Chương 26
26

Công Cuộc Cải Chánh

Chương 26—Một Công Cuộc Cải Chánh

Công cuộc cải chánh ngày Sa-bát cần phải được hoàn thành trong những ngày sau rốt đã được báo trước trong lời tiên tri của Ê-sai: Đức Giê-hô-va phán như vầy: Hãy giữ điều chánh trực, và làm sự công bình; vì sự cứu rỗi của ta gần đến, sự công bình của ta sắp được bày tỏ. Phước thay cho người làm điều đó, và con người cầm vững sự đó, giữ ngày Sa-bát đặng đừng làm ô uế, cấm tay mình không làm một điều ác nào!

(Ê-sai 56:1-2)Các người dân ngoại về cùng Đức Giê-hô-va, đặng hầu việc Ngài, đặng yêu mến danh Đức Giê-hô-va, đặng làm tôi tớ Ngài; tức là hết thảy những kẻ giữ ngày Sa-bát cho khỏi làm ô uế, và cầm vững lời giao ước ta, thì ta sẽ đem họ lên trên núi thánh ta, làm cho họ vui mừng trong nhà cầu nguyện ta. Của lễ thiêu và hy sinh họ dâng trên bàn thờ ta, sẽ được nhận lấy; vì nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện cho mọi dân tộc. (Ê-sai 56:6-7) GC 451.1

Những lời này áp dụng trong thời đại Cơ-đốc, như văn mạch cho thấy: Chúa Giê-hô-va, Đấng nhóm dân tan lạc của Y-sơ-ra-ên, phán như vầy: Dân nó đã được nhóm lại rồi, ta sẽ còn nhóm các dân khác lại về cùng nó.

(Ê-sai 56:8)Ở đây báo trước sự thâu nhóm dân ngoại bởi tin lành. Và trên những kẻ khi ấy tôn trọng ngày Sa-bát, một phước lành được công bố. Như vậy, bổn phận của điều răn thứ tư kéo dài qua khỏi sự đóng đinh, sự sống lại, và sự thăng thiên của Đấng Christ, đến thời điểm các tôi tớ Ngài sẽ rao giảng cho muôn dân sứ điệp tin mừng. GC 451.2

Chúa truyền lệnh qua cùng một đấng tiên tri: Ngươi hãy gói lời chứng này, niêm phong luật pháp này trong môn đồ ta!

(Ê-sai 8:16)Ấn của luật pháp Đức Chúa Trời được tìm thấy trong điều răn thứ tư. Chỉ có điều răn này, trong cả mười điều, đem đến cả danh hiệu lẫn tước hiệu của Đấng Lập Luật. Điều răn này tuyên bố Ngài là Đấng Tạo Hóa của trời và đất, và do đó bày tỏ quyền đòi hỏi sự tôn kính và thờ phượng của Ngài trên hết thảy mọi loài. Ngoài giới luật này ra, không có điều gì trong Mười Điều Răn cho thấy luật pháp được ban bởi thẩm quyền của ai. Khi ngày Sa-bát bị quyền lực giáo hoàng thay đổi, thì ấn đã bị lấy khỏi luật pháp. Các môn đồ của Đức Chúa Giê-su được kêu gọi khôi phục ấn ấy bằng cách tôn cao ngày Sa-bát của điều răn thứ tư vào vị trí chính đáng của nó như là đài kỷ niệm của Đấng Tạo Hóa và dấu hiệu của thẩm quyền Ngài. GC 452.1

“Hãy theo luật pháp và lời chứng.” Trong khi các giáo lý và lý thuyết mâu thuẫn nhau tràn lan, luật pháp Đức Chúa Trời là quy tắc duy nhất không sai lầm để thử nghiệm mọi ý kiến, giáo lý, và lý thuyết. Đấng tiên tri phán: Hãy theo luật pháp và lời chứng! Nếu dân chẳng nói như vậy, chắc sẽ chẳng có rạng đông cho nó.

(Ê-sai 8:20) GC 452.2

Lại nữa, mạng lịnh được ban ra: Hãy kêu to lên, đừng dứt; hãy cất tiếng lên như cái loa; rao bảo tội lỗi dân ta cho nó, và rao bảo sự gian ác nhà Gia-cốp cho nhà ấy!

(Ê-sai 58:1)Không phải thế gian gian ác, nhưng những kẻ mà Chúa chỉ định là “dân ta,” mới phải bị quở trách vì sự vi phạm của họ. Ngài phán thêm: Ngày ngày họ tìm kiếm ta và muốn biết đường lối ta; như dân đã theo sự công bình và chưa từng bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời mình! Họ cầu hỏi ta sự đoán xét công bình; và vui lòng gần gũi Đức Chúa Trời, (Ê-sai 58:2) Ở đây bày tỏ một hạng người tự cho mình là công bình và tỏ vẻ quan tâm nhiều đến việc phụng sự Đức Chúa Trời; nhưng sự quở trách nghiêm khắc và trang trọng của Đấng Dò Xét lòng người chứng tỏ họ đang chà đạp các giới luật thiêng liêng. GC 452.3

Đấng tiên tri chỉ ra lệ đã bị bỏ bê ấy như vầy: Những kẻ ra từ ngươi sẽ dựng lại nơi đổ nát ngày xưa; ngươi sẽ lập lại các nền của nhiều đời trước. Người ta sẽ xưng ngươi là Kẻ tu bổ sự hư hoại, và Kẻ sửa đường lại cho người ở. Nếu ngươi ngừa giữ chân mình trong ngày Sa-bát, không làm vừa ý mình trong ngày thánh của ta; nếu ngươi xưng ngày Sa-bát là ngày vui thích, coi ngày thánh của Đức Giê-hô-va là đáng kính; nếu ngươi tôn trọng ngày đó, không đi đường riêng mình, không theo ý riêng mình, và không nói lời riêng mình, bấy giờ ngươi sẽ lấy Đức Giê-hô-va làm vui thích, ta sẽ làm cho ngươi cỡi lên các nơi cao trên đất, và lấy sản nghiệp của Gia-cốp, tổ phụ ngươi, mà nuôi ngươi; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy.

(Ê-sai 58:12-14)Lời tiên tri này cũng áp dụng trong thời đại chúng ta. Lỗ hổng đã được tạo ra trong luật pháp Đức Chúa Trời khi ngày Sa-bát bị quyền lực La-mã thay đổi. Nhưng thời điểm đã đến để thể chế thiêng liêng ấy được khôi phục. Lỗ hổng phải được sửa lại và nền của nhiều đời phải được dựng lên. GC 452.4

Được thánh hóa bởi sự nghỉ ngơi và phước lành của Đấng Tạo Hóa, ngày Sa-bát đã được A-đam giữ trong sự vô tội của mình tại vườn Ê-đen thánh; bởi A-đam, sau khi sa ngã nhưng ăn năn, khi ông bị đuổi khỏi địa vị hạnh phúc của mình. Ngày Sa-bát đã được giữ bởi tất cả các tổ phụ, từ A-bên cho đến Nô-ê công bình, cho đến Áp-ra-ham, cho đến Gia-cốp. Khi dân được chọn bị nô lệ tại Ê-díp-tô, nhiều người, giữa sự thờ hình tượng thịnh hành, đã mất đi sự hiểu biết về luật pháp Đức Chúa Trời; nhưng khi Chúa giải cứu Y-sơ-ra-ên, Ngài đã công bố luật pháp Ngài trong sự uy nghi đáng kinh sợ cho đám đông tụ họp, để họ có thể biết ý muốn Ngài và kính sợ và vâng lời Ngài đời đời. GC 453.1

Từ ngày ấy đến hiện nay, sự hiểu biết về luật pháp Đức Chúa Trời đã được gìn giữ trên đất, và ngày Sa-bát của điều răn thứ tư đã được giữ. Dầu “người tội ác” đã thành công trong việc chà đạp ngày thánh của Đức Chúa Trời dưới chân, nhưng ngay cả trong thời kỳ quyền thống trị của hắn, vẫn có, ẩn náu trong những nơi kín giấu, những linh hồn trung tín tôn vinh ngày ấy. Kể từ cuộc Cải chánh, đã có một số người trong mỗi thế hệ duy trì việc giữ ngày Sa-bát. Dầu thường ở giữa sự sỉ nhục và bắt bớ, một lời chứng không dứt đã được đưa ra về tính vĩnh cửu của luật pháp Đức Chúa Trời và bổn phận thánh thiêng của ngày Sa-bát sáng tạo. GC 453.2

Những lẽ thật này, như được trình bày trong Khải Huyền 14 liên hệ với “tin lành đời đời,” sẽ phân biệt hội thánh của Đấng Christ vào thời điểm Ngài hiện ra. Vì như kết quả của sứ điệp ba phần, được tuyên bố: Đây tỏ ra sự nhịn nhục của các thánh đồ: Chúng giữ điều răn của Đức Chúa Trời và giữ lòng tin Đức Chúa Giê-su.

(Khải-huyền 14:12)Và sứ điệp này là sứ điệp cuối cùng được ban ra trước khi Chúa đến. Ngay sau khi sứ điệp này được công bố, Con Người được đấng tiên tri thấy, đến trong vinh quang để gặt hái mùa màng của thế gian. GC 453.3

Những người nhận được ánh sáng liên quan đến đền thánh và tính bất biến của luật pháp Đức Chúa Trời đã tràn đầy vui mừng và kinh ngạc khi họ thấy vẻ đẹp và sự hòa hợp của hệ thống lẽ thật được mở ra cho sự hiểu biết của họ. Họ mong muốn rằng ánh sáng dường như quý báu đối với họ có thể được truyền đạt cho tất cả những người Cơ-đốc; và họ không thể không tin rằng nó sẽ được vui vẻ tiếp nhận. Nhưng những lẽ thật đặt họ vào thế đối nghịch với thế gian thì không được hoan nghênh bởi nhiều người tự xưng là môn đồ của Đấng Christ. Sự vâng lời điều răn thứ tư đòi hỏi một sự hy sinh mà phần đông đã rút lui. GC 454.1

Khi những đòi hỏi của ngày Sa-bát được trình bày, nhiều người lý luận theo quan điểm của người thế gian. Họ nói: “Chúng ta vẫn luôn giữ Chúa Nhật, tổ phụ chúng ta đã giữ ngày ấy, và nhiều người tốt lành và tin kính đã chết trong hạnh phúc khi đang giữ ngày ấy. Nếu họ đúng, thì chúng ta cũng đúng. Việc giữ ngày Sa-bát mới này sẽ khiến chúng ta không hòa hợp với thế gian, và chúng ta sẽ không có ảnh hưởng gì đối với họ. Một nhóm nhỏ giữ ngày thứ bảy có thể hy vọng thành tựu được điều gì chống lại cả thế gian đang giữ Chúa Nhật?” Chính bởi những lập luận tương tự mà người Do Thái đã cố gắng biện hộ cho việc họ từ chối Đấng Christ. Tổ phụ họ đã được Đức Chúa Trời chấp nhận khi dâng các của lễ hy sinh, và tại sao con cái không thể tìm được sự cứu rỗi khi theo đuổi cùng một đường lối? Cũng vậy, vào thời Lu-thơ, những người Công Giáo lý luận rằng những người Cơ-đốc chân chính đã chết trong đức tin Công Giáo, và do đó tôn giáo ấy là đủ cho sự cứu rỗi. Lý luận như vậy sẽ là một rào cản hữu hiệu cho mọi sự tiến bộ trong đức tin hay thực hành tôn giáo. GC 454.2

Nhiều người nhấn mạnh rằng việc giữ Chúa Nhật đã là một giáo lý được thiết lập và một tục lệ phổ biến của hội thánh trong nhiều thế kỷ. Chống lại lập luận này, đã được chứng tỏ rằng ngày Sa-bát và việc giữ ngày ấy còn cổ xưa và phổ biến hơn, thậm chí cổ xưa như chính thế gian, và mang sự chấp thuận của cả thiên sứ lẫn Đức Chúa Trời. Khi nền của trái đất được đặt xuống, khi các ngôi sao mai cùng nhau ca hát, và hết thảy các con trai Đức Chúa Trời đều reo mừng, thì khi ấy nền của ngày Sa-bát đã được đặt. Nền nó đặt trên chi? Ai có trồng hòn đá góc của nó? Trong khi ấy các sao mai đồng hát hòa nhau, Và các con trai Đức Chúa Trời cất tiếng reo mừng.

(Gióp 38:6-7)Ấy vậy, trời đất và muôn vật đã dựng nên xong rồi. Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời làm xong các công việc Ngài đã làm, và ngày thứ bảy, Ngài nghỉ các công việc Ngài đã làm. Rồi, Ngài ban phước cho ngày thứ bảy, đặt là ngày thánh; vì trong ngày đó, Ngài nghỉ các công việc đã dựng nên và đã làm xong rồi. (Sáng-thế Ký 2:1-3) Thể chế này có thể đòi hỏi sự tôn kính của chúng ta; nó không được lập bởi thẩm quyền con người nào và cũng không dựa trên truyền thống con người nào; nó được thiết lập bởi Đấng Thượng Cổ và được truyền dạy bởi lời đời đời của Ngài. GC 454.3

Khi sự chú ý của dân chúng được hướng đến vấn đề cải cách ngày Sa-bát, các mục sư được lòng dân đã xuyên tạc Lời Đức Chúa Trời, đưa ra những lý giải về lời chứng của Kinh Thánh sao cho có thể làm yên lòng những trí óc đang tìm tòi. Và những ai không tự mình tra xem Kinh Thánh thì hài lòng chấp nhận các kết luận phù hợp với lòng ham muốn của mình. Bằng lý luận, ngụy biện, truyền thống của các Giáo phụ, và thẩm quyền của hội thánh, nhiều người cố gắng lật đổ lẽ thật. Những người bênh vực lẽ thật buộc phải quay về với Kinh Thánh của mình để biện hộ cho hiệu lực của điều răn thứ tư. Những người khiêm nhường, chỉ được trang bị bằng lời của lẽ thật, đã đứng vững trước các cuộc tấn công của những kẻ học rộng, là những kẻ với vẻ kinh ngạc và giận dữ đã nhận ra rằng sự ngụy biện hùng hồn của họ bất lực trước lý luận giản dị, thẳng thắn của những người am tường Kinh Thánh hơn là các tinh vi của trường phái học thuật. GC 455.1

Vì không có lời chứng nào từ Kinh Thánh ủng hộ lập trường của họ, nhiều người với sự kiên trì không mệt mỏi đã lập luận rằng — quên mất rằng chính lối lý luận ấy đã được dùng để chống lại Đấng Christ và các sứ đồ của Ngài: “Tại sao các bậc vĩ nhân của chúng ta không hiểu vấn đề ngày Sa-bát này? Chỉ có ít người tin như các ông mà thôi. Không thể nào các ông đúng mà tất cả những người học rộng trên thế giới đều sai.” GC 455.2

Để bác bỏ những lập luận như thế, chỉ cần viện dẫn các dạy dỗ của Kinh Thánh và lịch sử về sự đối đãi của Chúa với dân sự Ngài trong mọi thời đại. Đức Chúa Trời hành động qua những người nghe và vâng theo tiếng Ngài, những người, nếu cần, sẵn sàng nói ra các lẽ thật khó nghe, những người không sợ quở trách các tội lỗi được ưa chuộng. Lý do Ngài không thường xuyên chọn những người học rộng và địa vị cao để dẫn đầu các phong trào cải cách là vì họ tin cậy nơi các giáo điều, lý thuyết và hệ thống thần học của mình, và không cảm thấy cần được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Chỉ những ai có mối liên hệ cá nhân với Cội nguồn của sự khôn ngoan mới có thể hiểu hoặc giải nghĩa Kinh Thánh. Những người ít học ở trường lớp đôi khi được gọi để công bố lẽ thật, không phải vì họ thiếu học, mà vì họ không quá tự mãn đến nỗi không thể được Đức Chúa Trời dạy dỗ. Họ học trong trường của Đấng Christ, và sự khiêm nhường cùng vâng phục của họ làm cho họ trở nên cao trọng. Khi giao phó cho họ sự hiểu biết về lẽ thật của Ngài, Đức Chúa Trời ban cho họ một vinh dự mà so với nó thì các vinh dự trần gian và sự cao trọng của loài người trở nên vô nghĩa. GC 455.3

Đa số những người Cơ-đốc Phục Lâm đã khước từ các lẽ thật về đền thánh và luật pháp Đức Chúa Trời, và nhiều người cũng từ bỏ đức tin của họ nơi phong trào tái lâm, chấp nhận những quan điểm sai lạc và mâu thuẫn về các lời tiên tri liên quan đến công việc ấy. Một số bị dẫn vào sai lầm là cứ liên tục ấn định một thời điểm cụ thể cho sự đến của Đấng Christ. Ánh sáng lúc bấy giờ đang chiếu vào đề tài đền thánh lẽ ra phải cho họ thấy rằng không có kỳ tiên tri nào kéo dài đến sự tái lâm; rằng thời điểm chính xác của sự tái lâm này không được báo trước. Nhưng họ quay lưng lại với ánh sáng, cứ tiếp tục ấn định hết thời điểm này đến thời điểm khác cho Chúa đến, và lần nào họ cũng bị thất vọng. GC 456.1

Khi hội thánh tại Tê-sa-lô-ni-ca tiếp nhận những quan điểm sai lầm về sự đến của Đấng Christ, sứ đồ Phao-lô khuyên họ hãy cẩn thận thử nghiệm những hy vọng và mong đợi của mình bằng Lời Đức Chúa Trời. Ông viện dẫn cho họ các lời tiên tri tỏ bày những biến cố sẽ xảy ra trước khi Đấng Christ đến, và chỉ ra rằng họ không có cơ sở nào để mong đợi Ngài đến trong thời của họ. “Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra,

(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3)đó là lời cảnh báo của ông. Nếu họ nuôi dưỡng những mong đợi không được Kinh Thánh chấp thuận, họ sẽ bị dẫn vào một đường lối hành động sai lầm; sự thất vọng sẽ khiến họ bị những kẻ chẳng tin chế giễu, và họ sẽ có nguy cơ chịu thua trước sự ngã lòng và bị cám dỗ nghi ngờ các lẽ thật thiết yếu cho sự cứu rỗi của mình. Lời khuyên của sứ đồ dành cho người Tê-sa-lô-ni-ca chứa đựng một bài học quan trọng cho những người sống trong những ngày sau rốt. Nhiều người Cơ-đốc Phục Lâm đã cảm thấy rằng nếu không thể đặt đức tin của mình vào một thời điểm nhất định cho sự đến của Chúa, họ không thể sốt sắng và siêng năng trong công việc chuẩn bị. Nhưng khi các hy vọng của họ hết lần này đến lần khác bị khơi dậy, chỉ để rồi bị tiêu tan, đức tin của họ chịu một cú sốc đến nỗi hầu như không thể nào họ còn được cảm động bởi các lẽ thật trọng đại của lời tiên tri. GC 456.2

Việc rao giảng một thời điểm nhất định cho sự phán xét, trong khi truyền đi sứ điệp thứ nhất, là do Đức Chúa Trời truyền lệnh. Cách tính các kỳ tiên tri mà sứ điệp ấy dựa vào, đặt điểm kết thúc của 2300 ngày vào mùa thu năm 1844, đứng vững không thể bị bác bỏ. Những nỗ lực liên tục để tìm các thời điểm mới cho sự bắt đầu và kết thúc của các kỳ tiên tri, và lối lý luận thiếu vững chắc cần thiết để duy trì các lập trường ấy, không những dẫn tâm trí rời xa lẽ thật hiện tại, mà còn làm cho mọi nỗ lực giải thích các lời tiên tri bị khinh dể. Một thời điểm nhất định cho sự tái lâm càng được ấn định thường xuyên, và càng được truyền bá rộng rãi bao nhiêu, thì càng phù hợp với mục đích của Sa-tan bấy nhiêu. Sau khi thời điểm ấy đã qua, nó khơi dậy sự chế nhạo và khinh bỉ đối với những người bênh vực, và nhờ đó gieo sự sỉ nhục trên phong trào tái lâm vĩ đại của năm 1843 và 1844. Những ai cứ cố chấp trong sai lầm này, cuối cùng sẽ ấn định một thời điểm quá xa trong tương lai cho sự đến của Đấng Christ. Nhờ đó họ sẽ bị dẫn đến chỗ nghỉ ngơi trong một sự an toàn giả dối, và nhiều người sẽ không được thức tỉnh cho đến khi đã quá trễ. GC 457.1

Lịch sử của dân Y-sơ-ra-ên xưa là một minh họa nổi bật cho kinh nghiệm quá khứ của đoàn thể Cơ-đốc Phục Lâm. Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân sự Ngài trong phong trào tái lâm, y như Ngài đã dẫn con cái Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô. Trong sự thất vọng lớn, đức tin của họ bị thử thách như đức tin của dân Hê-bơ-rơ tại Biển Đỏ. Nếu họ vẫn tin cậy nơi bàn tay dẫn dắt đã ở cùng họ trong kinh nghiệm quá khứ, họ đã thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời. Nếu tất cả những người đã cùng nhau lao khổ trong công việc năm 1844 đã tiếp nhận sứ điệp của thiên sứ thứ ba và công bố nó trong quyền năng của Đức Thánh Linh, thì Chúa đã hành động cách mạnh mẽ cùng với các nỗ lực của họ. Một dòng ánh sáng đã tuôn đổ trên thế gian. Nhiều năm trước đây, các cư dân trên đất đã được cảnh báo, công việc kết thúc đã được hoàn tất, và Đấng Christ đã đến để cứu chuộc dân sự Ngài. GC 457.2

Không phải ý muốn của Đức Chúa Trời rằng dân Y-sơ-ra-ên phải lang thang bốn mươi năm trong đồng vắng; Ngài muốn dẫn họ thẳng đến xứ Ca-na-an và lập họ ở đó, một dân thánh khiết, hạnh phúc. Nhưng “Vả, chúng ta thấy những người ấy không thể vào đó được vì cớ không tin.

(Hê-bơ-rơ 3:19)Vì sự bội đạo và sa ngã của họ, họ đã chết trong sa mạc, và những người khác được dấy lên để vào Đất Hứa. Cũng vậy, không phải ý muốn của Đức Chúa Trời rằng sự đến của Đấng Christ phải bị trì hoãn quá lâu và dân sự Ngài phải ở lại quá nhiều năm trong thế gian đầy tội lỗi và đau buồn này. Nhưng sự chẳng tin đã khiến họ phân cách với Đức Chúa Trời. Khi họ từ chối làm công việc mà Ngài đã chỉ định cho họ, những người khác được dấy lên để công bố sứ điệp ấy. Vì lòng thương xót đối với thế gian, Đức Chúa Giê-su trì hoãn sự đến của Ngài, để những kẻ có tội có cơ hội nghe lời cảnh báo và tìm được nơi Ngài một chỗ ẩn náu trước khi cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời tuôn đổ ra. GC 458.1

Ngày nay cũng như trong các thời đại trước, sự trình bày một lẽ thật quở trách các tội lỗi và sai lầm của thời đại sẽ khơi dậy sự chống đối. “Bởi vì phàm ai làm ác thì ghét sự sáng và không đến cùng sự sáng, e rằng công việc của mình phải trách móc chăng.

(Giăng 3:20)Khi người ta thấy rằng họ không thể duy trì lập trường của mình bằng Kinh Thánh, nhiều người quyết định duy trì nó bằng mọi giá, và với tinh thần hiểm độc, họ công kích nhân cách và động cơ của những người đứng ra bênh vực lẽ thật không được lòng dân. Đó là cùng một chính sách đã được theo đuổi trong mọi thời đại. Ê-li bị tuyên bố là kẻ gây rối trong Y-sơ-ra-ên, Giê-rê-mi là kẻ phản bội, Phao-lô là kẻ làm ô uế đền thờ. Từ ngày ấy đến nay, những ai muốn trung thành với lẽ thật đều bị tố cáo là nổi loạn, tà giáo, hoặc ly giáo. Vô số những kẻ quá chẳng tin để chấp nhận lời tiên tri chắc chắn lại sẽ tiếp nhận với sự nhẹ dạ không chất vấn một lời buộc tội nhắm vào những người dám quở trách các tội lỗi hợp thời. Tinh thần này sẽ càng ngày càng gia tăng. Và Kinh Thánh dạy rõ rằng một thời kỳ đang đến gần khi các luật lệ của nhà nước sẽ xung đột với luật pháp Đức Chúa Trời đến nỗi bất cứ ai muốn vâng giữ tất cả các giới mạng thiêng liêng đều phải can đảm chịu sỉ nhục và hình phạt như một kẻ làm ác. GC 458.2

Trước tình hình đó, bổn phận của sứ giả lẽ thật là gì? Người ấy có nên kết luận rằng không nên trình bày lẽ thật, vì thường thì tác dụng duy nhất của nó là khiến người ta lẩn tránh hoặc chống lại những đòi hỏi của nó chăng? Không; người ấy không có lý do nào để giữ lại chứng cớ của Lời Đức Chúa Trời vì nó khơi dậy sự chống đối, nhiều hơn là các nhà Cải chánh thuở trước đã có. Lời tuyên xưng đức tin của các thánh đồ và những người tử đạo đã được ghi lại vì lợi ích của các thế hệ kế tiếp. Những tấm gương sống động về sự thánh khiết và sự chính trực kiên định ấy đã được lưu truyền để khích lệ lòng can đảm nơi những ai ngày nay được kêu gọi đứng ra làm chứng cho Đức Chúa Trời. Họ đã nhận được ân điển và lẽ thật, không phải chỉ cho riêng mình, nhưng để nhờ họ, sự hiểu biết về Đức Chúa Trời có thể soi sáng khắp đất. Đức Chúa Trời có ban ánh sáng cho các đầy tớ Ngài trong thế hệ này chăng? Vậy thì họ phải để ánh sáng ấy chiếu ra cho thế gian. GC 459.1

Thuở xưa, Chúa đã phán với một người nhân danh Ngài mà rao giảng: Nhưng nhà Y-sơ-ra-ên sẽ chẳng nghe ngươi, vì nó không muốn nghe ta; bởi chưng cả nhà Y-sơ-ra-ên đều cứng trán cứng lòng.

(Ê-xê-chi-ên 3:7)Dầu vậy, Ngài phán: Vậy, ngươi khá đem lời ta nói cùng chúng nó, dầu nghe, dầu chẳng khứng nghe; vì chúng nó rất là bạn nghịch. (Ê-xê-chi-ên 2:7) Ê-xê-chi-ên 3:7; 2:7. Cũng mạng lịnh ấy được phán với đầy tớ của Đức Chúa Trời trong thời nay: “Hãy cất tiếng lên như cái loa, tỏ cho dân Ta biết sự vi phạm của họ, và cho nhà Gia-cốp biết tội lỗi của chúng nó.” GC 459.2

Trong phạm vi cơ hội của mình, mỗi người đã nhận được ánh sáng của lẽ thật đều đứng dưới cùng một trách nhiệm nghiêm trọng và đáng sợ như vị tiên tri của Y-sơ-ra-ên, là người đã được Lời Chúa phán rằng: Nầy, hỡi con người, ta đã lập ngươi đặng làm kẻ canh giữ cho nhà Y-sơ-ra-ên; nên hãy nghe lời từ miệng ta, và thay ta răn bảo trước cho chúng nó. Khi ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc chết! Nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình; nhưng ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi. Nếu, trái lại, ngươi đã răn bảo kẻ dữ đặng xây bỏ đường lối xấu của nó mà nó không xây bỏ, thì nó sẽ chết trong sự gian ác nó, còn ngươi đã giải cứu mạng sống mình.

(Ê-xê-chi-ên 33:7-9)Ê-xê-chi-ên 33:7-9. GC 459.3

Trở ngại lớn cho cả việc tiếp nhận lẫn việc truyền bá lẽ thật là sự thật rằng lẽ thật kéo theo sự bất tiện và sỉ nhục. Đây là luận điệu duy nhất chống lại lẽ thật mà những người bênh vực nó chưa bao giờ có thể bác bỏ được. Nhưng điều này không ngăn trở những môn đồ chân thật của Đấng Christ. Những người ấy không chờ đợi cho đến khi lẽ thật trở nên được ưa chuộng. Khi đã xác tín về bổn phận mình, họ quả quyết nhận lấy thập tự giá, cùng với sứ đồ Phao-lô kể rằng Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sanh cho chúng ta sự vinh hiển cao trọng đời đời, vô lượng vô biên,

(II Cô-rinh-tô 4:17)cùng với một người thời xưa, người coi sự sỉ nhục về Đấng Cơ-đốc là quí hơn của châu báu xứ Ê-díp-tô, vì người ngửa trông sự ban thưởng. (Hê-bơ-rơ 11:26) Cô-rinh-tô 4:17; Hê-bơ-rơ 11:26. GC 460.1

Dầu họ xưng nhận thế nào đi nữa, chỉ những kẻ trong lòng là tôi tớ của thế gian mới hành động theo sách lược thay vì nguyên tắc trong những vấn đề tôn giáo. Chúng ta phải chọn điều phải vì nó là phải, và để mặc hậu quả cho Đức Chúa Trời. Thế gian mắc nợ những người có nguyên tắc, có đức tin, và có lòng dũng cảm, vì những cuộc cải cách lớn lao của nó. Công cuộc cải cách cho thời đại này cũng phải được tiến hành bởi những người như vậy. GC 460.2

Chúa phán như vầy: Hỡi dân biết điều công nghĩa, ghi luật pháp ta trong lòng, hãy nghe ta! Chớ e người ta chê bai, đừng sợ họ nhiếc móc. Vì sâu sẽ cắn nuốt họ như cắn áo, mọt sẽ ăn họ như ăn lông chiên; nhưng sự công bình của ta sẽ còn mãi, sự cứu rỗi của ta còn đến muôn đời.

(Ê-sai 51:7-8)Ê-sai 51:7, 8. GC 460.3