sư theo thuyết Phổ độ được trích dẫn ở trên thật khác xa biết bao! Người sau đã an ủi những người bạn tang quyến với lời bảo đảm rằng, dẫu kẻ đã chết có tội lỗi đến đâu, khi người ấy trút hơi thở cuối cùng trên đất này thì người sẽ được tiếp nhận vào giữa vòng các thiên sứ. Phao-lô hướng các anh em của mình đến sự tái lâm trong tương lai của Chúa, khi xiềng xích của mồ mả sẽ bị bẻ gãy, và “những kẻ chết trong Đấng Christ” sẽ được sống lại để sống đời đời. GC 548.1

Trước khi bất cứ ai có thể bước vào chốn cư ngụ của những người có phước, trường hợp của họ phải được tra xét, và phẩm hạnh cùng việc làm của họ phải được trình ra trước mặt Đức Chúa Trời để xem xét. Tất cả đều sẽ bị phán xét theo những điều đã ghi trong các sách và sẽ được thưởng tùy theo công việc của mình. Sự phán xét này không diễn ra khi chết. Hãy lưu ý lời của Phao-lô: “Vì Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ.” vì Ngài đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, bởi Người Ngài đã lập, và Đức Chúa Trời đã khiến Người từ kẻ chết sống lại, để làm chứng chắc về điều đó cho thiên hạ…

(Công-vụ các Sứ-đồ 17:31)Ở đây sứ đồ nói rõ rằng một thời điểm xác định, khi ấy còn ở tương lai, đã được định sẵn cho sự phán xét thế gian. GC 548.2

Giu-đe cũng đề cập đến cùng một thời kỳ ấy: “Còn các thiên sứ không giữ thứ bậc và bỏ chỗ riêng mình, thì Ngài đã dùng dây xích họ trong nơi tối tăm đời đời, cầm giữ lại để chờ sự phán xét ngày lớn.” Và lần nữa, ông trích lời của Hê-nóc: “Nầy, Chúa ngự đến với muôn vàn thánh, đặng phán xét mọi người.” [[BIBLE:Jude 6]], [[BIBLE:Jude 14-15]]. Giăng tuyên bố rằng ông “thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra… Những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.” Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.

(Khải-huyền 20:12) GC 548.3

Nhưng nếu những người chết đã đang hưởng hạnh phúc của thiên đàng hoặc đang quằn quại trong ngọn lửa địa ngục, thì cần gì đến sự phán xét trong tương lai? Những lời dạy của Lời Đức Chúa Trời về các điểm quan trọng này không hề mơ hồ cũng không mâu thuẫn; người thường cũng có thể hiểu được. Nhưng tâm trí trung thực nào có thể thấy sự khôn ngoan hoặc công bình trong thuyết hiện hành? Liệu những người công bình, sau khi trường hợp của họ được tra xét tại sự phán xét, sẽ nhận được lời khen, “Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm… hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi,” khi mà họ đã ngự trong sự hiện diện của Ngài, có lẽ trải hàng bao thế kỷ rồi hay sao? Liệu những kẻ ác có được triệu về từ nơi khổ hình để nhận án từ Đấng Đoán xét cả đất: “Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời”? Chủ nói với người rằng: Hỡi đầy tớ ngay lành trung tín kia, được lắm; ngươi đã trung tín trong việc nhỏ, ta sẽ lập ngươi coi sóc nhiều; hãy đến hưởng sự vui mừng của chúa ngươi.

(Ma-thi-ơ 25:21)Kế đó, Ngài sẽ phán cùng những người ở bên tả rằng: Hỡi kẻ bị rủa, hãy lui ra khỏi ta; đi vào lửa đời đời đã sắm sẵn cho ma quỉ và những quỉ sứ nó. (Ma-thi-ơ 25:41) Ôi, sự chế giễu trang nghiêm! Sự buộc tội đáng xấu hổ đối với sự khôn ngoan và công bình của Đức Chúa Trời! GC 549.1

Thuyết về sự bất tử của linh hồn là một trong những tà giáo mà La-mã, vay mượn từ ngoại giáo, đã đưa vào tôn giáo của Cơ-đốc Giáo. Martin Lu-thơ đã xếp nó vào số “những ngụ ngôn quái dị tạo thành một phần của đống phân rác La-mã gồm các sắc lệnh."—E. Petavel, The Problem of Immortality, trang 255. Khi bình luận về lời của Sa-lô-môn trong sách Truyền Đạo, rằng người chết chẳng biết chi hết, nhà Cải chánh nói: “Một chỗ khác chứng minh rằng người chết không có… cảm giác. Người nói, ở đó không có việc làm, không có khoa học, không có tri thức, không có sự khôn ngoan. Sa-lô-môn phán xét rằng người chết đang ngủ, và chẳng cảm thấy gì hết. Vì người chết nằm đó, chẳng đếm ngày hay năm, nhưng khi họ được đánh thức, họ sẽ tưởng như chỉ mới ngủ chưa đầy một phút."—Martin Luther, Exposition of Solomon’s Booke Called Ecclesiastes, trang 152. GC 549.2

Không nơi nào trong Kinh Thánh thiêng liêng có lời tuyên bố rằng người công bình đi nhận phần thưởng hoặc kẻ ác đi chịu hình phạt ngay lúc chết. Các tổ phụ và các tiên tri không để lại lời bảo đảm nào như vậy. Đấng Christ và các sứ đồ của Ngài cũng chẳng hề gợi ý điều đó. Kinh Thánh dạy rõ ràng rằng kẻ chết không đi ngay lên thiên đàng. Họ được mô tả như đang ngủ cho đến ngày sống lại. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê-su đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Giê-su cùng đến với Ngài.

(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:14)Nhưng loài người chết, thì nằm tại đó, Loài người tắt hơi, thì đã đi đâu? Nước hồ chảy mất đi, Sông cạn và khô: Cũng vậy, loài người nằm, rồi không hề chỗi dậy: Người chẳng hề thức dậy cho đến khi không còn các từng trời, Và chẳng ai sẽ khiến cho người tỉnh lại khỏi giấc ngủ mình. (Gióp 14:10-12) Chính trong ngày mà dây bạc đứt và chén vàng bể (Lại hãy tưởng nhớ Đấng Tạo Hóa trước khi dây bạc đứt, và chén vàng bể, trước khi vò vỡ ra bên suối, và bánh xe gãy ra trên giếng; (Truyền-đạo 12:6) các tư tưởng của con người đều tiêu tan. Những kẻ đi xuống mồ mả đều ở trong sự im lặng. Họ chẳng còn biết gì đến mọi việc xảy ra dưới mặt trời nữa. Các con trai người được tôn trọng, còn người nào biết đến; Chúng bị hạ xuống, nhưng người cũng chẳng để ý vào. (Gióp 14:21) Ôi, sự yên nghỉ phước hạnh cho những người công bình mệt mỏi! Thời gian, dù dài hay ngắn, đối với họ cũng chỉ là một khoảnh khắc. Họ ngủ; họ được đánh thức bởi tiếng kèn của Đức Chúa Trời để bước vào sự bất tử vinh hiển. trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. Vả, thể hay hư nát này phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết này phải mặc lấy sự không hay chết. Khi nào thể hay hư nát này mặc lấy sự không hay hư nát, thể hay chết này mặc lấy sự không hay chết, thì được ứng nghiệm lời Kinh thánh rằng: Sự chết đã bị nuốt mất trong sự thắng. (I Cô-rinh-tô 15:52-54) Khi họ được gọi ra khỏi giấc ngủ sâu của mình, họ bắt đầu suy nghĩ ngay tại nơi mà họ đã ngưng lại. Cảm giác cuối cùng là nỗi đau đớn của sự chết; ý nghĩ cuối cùng là họ đang gục ngã dưới quyền lực của mồ mả. Khi họ trỗi dậy từ phần mộ, ý nghĩ vui mừng đầu tiên của họ sẽ được vang vọng trong tiếng reo hò đắc thắng: Hỡi sự chết, sự thắng của mầy ở đâu? Hỡi sự chết, cái nọc của mầy ở đâu? (I Cô-rinh-tô 15:55) GC 549.3