Đền Thánh Là Gì?
Chương 23—Đền Thánh Là Gì?
Câu Kinh Thánh hơn hết mọi câu khác đã là nền tảng và là cột trụ trung tâm của đức tin về sự tái lâm là lời tuyên bố này: Người trả lời cùng ta rằng: Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.
(Đa-ni-ên 8:14)Những lời này đã trở nên quen thuộc với tất cả những người tin vào sự tái lâm sắp đến của Chúa. Lời tiên tri này được hàng ngàn miệng lặp lại như khẩu hiệu đức tin của họ. Ai nấy đều cảm thấy rằng những kỳ vọng sáng ngời nhất và những hy vọng yêu quý nhất của họ đều phụ thuộc vào các biến cố đã được tiên báo trong đó. Những ngày tiên tri này đã được chỉ ra là sẽ kết thúc vào mùa thu năm 1844. Cùng với phần còn lại của thế giới Cơ-đốc Giáo, những người tin theo sự tái lâm khi đó cho rằng trái đất, hoặc một phần nào đó của nó, là đền thánh. Họ hiểu rằng sự thanh tẩy đền thánh là sự tẩy sạch trái đất bằng lửa trong ngày lớn sau cùng, và điều này sẽ xảy ra vào lúc sự tái lâm. Do đó họ kết luận rằng Đấng Christ sẽ trở lại trái đất vào năm 1844. GC 409.1
Nhưng thời điểm đã định đã trôi qua, mà Chúa vẫn chưa hiện đến. Các tín hữu biết rằng Lời Đức Chúa Trời không thể sai chạy được; vậy thì sự giải nghĩa lời tiên tri của họ hẳn phải có chỗ sai sót; nhưng sai ở đâu? Nhiều người đã vội vàng cắt đứt nút thắt khó khăn bằng cách phủ nhận rằng 2300 ngày kết thúc vào năm 1844. Không có lý do nào được đưa ra cho việc này ngoài việc Đấng Christ đã không đến vào thời điểm họ trông đợi Ngài. Họ lập luận rằng nếu các ngày tiên tri đã kết thúc vào năm 1844, thì Đấng Christ hẳn đã trở lại để thanh tẩy đền thánh bằng sự tẩy sạch trái đất bằng lửa; và vì Ngài chưa đến, nên các ngày đó không thể đã kết thúc. GC 409.2
Chấp nhận kết luận này là từ bỏ cách tính trước đây về các giai đoạn tiên tri. 2300 ngày đã được xác định là bắt đầu khi chiếu chỉ của Ạt-ta-xét-xe về việc tái thiết và xây dựng Giê-ru-sa-lem có hiệu lực, vào mùa thu năm 457 T.C. Lấy đó làm điểm khởi đầu, có sự hòa hợp hoàn hảo trong việc ứng nghiệm tất cả các biến cố được tiên báo trong lời giải thích về giai đoạn đó trong Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lệnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định. Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định.
(Đa-ni-ên 9:25-27)Sáu mươi chín tuần lễ, tức 483 năm đầu tiên của 2300 năm, sẽ kéo dài đến Đấng Mê-si, Đấng Được Xức Dầu; và lễ báp-têm của Đấng Christ và sự xức dầu bởi Đức Thánh Linh, năm 27 S.C., đã làm ứng nghiệm chính xác điều đã được chỉ định. Vào giữa tuần lễ thứ bảy mươi, Đấng Mê-si sẽ bị trừ đi. Ba năm rưỡi sau lễ báp-têm của Ngài, Đấng Christ đã bị đóng đinh, vào mùa xuân năm 31 S.C. Bảy mươi tuần lễ, hay 490 năm, đặc biệt liên quan đến người Do Thái. Khi giai đoạn này kết thúc, dân tộc đó đã đóng ấn sự khước từ Đấng Christ của mình bằng việc bắt bớ các môn đồ của Ngài, và các sứ đồ quay sang dân ngoại, năm 34 S.C. 490 năm đầu của 2300 năm đã kết thúc, còn lại 1810 năm. Từ năm 34 S.C., 1810 năm kéo dài đến năm 1844. Thiên sứ phán: “Bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy.” Tất cả những điều chỉ định trước đó của lời tiên tri đã được ứng nghiệm không thể chối cãi vào thời điểm đã định. GC 410.1
Với cách tính này, mọi sự đều rõ ràng và hài hòa, ngoại trừ việc người ta không thấy có biến cố nào tương ứng với sự thanh tẩy đền thánh đã xảy ra vào năm 1844. Phủ nhận rằng các ngày đó đã kết thúc vào thời điểm ấy tức là khiến toàn bộ vấn đề trở nên rối ren, và từ bỏ những quan điểm đã được thiết lập bằng sự ứng nghiệm không thể nhầm lẫn của lời tiên tri. GC 410.2
Nhưng Đức Chúa Trời đã dẫn dắt dân Ngài trong phong trào tái lâm vĩ đại; quyền năng và vinh hiển của Ngài đã đồng hành với công việc, và Ngài sẽ không cho phép nó kết thúc trong tăm tối và thất vọng, để bị chê bai như một sự cuồng nhiệt giả dối và cực đoan. Ngài sẽ không để Lời Ngài bị vướng vào sự nghi ngờ và bất định. Dù nhiều người đã từ bỏ cách tính trước đây của họ về các giai đoạn tiên tri và phủ nhận tính đúng đắn của phong trào dựa trên đó, những người khác không muốn từ bỏ những điểm của đức tin và kinh nghiệm đã được Kinh Thánh và sự làm chứng của Thánh Linh Đức Chúa Trời ủng hộ. Họ tin rằng họ đã áp dụng những nguyên tắc giải nghĩa đúng đắn trong việc nghiên cứu các lời tiên tri, và rằng bổn phận của họ là giữ vững những lẽ thật đã có được, và tiếp tục cùng một đường lối nghiên cứu Kinh Thánh. Với lời cầu nguyện tha thiết, họ xem xét lại lập trường của mình và nghiên cứu Kinh Thánh để khám phá sai lầm của mình. Vì họ không thấy có sai sót nào trong cách tính của mình về các giai đoạn tiên tri, họ được dẫn dắt xem xét kỹ lưỡng hơn về đề tài đền thánh. GC 410.3
Trong cuộc nghiên cứu của mình, họ nhận thấy rằng không có bằng chứng Kinh Thánh nào ủng hộ quan điểm phổ thông rằng trái đất là đền thánh; nhưng họ tìm thấy trong Kinh Thánh một lời giải thích đầy đủ về đề tài đền thánh, bản chất, vị trí, và các công việc phụng sự của nó; lời chứng của các trước giả thiêng liêng rõ ràng và dư dật đến nỗi đặt vấn đề này ngoài mọi sự nghi ngờ. Sứ đồ Phao-lô, trong Thư gửi tín hữu Hê-bơ-rơ, viết: Ước trước cũng có những luật về việc thờ phượng và một nơi thánh dưới đất. Vả, một đền tạm đã dựng lên: phần thứ nhứt gọi là nơi thánh, có chân đèn, bàn và bánh bày ra; rồi đến phía trong màn thứ hai, tức là phần gọi là nơi rất thánh, có lư hương bằng vàng và hòm giao ước, toàn bọc bằng vàng. Trong hòm có một cái bình bằng vàng đựng đầy ma-na, cây gậy trổ hoa của A-rôn, và hai bảng giao ước; phía trên có hai chê-ru-bim vinh hiển, bóng nó che phủ nơi chuộc tội. Nhưng đây không phải dịp kể các điều đó cho rõ ràng.
(Hê-bơ-rơ 9:1-5) GC 411.1
Đền thánh mà Phao-lô nói đến ở đây là đền tạm do Môi-se xây dựng theo mệnh lệnh của Đức Chúa Trời làm nơi ngự trên đất của Đấng Chí Cao. Họ sẽ làm cho ta một đền thánh và ta sẽ ở giữa họ.
(Xuất Ê-díp-tô Ký 25:8)là lời chỉ dẫn ban cho Môi-se khi ông ở trên núi với Đức Chúa Trời. Dân Y-sơ-ra-ên đang hành trình qua đồng vắng, và đền tạm được dựng lên sao cho có thể di chuyển được từ nơi này sang nơi khác; tuy vậy đó là một công trình hết sức tráng lệ. Các vách của nó gồm những tấm ván dựng đứng được bọc dày bằng vàng và đặt trong các lỗ mộng bằng bạc, còn mái thì được tạo thành bởi một loạt các bức màn, hay tấm phủ, lớp ngoài cùng bằng da, lớp trong cùng bằng vải gai mịn được thêu đẹp đẽ hình các chê-ru-bim. Ngoài hành lang bên ngoài, nơi có bàn thờ dâng của lễ thiêu, chính đền tạm gồm hai phòng gọi là nơi thánh và nơi chí thánh, được ngăn cách bởi một bức màn giàu sang và xinh đẹp, hay cái màn; một bức màn tương tự đóng lối vào phòng thứ nhất. GC 411.2
Trong nơi thánh có chân đèn, đặt ở phía nam, với bảy ngọn đèn chiếu sáng đền thánh cả ngày lẫn đêm; ở phía bắc là bàn bánh trần thiết; và trước bức màn ngăn cách nơi thánh với nơi chí thánh là bàn thờ xông hương bằng vàng, từ đó đám mây hương thơm, cùng với lời cầu nguyện của dân Y-sơ-ra-ên, hằng ngày được dâng lên trước mặt Đức Chúa Trời. GC 412.1
Trong nơi chí thánh có đặt hòm giao ước, một cái rương làm bằng gỗ quý được bọc vàng, là nơi cất giữ hai bảng đá trên đó Đức Chúa Trời đã khắc luật pháp Mười Điều Răn. Phía trên hòm, và tạo thành nắp đậy cho chiếc rương thánh, là nắp thi ân, một tác phẩm chế tạo tráng lệ, với hai chê-ru-bim ở hai đầu, và tất cả đều được làm bằng vàng nguyên khối. Trong phòng này sự hiện diện thiêng liêng được tỏ ra trong đám mây vinh hiển giữa các chê-ru-bim. GC 412.2
Sau khi dân Hê-bơ-rơ định cư ở Ca-na-an, đền tạm được thay thế bởi đền thờ của Sa-lô-môn, mặc dù là một công trình cố định và trên quy mô lớn hơn, vẫn giữ cùng tỷ lệ, và được trang bị tương tự. Dưới hình thức này đền thánh đã tồn tại—ngoại trừ thời gian nó nằm trong đống đổ nát vào thời Đa-ni-ên—cho đến khi bị người La-mã phá hủy, năm 70 S.C. GC 412.3
Đây là đền thánh duy nhất từng tồn tại trên đất, mà Kinh Thánh cung cấp bất kỳ thông tin nào về nó. Đây chính là đền thánh của giao ước cũ, như Phao-lô đã tuyên bố. Nhưng giao ước mới không có đền thánh sao? GC 412.4
Quay trở lại sách Hê-bơ-rơ, những người tìm kiếm lẽ thật thấy rằng sự hiện hữu của một đền thánh thứ hai, hay đền thánh của giao ước mới, đã được hàm ý trong lời của Phao-lô đã được trích dẫn: “Thật vậy, giao ước trước cũng có các lệ luật về sự thờ phượng thiêng liêng, và một đền thánh thuộc thế gian.” Và việc dùng từ “cũng” cho thấy rằng Phao-lô đã đề cập đến đền thánh này trước đó. Lật lại phần đầu chương trước, họ đọc: Đại ý điều chúng ta mới nói đó, là chúng ta có một thầy tế lễ thượng phẩm, ngồi bên hữu ngai của Đấng tôn nghiêm trong các từng trời, làm chức việc nơi thánh và đền tạm thật, bởi Chúa dựng lên, không phải bởi một người nào.
(Hê-bơ-rơ 8:1-2) GC 413.1
Tại đây được bày tỏ đền thánh của giao ước mới. Đền thánh của giao ước thứ nhất đã được dựng nên bởi loài người, được Môi-se xây dựng; còn đền thánh này được dựng nên bởi Chúa, chẳng phải bởi loài người. Trong đền thánh kia, các thầy tế lễ thuộc về đất thi hành chức vụ của mình; trong đền thánh này, Đấng Christ, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vĩ đại của chúng ta, thi hành chức vụ tại bên hữu Đức Chúa Trời. Một đền thánh ở trên đất, còn đền thánh kia ở trên trời. GC 413.2
Hơn nữa, đền tạm mà Môi-se xây dựng đã được làm theo một kiểu mẫu. Chúa đã truyền dạy ông: “Hãy làm đền đó y như kiểu đền tạm cùng kiểu các đồ dùng mà ta sẽ chỉ cho ngươi.
(Xuất Ê-díp-tô Ký 25:9)Và một lần nữa mạng lệnh được ban ra: “Vậy, ngươi hãy xem, cứ làm y như kiểu đã chỉ cho trên núi.
(Xuất Ê-díp-tô Ký 25:40) Hãy làm đền đó y như kiểu đền tạm cùng kiểu các đồ dùng mà ta sẽ chỉ cho ngươi.
(Xuất Ê-díp-tô Ký 25:9) Vậy, ngươi hãy xem, cứ làm y như kiểu đã chỉ cho trên núi.
(Xuất Ê-díp-tô Ký 25:40) Và Phao-lô nói rằng đền tạm thứ nhất “Ấy là một hình bóng chỉ về đời bây giờ, để tỏ rằng các lễ vật và hi sinh dâng đó, không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm.
(Hê-bơ-rơ 9:9) rằng các nơi thánh của nó là “Vậy, nếu những tượng chỉ về các vật trên trời đã phải nhờ cách ấy mà được sạch, thì chính các vật trên trời phải nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa để được sạch.
(Hê-bơ-rơ 9:23) rằng các thầy tế lễ dâng lễ vật theo luật pháp đã phục vụ “và giữ sự thờ phượng, sự thờ phượng đó chẳng qua là hình và bóng của những sự trên trời mà thôi, cũng như khi Môi-se gần dựng đền tạm, thì Đức Chúa Trời phán bảo rằng: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi.
(Hê-bơ-rơ 8:5) và rằng “Vả Đấng Cơ-đốc chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời.
(Hê-bơ-rơ 9:24) Ấy là một hình bóng chỉ về đời bây giờ, để tỏ rằng các lễ vật và hi sinh dâng đó, không có thể làm cho kẻ thờ phượng được vẹn lành về lương tâm.
(Hê-bơ-rơ 9:9) Vậy, nếu những tượng chỉ về các vật trên trời đã phải nhờ cách ấy mà được sạch, thì chính các vật trên trời phải nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa để được sạch.
(Hê-bơ-rơ 9:23) và giữ sự thờ phượng, sự thờ phượng đó chẳng qua là hình và bóng của những sự trên trời mà thôi, cũng như khi Môi-se gần dựng đền tạm, thì Đức Chúa Trời phán bảo rằng: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi.
(Hê-bơ-rơ 8:5) Vả Đấng Cơ-đốc chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời.
(Hê-bơ-rơ 9:24) GC 413.3
Đền thánh trên trời, nơi Đức Chúa Giê-su thi hành chức vụ thay cho chúng ta, là bản gốc vĩ đại, mà đền thánh do Môi-se xây dựng chỉ là bản sao. Đức Chúa Trời đã đặt Thần Ngài trên những người xây dựng đền thánh dưới đất. Tài nghệ mỹ thuật được thể hiện trong việc xây dựng nó là một sự biểu lộ của sự khôn ngoan thiêng liêng. Các bức tường có vẻ như được làm bằng vàng khối, phản chiếu khắp mọi hướng ánh sáng của bảy ngọn đèn trên chân đèn bằng vàng. Bàn bánh trần thiết và bàn thờ xông hương lấp lánh như vàng được đánh bóng. Bức màn lộng lẫy tạo thành trần nhà, được thêu hình các thiên sứ bằng chỉ xanh, tía và đỏ điều, càng tăng thêm vẻ đẹp của cảnh tượng. Và phía sau bức màn thứ hai là Shekinah thánh, sự biểu lộ hữu hình của vinh quang Đức Chúa Trời, mà trước đó không ai ngoài thầy tế lễ thượng phẩm có thể bước vào mà được sống. GC 414.1
Vẻ huy hoàng vô song của đền tạm dưới đất phản chiếu cho tầm nhìn của loài người vinh quang của đền thờ trên trời ấy, nơi Đấng Christ, Đấng đi trước chúng ta, đang thi hành chức vụ cho chúng ta trước ngôi của Đức Chúa Trời. Nơi ngự của Vua muôn vua, nơi hàng ngàn ngàn hầu việc Ngài, và muôn muôn đứng trước mặt Ngài (Trước mặt Ngài, một sông lửa chảy ra và tràn lan; ngàn ngàn hầu hạ Ngài và muôn muôn đứng trước mặt Ngài. Sự xét đoán đã sắm sẵn, và các sách mở ra.
(Đa-ni-ên 7:10)đền thờ ấy, được tràn đầy vinh quang của ngôi đời đời, nơi các sê-ra-phim, những người canh giữ sáng chói của nó, che mặt trong sự tôn thờ, chỉ có thể tìm thấy, trong công trình nguy nga nhất mà bàn tay con người từng dựng nên, một sự phản chiếu mờ nhạt về sự bao la và vinh quang của nó. Tuy nhiên, những lẽ thật quan trọng liên quan đến đền thánh trên trời và công việc vĩ đại được thực hiện tại đó vì sự cứu chuộc loài người đã được dạy dỗ qua đền thánh dưới đất và các nghi lễ của nó. GC 414.2
Các nơi thánh của đền thánh trên trời được tiêu biểu bởi hai gian phòng trong đền thánh dưới đất. Khi sứ đồ Giăng được phép trong khải tượng nhìn thấy đền thờ của Đức Chúa Trời trên trời, ông đã thấy tại đó “Từ ngôi ra những chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm; và bảy ngọn đèn sáng rực thắp trước ngôi: Đó là bảy vị thần của Đức Chúa Trời.
(Khải-huyền 4:5)Từ ngôi ra những chớp nhoáng, những tiếng cùng sấm; và bảy ngọn đèn sáng rực thắp trước ngôi: Đó là bảy vị thần của Đức Chúa Trời.
(Khải-huyền 4:5) Ông đã thấy một thiên sứ “Đoạn, một vị thiên sứ khác đến, đứng bên bàn thờ, người cầm lư hương vàng, và được nhiều hương, để dâng hương ấy trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngôi với các lời cầu nguyện của mọi thánh đồ.
(Khải-huyền 8:3) Đoạn, một vị thiên sứ khác đến, đứng bên bàn thờ, người cầm lư hương vàng, và được nhiều hương, để dâng hương ấy trên bàn thờ bằng vàng ở trước ngôi với các lời cầu nguyện của mọi thánh đồ.
(Khải-huyền 8:3) Tại đây nhà tiên tri được phép nhìn thấy gian phòng thứ nhất của đền thánh trên trời; và ông đã thấy tại đó “bảy ngọn đèn lửa” và “bàn thờ bằng vàng,” được tiêu biểu bởi chân đèn bằng vàng và bàn thờ xông hương trong đền thánh dưới đất. Lại nữa, “Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn.
(Khải-huyền 11:19) Đền thờ Đức Chúa Trời bèn mở ra ở trên trời, hòm giao ước bày ra trong đền thờ Ngài, rồi có chớp nhoáng, tiếng, sấm sét, động đất và mưa đá lớn.
(Khải-huyền 11:19) và ông đã nhìn vào phía trong bức màn bên trong, nơi chí thánh. Tại đây ông đã thấy “hòm giao ước của Ngài,” được tiêu biểu bởi chiếc rương thánh mà Môi-se đã làm để chứa đựng luật pháp Đức Chúa Trời. GC 414.3
Như vậy, những người nghiên cứu đề tài này đã tìm thấy bằng chứng không thể chối cãi về sự hiện hữu của một đền thánh trên trời. Môi-se đã làm đền thánh dưới đất theo một kiểu mẫu được chỉ cho ông. Phao-lô dạy rằng kiểu mẫu đó chính là đền thánh thật ở trên trời. Và Giăng làm chứng rằng ông đã thấy nó ở trên trời. GC 415.1
Trong đền thờ trên trời, nơi ngự của Đức Chúa Trời, ngôi của Ngài được lập trên sự công bình và sự phán xét. Trong nơi chí thánh có luật pháp Ngài, quy tắc lớn lao về sự ngay thẳng mà theo đó cả nhân loại được thử nghiệm. Hòm chứa đựng các bảng luật pháp được đậy bằng nắp thi ân, mà trước đó Đấng Christ dâng huyết Ngài để cầu thay cho tội nhân. Như vậy được biểu trưng sự hiệp nhất giữa công lý và lòng thương xót trong kế hoạch cứu chuộc loài người. Sự hiệp nhất này chỉ có sự khôn ngoan vô hạn mới có thể thiết kế và quyền năng vô hạn mới có thể hoàn thành; đó là sự hiệp nhất làm cho cả thiên đàng đầy dẫy sự ngạc nhiên và tôn thờ. Các chê-ru-bim của đền thánh dưới đất, cúi nhìn cách tôn kính xuống nắp thi ân, tiêu biểu cho sự chú tâm mà đạo quân trên trời chiêm ngưỡng công cuộc cứu chuộc. Đây là sự mầu nhiệm của lòng thương xót mà các thiên sứ ao ước được nhìn vào — rằng Đức Chúa Trời có thể là công bình đang khi Ngài xưng công bình cho tội nhân ăn năn và phục hồi mối tương giao của Ngài với dòng giống sa ngã; rằng Đấng Christ có thể hạ mình xuống để nâng vô số đám đông lên khỏi vực thẳm của sự hư mất và khoác cho họ bộ áo không tì vít của sự công bình riêng Ngài, để họ được hợp nhất với các thiên sứ chưa từng sa ngã và ở đời đời trong sự hiện diện của Đức Chúa Trời. GC 415.2
Công việc của Đấng Christ với tư cách là Đấng trung bảo của loài người được trình bày trong lời tiên tri tuyệt đẹp của Xa-cha-ri liên quan đến Ngài là Đấng “có tên là Chồi Mống.” Nhà tiên tri nói: “Ngươi khá nói cùng người rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Nầy, có một người tên là Chồi mống, sẽ nứt ra từ chỗ người, và người ấy sẽ xây đền thờ Đức Giê-hô-va. Chính người sẽ xây đền thờ Đức Giê-hô-va; và chính người sẽ được sự oai nghiêm, ngồi cai trị trên ngôi mình, làm thầy tế lễ ở trên ngôi mình; và sẽ có mưu hòa bình ở giữa cả hai.
(Xa-cha-ri 6:12-13)Ngươi khá nói cùng người rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân có phán như vầy: Nầy, có một người tên là Chồi mống, sẽ nứt ra từ chỗ người, và người ấy sẽ xây đền thờ Đức Giê-hô-va. Chính người sẽ xây đền thờ Đức Giê-hô-va; và chính người sẽ được sự oai nghiêm, ngồi cai trị trên ngôi mình, làm thầy tế lễ ở trên ngôi mình; và sẽ có mưu hòa bình ở giữa cả hai.
(Xa-cha-ri 6:12-13) GC 415.3
“Chính Ngài sẽ xây đền thờ của Đức Giê-hô-va.” Bởi sự hy sinh và sự trung bảo của Ngài, Đấng Christ vừa là nền tảng vừa là người xây dựng hội thánh của Đức Chúa Trời. Sứ đồ Phao-lô chỉ về Ngài như “Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là đá góc nhà, cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa. Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.
(Ê-phê-sô 2:20-22)Anh em đã được dựng lên trên nền của các sứ đồ cùng các đấng tiên tri, chính Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là đá góc nhà, cả cái nhà đã dựng lên trên đá đó, sắp đặt cách hẳn hoi, để làm nên một đền thờ thánh trong Chúa. Ấy, anh em cũng nhờ Ngài mà được dự phần vào nhà đó, đặng trở nên nhà ở của Đức Chúa Trời trong Thánh Linh.
(Ê-phê-sô 2:20-22) GC 416.1
“Ngài sẽ gánh vinh hiển.” Vinh quang của sự cứu chuộc dòng giống sa ngã thuộc về Đấng Christ. Suốt các thời đại đời đời, bài ca của những người được chuộc sẽ là: “lại từ nơi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là Đấng làm chứng thành tín, sinh đầu nhứt từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian! Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men.
(Khải-huyền 1:5-6)lại từ nơi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là Đấng làm chứng thành tín, sinh đầu nhứt từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian! Đấng yêu thương chúng ta, đã lấy huyết mình rửa sạch tội lỗi chúng ta, và làm cho chúng ta nên nước Ngài, nên thầy tế lễ của Đức Chúa Trời là Cha Ngài, đáng được sự vinh hiển và quyền năng đời đời vô cùng! A-men.
(Khải-huyền 1:5-6) GC 416.2
Ngài “sẽ ngồi và cai trị trên ngôi Ngài; và Ngài sẽ làm thầy tế lễ ở trên ngôi Ngài.” Chưa phải “trên ngôi vinh hiển của Ngài”; nước của vinh quang chưa được khai mở. Phải đợi đến khi công việc của Ngài với tư cách là Đấng trung bảo được hoàn tất, Đức Chúa Trời mới “Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng.
(Lu-ca 1:32-33)Con trai ấy sẽ nên tôn trọng, được xưng là Con của Đấng Rất Cao; và Chúa, là Đức Chúa Trời, sẽ ban cho Ngài ngôi Đa-vít là tổ phụ Ngài. Ngài sẽ trị vì đời đời nhà Gia-cốp, nước Ngài vô cùng.
(Lu-ca 1:32-33) Với tư cách là thầy tế lễ, Đấng Christ hiện đang ngồi với Đức Chúa Cha trên ngôi Ngài. Kẻ nào thắng, ta sẽ cho ngồi với ta trên ngôi ta, như chính ta đã thắng và ngồi với Cha ta trên ngôi Ngài.
(Khải-huyền 3:21) Trên ngôi cùng với Đấng đời đời, tự hữu là Đấng đã “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ.
(Ê-sai 53:4) Đấng “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.
(Hê-bơ-rơ 4:15) để Ngài có thể “Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy.
(Hê-bơ-rơ 2:18) Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều này, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, tức là Đấng công bình.
(I Giăng 2:1) Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ.
(Ê-sai 53:4) Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội.
(Hê-bơ-rơ 4:15) Vả, vì chính mình Ngài chịu khổ trong khi bị cám dỗ, nên có thể cứu những kẻ bị cám dỗ vậy.
(Hê-bơ-rơ 2:18) Hỡi con cái bé mọn ta, ta viết cho các con những điều này, hầu cho các con khỏi phạm tội. Nếu có ai phạm tội, thì chúng ta có Đấng cầu thay ở nơi Đức Chúa Cha, là Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, tức là Đấng công bình.
(I Giăng 2:1) Sự cầu thay của Ngài là sự cầu thay của một thân thể bị đâm và bị tan vỡ, của một đời sống không tì vít. Đôi bàn tay bị thương, sườn bị đâm, đôi bàn chân bị tàn hại, cầu xin cho loài người sa ngã, mà sự cứu chuộc họ đã được mua với giá vô cùng lớn lao như vậy. GC 416.3
“Và sự bàn luận về hòa bình sẽ ở giữa hai Đấng ấy.” Tình yêu của Đức Chúa Cha, không kém gì tình yêu của Đức Chúa Con, là nguồn mạch của sự cứu rỗi cho dòng giống hư mất. Đức Chúa Giê-su phán với các môn đồ của Ngài trước khi Ngài ra đi: “Trong ngày đó, các ngươi sẽ nhân danh ta mà cầu xin, ta chẳng nói rằng ta vì các ngươi sẽ cầu xin Cha đâu; vì chính Cha yêu thương các ngươi, nhân các ngươi đã yêu mến ta, và tin rằng ta từ nơi Cha mà đến.
(Giăng 16:26-27)Trong ngày đó, các ngươi sẽ nhân danh ta mà cầu xin, ta chẳng nói rằng ta vì các ngươi sẽ cầu xin Cha đâu; vì chính Cha yêu thương các ngươi, nhân các ngươi đã yêu mến ta, và tin rằng ta từ nơi Cha mà đến.
(Giăng 16:26-27) Đức Chúa Trời đã “Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Cơ-đốc, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi.
(II Cô-rinh-tô 5:19) Vì chưng Đức Chúa Trời vốn ở trong Đấng Cơ-đốc, làm cho thế gian lại hòa với Ngài, chẳng kể tội lỗi cho loài người, và đã phó đạo giảng hòa cho chúng tôi.
(II Cô-rinh-tô 5:19) Và trong chức vụ tại đền thánh trên trời, “sự bàn luận về hòa bình sẽ ở giữa hai Đấng ấy.” “Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
(Giăng 3:16) Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.
(Giăng 3:16) GC 416.4
Câu hỏi, Đền thánh là gì? được giải đáp rõ ràng trong Kinh Thánh. Từ ngữ “đền thánh,” như được dùng trong Kinh Thánh, trước hết chỉ về đền tạm do Môi-se dựng lên, như một kiểu mẫu của những sự trên trời; và thứ hai, chỉ về “đền tạm thật” ở trên trời, là nơi mà đền thánh dưới đất chỉ về. Khi Đấng Christ chịu chết, sự phục vụ theo hình bóng đã chấm dứt. “Đền tạm thật” ở trên trời là đền thánh của giao ước mới. Và vì lời tiên tri trong Đa-ni-ên 8:14 được ứng nghiệm trong thời kỳ này, nên đền thánh mà nó đề cập đến phải là đền thánh của giao ước mới. Khi 2300 ngày kết thúc vào năm 1844, đã không có đền thánh nào trên đất trong nhiều thế kỷ. Vậy nên lời tiên tri, “Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh tẩy,” chắc chắn chỉ về đền thánh ở trên trời. GC 417.1
Nhưng câu hỏi quan trọng nhất vẫn còn phải được trả lời: Sự thanh tẩy đền thánh là gì? Trong Cựu Ước có chép rằng có một sự phục vụ như vậy liên quan đến đền thánh dưới đất. Nhưng có thể có điều gì ở trên trời cần phải được thanh tẩy chăng? Trong Hê-bơ-rơ 9, sự thanh tẩy cả đền thánh dưới đất lẫn đền thánh trên trời đều được dạy rõ ràng. Theo luật pháp thì hầu hết mọi vật đều nhờ huyết mà được sạch: không đổ huyết thì không có sự tha thứ. Vậy, nếu những tượng chỉ về các vật trên trời đã phải nhờ cách ấy mà được sạch, thì chính các vật trên trời phải nhờ của lễ càng quí trọng hơn nữa để được sạch.
(Hê-bơ-rơ 9:22-23)ngay cả huyết quý báu của Đấng Christ. GC 417.2
Sự thanh tẩy, cả trong sự phục vụ theo hình bóng lẫn trong sự phục vụ thực tế, đều phải được thực hiện bằng huyết: trong cái trước, bằng huyết của các con vật; trong cái sau, bằng huyết của Đấng Christ. Phao-lô nêu lý do tại sao sự thanh tẩy này phải được thực hiện bằng huyết, rằng không đổ huyết thì không có sự tha thứ. Sự tha thứ, hoặc cất đi tội lỗi, là công việc cần phải được hoàn thành. Nhưng làm sao có thể có tội lỗi liên quan đến đền thánh, cả ở trên trời hay dưới đất? Điều này có thể được học bằng cách tham khảo sự phục vụ tượng trưng; vì các thầy tế lễ phục vụ dưới đất đã hầu việc “theo hình và bóng của những sự trên trời.” và giữ sự thờ phượng, sự thờ phượng đó chẳng qua là hình và bóng của những sự trên trời mà thôi, cũng như khi Môi-se gần dựng đền tạm, thì Đức Chúa Trời phán bảo rằng: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo như kiểu mẫu đã chỉ cho ngươi tại trên núi.
(Hê-bơ-rơ 8:5) GC 417.3
Sự phục vụ trong đền thánh dưới đất gồm có hai phần: các thầy tế lễ hầu việc hằng ngày trong nơi thánh, trong khi mỗi năm một lần thầy tế lễ thượng phẩm thực hiện một công việc chuộc tội đặc biệt trong nơi chí thánh, để thanh tẩy đền thánh. Ngày qua ngày, kẻ có tội ăn năn đem của lễ mình đến cửa đền tạm và, đặt tay trên đầu con sinh tế, xưng tội mình, do đó theo hình bóng chuyển tội lỗi từ chính mình sang con sinh tế vô tội. Sau đó, con vật bị giết. “Không đổ huyết,” sứ đồ nói, thì không có sự tha tội. “Sanh mạng của xác thịt ở trong huyết.” vì sanh mạng của xác thịt ở trong huyết; ta đã cho các ngươi huyết rưới trên bàn thờ đặng làm lễ chuộc tội cho linh hồn mình; vì nhờ sanh mạng mà huyết mới chuộc tội được.
(Lê-vi Ký 17:11)Luật pháp Đức Chúa Trời bị vi phạm đòi hỏi mạng sống của kẻ phạm tội. Huyết, tượng trưng cho mạng sống bị mất của kẻ có tội mà con sinh tế đã mang tội lỗi, được thầy tế lễ đem vào nơi thánh và rảy trước bức màn, đằng sau là hòm giao ước chứa luật pháp mà kẻ có tội đã vi phạm. Bằng nghi lễ này, tội lỗi, qua huyết, được chuyển theo hình bóng đến đền thánh. Trong một số trường hợp, huyết không được đem vào nơi thánh; nhưng khi ấy thịt phải được thầy tế lễ ăn, như Môi-se đã dặn các con trai A-rôn rằng: “Đức Chúa Trời đã ban nó cho các ngươi, hầu gánh lấy tội lỗi của hội chúng.” Sao các ngươi không ăn thịt con sinh tế chuộc tội trong nơi thánh? vì là một vật chí thánh mà Đức Giê-hô-va đã ban cho các ngươi, hầu gánh lấy tội của hội chúng, và làm lễ chuộc tội cho họ trước mặt Đức Giê-hô-va.
(Lê-vi Ký 10:17) Cả hai nghi lễ đều tượng trưng cho sự chuyển tội lỗi từ kẻ ăn năn sang đền thánh. GC 418.1
Đó là công việc diễn ra, ngày qua ngày, suốt cả năm. Tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên được chuyển đến đền thánh như vậy, và một công việc đặc biệt trở nên cần thiết để cất chúng đi. Đức Chúa Trời đã truyền lệnh rằng phải làm lễ chuộc tội cho mỗi nơi thánh. Người vì cớ sự ô uế, sự vi phạm và tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên phải làm lễ chuộc tội cho nơi thánh và cho hội mạc ở giữa sự ô uế của họ.
(Lê-vi Ký 16:16)Cũng phải làm lễ chuộc tội cho bàn thờ, để “làm sạch nó, và biệt riêng nó ra thánh, vì sự ô uế của dân Y-sơ-ra-ên.” Rồi dùng ngón tay rảy huyết bảy lần trên bàn thờ, làm cho bàn thờ nên sạch và thánh, vì cớ những sự ô uế của dân Y-sơ-ra-ên.
(Lê-vi Ký 16:19) GC 418.2
Mỗi năm một lần, vào ngày Đại Lễ Chuộc Tội, thầy tế lễ bước vào nơi chí thánh để thanh tẩy đền thánh. Công việc thực hiện tại đó hoàn tất vòng phục vụ hằng năm. Vào ngày Lễ Chuộc Tội, hai con dê được đem đến cửa đền tạm, và người ta bắt thăm trên chúng, “một thăm cho Đức Giê-hô-va, và một thăm cho con dê gánh tội.” Đoạn, A-rôn bắt thăm cho hai con dê đực, một thăm về phần Đức Giê-hô-va, một thăm về phần A-xa-sên.
(Lê-vi Ký 16:8)Con dê bị trúng thăm về phần Đức Giê-hô-va phải bị giết làm của lễ chuộc tội cho dân sự. Và thầy tế lễ phải đem huyết nó vào trong bức màn và rảy trên nắp thi ân và trước nắp thi ân. Huyết cũng phải được rảy trên bàn thờ xông hương ở trước bức màn. GC 419.1
“A-rôn sẽ nhận hai tay mình trên đầu con dê còn sống, xưng trên nó các gian ác và sự vi phạm, tức những tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên, và chất trên đầu nó, rồi nhờ một người chực sẵn việc nầy mà sai đuổi nó ra, thả vào đồng vắng: Vậy, con dê đó sẽ gánh trên mình các tội ác của dân Y-sơ-ra-ên ra nơi hoang địa.” A-rôn sẽ nhận hai tay mình trên đầu con dê đực còn sống, xưng trên nó các gian ác và sự vi phạm, tức những tội lỗi của dân Y-sơ-ra-ên, và chất trên đầu nó, rồi nhờ một người chực sẵn việc này mà sai đuổi nó ra, thả vào đồng vắng. Vậy, con dê đực đó sẽ gánh trên mình các tội ác của dân Y-sơ-ra-ên ra nơi hoang địa.
(Lê-vi Ký 16:21-22)Con dê gánh tội không trở lại trại của dân Y-sơ-ra-ên nữa, và người dẫn nó đi buộc phải tắm mình và giặt áo xống trong nước trước khi trở vào trại. GC 419.2
Toàn bộ nghi lễ được thiết kế để ghi khắc trong lòng dân Y-sơ-ra-ên về sự thánh khiết của Đức Chúa Trời và sự gớm ghiếc của Ngài đối với tội lỗi; và hơn nữa, để chỉ cho họ thấy rằng họ không thể tiếp xúc với tội lỗi mà không bị ô uế. Mọi người đều được yêu cầu phải hạ mình trong khi công việc chuộc tội này đang được tiến hành. Mọi công việc phải được gác lại một bên, và cả hội chúng Y-sơ-ra-ên phải dành cả ngày trong sự hạ mình trang nghiêm trước Đức Chúa Trời, với sự cầu nguyện, kiêng ăn, và tra xét lòng mình cách sâu sắc. GC 419.3
Những lẽ thật quan trọng về sự chuộc tội được dạy qua sự phục vụ theo hình bóng. Một người thay thế được chấp nhận thay cho kẻ có tội; nhưng tội lỗi không được xóa bỏ bởi huyết của con sinh tế. Do đó, một phương tiện đã được cung cấp để qua đó tội lỗi được chuyển đến đền thánh. Bằng việc dâng huyết, kẻ có tội thừa nhận thẩm quyền của luật pháp, xưng nhận tội vi phạm của mình, và bày tỏ lòng khao khát được tha thứ qua đức tin nơi Đấng Cứu Chuộc sẽ đến; nhưng người ấy chưa được hoàn toàn giải thoát khỏi sự lên án của luật pháp. Vào ngày Lễ Chuộc Tội, thầy tế lễ thượng phẩm, sau khi nhận một của lễ từ hội chúng, đi vào nơi chí thánh với huyết của lễ này, và rảy nó trên nắp thi ân, ngay trên luật pháp, để làm thỏa mãn những đòi hỏi của nó. Rồi, trong tư cách là đấng trung bảo, ông nhận lấy tội lỗi trên mình và mang chúng ra khỏi đền thánh. Đặt tay trên đầu con dê gánh tội, ông xưng trên nó tất cả những tội lỗi đó, do đó theo hình bóng chuyển chúng từ mình sang con dê. Con dê khi ấy mang chúng đi, và chúng được xem là đã bị tách biệt khỏi dân sự mãi mãi. GC 420.1
Đó là sự phục vụ được thực hiện “theo hình và bóng của những sự trên trời.” Và những gì đã được thực hiện theo hình bóng trong sự phục vụ của đền thánh dưới đất đều được thực hiện trong thực tại trong sự phục vụ của đền thánh trên trời. Sau khi thăng thiên, Đấng Cứu Thế của chúng ta bắt đầu công việc của Ngài với tư cách là thầy tế lễ thượng phẩm của chúng ta. Phao-lô nói: Vả Đấng Cơ-đốc chẳng phải vào nơi thánh bởi tay người làm ra, theo kiểu mẫu nơi thánh thật, bèn là vào chính trong trời, để bây giờ vì chúng ta hiện ra trước mặt Đức Chúa Trời.
(Hê-bơ-rơ 9:24) GC 420.2
Sự phục vụ của thầy tế lễ suốt cả năm trong phần thứ nhất của đền thánh, “phía trong bức màn” là cửa và ngăn cách nơi thánh với sân ngoài, tượng trưng cho công việc phục vụ mà Đấng Christ đã khởi sự khi Ngài thăng thiên. Công việc của thầy tế lễ trong sự phục vụ hằng ngày là trình dâng trước Đức Chúa Trời huyết của lễ chuộc tội, cùng với hương thơm bay lên với lời cầu nguyện của dân Y-sơ-ra-ên. Đấng Christ cũng vậy, đã cầu thay bằng huyết Ngài trước Đức Chúa Cha vì những kẻ có tội, và cũng trình dâng trước Ngài, với hương thơm quý báu của sự công bình chính Ngài, những lời cầu nguyện của các tín đồ ăn năn. Đó là công việc phục vụ trong phần thứ nhất của đền thánh ở trên trời. GC 420.3
Tại đó, đức tin của các môn đồ Đấng Christ đã theo Ngài khi Ngài thăng thiên khuất khỏi mắt họ. Tại đây, niềm hy vọng của họ được đặt trọn, “chúng ta giữ điều trông cậy nầy,” Phao-lô nói, Chúng ta giữ điều trông cậy này như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn, trong nơi thánh mà Đức Chúa Giê-su đã vào như Đấng đi trước của chúng ta, vì đã trở nên thầy tế lễ thượng phẩm đời đời, theo ban Mên-chi-xê-đéc.
(Hê-bơ-rơ 6:19-20)Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.
(Hê-bơ-rơ 9:12) GC 421.1
Trong suốt mười tám thế kỷ, công việc phục vụ nầy tiếp tục diễn ra trong ngăn thứ nhất của đền thánh. Huyết của Đấng Christ, được cầu thay cho những tín đồ ăn năn, đã bảo đảm cho họ sự tha thứ và sự chấp nhận nơi Đức Chúa Cha, nhưng tội lỗi của họ vẫn còn lưu lại trên các sổ sách ghi chép. Như trong sự phục vụ tiêu biểu có một công việc chuộc tội vào cuối năm, thì cũng vậy, trước khi công việc của Đấng Christ cho sự cứu chuộc loài người được hoàn tất, có một công việc chuộc tội để cất bỏ tội lỗi khỏi đền thánh. Đây là sự phục vụ đã bắt đầu khi 2300 ngày kết thúc. Vào thời điểm đó, như tiên tri Đa-ni-ên đã báo trước, Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta đã bước vào nơi chí thánh, để thực hiện phần cuối cùng trong công việc trọng thể của Ngài—làm sạch đền thánh. GC 421.2
Như xưa kia tội lỗi của dân sự được đặt trên của lễ chuộc tội bởi đức tin, và qua huyết của nó được chuyển, theo hình bóng, đến đền thánh dưới đất, thì cũng vậy trong giao ước mới, tội lỗi của những người ăn năn được đặt trên Đấng Christ bởi đức tin và được chuyển, trên thực tế, đến đền thánh trên trời. Và như sự làm sạch tiêu biểu của đền thánh dưới đất được thực hiện bằng cách cất bỏ những tội lỗi đã làm ô uế nó, thì cũng vậy sự làm sạch thực sự của đền thánh trên trời sẽ được thực hiện bằng cách cất bỏ, hay xóa bỏ, những tội lỗi được ghi lại tại đó. Nhưng trước khi điều nầy có thể được thực hiện, phải có một cuộc tra xét các sổ sách ghi chép để xác định ai, qua sự ăn năn tội lỗi và đức tin nơi Đấng Christ, được hưởng những lợi ích từ sự chuộc tội của Ngài. Do đó, sự làm sạch đền thánh bao gồm một công việc tra xét—một công việc phán xét. Công việc nầy phải được thực hiện trước sự đến của Đấng Christ để cứu chuộc dân sự Ngài; vì khi Ngài đến, phần thưởng của Ngài ở cùng Ngài để ban cho mỗi người tùy theo công việc của họ. Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.
(Khải-huyền 22:12) GC 421.3
Vì vậy, những người đi theo ánh sáng của lời tiên tri đã thấy rằng, thay vì đến trái đất khi 2300 ngày kết thúc vào năm 1844, Đấng Christ lúc đó đã bước vào nơi chí thánh của đền thánh trên trời để thực hiện công việc chuộc tội cuối cùng chuẩn bị cho sự đến của Ngài. GC 422.1
Cũng được thấy rằng, trong khi của lễ chuộc tội chỉ về Đấng Christ là của lễ hy sinh, và thầy tế lễ thượng phẩm tượng trưng cho Đấng Christ là Đấng Trung Bảo, thì con dê gánh tội tiêu biểu cho Sa-tan, kẻ khởi xướng tội lỗi, là kẻ mà tội lỗi của những người ăn năn thật sự sẽ cuối cùng được đặt trên. Khi thầy tế lễ thượng phẩm, nhờ huyết của của lễ chuộc tội, cất bỏ tội lỗi khỏi đền thánh, người đặt chúng trên con dê gánh tội. Khi Đấng Christ, nhờ chính huyết Ngài, cất bỏ tội lỗi của dân sự Ngài khỏi đền thánh trên trời vào lúc kết thúc công việc phục vụ của Ngài, Ngài sẽ đặt chúng trên Sa-tan, kẻ mà, trong việc thi hành sự phán xét, phải gánh chịu hình phạt cuối cùng. Con dê gánh tội được đưa đi vào một vùng đất không có người ở, không bao giờ trở lại trong hội chúng Y-sơ-ra-ên. Cũng vậy, Sa-tan sẽ bị đuổi khỏi sự hiện diện của Đức Chúa Trời và dân sự Ngài mãi mãi, và hắn sẽ bị xóa khỏi sự tồn tại trong sự hủy diệt cuối cùng của tội lỗi và những kẻ có tội. GC 422.2