Những Cuộc Phục Hưng Hiện Đại
Chương 27—Các Cuộc Phục Hưng Thời Hiện Đại
Bất cứ nơi nào Lời Đức Chúa Trời được rao giảng cách trung tín, thì kết quả theo sau đã chứng thực nguồn gốc thiêng liêng của nó. Thánh Linh Đức Chúa Trời đồng hành cùng sứ điệp của các tôi tớ Ngài, và lời phán đầy quyền năng. Những kẻ có tội cảm thấy lương tâm mình được đánh thức. “Sự sáng soi sáng mọi người sanh ra trong thế gian” đã chiếu rọi vào những ngăn kín của linh hồn họ, và những điều ẩn giấu trong bóng tối được phơi bày. Sự cáo trách sâu sắc chiếm lấy tâm trí và tấm lòng họ. Họ bị thuyết phục về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét hầu đến. Họ có cảm thức về sự công bình của Đức Giê-hô-va và cảm thấy kinh khiếp khi phải xuất hiện, trong tội lỗi và ô uế của mình, trước Đấng dò xét lòng người. Trong cơn đau đớn, họ kêu lên: “Ai sẽ cứu tôi thoát khỏi thân thể hay chết nầy?” Khi thập tự giá Gô-gô-tha, với sự hi sinh vô hạn vì tội lỗi loài người, được bày tỏ, họ thấy rằng chẳng có gì ngoài công lao của Đấng Christ có thể đủ để chuộc sự vi phạm của họ; duy chỉ điều nầy mới có thể hòa giải con người với Đức Chúa Trời. Với đức tin và sự hạ mình, họ tiếp nhận Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi. Qua huyết của Đức Chúa Giê-su, họ được “tha các tội đã phạm trước kia.” GC 461.1
Những linh hồn nầy đã kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Họ tin và chịu phép báp-têm, và trỗi dậy bước đi trong đời sống mới—là người dựng nên mới trong Đức Chúa Giê-su Christ; không rập khuôn theo những tư dục trước kia, nhưng bởi đức tin của Con Đức Chúa Trời mà bước theo dấu chân Ngài, phản chiếu tánh hạnh Ngài, và tự làm cho mình tinh sạch như Ngài là tinh sạch. Những điều họ từng ghét thì nay họ yêu mến, và những điều họ từng yêu thì nay họ ghét bỏ. Kẻ kiêu ngạo và tự phụ trở nên nhu mì và khiêm nhường trong lòng. Kẻ phù phiếm và khinh người trở nên nghiêm trang và kín đáo. Kẻ phạm thượng trở nên kính cẩn, kẻ say sưa trở nên tỉnh táo, và kẻ phóng đãng trở nên trong sạch. Những thời trang phù phiếm của thế gian bị gạt bỏ. Những người Cơ-đốc không tìm kiếm “sự trang sức bề ngoài, như gióc tóc, đeo đồ vàng, mặc áo quần lòe loẹt; nhưng… hãy tìm kiếm sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng, tức là sự tinh sạch chẳng hư nát của tâm thần dịu dàng im lặng, ấy là giá quí trước mặt Đức Chúa Trời.” Chớ tìm kiếm sự trang sức bề ngoài, như gióc tóc, đeo đồ vàng, mặc áo quần lòe loẹt; nhưng hãy tìm kiếm sự trang sức bề trong giấu ở trong lòng, tức là sự tinh sạch chẳng hư nát của tâm thần dịu dàng im lặng, ấy là giá quí trước mặt Đức Chúa Trời.
(I Phi-e-rơ 3:3-4) GC 461.2
Các cuộc phục hưng đem đến sự tra xét lòng sâu xa và sự khiêm nhường. Chúng được đặc trưng bởi những lời kêu gọi trang nghiêm, tha thiết đối với kẻ có tội, bởi lòng trắc ẩn khao khát dành cho những linh hồn được chuộc bằng huyết Đấng Christ. Những người nam và người nữ cầu nguyện và vật lộn với Đức Chúa Trời vì sự cứu rỗi các linh hồn. Bông trái của những cuộc phục hưng như vậy được thấy nơi những linh hồn không lùi bước trước sự chối bỏ bản thân và hi sinh, nhưng vui mừng vì được kể là xứng đáng chịu sự sỉ nhục và thử thách vì Đấng Christ. Người ta thấy sự biến đổi trong đời sống của những người đã xưng danh Đức Chúa Giê-su. Cộng đồng được hưởng lợi bởi ảnh hưởng của họ. Họ nhóm lại với Đấng Christ, và gieo cho Thánh Linh, để gặt sự sống đời đời. GC 462.1
Có thể nói về họ rằng: “Anh em đã buồn rầu đến nỗi ăn năn.” “Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết. Vậy, hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự ân cần trong anh em là dường nào! Lại có sự chữa chối, buồn giận, sợ sệt, sốt sắng, nông nả, trách phạt là dường nào! Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó.” nay tôi lại mừng, không phải mừng về sự anh em đã phải buồn rầu, song mừng về sự buồn rầu làm cho anh em sanh lòng hối cải. Thật, anh em đã buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời, đến nỗi chưa chịu thiệt hại bởi chúng tôi chút nào. Vì sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự hối cải, và sự hối cải dẫn đến sự rỗi linh hồn; về sự đó người ta chẳng hề ăn năn, còn sự buồn rầu theo thế gian sanh ra sự chết. Vậy, hãy xem, sự buồn rầu theo ý Đức Chúa Trời sanh ra sự ân cần trong anh em là dường nào! Lại có sự chữa chối, buồn giận, răn sợ, sốt sắng, nôn nả, trách phạt là dường nào! Anh em đã tỏ ra cho ai nấy đều biết rằng mình vốn là thanh sạch trong việc đó.
(II Cô-rinh-tô 7:9-11) GC 462.2
Đây là kết quả của công việc của Thánh Linh Đức Chúa Trời. Không có bằng chứng về sự ăn năn thật nếu nó không đem lại sự cải biến. Nếu kẻ có tội trả lại của cầm, trả lại vật mình đã cướp, xưng tội mình, và yêu mến Đức Chúa Trời cùng đồng loại, thì người ấy có thể chắc chắn rằng mình đã tìm được sự bình an với Đức Chúa Trời. Đó là những kết quả đã theo sau các mùa thức tỉnh thuộc linh trong những năm trước kia. Xét bởi bông trái của chúng, người ta biết rằng chúng đã được Đức Chúa Trời ban phước trong việc cứu rỗi loài người và nâng cao nhân loại. GC 462.3
Nhưng nhiều cuộc phục hưng thời hiện đại đã tương phản rõ rệt với những biểu hiện của ân điển thiêng liêng từng theo sau sự lao khổ của các tôi tớ Đức Chúa Trời trong những ngày xa xưa. Quả thật có một sự quan tâm rộng khắp được khơi dậy, nhiều người xưng nhận sự hoán cải, và có những sự gia tăng lớn vào các hội thánh; tuy vậy, kết quả lại không đủ để cho phép tin rằng đã có sự gia tăng tương xứng về sự sống thuộc linh thật. Ánh sáng bừng lên một thời gian rồi chóng tắt, để lại bóng tối dày đặc hơn trước. GC 463.1
Các cuộc phục hưng phổ biến thường được tiến hành bằng cách kêu gọi trí tưởng tượng, bằng cách kích động cảm xúc, bằng cách thỏa mãn lòng ưa chuộng những gì mới lạ và giật gân. Những người được thu phục theo cách đó ít ao ước lắng nghe lẽ thật của Kinh Thánh, ít quan tâm đến lời chứng của các tiên tri và các sứ đồ. Trừ khi một buổi lễ tôn giáo có điều gì đó mang tính kích động, nó chẳng có sức hấp dẫn đối với họ. Một sứ điệp kêu gọi lý trí điềm tĩnh không gợi lên sự đáp ứng nào. Những lời cảnh báo đơn sơ của Lời Đức Chúa Trời, liên hệ trực tiếp đến lợi ích đời đời của họ, thì bị xem nhẹ. GC 463.2
Nơi mỗi linh hồn thật sự được hoán cải, mối liên hệ với Đức Chúa Trời và với những điều đời đời sẽ là đề tài lớn của đời sống. Nhưng, trong các hội thánh phổ biến ngày nay, đâu là tinh thần tận hiến cho Đức Chúa Trời? Những người được hoán cải không từ bỏ lòng kiêu ngạo và tình yêu thế gian của mình. Họ chẳng sẵn lòng từ chối chính mình, vác thập tự giá mình, và theo Đức Chúa Giê-su nhu mì và khiêm nhường hơn trước khi được hoán cải. Đạo giáo đã trở thành trò đùa của những kẻ vô tín và hoài nghi, vì có quá nhiều người mang danh đạo lại không biết các nguyên tắc của nó. Quyền năng của sự tin kính gần như đã rời khỏi nhiều hội thánh. Các buổi đi chơi dã ngoại, kịch nghệ nhà thờ, hội chợ nhà thờ, nhà cửa sang trọng, sự phô trương cá nhân, đã đuổi các tư tưởng về Đức Chúa Trời đi. Đất đai, của cải, và các công việc thế tục chiếm hết tâm trí, còn những điều thuộc về lợi ích đời đời hầu như chẳng được để ý đến. GC 463.3
Bất kể sự suy giảm rộng khắp của đức tin và lòng tin kính, vẫn có những người theo Đấng Christ chân thật trong các hội thánh nầy. Trước khi sự thăm viếng cuối cùng của các sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng xuống trên đất, sẽ có giữa vòng dân sự của Chúa một cuộc phục hưng về lòng tin kính nguyên thủy như chưa từng thấy kể từ thời các sứ đồ. Thánh Linh và quyền năng Đức Chúa Trời sẽ được đổ xuống trên con cái Ngài. Vào lúc ấy, nhiều người sẽ tách mình ra khỏi những hội thánh mà trong đó tình yêu thế gian đã thay thế tình yêu đối với Đức Chúa Trời và Lời Ngài. Nhiều người, cả những người giảng đạo lẫn dân sự, sẽ vui mừng tiếp nhận những lẽ thật lớn lao mà Đức Chúa Trời đã khiến được rao ra vào lúc nầy để chuẩn bị một dân sẵn sàng cho sự tái lâm của Chúa. Kẻ thù của các linh hồn muốn cản trở công việc nầy; và trước khi đến kỳ cho một phong trào như vậy, nó sẽ cố ngăn cản bằng cách đưa vào một sự giả mạo. Trong những hội thánh mà nó có thể đặt dưới quyền lực lừa dối của nó, nó sẽ làm cho người ta tưởng rằng phước đặc biệt của Đức Chúa Trời đang được đổ xuống; sẽ có điều được xem là mối quan tâm tôn giáo lớn lao. Vô số người sẽ hân hoan rằng Đức Chúa Trời đang làm việc cách diệu kỳ cho họ, trong khi công việc ấy là của một thần linh khác. Dưới lớp vỏ tôn giáo, Sa-tan sẽ tìm cách mở rộng ảnh hưởng của nó trên thế giới Cơ-đốc. GC 464.1
Trong nhiều cuộc phục hưng đã xảy ra trong nửa thế kỷ vừa qua, cùng những ảnh hưởng ấy đã hoạt động, ở mức độ nhiều hay ít, sẽ được biểu lộ trong những phong trào rộng lớn hơn trong tương lai. Có một sự kích động cảm xúc, một sự pha trộn giữa cái thật với cái giả, rất thích hợp để dẫn dụ sai lạc. Tuy nhiên, không ai cần phải bị lừa dối. Dưới ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời, không khó để xác định bản chất của những phong trào nầy. Bất cứ nơi nào người ta bỏ bê lời chứng của Kinh Thánh, quay lưng lại với những lẽ thật đơn sơ, dò xét linh hồn đòi hỏi sự từ chối chính mình và từ bỏ thế gian, thì chúng ta có thể chắc chắn rằng phước của Đức Chúa Trời không được ban xuống ở đó. Và bởi quy tắc mà chính Đấng Christ đã ban: “Các ngươi sẽ nhận biết họ bởi bông trái” (Các ngươi nhờ những trái nó mà nhận biết được. Nào có ai hái trái nho nơi bụi gai, hay là trái vả nơi bụi tật lê?
(Ma-thi-ơ 7:16)thì rõ ràng rằng những phong trào nầy không phải là công việc của Thánh Linh Đức Chúa Trời. GC 464.2
Trong các lẽ thật của Lời Ngài, Đức Chúa Trời đã ban cho loài người một sự mặc khải về chính Ngài; và đối với mọi người tiếp nhận chúng, chúng là một cái khiên chống lại những mưu chước lừa dối của Sa-tan. Chính sự bỏ bê các lẽ thật nầy đã mở cửa cho những điều ác ngày nay đang trở nên quá lan rộng trong thế giới tôn giáo. Bản chất và tầm quan trọng của luật pháp Đức Chúa Trời, ở một mức độ lớn, đã bị đánh mất. Một quan niệm sai lầm về đặc tánh, tính vĩnh cửu, và tính ràng buộc của luật pháp thiêng liêng đã dẫn đến những sai lầm trong quan hệ với sự hoán cải và sự nên thánh, và đã dẫn đến việc hạ thấp tiêu chuẩn của lòng tin kính trong hội thánh. Ở đây chúng ta tìm thấy bí mật về sự thiếu vắng Thánh Linh và quyền năng của Đức Chúa Trời trong các cuộc phục hưng thời nay. GC 465.1
Trong các giáo phái khác nhau, có những người nổi tiếng về lòng sùng đạo, là những người thừa nhận và than tiếc về sự thật này. Giáo sư Edwards A. Park, khi trình bày về những mối nguy hiểm về tôn giáo hiện nay, đã nói cách tài tình: “Một nguồn gốc của sự nguy hiểm là sự lơ là của tòa giảng trong việc thực thi luật pháp thiêng liêng. Trong những ngày xa xưa, tòa giảng là tiếng vang của tiếng nói lương tâm…. Các nhà truyền đạo lỗi lạc nhất của chúng ta đã đem lại một sự uy nghiêm kỳ diệu cho các bài giảng của họ bằng cách noi theo gương của Thầy, và nhấn mạnh đến luật pháp, các giới luật và những lời đe dọa của luật pháp. Họ lặp lại hai châm ngôn lớn, rằng luật pháp là bản sao của sự toàn hảo thiêng liêng, và rằng người nào không yêu mến luật pháp thì không yêu mến tin lành; vì luật pháp, cũng như tin lành, là một tấm gương phản chiếu bản tánh thật của Đức Chúa Trời. Mối nguy hiểm này dẫn đến một mối nguy hiểm khác, đó là sự đánh giá thấp sự xấu xa của tội lỗi, mức độ và tội trạng của nó. Tỷ lệ thuận với tính chính đáng của điều răn là tính sai trái của việc không vâng giữ nó…. GC 465.2
“Liên quan đến những mối nguy hiểm đã nêu là mối nguy hiểm của việc đánh giá thấp sự công bình của Đức Chúa Trời. Khuynh hướng của tòa giảng hiện đại là tách sự công bình thiêng liêng ra khỏi lòng nhân từ thiêng liêng, làm cho lòng nhân từ chìm xuống thành một cảm xúc thay vì nâng nó lên thành một nguyên tắc. Lăng kính thần học mới chia cắt những gì Đức Chúa Trời đã kết hợp. Luật pháp thiêng liêng là tốt hay xấu? Nó là tốt. Vậy thì sự công bình là tốt; vì đó là khuynh hướng thi hành luật pháp. Từ thói quen đánh giá thấp luật pháp và sự công bình thiêng liêng, mức độ và tội trạng của sự bất tuân của loài người, con người dễ dàng trượt vào thói quen đánh giá thấp ân điển đã cung cấp sự chuộc tội cho tội lỗi.” Do đó tin lành mất đi giá trị và tầm quan trọng của nó trong tâm trí con người, và chẳng bao lâu họ sẵn sàng thực sự gạt bỏ chính Kinh Thánh. GC 465.3
Nhiều giáo sư tôn giáo khẳng định rằng Đấng Christ bởi sự chết của Ngài đã bãi bỏ luật pháp, và từ đó con người được tự do khỏi những đòi hỏi của nó. Có một số người mô tả luật pháp như một cái ách nặng nề, và tương phản với sự nô lệ của luật pháp, họ trình bày sự tự do được hưởng dưới tin lành. GC 466.1
Nhưng các tiên tri và các sứ đồ đã không xem luật pháp thánh của Đức Chúa Trời như vậy. Đa-vít đã nói: Tôi cũng sẽ bước đi thong dong, Vì đã tìm kiếm các giềng mối Chúa.
(Thi-thiên 119:45)Sứ đồ Gia-cơ, người đã viết sau sự chết của Đấng Christ, đề cập đến Mười Điều Răn như là “luật pháp tôn trọng” và “luật pháp trọn vẹn của sự tự do.” Thật vậy, nếu anh em vâng giữ cho trọn vẹn luật pháp tôn trọng, theo như Kinh thánh rằng: Hãy yêu người lân cận như mình, thì anh em ăn ở tốt lắm.
(Gia-cơ 2:8) Nhưng kẻ nào xét kỹ luật pháp trọn vẹn, là luật pháp về sự tự do, lại bền lòng suy gẫm lấy, chẳng phải nghe rồi quên đi, nhưng hết lòng giữ theo phép tắc nó, thì kẻ đó sẽ tìm được phước trong sự mình vâng lời.
(Gia-cơ 1:25) Và nhà khải thị, nửa thế kỷ sau sự đóng đinh, tuyên bố một phước lành trên những người Phước thay cho những kẻ giặt áo mình đặng có phép đến nơi cây sự sống và bởi các cửa mà vào trong thành!
(Khải-huyền 22:14) GC 466.2
Lời khẳng định rằng Đấng Christ bởi sự chết của Ngài đã bãi bỏ luật pháp của Cha Ngài là vô căn cứ. Nếu luật pháp có thể được thay đổi hay bị gạt bỏ, thì Đấng Christ đã không cần phải chết để cứu con người khỏi hình phạt của tội lỗi. Sự chết của Đấng Christ, thay vì bãi bỏ luật pháp, chứng minh rằng luật pháp là bất biến. Con Đức Chúa Trời đã đến để Đức Giê-hô-va vui lòng vì sự công bình mình, làm cho luật pháp cả sáng và tôn trọng.
(Ê-sai 42:21)Ngài đã phán: Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn. Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn.
(Ma-thi-ơ 5:17-18) Và về chính Ngài, Ngài tuyên bố: Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.
(Thi-thiên 40:8) GC 466.3
Luật pháp của Đức Chúa Trời, do chính bản tánh của nó, là không thể thay đổi. Nó là sự mặc khải về ý muốn và bản tánh của Tác Giả nó. Đức Chúa Trời là tình yêu thương, và luật pháp của Ngài là tình yêu thương. Hai nguyên tắc lớn của nó là yêu mến Đức Chúa Trời và yêu thương loài người. Sự yêu thương chẳng hề làm hại kẻ lân cận; vậy yêu thương là sự làm trọn luật pháp.
(Rô-ma 13:10)Bản tánh của Đức Chúa Trời là sự công bình và lẽ thật; bản chất của luật pháp Ngài cũng vậy. Tác giả Thi Thiên nói: Sự công bình Chúa là sự công bình đời đời, Luật pháp Chúa là chân thật.
(Thi-thiên 119:142) Nguyện lưỡi tôi hát xướng về lời Chúa; Vì hết thảy điều răn Chúa là công bình.
(Thi-thiên 119:172) Và sứ đồ Phao-lô tuyên bố: Ấy vậy, luật pháp là thánh, điều răn cũng là thánh, công bình và tốt lành.
(Rô-ma 7:12) Một luật pháp như vậy, là sự biểu hiện của tâm trí và ý muốn của Đức Chúa Trời, phải bền vững như chính Tác Giả của nó. GC 467.1
Công việc của sự cải đạo và sự thánh hóa là để hòa giải con người với Đức Chúa Trời bằng cách đưa họ vào sự hòa hợp với các nguyên tắc của luật pháp Ngài. Lúc ban đầu, con người được tạo nên theo hình ảnh của Đức Chúa Trời. Con người hoàn toàn hòa hợp với bản tánh và luật pháp của Đức Chúa Trời; các nguyên tắc của sự công bình được ghi khắc trên lòng mình. Nhưng tội lỗi đã phân cách con người khỏi Đấng Tạo Hóa mình. Con người không còn phản chiếu hình ảnh thiêng liêng nữa. Lòng mình đã chống nghịch với các nguyên tắc của luật pháp Đức Chúa Trời. vì sự chăm về xác thịt nghịch với Đức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Đức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được.
(Rô-ma 8:7)Nhưng Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
(Giăng 3:16) để con người có thể được hòa giải với Đức Chúa Trời. Qua công lao của Đấng Christ, con người có thể được phục hồi đến sự hòa hợp với Đấng Tạo Hóa mình. Lòng mình phải được đổi mới bởi ân điển thiêng liêng; mình phải có một sự sống mới từ trên cao. Sự thay đổi này là sự tái sanh, mà không có nó, Đức Chúa Giê-su phán, Đức Chúa Giê-su cất tiếng đáp rằng: Quả thật, quả thật, ta nói cùng ngươi, nếu một người chẳng sanh lại, thì không thể thấy được nước Đức Chúa Trời.
(Giăng 3:3) GC 467.2
Bước đầu tiên trong sự hòa giải với Đức Chúa Trời là sự nhận biết tội lỗi. Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp.
(I Giăng 3:4)vì chẳng có một người nào bởi việc làm theo luật pháp mà sẽ được xưng công bình trước mặt Ngài, vì luật pháp cho người ta biết tội lỗi.
(Rô-ma 3:20) Để nhìn thấy tội lỗi của mình, tội nhân phải thử nghiệm bản tánh của mình bằng tiêu chuẩn sự công bình vĩ đại của Đức Chúa Trời. Đó là một tấm gương bày tỏ sự toàn hảo của một bản tánh công bình và giúp người ấy phân biệt các khiếm khuyết của chính mình. GC 467.3
Luật pháp bày tỏ cho con người tội lỗi của mình, nhưng nó không cung cấp phương thuốc nào. Trong khi luật pháp hứa sự sống cho người vâng lời, nó tuyên bố rằng sự chết là phần của kẻ phạm luật. Chỉ có tin lành của Đấng Christ mới có thể giải thoát con người khỏi sự kết án hay sự ô uế của tội lỗi. Con người phải thực hành sự ăn năn đối với Đức Chúa Trời, là Đấng mà luật pháp Ngài đã bị vi phạm; và đức tin nơi Đấng Christ, sự hy sinh chuộc tội của Ngài. Do đó, con người nhận được “sự tha thứ những tội lỗi đã qua” và trở nên người dự phần vào bản tánh thiêng liêng. Con người là con của Đức Chúa Trời, đã nhận lãnh thần linh làm con nuôi, nhờ đó mình kêu lên: “A-ba, Cha!” GC 467.4
Bây giờ con người có được tự do để vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời không? Phao-lô nói: Vậy, chúng ta nhân đức tin mà bỏ luật pháp hay sao? Chẳng hề như vậy! Trái lại, chúng ta làm vững bền luật pháp.
(Rô-ma 3:31)Chẳng hề như vậy! Chúng ta đã chết về tội lỗi, lẽ nào còn sống trong tội lỗi nữa?
(Rô-ma 6:2) Và Giăng tuyên bố: Vì này là sự yêu mến Đức Chúa Trời, tức là chúng ta vâng giữ điều răn Ngài. Điều răn của Ngài chẳng phải là nặng nề,
(I Giăng 5:3) Trong sự tái sanh, tấm lòng được đưa vào sự hòa hợp với Đức Chúa Trời, khi nó được đưa vào sự hòa hợp với luật pháp Ngài. Khi sự thay đổi đầy quyền năng này đã diễn ra trong tội nhân, người ấy đã vượt từ sự chết qua sự sống, từ tội lỗi qua sự thánh khiết, từ sự vi phạm và nổi loạn qua sự vâng lời và trung thành. Đời sống cũ của sự phân cách khỏi Đức Chúa Trời đã chấm dứt; đời sống mới của sự hòa giải, của đức tin và tình yêu thương, đã bắt đầu. Rồi hầu cho sự công bình mà luật pháp buộc phải làm được trọn trong chúng ta, là kẻ chẳng noi theo xác thịt, nhưng noi theo Thánh Linh.
(Rô-ma 8:4) Và tiếng nói của linh hồn sẽ là: Tôi yêu mến luật pháp Chúa biết bao! Trọn ngày tôi suy gẫm luật pháp ấy.
(Thi-thiên 119:97) GC 468.1
“Luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại; Sự chứng cớ Đức Giê-hô-va là chắc chắn, làm cho kẻ ngu dại trở nên khôn ngoan.” (Thi-thiên 19:7) Không có luật pháp, con người không có quan niệm đúng đắn về sự tinh khiết và thánh khiết của Đức Chúa Trời hoặc về tội lỗi và sự ô uế của chính mình. Họ không có sự nhận biết tội lỗi chân thật và không cảm thấy cần sự ăn năn. Không nhìn thấy tình trạng hư mất của mình là những kẻ vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, họ không nhận ra nhu cầu của mình về huyết chuộc tội của Đấng Christ. Niềm hy vọng cứu rỗi được chấp nhận mà không có sự thay đổi tận gốc của tấm lòng hoặc sự cải cách đời sống. Do đó, những sự cải đạo hời hợt nhan nhản, và vô số người được gia nhập hội thánh nhưng chưa bao giờ được kết hiệp với Đấng Christ. GC 468.2
Những lý thuyết sai lầm về sự thánh hóa, cũng vậy, phát sinh từ sự lơ là hoặc chối bỏ luật pháp thiêng liêng, có một chỗ đứng nổi bật trong các phong trào tôn giáo ngày nay. Những lý thuyết này vừa sai lạc về giáo lý vừa nguy hiểm về kết quả thực tiễn; và sự kiện rằng chúng đang được ưa chuộng một cách phổ biến như vậy khiến cho việc mọi người cần có sự hiểu biết rõ ràng về những gì Kinh Thánh dạy về điểm này trở nên gấp đôi thiết yếu. GC 469.1
Sự nên thánh thật là một giáo lý của Kinh Thánh. Sứ đồ Phao-lô, trong thư gửi cho hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca, tuyên bố: “Vì ý muốn Đức Chúa Trời, ấy là khiến anh em nên thánh: tức là phải lánh sự ô uế,
(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:3)Và ông cầu nguyện: “Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta đến!
(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23) Tê-sa-lô-ni-ca 4:3; 5:23. Kinh Thánh dạy rõ ràng sự nên thánh là gì và phải đạt được bằng cách nào. Đấng Cứu Thế đã cầu nguyện cho các môn đồ Ngài: “Xin Cha lấy lẽ thật khiến họ nên thánh; lời Cha tức là lẽ thật.
(Giăng 17:17) Giăng 17:17. Và Phao-lô dạy rằng các tín đồ phải được “nên chức việc của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc giữa dân ngoại, làm chức tế lễ của Tin lành Đức Chúa Trời, hầu cho dân ngoại được làm của lễ vừa ý Chúa, và nên thánh bởi Đức Thánh Linh.
(Rô-ma 15:16) Rô-ma 15:16. Công việc của Đức Thánh Linh là gì? Đức Chúa Giê-su đã phán cùng các môn đồ: “Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến.
(Giăng 16:13) Giăng 16:13. Và trước giả Thi Thiên nói rằng: “Sự công bình Chúa là sự công bình đời đời, Luật pháp Chúa là chân thật.
(Thi-thiên 119:142) Bởi lời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời mà những nguyên tắc lớn lao của sự công bình chứa đựng trong luật pháp Ngài được mở ra cho loài người. Và vì luật pháp Đức Chúa Trời là “thánh, công bình và tốt lành,” là bản sao của sự trọn lành thiêng liêng, thì tất nhiên tâm tánh được hình thành bởi sự vâng giữ luật pháp ấy sẽ là thánh khiết. Đấng Christ là một gương mẫu hoàn hảo của tâm tánh đó. Ngài phán: “Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.
(Giăng 15:10) Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.
(Giăng 8:29) Giăng 15:10; 8:29. Những người theo Đấng Christ phải trở nên giống như Ngài — nhờ ân điển của Đức Chúa Trời mà hình thành tâm tánh hòa hợp với những nguyên tắc của luật pháp thánh khiết của Ngài. Đây chính là sự nên thánh theo Kinh Thánh. GC 469.2
Công việc này chỉ có thể được hoàn thành qua đức tin nơi Đấng Christ, bởi quyền năng của Thánh Linh Đức Chúa Trời ngự trị bên trong. Phao-lô khuyên các tín đồ: “Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.
(Phi-líp 2:12-13)Phi-líp 2:12, 13. Cơ-đốc nhân sẽ cảm thấy những sự thúc giục của tội lỗi, nhưng người ấy sẽ duy trì một cuộc chiến đấu liên tục chống lại nó. Đây là nơi cần đến sự giúp đỡ của Đấng Christ. Sự yếu đuối của loài người được kết hợp với sức mạnh thiêng liêng, và đức tin kêu lên: “Nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời đã cho chúng ta sự thắng, nhờ Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta.
(I Cô-rinh-tô 15:57) Cô-rinh-tô 15:57. GC 469.3
Kinh Thánh chỉ rõ rằng công việc nên thánh là một quá trình tiến triển. Khi trong sự cải đạo, kẻ có tội tìm được sự bình an với Đức Chúa Trời qua huyết của sự chuộc tội, thì đời sống Cơ-đốc mới chỉ bắt đầu. Giờ đây người ấy phải “tấn tới sự trọn lành;” phải lớn lên “cho đến chừng mực bề cao trọn vẹn của Đấng Christ.” Sứ đồ Phao-lô nói: “Hỡi anh em, về phần tôi, tôi không tưởng rằng đã đạt đến mục đích, nhưng tôi cứ làm một điều: quên lửng sự ở đằng sau, mà bươn theo sự ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà chạy, để giựt giải về sự kêu gọi trên trời của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc.
(Phi-líp 3:13-14)Phi-líp 3:13, 14. Và Phi-e-rơ trình bày trước chúng ta các bước để đạt đến sự nên thánh theo Kinh Thánh: “Vậy nên, về phần anh em, phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức, thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính, thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến. Vì nếu các điều đó có đủ trong anh em và đầy dẫy nữa, thì ắt chẳng để cho anh em ở dưng hoặc không kết quả trong sự nhận biết Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta đâu. Nhưng ai thiếu những điều đó, thì thành ra người cận thị, người mù; quên hẳn sự làm sạch tội mình ngày trước. Vậy, hỡi anh em, hãy chú ý cho chắc chắn về sự Chúa kêu gọi và chọn lựa mình. Làm điều đó anh em sẽ không hề vấp ngã;
(II Phi-e-rơ 1:5-10) Phi-e-rơ 1:5-10. GC 470.1
Những ai kinh nghiệm được sự nên thánh của Kinh Thánh sẽ bày tỏ một tinh thần khiêm nhường. Như Môi-se, họ đã có một cái nhìn về sự oai nghi đáng kính sợ của sự thánh khiết, và họ thấy sự bất xứng của chính mình tương phản với sự trong sạch và sự trọn lành cao cả của Đấng Vô Hạn. GC 470.2
Tiên tri Đa-ni-ên là một gương mẫu về sự nên thánh thật. Cuộc đời dài của ông được đầy dẫy sự phục vụ cao quý cho Chủ mình. Ông là người “Đoạn, người đó nói cùng ta rằng: Hỡi Đa-ni-ên, là người rất được yêu quí, hãy hiểu những lời ta nói cùng ngươi, và hãy đứng thẳng lên, vì bây giờ ta đã được sai đến cùng ngươi. Khi người đã nói cùng ta lời ấy, ta đứng lên và run rẩy.
(Đa-ni-ên 10:11)Đa-ni-ên 10:11) của thiên đàng. Tuy nhiên, thay vì tuyên bố mình là trong sạch và thánh khiết, vị tiên tri được tôn kính này đã đồng hóa chính mình với những kẻ thật sự có tội trong Y-sơ-ra-ên khi ông cầu khẩn trước Đức Chúa Trời thay cho dân sự mình: “Hỡi Đức Chúa Trời tôi, xin ghé tai và nghe. Xin mở mắt nhìn xem những nơi hoang vu của chúng tôi, và thành đã được xưng bởi danh Ngài! Không phải cậy những sự công bình mình mà chúng tôi nài xin Ngài, nhưng cậy những sự thương xót cả thể của Ngài.
(Đa-ni-ên 9:18) Bây giờ, hỡi Chúa là Đức Chúa Trời chúng tôi, Ngài đã lấy tay mạnh đem dân Ngài ra khỏi đất Ê-díp-tô, đã làm nên cho mình một danh tiếng như ngày nay; còn chúng tôi đã phạm tội, đã làm việc ác.
(Đa-ni-ên 9:15) Ông tuyên bố: “Ta còn đương nói và cầu nguyện, xưng tội lỗi ta và tội lỗi dân Y-sơ-ra-ên ta, và ta dâng lời nài xin trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời ta, vì núi thánh Đức Chúa Trời ta.
(Đa-ni-ên 9:20) Và khi về sau Con Đức Chúa Trời hiện ra để dạy dỗ ông, Đa-ni-ên nói: “Vậy ta sót lại một mình, và thấy sự hiện thấy lớn đó thì chẳng còn sức nữa. Mặt ta biến sắc cho đến tái đi, và ta không còn sức nữa.
(Đa-ni-ên 10:8) Đa-ni-ên 9:18, 15, 20; 10:8. GC 470.3
Khi Gióp nghe tiếng Chúa phán ra từ cơn gió lốc, ông đã kêu lên: “Vì vậy, tôi lấy làm gớm ghê tôi, Và ăn năn trong tro bụi.
(Gióp 42:6)Gióp 42:6. Chính khi Ê-sai thấy vinh quang của Chúa, và nghe các chê-ru-bin kêu lên: “Các sê-ra-phim cùng nhau kêu lên rằng: Thánh thay, thánh thay, thánh thay là Đức Giê-hô-va vạn quân! Khắp đất đầy dẫy sự vinh hiển Ngài!
(Ê-sai 6:3) thì ông đã kêu lên: “Bấy giờ tôi nói: Khốn nạn cho tôi! Xong đời tôi rồi! Vì tôi là người có môi dơ dáy, ở giữa một dân có môi dơ dáy, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê-hô-va vạn quân!
(Ê-sai 6:5) Ê-sai 6:3, 5. Phao-lô, sau khi được cất lên tầng trời thứ ba và nghe những điều mà loài người không thể nói ra, đã nói về chính mình như “Phải, ân điển đó đã ban cho tôi, là kẻ hèn hơn hết mọi thánh đồ, để rao truyền cho dân ngoại sự giàu có không dò được của Đấng Cơ-đốc,
(Ê-phê-sô 3:8) Cô-rinh-tô 12:2-4, chú thích; Ê-phê-sô 3:8. Chính Giăng yêu dấu, người đã ngả vào ngực Đức Chúa Giê-su và chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, đã ngã xuống như chết dưới chân thiên sứ. Khải Huyền 1:17. GC 471.1
Không thể có sự tự tôn cao, không thể có lời tuyên bố khoe khoang về việc thoát khỏi tội lỗi, nơi những ai bước đi dưới bóng thập tự giá của đồi Gô-gô-tha. Họ cảm nhận rằng chính tội lỗi của họ đã gây nên nỗi thống khổ làm tan vỡ lòng Con Đức Chúa Trời, và ý tưởng này sẽ dẫn họ đến sự tự hạ mình. Những ai sống gần Đức Chúa Giê-su nhất sẽ nhận ra rõ ràng nhất sự yếu đuối và tội lỗi của nhân loại, và hy vọng duy nhất của họ là ở nơi công lao của Đấng Cứu Thế đã chịu đóng đinh và đã sống lại. GC 471.2
Sự nên thánh hiện đang nổi bật trong thế giới tôn giáo mang theo nó một tinh thần tự tôn cao và sự coi thường luật pháp Đức Chúa Trời, điều đó đánh dấu nó là xa lạ với tôn giáo của Kinh Thánh. Những người chủ trương nó dạy rằng sự nên thánh là một công việc tức thời, mà qua đó, chỉ bởi đức tin, họ đạt đến sự thánh khiết hoàn toàn. Họ nói: “Chỉ cần tin, và phước lành là của bạn.” Người ta giả định rằng không cần thêm một nỗ lực nào nữa về phần người tiếp nhận. Đồng thời họ phủ nhận thẩm quyền của luật pháp Đức Chúa Trời, khẳng định rằng họ được giải phóng khỏi nghĩa vụ phải giữ các điều răn. Nhưng liệu có thể nào loài người là thánh khiết, phù hợp với ý muốn và tâm tánh của Đức Chúa Trời, mà không bước vào sự hòa hợp với những nguyên tắc là sự biểu lộ bản chất và ý muốn Ngài, và chỉ ra điều gì đẹp lòng Ngài? GC 471.3
Sự khao khát một tôn giáo dễ dàng không đòi hỏi sự phấn đấu, không có sự từ bỏ mình, không có sự ly thân khỏi những điên rồ của thế gian, đã khiến cho giáo lý đức tin, và chỉ có đức tin mà thôi, trở thành một giáo lý được ưa chuộng; nhưng lời Đức Chúa Trời phán gì? Sứ đồ Gia-cơ nói: “Hỡi anh em, nếu ai nói mình có đức tin, song không có việc làm, thì ích chi chăng? Đức tin đó cứu người ấy được chăng? Ví thử có anh em hoặc chị em nào không quần áo mặc, thiếu của ăn uống hằng ngày, mà một kẻ trong anh em nói với họ rằng: Hãy đi cho bình an, hãy sưởi cho ấm và ăn cho no, nhưng không cho họ đồ cần dùng về phần xác, thì có ích gì chăng? Về đức tin, cũng một lẽ ấy; nếu đức tin không sanh ra việc làm, thì tự mình nó chết. Hoặc có kẻ nói: Ngươi có đức tin, còn ta có việc làm. Hãy chỉ cho ta đức tin của ngươi không có việc làm, rồi ta sẽ chỉ cho ngươi đức tin bởi việc làm của ta. Ngươi tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời mà thôi, ngươi tin phải; ma quỉ cũng tin như vậy và run sợ. Nhưng, hỡi người vô tri kia, ngươi muốn biết chắc rằng đức tin không có việc làm là vô ích chăng? Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, khi dâng con mình là Y-sác trên bàn thờ, há chẳng từng cậy việc làm được xưng công bình hay sao? Thế thì, ngươi thấy đức tin đồng công với việc làm, và nhờ việc làm mà đức tin được trọn vẹn. Vậy được ứng nghiệm lời Kinh thánh rằng: Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người; và người được gọi là bạn Đức Chúa Trời. Nhân đó anh em biết người ta cậy việc làm được xưng công bình, chớ chẳng những là cậy đức tin mà thôi.
(Gia-cơ 2:14-24)Gia-cơ 2:14-24. GC 472.1
Lời chứng của lời Đức Chúa Trời nghịch lại với giáo lý gài bẫy này về đức tin không có việc làm. Đó không phải là đức tin tuyên bố sự ưu ái của thiên đàng mà không tuân theo những điều kiện mà nhờ đó sự thương xót được ban cho, đó là sự tự phụ; vì đức tin chân thật có nền tảng của nó nơi những lời hứa và sự cung ứng của Kinh Thánh. GC 472.2
Chớ để ai tự dối mình với niềm tin rằng họ có thể trở nên thánh khiết trong khi cố ý vi phạm một trong những yêu cầu của Đức Chúa Trời. Việc phạm một tội đã biết sẽ làm im tiếng chứng của Thánh Linh và phân cách linh hồn khỏi Đức Chúa Trời. “Tội lỗi là sự vi phạm luật pháp.” Và “Ai ở trong Ngài thì không phạm tội; còn ai phạm tội, thì chẳng từng thấy Ngài và chẳng từng biết Ngài.
(I Giăng 3:6)Giăng 3:6. Mặc dầu Giăng trong các thư tín của ông bàn rất đầy đủ về tình yêu thương, tuy nhiên ông không ngần ngại tiết lộ tâm tánh thật của hạng người tuyên bố là được nên thánh trong khi sống trong sự vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời. “Kẻ nào nói: Ta biết Ngài, mà không giữ điều răn Ngài, là người nói dối, lẽ thật quyết không ở trong người. Nhưng ai giữ lời phán Ngài, thì lòng kính mến Đức Chúa Trời thật là trọn vẹn trong người ấy. Bởi đó, chúng ta biết mình ở trong Ngài.
(I Giăng 2:4-5) Giăng 2:4, 5. Đây là phép thử cho lời tuyên xưng của mỗi người. Chúng ta không thể công nhận sự thánh khiết cho bất cứ ai mà không đem người ấy đến với tiêu chuẩn duy nhất của Đức Chúa Trời về sự thánh khiết trên trời và dưới đất. Nếu loài người không cảm thấy sức nặng của luật đạo đức, nếu họ coi nhẹ và xem thường các điều răn của Đức Chúa Trời, nếu họ phá vỡ một trong những điều răn nhỏ nhất này, và dạy loài người làm như vậy, thì họ sẽ không được quý trọng trong mắt thiên đàng, và chúng ta có thể biết rằng những lời tuyên bố của họ không có nền tảng. GC 472.3
Và sự tự nhận mình không có tội, tự chính nó, là bằng chứng rằng kẻ đưa ra lời tuyên bố ấy còn xa cách sự thánh khiết. Chính vì người ấy không có quan niệm chân thật về sự thanh sạch và thánh khiết vô hạn của Đức Chúa Trời hay về điều mà những ai sẽ được hòa hợp với bản tính Ngài phải trở nên; chính vì người ấy không có quan niệm chân thật về sự thanh sạch và vẻ đáng yêu cao cả của Đức Chúa Giê-su, cùng tính độc ác và sự xấu xa của tội lỗi, mà con người mới có thể tự xem mình là thánh khiết. Khoảng cách giữa người ấy và Đấng Christ càng lớn, và những quan niệm của người ấy về bản tính và những đòi hỏi thiêng liêng càng thiếu sót, thì người ấy càng thấy mình công bình trong mắt chính mình. GC 473.1
Sự nên thánh được trình bày trong Kinh Thánh bao gồm toàn bộ con người — thần linh, linh hồn và thân thể. Phao-lô cầu nguyện cho những người Tê-sa-lô-ni-ca rằng “thần linh, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Giê-su Christ chúng ta đến.” Nguyền xin chính Đức Chúa Trời bình an khiến anh em nên thánh trọn vẹn, và nguyền xin tâm thần, linh hồn, và thân thể của anh em đều được giữ vẹn, không chỗ trách được, khi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta đến!
(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:23)Ông lại viết cho các tín hữu: “Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời.” Vậy, hỡi anh em, tôi lấy sự thương xót của Đức Chúa Trời khuyên anh em dâng thân thể mình làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời, ấy là sự thờ phượng phải lẽ của anh em.
(Rô-ma 12:1) Trong thời dân Y-sơ-ra-ên xưa, mỗi của lễ đem đến dâng cho Đức Chúa Trời đều được kiểm tra cẩn thận. Nếu phát hiện bất kỳ khiếm khuyết nào trong con vật được dâng, nó sẽ bị từ chối; vì Đức Chúa Trời đã truyền rằng của lễ phải “không tì vết.” Vì vậy, những người Cơ-đốc được truyền dạy phải dâng thân thể mình, “làm của lễ sống và thánh, đẹp lòng Đức Chúa Trời.” Để làm được điều này, mọi năng lực của họ phải được gìn giữ trong tình trạng tốt nhất có thể. Mỗi thói quen làm suy yếu sức lực thể chất hoặc tinh thần đều khiến con người không thích hợp cho sự phục vụ Đấng Tạo Hóa của mình. Và liệu Đức Chúa Trời có đẹp lòng với bất cứ điều gì kém hơn điều tốt nhất mà chúng ta có thể dâng hiến chăng? Đấng Christ phán: “Ngươi hãy hết lòng yêu mến Chúa, là Đức Chúa Trời ngươi.” Những ai thật lòng yêu mến Đức Chúa Trời hết lòng sẽ khao khát dâng cho Ngài sự phục vụ tốt nhất của đời mình, và họ sẽ không ngừng tìm cách đem mọi năng lực của bản thể mình vào sự hòa hợp với các luật lệ sẽ thúc đẩy khả năng làm theo ý muốn Ngài. Họ sẽ không, bởi sự chiều theo thèm khát hay dục vọng, làm suy yếu hoặc làm ô uế của lễ mà họ dâng lên Cha Thiên Thượng của mình. GC 473.2
Phi-e-rơ nói: “Hãy kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn.” Hỡi kẻ rất yêu dấu, anh em như người ở trọ, kẻ đi đường, tôi khuyên phải kiêng những điều xác thịt ưa thích, là điều chống trả với linh hồn.
(I Phi-e-rơ 2:11)Mỗi sự thỏa mãn tội lỗi đều có khuynh hướng làm tê liệt các khả năng và làm chết đi các giác quan tinh thần và thuộc linh, và Lời hay Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời chỉ có thể gây ấn tượng yếu ớt trên tấm lòng. Phao-lô viết cho những người Cô-rinh-tô: “Chúng ta hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.” Hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, chúng ta đã có lời hứa dường ấy, thì hãy làm cho mình sạch khỏi mọi sự dơ bẩn phần xác thịt và phần thần linh, lại lấy sự kính sợ Đức Chúa Trời mà làm cho trọn việc nên thánh của chúng ta.
(II Cô-rinh-tô 7:1) Và cùng với các trái của Đức Thánh Linh — “yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại” — ông xếp cả “tiết độ.” Nhưng trái của Thánh Linh, ấy là lòng yêu thương, sự vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, mềm mại, tiết độ: Không có luật pháp nào cấm các sự đó.
(Ga-la-ti 5:22-23) GC 474.1
Dầu có những lời tuyên bố được cảm thúc này, biết bao nhiêu người xưng mình là Cơ-đốc nhân đang làm suy yếu năng lực của mình trong việc theo đuổi lợi lộc hoặc sự tôn thờ thời trang; biết bao nhiêu người đang hạ thấp nhân phẩm giống như Đức Chúa Trời của mình bằng sự háu ăn, bằng việc uống rượu, bằng những thú vui bị cấm. Và hội thánh, thay vì quở trách, lại quá thường cổ võ điều xấu bằng cách khơi gợi sự thèm khát, lòng ham lợi hay yêu mến thú vui, để làm đầy ngân khố của mình, điều mà lòng yêu mến Đấng Christ quá yếu ớt để cung ứng. Nếu Đức Chúa Giê-su bước vào các hội thánh ngày nay và thấy sự tiệc tùng và buôn bán bất khiết được thực hiện nhân danh tôn giáo, chẳng phải Ngài sẽ đuổi những kẻ xúc phạm ấy ra ngoài, như Ngài đã đuổi những người đổi bạc khỏi đền thờ sao? GC 474.2
Sứ đồ Gia-cơ tuyên bố rằng sự khôn ngoan từ trên cao “trước hết là thanh sạch.” Nếu ông đã gặp những kẻ đem danh quý báu của Đức Chúa Giê-su lên đôi môi bị thuốc lá làm ô uế, những kẻ mà hơi thở và thân thể bị nhiễm bẩn bởi mùi hôi hám của nó, và làm ô nhiễm bầu không khí của trời và buộc tất cả những ai ở xung quanh phải hít vào chất độc đó — nếu vị sứ đồ đã tiếp xúc với một thói quen đối nghịch đến vậy với sự thanh sạch của tin lành, chẳng phải ông sẽ lên án nó là “thuộc về đất, thuộc về xác thịt, thuộc về ma quỷ” sao? Những kẻ nô lệ của thuốc lá, tự nhận có được phước hạnh của sự nên thánh trọn vẹn, nói về hy vọng thiên đàng của mình; nhưng lời Đức Chúa Trời tuyên bố rõ ràng rằng “chẳng hề có vật gì ô uế hoặc có thể vào đó được.” kẻ ô uế, người làm điều gớm ghiếc và nói dối không hề được vào thành; nhưng chỉ có những kẻ đã biên tên trong sách sự sống của Chiên Con.
(Khải-huyền 21:27) GC 474.3
“Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể và thần linh mình, là của thuộc về Đức Chúa Trời, mà làm sáng danh Đức Chúa Trời.” Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời.
(I Cô-rinh-tô 6:19-20)Người mà thân thể là đền thờ của Đức Thánh Linh sẽ không bị nô lệ bởi một thói quen tai hại. Năng lực của người ấy thuộc về Đấng Christ, Đấng đã mua chuộc người bằng giá của huyết. Tài sản của người ấy thuộc về Chúa. Làm sao người ấy có thể vô tội khi phung phí vốn liếng được giao phó này? Những người xưng mình là Cơ-đốc nhân mỗi năm tiêu xài một khoản tiền khổng lồ vào những sự nuông chiều vô ích và tai hại, trong khi các linh hồn đang hư mất vì thiếu lời sự sống. Đức Chúa Trời bị cướp đoạt trong phần mười và của dâng, trong khi họ thiêu đốt trên bàn thờ của dục vọng hủy diệt nhiều hơn điều họ dâng để cứu trợ người nghèo hay để nâng đỡ tin lành. Nếu tất cả những ai xưng mình là môn đồ của Đấng Christ đều thật sự được nên thánh, thì phương tiện của họ, thay vì tiêu xài vào những sự nuông chiều không cần thiết và thậm chí tai hại, sẽ được đưa vào ngân khố của Chúa, và những người Cơ-đốc sẽ nêu gương về sự tiết độ, sự từ bỏ mình và sự hy sinh. Bấy giờ họ sẽ là sự sáng của thế gian. GC 475.1
Thế gian đã buông mình theo sự tự chiều lòng. “Sự mê tham của xác thịt, sự mê tham của mắt, và sự kiêu ngạo của đời” cai trị phần đông dân chúng. Nhưng những người theo Đấng Christ có một sự kêu gọi thánh khiết hơn. “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, Chúa phán vậy; chớ đá động đến đồ ô uế.” Dưới ánh sáng của lời Đức Chúa Trời, chúng ta có đủ cơ sở để tuyên bố rằng sự nên thánh không thể là chân thật nếu nó không đem đến sự từ bỏ hoàn toàn những sự theo đuổi và thỏa mãn tội lỗi của thế gian này. GC 475.2
Đối với những ai tuân theo các điều kiện, “Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó… chớ đá động đến đồ ô uế,” lời hứa của Đức Chúa Trời là, “Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Cha các ngươi, các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.” Bởi vậy Chúa phán rằng: Hãy ra khỏi giữa chúng nó, hãy phân rẽ ra khỏi chúng nó, Đừng đá động đến đồ ô uế, Thì ta sẽ tiếp nhận các ngươi: Ta sẽ làm Cha các ngươi, Các ngươi làm con trai con gái ta, Chúa Toàn năng phán như vậy.
(II Cô-rinh-tô 6:17-18)Đó là đặc ân và bổn phận của mỗi Cơ-đốc nhân để có một kinh nghiệm phong phú và dồi dào trong những điều thuộc về Đức Chúa Trời. “Ta là sự sáng của thế gian,” Đức Chúa Giê-su phán. “Người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.” Đức Chúa Giê-su lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.
(Giăng 8:12) Con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa.” Nhưng con đường người công bình giống như sự sáng chiếu rạng, Càng sáng thêm lên cho đến giữa trưa.
(Châm-ngôn 4:18) Mỗi bước của đức tin và sự vâng phục đều đem linh hồn đến mối liên kết gần gũi hơn với Sự Sáng của thế gian, trong Đấng ấy “chẳng có sự tối tăm nào hết.” Những tia sáng rực rỡ của Mặt Trời Công Bình chiếu trên các tôi tớ của Đức Chúa Trời, và họ phải phản chiếu những tia ấy. Như các vì sao nói cho chúng ta biết rằng có một sự sáng vĩ đại trên trời mà với vinh quang của nó các sao được chiếu sáng, cũng vậy, những người Cơ-đốc phải làm tỏ rõ rằng có một Đức Chúa Trời trên ngôi của vũ trụ mà bản tính Ngài xứng đáng được ngợi khen và noi theo. Các ân điển của Đức Thánh Linh Ngài, sự thanh sạch và thánh khiết của bản tính Ngài, sẽ được bày tỏ trong các chứng nhân của Ngài. GC 475.3
Phao-lô trong thư gởi cho những người Cô-lô-se trình bày những phước lành dồi dào được ban cho các con cái Đức Chúa Trời. Ông nói: “Cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa, hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành, càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời, nhờ quyền phép vinh hiển Ngài, được có sức mạnh mọi bề, để nhịn nhục vui vẻ mà chịu mọi sự.” Cho nên, chúng tôi cũng vậy, từ ngày nhận được tin đó, cứ cầu nguyện cho anh em không thôi, và xin Đức Chúa Trời ban cho anh em được đầy dẫy sự hiểu biết về ý muốn của Ngài, với mọi thứ khôn ngoan và hiểu biết thiêng liêng nữa, hầu cho anh em ăn ở cách xứng đáng với Chúa, đặng đẹp lòng Ngài mọi đường, nẩy ra đủ các việc lành, càng thêm lên trong sự hiểu biết Đức Chúa Trời, nhờ quyền phép vinh hiển Ngài, được có sức mạnh mọi bề, để nhịn nhục vui vẻ mà chịu mọi sự.
(Cô-lô-se 1:9-11) GC 476.1
Ông lại viết về sự khao khát của mình rằng các anh em tại Ê-phê-sô có thể đi đến chỗ hiểu được tầm cao của đặc ân của Cơ-đốc nhân. Ông mở ra trước họ, bằng ngôn ngữ bao quát nhất, quyền phép và sự hiểu biết kỳ diệu mà họ có thể sở hữu với tư cách là con trai và con gái của Đấng Chí Cao. Đặc ân của họ là “được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng,” được “đâm rễ vững nền trong sự yêu thương,” để “hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, và được biết sự yêu thương của Đấng Christ, là sự trổi hơn mọi sự thông biết.” Nhưng lời cầu nguyện của sứ đồ đạt đến đỉnh cao của đặc ân khi ông cầu xin rằng “anh em được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời.” tôi cầu xin Ngài tùy sự giàu có vinh hiển Ngài khiến anh em được quyền phép bởi Thánh Linh mà nên mạnh mẽ trong lòng; đến nỗi Đấng Cơ-đốc nhân đức tin mà ngự trong lòng anh em; để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, và được biết sự yêu thương của Đấng Cơ-đốc, là sự trổi hơn mọi sự thông biết, hầu cho anh em được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời.
(Ê-phê-sô 3:16-19) GC 476.2
Nơi đây được bày tỏ những tầm cao mà chúng ta có thể đạt đến bởi đức tin nơi các lời hứa của Cha thiên thượng, khi chúng ta làm theo các yêu cầu của Ngài. Qua công lao của Đấng Christ, chúng ta có đường vào ngôi của Đấng Quyền Năng Vô Hạn. Ngài đã không tiếc chính Con mình, nhưng vì chúng ta hết thảy mà phó Con ấy cho, thì Ngài há chẳng cũng sẽ ban mọi sự luôn với Con ấy cho chúng ta sao?
(Rô-ma 8:32)Đức Chúa Cha đã ban Thánh Linh của Ngài cho Con Ngài không chừng mực, và chúng ta cũng có thể nhận được sự trọn vẹn của Ngài. Đức Chúa Giê-su phán: Vậy nếu các ngươi là người xấu, còn biết cho con cái mình vật tốt thay, huống chi Cha các ngươi ở trên trời lại chẳng ban Đức Thánh Linh cho người xin Ngài!
(Lu-ca 11:13) Nếu các ngươi nhân danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho.
(Giăng 14:14) Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhân danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn.
(Giăng 16:24) GC 477.1
Dầu đời sống của Cơ-đốc nhân sẽ được đặc trưng bởi sự khiêm nhường, nhưng nó không nên mang dấu ấn của sự buồn bã và tự hạ thấp mình. Đó là đặc ân của mỗi người được sống sao cho Đức Chúa Trời chấp thuận và ban phước cho mình. Cha thiên thượng của chúng ta không muốn chúng ta cứ ở mãi dưới sự kết án và tối tăm. Không có bằng chứng nào về sự khiêm nhường thật trong việc cúi gục đầu và lòng đầy những ý nghĩ về bản thân. Chúng ta có thể đến cùng Đức Chúa Giê-su và được tẩy sạch, và đứng trước luật pháp không hổ thẹn và không hối tiếc. Cho nên hiện nay chẳng còn có sự đoán phạt nào cho những kẻ ở trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc;
(Rô-ma 8:1) GC 477.2
Qua Đức Chúa Giê-su, các con trai sa ngã của A-đam trở nên “con của Đức Chúa Trời”. Vì Đấng làm nên thánh và kẻ được nên thánh, đều bởi một Cha mà ra. Cho nên Ngài không thẹn mà gọi những kẻ đó là anh em,
(Hê-bơ-rơ 2:11)Đời sống của Cơ-đốc nhân phải là một đời sống đức tin, đắc thắng và vui mừng trong Đức Chúa Trời. vì hễ sự gì sanh bởi Đức Chúa Trời, thì thắng hơn thế gian; và sự thắng hơn thế gian, ấy là đức tin của chúng ta.
(I Giăng 5:4) Tôi tớ của Đức Chúa Trời là Nê-hê-mi đã nói thật đúng: Nê-hê-mi nói với chúng rằng: Hãy đi ăn vật gì béo, uống đồ gì ngọt, và hãy gởi phần cho những người không có sắm sửa gì hết; vì ngày nay là thánh, biệt riêng ra cho Chúa của chúng ta. Chớ buồn thảm, vì sự vui vẻ của Đức Giê-hô-va là sức lực của các ngươi.
(Nê-hê-mi 8:10) Và Phao-lô nói: Hãy vui mừng trong Chúa luôn luôn. Tôi lại còn nói nữa: hãy vui mừng đi.
(Phi-líp 4:4) Hãy vui mừng mãi mãi, cầu nguyện không thôi, phàm việc gì cũng phải tạ ơn Chúa; vì ý muốn của Đức Chúa Trời trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc đối với anh em là như vậy.
(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:16-18) GC 477.3
Đó là những bông trái của sự ăn năn trở lại và sự nên thánh theo Kinh Thánh; và chính vì các nguyên tắc vĩ đại của sự công bình được trình bày trong luật pháp Đức Chúa Trời bị thế giới Cơ-đốc thờ ơ đến như vậy, mà những bông trái này hiếm khi được thấy. Đây là lý do vì sao công việc sâu nhiệm và bền vững của Đức Thánh Linh — là công việc đã đánh dấu những cuộc phục hưng trong những năm trước — nay rất ít được tỏ ra. GC 478.1
Chính do sự chiêm ngưỡng mà chúng ta được biến đổi. Và khi những điều răn thánh, qua đó Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho loài người sự trọn vẹn và thánh khiết của bản tánh Ngài, bị bỏ bê, và tâm trí người ta bị cuốn vào những sự dạy dỗ và lý thuyết của loài người, thì chẳng lạ gì khi có sự suy giảm về lòng tin kính sống động trong hội thánh. Chúa phán: Dân ta đã làm hai điều ác: Chúng nó đã lìa bỏ ta, là nguồn nước sống, mà tự đào lấy hồ, thật, hồ nứt ra, không chứa nước được.
(Giê-rê-mi 2:13) GC 478.2
“Phước cho người nào chẳng theo mưu kế của kẻ dữ, Chẳng đứng trong đường tội nhân, Không ngồi chỗ của kẻ nhạo báng; Song lấy làm vui vẻ về luật pháp của Đức Giê-hô-va, Và suy gẫm luật pháp ấy ngày và đêm. Người ấy sẽ như cây trồng gần dòng nước, Sanh bông trái theo thì tiết, Lá nó cũng chẳng tàn héo; Mọi sự người làm đều sẽ thạnh vượng.” (Thi-thiên 1:1-3) Chỉ khi nào luật pháp Đức Chúa Trời được phục hồi về vị trí chính đáng của nó thì mới có thể có một sự phục hưng của đức tin và lòng tin kính nguyên thủy giữa vòng dân xưng mình thuộc về Ngài.
Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy đứng trên các đường cái và nhìn xem; tra xét những đường lối cũ, xem thử đường tốt ở đâu: Hãy đi đường ấy, thì các ngươi sẽ được sự an nghỉ cho linh hồn mình. Nhưng chúng nó đáp rằng: Chúng tôi không khứng đi đường ấy.(Giê-rê-mi 6:16) GC 478.3