Những Lời Tiên Tri Được Ứng Nghiệm
Chương 22—Những Lời Tiên Tri Được Ứng Nghiệm
Khi thời điểm mà sự tái lâm của Chúa lần đầu tiên được mong đợi đã trôi qua—vào mùa xuân năm 1844—những người đã trông đợi sự hiện đến của Ngài bằng đức tin đã trải qua một thời gian đầy nghi ngờ và bất định. Trong khi thế gian coi họ như đã hoàn toàn thất bại và đã chứng tỏ là đã ôm ấp một ảo tưởng, thì nguồn an ủi của họ vẫn là lời Đức Chúa Trời. Nhiều người tiếp tục tra xem Kinh Thánh, xem xét lại bằng chứng về đức tin của mình và cẩn thận nghiên cứu các lời tiên tri để được thêm ánh sáng. Lời chứng của Kinh Thánh ủng hộ lập trường của họ dường như rõ ràng và thuyết phục. Những dấu hiệu không thể nhầm lẫn được đã chỉ ra rằng sự đến của Đấng Christ đã gần. Phước lành đặc biệt của Chúa, cả trong việc hoán cải tội nhân lẫn trong việc phục hưng đời sống thuộc linh giữa những người Cơ-đốc, đã làm chứng rằng sứ điệp ấy đến từ thiên đàng. Và dẫu các tín hữu không thể giải thích được sự thất vọng của mình, họ vẫn cảm thấy chắc chắn rằng Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ trong kinh nghiệm vừa qua. GC 391.1
Xen lẫn với những lời tiên tri mà họ đã xem là áp dụng cho thời kỳ sự tái lâm là những sự chỉ dạy được ban đặc biệt thích hợp với hoàn cảnh bất định và hồi hộp của họ, và khích lệ họ kiên nhẫn chờ đợi trong đức tin rằng điều hiện nay còn tối tăm đối với sự hiểu biết của họ sẽ được làm sáng tỏ vào thời điểm thích hợp. GC 391.2
Trong số các lời tiên tri ấy có lời trong Ha-ba-cúc 2:1-4: Ta sẽ đứng nơi vọng canh, chôn chân nơi đồn lũy, rình xem Ngài bảo ta điều gì, và ta trả lời thế nào về sự đối nại của ta. Đức Giê-hô-va đáp lại cùng ta mà rằng: Ngươi khá chép lấy sự hiện thấy, và rõ rệt nó ra trên bảng, hầu cho người đương chạy đọc được. Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhứt định, sau cùng nó sẽ kíp đến, không phỉnh dối đâu; nếu nó chậm trễ, ngươi hãy đợi; bởi nó chắc sẽ đến, không chậm trễ. Nầy, lòng người kiêu ngạo, không có sự ngay thẳng trong nó; song người công bình thì sống bởi đức tin mình.
(Ha-ba-cúc 2:1-4) GC 392.1
Ngay từ năm 1842, lời chỉ dạy trong lời tiên tri này để “chép lấy sự hiện thấy, và rõ rệt nó ra trên bảng, hầu cho người đang chạy đọc được,” đã gợi ý cho Charles Fitch soạn một bảng tiên tri để minh họa các sự hiện thấy của Đa-ni-ên và sách Khải Huyền. Việc xuất bản bảng này được xem là sự ứng nghiệm của mệnh lệnh do Ha-ba-cúc ban ra. Tuy nhiên, khi ấy chưa ai để ý rằng một sự trì hoãn rõ rệt trong việc ứng nghiệm sự hiện thấy—một thời kỳ chờ đợi—cũng được trình bày trong cùng lời tiên tri ấy. Sau sự thất vọng, khúc Kinh Thánh này trở nên rất có ý nghĩa: “Vì sự hiện thấy còn phải ứng nghiệm trong kỳ nhất định, song nó sẽ nói đến kỳ cuối cùng, và không dối đâu: ví bằng nó chậm trễ, hãy đợi; vì chắc sẽ đến, không trì hoãn đâu…. Người công bình sẽ sống bởi đức tin mình.” GC 392.2
Một phần của lời tiên tri Ê-xê-chi-ên cũng là nguồn sức mạnh và an ủi cho các tín hữu: Lại có lời Đức Giê-hô-va phán cho ta rằng: Hỡi con người, các ngươi có một lời tục ngữ trong đất của Y-sơ-ra-ên, rằng: Những ngày kéo dài, mọi sự hiện thấy chẳng ứng nghiệm! lời ấy nghĩa là gì? Ấy vậy, hãy nói cùng chúng nó rằng: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Ta sẽ làm cho lời tục ngữ ấy dứt đi, không ai dùng nó làm tục ngữ nữa trong Y-sơ-ra-ên. Song khá nói cùng chúng nó rằng: Những ngày gần đến, mọi sự hiện thấy hầu ứng nghiệm. Thật, sẽ chẳng còn có một sự hiện thấy nào là giả dối, hoặc một sự bói khoa nào là giả dối, trong nhà Y-sơ-ra-ên. Vì ta là Đức Giê-hô-va, ta sẽ nói, và lời ta nói sẽ làm thành, không hoãn lại nữa. Hỡi nhà bạn nghịch! Ấy là đương ngày các ngươi mà ta sẽ rao lời tiên tri và sẽ làm thành, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
(Ê-xê-chi-ên 12:21-25)Hỡi con người, này, nhà Y-sơ-ra-ên có kẻ nói rằng: Sự hiện thấy của người này thấy là chỉ về lâu ngày về sau, và người nói tiên tri về thời còn xa. Vậy nên, hãy nói cùng chúng nó: Chúa Giê-hô-va phán như vầy: chẳng có lời nào của ta sẽ hoãn lại nữa, song lời ta nói sẽ làm thành, Chúa Giê-hô-va phán vậy.
(Ê-xê-chi-ên 12:27-28) GC 392.3
Những người đang chờ đợi vui mừng, tin rằng Đấng biết sự cuối cùng từ ban đầu đã nhìn xuyên suốt các thời đại và, đoán trước sự thất vọng của họ, đã ban cho họ những lời khích lệ và hy vọng. Nếu không có những phần Kinh Thánh như vậy, khuyên họ kiên nhẫn chờ đợi và giữ vững lòng tin cậy nơi lời Đức Chúa Trời, thì đức tin của họ hẳn đã thất bại trong giờ thử thách đó. GC 393.1
Thí dụ về mười người nữ đồng trinh trong Ma-thi-ơ 25 cũng minh họa kinh nghiệm của dân Cơ-đốc Phục Lâm. Trong Ma-thi-ơ 24, để đáp lại câu hỏi của các môn đồ về dấu hiệu sự tái lâm và sự tận thế, Đấng Christ đã chỉ ra một số biến cố quan trọng nhất trong lịch sử thế giới và của hội thánh từ sự giáng lâm thứ nhất đến sự tái lâm của Ngài; cụ thể là sự hủy phá thành Giê-ru-sa-lem, đại nạn của hội thánh dưới sự bắt bớ của ngoại đạo và giáo hoàng, sự tối tăm của mặt trời và mặt trăng, và sự rơi rụng của các ngôi sao. Sau đó, Ngài nói về sự đến của Ngài trong nước Ngài, và thuật lại thí dụ mô tả hai hạng đầy tớ trông đợi sự hiện đến của Ngài. Chương 25 mở đầu bằng những lời: “Khi ấy, nước thiên đàng sẽ giống như mười người nữ đồng trinh.” Ở đây cho thấy hội thánh sống trong những ngày sau rốt, chính hội thánh được chỉ đến ở phần cuối chương 24. Trong thí dụ này, kinh nghiệm của họ được minh họa qua các tình tiết của một lễ cưới phương Đông. GC 393.2
“Khi ấy, nước thiên đàng sẽ giống như mười người nữ đồng trinh kia cầm đèn đi rước chàng rể. Trong các nàng đó, có năm người dại và năm người khôn. Người dại khi cầm đèn đi thì không đem dầu theo cùng mình. Song người khôn khi cầm đèn đi thì đem dầu theo trong bình mình. Vì chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục. Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người!” (Ma-thi-ơ 25:1-6) GC 393.3
Sự đến của Đấng Christ, như được loan báo trong sứ điệp của thiên sứ thứ nhất, được hiểu là được tượng trưng bởi sự đến của chàng rể. Cuộc cải chánh rộng lớn dưới sự rao giảng về sự đến sắp tới của Ngài ứng với việc các người nữ đồng trinh đi ra. Trong thí dụ này, cũng như trong Ma-thi-ơ 24, có hai hạng người được tiêu biểu. Tất cả đều đã cầm đèn của mình, tức Kinh Thánh, và nhờ ánh sáng của nó mà đi ra đón chàng rể. Nhưng trong khi “người dại khi cầm đèn đi thì không đem dầu theo cùng mình,” thì “người khôn khi cầm đèn đi thì đem dầu theo trong bình mình.” Hạng người sau đã nhận được ân điển của Đức Chúa Trời, quyền năng tái sinh và soi sáng của Đức Thánh Linh, là Đấng khiến lời Ngài thành ngọn đèn cho chân và ánh sáng cho đường đi. Trong sự kính sợ Đức Chúa Trời, họ đã nghiên cứu Kinh Thánh để học biết lẽ thật, và đã hết lòng tìm kiếm sự trong sạch trong tâm hồn và đời sống. Những người này có một kinh nghiệm cá nhân, một đức tin nơi Đức Chúa Trời và nơi lời Ngài, không thể bị lật đổ bởi sự thất vọng và chậm trễ. Những người khác “cầm đèn đi thì không đem dầu theo cùng mình.” Họ đã hành động theo cảm xúc bốc đồng. Nỗi sợ của họ đã được khơi dậy bởi sứ điệp trang nghiêm, nhưng họ đã dựa vào đức tin của anh em mình, thỏa lòng với ánh sáng chập chờn của những cảm xúc tốt đẹp, mà không có sự hiểu biết thấu đáo về lẽ thật hoặc một công việc thật của ân điển trong lòng. Những người này đã đi ra đón Chúa, đầy hy vọng về phần thưởng tức thì; nhưng họ không sẵn sàng cho sự trì hoãn và thất vọng. Khi thử thách đến, đức tin họ suy sụp, và đèn họ cháy lu mờ. GC 393.4
“Vì chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục.” Sự đến trễ của chàng rể tượng trưng cho việc thời điểm mà Chúa được trông đợi đã trôi qua, sự thất vọng, và sự trì hoãn bề ngoài. Trong thời gian bất định này, sự quan tâm của những người hời hợt và nửa vời sớm bắt đầu dao động, và những nỗ lực của họ trở nên lơi lỏng; nhưng những người mà đức tin được đặt trên sự hiểu biết cá nhân về Kinh Thánh thì có một vầng đá bên dưới chân họ, mà các làn sóng thất vọng không thể cuốn đi được. “Các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục;” một hạng trong sự thờ ơ và từ bỏ đức tin của mình, hạng kia kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi ánh sáng rõ ràng hơn được ban cho. Tuy nhiên, trong đêm thử thách, hạng sau dường như cũng mất đi phần nào lòng sốt sắng và tận tụy. Những người nửa vời và hời hợt không còn có thể tựa vào đức tin của anh em mình nữa. Mỗi người phải đứng hay ngã cho chính mình. GC 394.1
Vào khoảng thời gian này, chủ nghĩa cuồng tín bắt đầu xuất hiện. Một số người đã tự xưng là những tín hữu nhiệt thành với sứ điệp đã chối bỏ lời Đức Chúa Trời như là sự hướng dẫn không sai lầm duy nhất và, tự cho mình được dẫn dắt bởi Đức Thánh Linh, đã phó mình dưới sự kiểm soát của cảm xúc, ấn tượng, và tưởng tượng riêng. Có một số người biểu lộ một sự sốt sắng mù quáng và cố chấp, lên án tất cả những ai không tán thành đường lối của họ. Những ý tưởng và hành vi cuồng tín của họ không được đa số dân Cơ-đốc Phục Lâm đồng tình; tuy nhiên, chúng đã đem sự sỉ nhục đến cho chính nghĩa lẽ thật. GC 395.1
Sa-tan đã tìm cách dùng phương tiện nầy để chống lại và phá hủy công việc của Đức Chúa Trời. Dân chúng đã được khuấy động mạnh mẽ bởi phong trào tái lâm, hàng ngàn tội nhân đã được cải đạo, và những người trung tín đang dâng mình cho công việc rao giảng lẽ thật, ngay cả trong thời kỳ chờ đợi. Chúa của sự dữ đang mất đi thần dân của hắn; và để mang sự sỉ nhục đến cho công việc của Đức Chúa Trời, hắn tìm cách lừa dối một số người xưng nhận đức tin và đẩy họ đến chỗ cực đoan. Rồi những tay sai của hắn sẵn sàng nắm lấy mọi sai lầm, mọi thất bại, mọi hành động không xứng đáng, và phô bày điều đó trước dân chúng dưới ánh sáng bị phóng đại nhất, để khiến những người Cơ-đốc Phục Lâm và đức tin của họ trở nên đáng ghét. Vì vậy, càng nhiều người mà hắn có thể dồn vào để xưng nhận đức tin nơi sự tái lâm trong khi quyền lực của hắn còn kiểm soát lòng họ, thì hắn càng có được lợi thế lớn hơn bằng cách hướng sự chú ý đến họ như những đại diện của toàn thể tín hữu. GC 395.2
Sa-tan là “kẻ kiện cáo anh em chúng ta,” và chính thần linh của hắn thúc đẩy người ta rình xem những sai lầm và khuyết điểm của dân Chúa, và phơi bày chúng ra để người khác chú ý, trong khi những việc tốt của họ lại bị bỏ qua không nhắc đến. Hắn luôn hoạt động khi Đức Chúa Trời đang làm việc để cứu rỗi các linh hồn. Khi các con trai của Đức Chúa Trời đến trình diện trước Chúa, Sa-tan cũng đến giữa họ. Trong mỗi cuộc phục hưng, hắn sẵn sàng đưa vào những kẻ có lòng không được thánh hóa và tâm trí không quân bình. Khi những kẻ nầy đã chấp nhận một số điểm của lẽ thật, và đã có được chỗ đứng giữa các tín hữu, hắn dùng họ để đưa vào những lý thuyết sẽ lừa dối những kẻ không cảnh giác. Không ai được chứng tỏ là một Cơ-đốc nhân chân chính chỉ vì họ có mặt cùng với các con cái của Đức Chúa Trời, ngay cả trong nhà thờ phượng và quanh bàn tiệc của Chúa. Sa-tan thường có mặt tại đó trong những dịp trọng thể nhất dưới hình dạng của những kẻ mà hắn có thể dùng làm tay sai. GC 395.3
Chúa của sự dữ tranh giành từng tấc đất mà dân Đức Chúa Trời tiến bước trên hành trình hướng về thành thiên quốc. Trong suốt lịch sử của hội thánh, không có cuộc cải chánh nào được tiến hành mà không gặp những trở ngại nghiêm trọng. Điều đó cũng đã xảy ra trong thời Phao-lô. Bất cứ nơi nào sứ đồ dựng nên một hội thánh, đều có một số người xưng nhận tiếp nhận đức tin, nhưng lại đưa vào những tà giáo mà nếu được chấp nhận, cuối cùng sẽ đẩy lùi tình yêu đối với lẽ thật. Lu-thơ cũng chịu nỗi bối rối và đau khổ lớn từ hành động của những kẻ cuồng tín tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã phán trực tiếp qua họ, và do đó đặt các ý tưởng và quan điểm riêng của mình lên trên lời chứng của Kinh Thánh. Nhiều người thiếu đức tin và kinh nghiệm, nhưng lại có sự tự phụ đáng kể, và thích nghe và kể những điều mới lạ, đã bị lừa gạt bởi những tuyên bố của các giáo sư mới, và họ nhập bọn với các tay sai của Sa-tan trong công việc phá đổ những gì Đức Chúa Trời đã thúc đẩy Lu-thơ xây dựng. Và anh em Wesley, cùng những người khác đã ban phước cho thế giới bằng ảnh hưởng và đức tin của mình, đã gặp phải ở mỗi bước đi những mưu chước của Sa-tan đang đẩy những kẻ quá nhiệt thành, không quân bình và không được thánh hóa vào đủ mọi mức độ cuồng tín. GC 396.1
William Miller không hề đồng tình với những ảnh hưởng dẫn đến sự cuồng tín. Ông tuyên bố, cùng với Lu-thơ, rằng mỗi thần linh phải được thử nghiệm bằng lời của Đức Chúa Trời. “Ma quỷ,” Miller nói, “có quyền lực lớn trên tâm trí của một số người trong thời đại hiện nay. Và làm sao chúng ta có thể biết họ thuộc về thần linh nào? Kinh Thánh trả lời: ‘Các ngươi sẽ nhận biết chúng bởi trái của chúng.’… Có nhiều thần linh đã ra trong thế gian; và chúng ta được truyền phải thử các thần linh. Thần linh nào không khiến chúng ta sống tiết độ, công bình và tin kính trong đời hiện tại, thì không phải là Thần của Đấng Christ. Tôi càng ngày càng tin chắc rằng Sa-tan có nhiều liên can trong những phong trào điên cuồng nầy…. Nhiều kẻ giữa chúng ta tự cho mình là đã được thánh hóa trọn vẹn, lại đang theo truyền thống của loài người, và dường như cũng ngu dốt về lẽ thật như những kẻ khác không có những sự tự xưng như vậy."—Bliss, trang 236, 237. “Thần linh của sự sai lầm sẽ dẫn chúng ta lìa khỏi lẽ thật; và Thần của Đức Chúa Trời sẽ dẫn chúng ta vào lẽ thật. Nhưng, bạn nói, một người có thể ở trong sai lầm mà vẫn nghĩ rằng mình có lẽ thật. Vậy thì sao? Chúng tôi trả lời: Thần linh và lời phù hợp với nhau. Nếu một người xét mình bằng lời của Đức Chúa Trời, và thấy một sự hòa hợp trọn vẹn xuyên suốt toàn bộ lời, thì người ấy phải tin rằng mình có lẽ thật; nhưng nếu người ấy thấy thần linh mà mình được dẫn dắt không hòa hợp với toàn bộ ý nghĩa của luật pháp hay Sách của Đức Chúa Trời, thì hãy để người ấy bước đi cẩn thận, kẻo bị sa vào bẫy của ma quỷ."—The Advent Herald and Signs of the Times Reporter, ngày 15 tháng 1, 1845. “Tôi thường nhận được nhiều bằng chứng về lòng tin kính bên trong từ một ánh mắt sáng lên, một má ướt đẫm và một giọng nói nghẹn ngào, hơn là từ tất cả tiếng ồn ào của Cơ-đốc Giáo."—Bliss, trang 282. GC 396.2
Trong thời kỳ cuộc Cải chánh, các kẻ thù của nó đã đổ mọi điều ác của sự cuồng tín lên chính những người đang lao khổ hăng hái nhất để chống lại nó. Một đường lối tương tự đã được những kẻ chống đối phong trào tái lâm theo đuổi. Và không bằng lòng với việc xuyên tạc và phóng đại những sai lầm của những kẻ cực đoan và cuồng tín, họ còn lan truyền những tin đồn bất lợi mà không có chút dáng vẻ gì của sự thật. Những người nầy bị thúc đẩy bởi thành kiến và lòng căm ghét. Sự bình an của họ bị xáo trộn bởi lời công bố rằng Đấng Christ đang ở cửa. Họ sợ rằng điều đó có thể là sự thật, nhưng lại hy vọng rằng không phải, và đây là điều bí mật của cuộc chiến mà họ chống lại những người Cơ-đốc Phục Lâm và đức tin của họ. GC 397.1
Việc một vài kẻ cuồng tín đã len lỏi vào hàng ngũ của những người Cơ-đốc Phục Lâm không phải là lý do để quyết định rằng phong trào đó không phải đến từ Đức Chúa Trời, cũng như sự hiện diện của những kẻ cuồng tín và lừa dối trong hội thánh vào thời Phao-lô hoặc Lu-thơ không phải là lý do đủ để lên án công việc của họ. Hãy để dân Đức Chúa Trời thức tỉnh khỏi giấc ngủ và bắt đầu nghiêm túc công việc ăn năn và cải chánh; hãy để họ tra xem Kinh Thánh để học biết lẽ thật như nó ở trong Đức Chúa Giê-su; hãy để họ dâng mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời, và bằng chứng sẽ không thiếu rằng Sa-tan vẫn còn hoạt động và cảnh giác. Với mọi sự lừa dối có thể, hắn sẽ biểu lộ quyền lực của mình, kêu gọi đến sự trợ giúp của tất cả các thiên sứ sa ngã trong vương quốc của hắn. GC 398.1
Không phải lời công bố về sự tái lâm đã gây ra sự cuồng tín và chia rẽ. Những điều nầy xuất hiện vào mùa hè năm 1844, khi những người Cơ-đốc Phục Lâm đang ở trong trạng thái nghi ngờ và bối rối về vị trí thật sự của họ. Việc rao giảng sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và của “tiếng kêu lúc nửa đêm” đã trực tiếp có khuynh hướng ngăn chặn sự cuồng tín và bất hòa. Những ai đã tham gia vào các phong trào trọng thể nầy đều hiệp một; lòng họ tràn đầy tình yêu thương đối với nhau và đối với Đức Chúa Giê-su, Đấng mà họ mong đợi sắp được gặp. Một đức tin, một niềm hy vọng phước hạnh đã nâng họ lên trên sự kiểm soát của bất kỳ ảnh hưởng nào của loài người, và tỏ ra là một tấm khiên chống lại các cuộc tấn công của Sa-tan. GC 398.2
“Vì chàng rể đến trễ, nên các nàng thảy đều buồn ngủ và ngủ gục. Đến khuya, có tiếng kêu rằng: Kìa, chàng rể đến, hãy đi ra rước người! Các nữ đồng trinh bèn thức dậy cả, sửa soạn đèn mình.” (Ma-thi-ơ 25:5-7) Vào mùa hè năm 1844, ở giữa khoảng thời gian mà trước đó người ta nghĩ rằng 2300 ngày sẽ kết thúc, và mùa thu cùng năm ấy, là thời điểm mà về sau được xác định rằng chúng kéo dài đến, sứ điệp đã được công bố bằng chính những lời của Kinh Thánh: “Kìa, Chàng Rể đến!” GC 398.3
Điều dẫn đến phong trào nầy là sự khám phá rằng sắc lệnh của Ạt-ta-xét-xe về việc tái lập Giê-ru-sa-lem, vốn là điểm khởi đầu cho thời kỳ 2300 ngày, đã có hiệu lực vào mùa thu năm 457 T.C., và không phải vào đầu năm, như trước đây người ta từng tin. Tính từ mùa thu năm 457, 2300 năm kết thúc vào mùa thu năm 1844. (Xem ghi chú Phụ Lục cho trang 329.) GC 398.4
Các lập luận rút ra từ các hình bóng trong Cựu Ước cũng chỉ đến mùa thu là thời điểm mà biến cố được biểu thị bởi “sự làm sạch đền thánh” phải diễn ra. Điều nầy đã được làm rõ khi sự chú ý được dành cho cách thức mà các hình bóng liên quan đến sự tái lâm thứ nhất của Đấng Christ đã được ứng nghiệm. GC 399.1
Việc giết chiên con lễ Vượt Qua là hình bóng về sự chết của Đấng Christ. Phao-lô nói: “Hãy làm cho mình sạch men cũ đi, hầu cho anh em trở nên bột nhồi mới không men, như anh em là bánh không men vậy. Vì Đấng Cơ-đốc là con sinh lễ Vượt qua của chúng ta, đã bị giết rồi.
(I Cô-rinh-tô 5:7)Cô-rinh-tô 5:7. Bó lúa đầu mùa, được đưa qua đưa lại trước mặt Chúa vào thời điểm lễ Vượt Qua, là hình bóng về sự sống lại của Đấng Christ. Khi nói về sự sống lại của Chúa và của tất cả dân sự Ngài, Phao-lô nói: “nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Cơ-đốc là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Cơ-đốc đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại.
(I Cô-rinh-tô 15:23) Cô-rinh-tô 15:23. Giống như bó lúa đưa qua đưa lại, là phần ngũ cốc chín đầu tiên được thu gặt trước mùa gặt, Đấng Christ là trái đầu mùa của mùa gặt bất tử gồm những người được cứu chuộc, là những người sẽ được thu vào kho của Đức Chúa Trời trong sự sống lại tương lai. GC 399.2
Những hình bóng này đã được ứng nghiệm, không chỉ về sự kiện, mà còn về thời điểm. Vào ngày mười bốn của tháng thứ nhất theo lịch Do Thái, chính ngày và tháng mà suốt mười lăm thế kỷ dài chiên con lễ Vượt Qua đã bị giết, Đấng Christ, sau khi đã ăn lễ Vượt Qua với các môn đồ Ngài, đã thiết lập bữa tiệc ấy để kỷ niệm sự chết của chính Ngài như “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” Cũng chính đêm đó, Ngài đã bị những bàn tay độc ác bắt lấy để bị đóng đinh và bị giết. Và như thực thể ứng nghiệm của bó lúa đưa qua đưa lại, Chúa chúng ta đã được sống lại từ kẻ chết vào ngày thứ ba, “trái đầu mùa của những kẻ ngủ,” làm mẫu mực cho tất cả những người công bình được sống lại, là những người mà “thân thể hèn mạt” của họ sẽ được biến hóa, và được “làm cho giống như thân thể vinh hiển Ngài.” Câu 20; Phi-líp 3:21. GC 399.3
Cũng theo cách ấy, những hình bóng liên quan đến sự tái lâm phải được ứng nghiệm vào thời điểm đã được chỉ ra trong nghi lễ biểu tượng. Dưới hệ thống Môi-se, việc tẩy thanh đền thánh, tức là Ngày Đại Chuộc Tội, diễn ra vào ngày mười của tháng bảy theo lịch Do Thái (Lê-vi Ký 16:29-34), khi thầy tế lễ thượng phẩm, sau khi đã làm lễ chuộc tội cho cả dân Y-sơ-ra-ên, và như vậy đã cất tội lỗi của họ khỏi đền thánh, thì đi ra và ban phước cho dân sự. Vì vậy, người ta tin rằng Đấng Christ, là Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vĩ đại của chúng ta, sẽ hiện ra để thanh tẩy trái đất bằng việc hủy diệt tội lỗi và những kẻ có tội, và để ban phước cho dân sự đang chờ đợi của Ngài với sự bất tử. Ngày mười của tháng bảy, Ngày Đại Chuộc Tội, thời điểm tẩy thanh đền thánh, mà vào năm 1844 rơi vào ngày hai mươi hai tháng Mười, được xem là thời điểm Chúa đến. Điều này phù hợp với những chứng cớ đã được trình bày rằng 2300 ngày sẽ kết thúc vào mùa thu, và kết luận dường như không thể cưỡng lại được. GC 399.4
Trong ẩn dụ của Ma-thi-ơ 25, thời gian chờ đợi và ngủ mê được tiếp nối bằng sự đến của chàng rể. Điều này phù hợp với những lập luận vừa được trình bày, cả từ lời tiên tri lẫn từ các hình bóng. Chúng mang lại sự xác tín mạnh mẽ về tính chân thật của chúng; và “tiếng kêu lúc nửa đêm” đã được hàng ngàn tín hữu loan báo. GC 400.1
Giống như một cơn sóng thủy triều, phong trào ấy quét qua khắp xứ. Từ thành này đến thành khác, từ làng này đến làng khác, và vào những nơi xa xôi hẻo lánh, phong trào lan đi cho đến khi dân sự chờ đợi của Đức Chúa Trời được đánh thức hoàn toàn. Sự cuồng tín biến mất trước lời công bố này như sương giá sớm tan trước mặt trời đang mọc. Các tín hữu thấy sự nghi ngờ và bối rối của mình được cất đi, và niềm hi vọng cùng lòng can đảm làm sinh động tâm hồn họ. Công việc được thoát khỏi những thái quá vốn luôn biểu lộ khi có sự kích động của con người mà không có ảnh hưởng điều khiển của Lời và Thánh Linh Đức Chúa Trời. Nó tương tự về tính chất với những mùa hạ mình và trở về với Chúa, vốn trong Y-sơ-ra-ên xưa, đã đến tiếp sau những sứ điệp quở trách từ các đầy tớ Ngài. Nó mang những đặc điểm đánh dấu công việc của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại. Có rất ít niềm vui cuồng nhiệt, mà thay vào đó là sự dò xét tâm lòng sâu sắc, sự xưng tội, và sự từ bỏ thế gian. Sự chuẩn bị để gặp Chúa là gánh nặng của những tâm linh đang đau đớn. Có sự cầu nguyện bền bỉ và sự dâng mình không giữ lại gì cho Đức Chúa Trời. GC 400.2
Miller đã mô tả công việc ấy như sau: “Không có sự biểu lộ vui mừng lớn lao: niềm vui đó, như thể, được nén lại để dành cho một dịp tương lai, khi cả trời và đất sẽ cùng hân hoan với niềm vui không thể nói và đầy vinh hiển. Không có tiếng reo hò: điều đó, cũng vậy, được dành cho tiếng kêu từ trời. Những ca sĩ lặng im: họ đang chờ đợi để hiệp với các đạo binh thiên sứ, là dàn hợp xướng từ trời…. Không có sự xung đột về tư tưởng: tất cả đều cùng một lòng và cùng một ý.” —Bliss, trang 270, 271. GC 401.1
Một người khác đã tham gia phong trào này làm chứng: “Nó đã sản sinh khắp nơi sự dò xét tâm lòng sâu sắc nhất và sự hạ mình của linh hồn trước mặt Đức Chúa Trời cao cả trên trời. Nó đã khiến tình cảm được dứt khỏi những sự thuộc về thế gian này, chữa lành những tranh cãi và thù hằn, xưng nhận những lỗi lầm, hạ mình xuống trước mặt Đức Chúa Trời, và với tấm lòng ăn năn, tan vỡ, cầu xin Ngài tha thứ và chấp nhận. Nó đã khiến sự tự hạ và sự phủ phục của linh hồn, đến mức chúng tôi chưa từng thấy trước đó. Như Đức Chúa Trời đã phán truyền qua Giô-ên, khi ngày lớn của Đức Chúa Trời gần đến, nó đã sản sinh sự xé lòng chứ không phải xé áo, và sự trở về với Chúa bằng kiêng ăn, khóc lóc, và than vãn. Như Đức Chúa Trời đã phán qua Xa-cha-ri, thần linh của ân điển và sự khẩn nài đã được đổ ra trên con cái Ngài; họ nhìn xem Đấng mà họ đã đâm, có một sự than khóc lớn trong xứ, … và những người đang trông đợi Chúa đã khiến linh hồn mình đau đớn trước mặt Ngài.” —Bliss, trong Advent Shield and Review, tập I, trang 271 (tháng Giêng, 1845). GC 401.2
Trong tất cả những phong trào tôn giáo lớn kể từ thời các sứ đồ, không có phong trào nào thoát khỏi sự bất toàn của con người và những mưu kế của Sa-tan hơn phong trào mùa thu năm 1844. Ngay cả bây giờ, sau nhiều năm đã trôi qua, tất cả những ai đã dự phần trong phong trào ấy và đã đứng vững trên nền tảng lẽ thật vẫn cảm nhận được ảnh hưởng thánh của công việc phước hạnh ấy và làm chứng rằng nó đến từ Đức Chúa Trời. GC 401.3
Khi có tiếng kêu: “Chàng rể đến rồi, hãy ra mà gặp Ngài,” thì những người chờ đợi “đều chờ dậy và sửa soạn đèn mình;” họ nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời với một sự chú tâm mãnh liệt chưa từng có trước đây. Các thiên sứ đã được sai từ trời xuống để đánh thức những người đã trở nên nản lòng và chuẩn bị họ tiếp nhận sứ điệp. Công việc không dựa trên sự khôn ngoan và học thức của loài người, nhưng trên quyền năng của Đức Chúa Trời. Không phải những người có tài nhất, nhưng là những người khiêm nhường và tận hiến nhất, là những người đầu tiên nghe và vâng theo tiếng gọi. Những nông dân bỏ mùa màng đứng lại trong ruộng, những thợ máy đặt dụng cụ của mình xuống, và với nước mắt cùng niềm vui đi ra để truyền lời cảnh báo. Những người trước đây đã dẫn đầu trong công việc lại là những người cuối cùng tham gia phong trào này. Các hội thánh nói chung đã đóng cửa lại trước sứ điệp này, và một số đông những người tiếp nhận nó đã rút khỏi mối liên hệ của họ. Trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, lời công bố này đã hiệp với sứ điệp của thiên sứ thứ hai và ban quyền năng cho công việc ấy. GC 402.1
Sứ điệp “Kìa, Chàng Rể đến!” không phải chủ yếu là vấn đề tranh luận, mặc dù chứng cớ Kinh Thánh rõ ràng và có sức thuyết phục. Đi cùng với nó là một quyền năng thúc đẩy làm cảm động linh hồn. Không có sự nghi ngờ, không có sự chất vấn. Vào dịp Đấng Christ khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem, dân chúng tụ họp từ mọi miền của xứ để giữ kỳ lễ đã đổ xô đến núi Ô-li-ve, và khi họ hiệp với đoàn người đang hộ tống Đức Chúa Giê-su, họ đã bắt được nguồn cảm hứng của giờ phút đó và giúp làm vang lên tiếng kêu: “Đoàn dân đi trước và theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!
(Ma-thi-ơ 21:9)Ma-thi-ơ 21:9. Cũng theo cách ấy, những người không tin đã đổ xô đến các buổi nhóm của phái Cơ-đốc Phục Lâm—một số vì tò mò, một số chỉ để chế giễu—đã cảm nhận được quyền năng thuyết phục đi kèm với sứ điệp: “Kìa, Chàng Rể đến!” GC 402.2
Vào thời điểm đó, có đức tin đem đến sự đáp lời cầu nguyện—đức tin có sự quan tâm đến phần thưởng. Giống như những cơn mưa trên đất khô khát, Thánh Linh của ân điển đã giáng xuống trên những người tìm kiếm sốt sắng. Những người trông đợi sớm được đứng mặt đối mặt với Đấng Cứu Chuộc của mình đã cảm nhận một niềm vui trang nghiêm không thể nói thành lời. Quyền năng làm mềm mại, chinh phục của Đức Thánh Linh đã làm tan chảy tấm lòng khi phước hạnh của Ngài được ban xuống cách dư dật trên những người trung tín, tin cậy. GC 402.3
Cách trang nghiêm và sốt sắng, những người đã tiếp nhận sứ điệp bước tới gần thời điểm họ hy vọng được gặp Chúa mình. Mỗi buổi sáng, họ cảm thấy bổn phận trước tiên của mình là bảo đảm bằng chứng rằng Đức Chúa Trời đã chấp nhận họ. Lòng họ gắn bó mật thiết với nhau, và họ cầu nguyện nhiều cùng với nhau và cho nhau. Họ thường nhóm lại với nhau tại những nơi vắng vẻ để giao thông với Đức Chúa Trời, và tiếng cầu thay vang lên tới thiên đàng từ những cánh đồng và những lùm cây. Sự bảo đảm về ơn chấp thuận của Đấng Cứu Thế cần yếu cho họ hơn là lương thực hằng ngày; và nếu một đám mây nào làm u ám tâm trí họ, họ không nghỉ ngơi cho đến khi nó được quét sạch. Khi họ cảm nhận được chứng cớ của ân điển tha thứ, họ khao khát được chiêm ngưỡng Đấng mà linh hồn họ yêu mến. GC 403.1
Nhưng một lần nữa, họ phải chịu nỗi thất vọng. Thời điểm trông đợi đã qua đi, mà Đấng Cứu Thế của họ không hiện đến. Với lòng tin cậy không lay chuyển, họ đã trông mong sự hiện đến của Ngài, và giờ đây họ cảm thấy như Ma-ri đã cảm thấy khi đến mộ Đấng Cứu Thế và thấy mộ trống, nàng đã vừa khóc vừa kêu lên: Hai thiên sứ hỏi: Hỡi đàn bà kia, sao ngươi khóc? Người thưa rằng: Vì người ta đã dời Chúa tôi đi, không biết để Ngài ở đâu.
(Giăng 20:13) GC 403.2
Một cảm giác kính sợ, một nỗi lo rằng sứ điệp có thể là thật, đã có một thời gian kìm hãm thế gian không tin. Sau khi thời điểm đã qua, cảm giác ấy không biến mất ngay; lúc đầu họ chưa dám đắc thắng trên những người bị thất vọng; nhưng vì không thấy dấu hiệu nào của cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, họ hồi phục khỏi nỗi sợ và tiếp tục trách móc và chế nhạo. Một số đông đã tuyên xưng tin rằng Chúa sẽ sớm đến, nay từ bỏ đức tin của mình. Một số người trước kia rất quả quyết thì bị tổn thương sâu sắc trong lòng kiêu hãnh đến nỗi họ muốn trốn khỏi thế gian. Giống như Giô-na, họ oán trách Đức Chúa Trời, và chọn sự chết hơn là sự sống. Những người đã đặt đức tin mình trên ý kiến của người khác, chớ không trên lời của Đức Chúa Trời, thì nay cũng sẵn sàng thay đổi quan điểm một lần nữa. Những kẻ chế giễu lôi kéo những người yếu đuối và nhút nhát về phía mình, và tất cả những người này hiệp nhau tuyên bố rằng giờ đây không còn gì phải sợ hay trông đợi nữa. Thời điểm đã qua, Chúa đã không hiện đến, và thế gian có thể cứ như vậy trong hàng ngàn năm nữa. GC 403.3
Những tín hữu nhiệt thành, chân thành đã từ bỏ mọi sự vì Đấng Christ và đã được chia sẻ sự hiện diện của Ngài như chưa từng có trước đó. Họ tin rằng họ đã trao lời cảnh cáo cuối cùng cho thế gian; và vì trông đợi sớm được tiếp nhận vào hội của Thầy thiên thượng và các thiên sứ trên trời, họ đã phần lớn rút lui khỏi giao thiệp với những người không tiếp nhận sứ điệp. Với ước muốn mãnh liệt, họ đã cầu nguyện: “Lạy Đức Chúa Giê-su, xin hãy đến, và xin mau đến.” Nhưng Ngài đã không đến. Và giờ đây, lại phải gánh vác những gánh nặng và những điều rắc rối của đời sống, và phải chịu đựng những lời chế nhạo và khinh bỉ của một thế gian chế giễu, ấy là một thử thách khủng khiếp cho đức tin và lòng kiên nhẫn. GC 404.1
Tuy nhiên, nỗi thất vọng này không lớn bằng nỗi thất vọng mà các môn đồ đã trải qua vào thời sự giáng lâm lần thứ nhất của Đấng Christ. Khi Đức Chúa Giê-su cỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem cách đắc thắng, những người theo Ngài tin rằng Ngài sắp lên ngôi Đa-vít và giải cứu Y-sơ-ra-ên khỏi những kẻ áp bức. Với những hy vọng cao cả và sự trông đợi vui mừng, họ tranh nhau tôn vinh Vua mình. Nhiều người trải áo ngoài mình như một tấm thảm trên đường Ngài đi, hoặc rải trước mặt Ngài những nhành lá chà là. Trong niềm vui hăng say, họ hòa chung tiếng reo vui mừng: “Hô-sa-na cho Con vua Đa-vít!” Khi những người Pha-ri-si, bị khó chịu và tức giận bởi sự bộc phát vui mừng này, muốn Đức Chúa Giê-su quở trách các môn đồ Ngài, thì Ngài đáp: Ngài đáp rằng: Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên.
(Lu-ca 19:40)Lời tiên tri phải được ứng nghiệm. Các môn đồ đang làm trọn mục đích của Đức Chúa Trời; thế mà họ bị định phải chịu một nỗi thất vọng cay đắng. Nhưng chỉ mấy ngày trôi qua, họ đã chứng kiến sự chết đau đớn của Đấng Cứu Thế, và đã đặt Ngài trong mộ. Sự trông đợi của họ đã không được thực hiện trong bất cứ chi tiết nào, và những hy vọng của họ đã chết với Đức Chúa Giê-su. Mãi cho đến khi Chúa họ đã khải hoàn ra khỏi mồ, họ mới có thể nhận biết rằng mọi sự đã được báo trước bởi lời tiên tri, và lấy Kinh thánh cắt nghĩa và giải tỏ tường về Đấng Cơ-đốc phải chịu thương khó, rồi từ kẻ chết sống lại. Người nói rằng Đấng Cơ-đốc này, tức là Đức Chúa Giê-su mà ta rao truyền cho các ngươi.
(Công-vụ các Sứ-đồ 17:3) GC 404.2
Năm trăm năm trước đó, Chúa đã phán qua tiên tri Xa-cha-ri: Hỡi con gái Si-ôn, hãy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy trổi tiếng reo vui! Nầy, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái.
(Xa-cha-ri 9:9)Nếu các môn đồ đã hiểu rằng Đấng Christ đang đi đến sự phán xét và sự chết, thì họ đã không thể làm ứng nghiệm lời tiên tri này. GC 405.1
Cũng một thể ấy, Miller và các bạn hữu ông đã làm ứng nghiệm lời tiên tri và truyền giảng một sứ điệp mà sự Soi Dẫn đã báo trước là phải được rao giảng cho thế gian, nhưng họ đã không thể truyền được sứ điệp ấy nếu họ đã hiểu đầy đủ những lời tiên tri chỉ ra nỗi thất vọng của họ, và trình bày một sứ điệp khác sẽ phải được rao giảng cho mọi dân tộc trước khi Chúa đến. Sứ điệp của thiên sứ thứ nhất và thứ hai đã được ban ra đúng lúc và đã hoàn thành công việc mà Đức Chúa Trời đã định đạt được qua chúng. GC 405.2
Thế gian đã trông chừng, mong đợi rằng nếu thời điểm qua đi mà Đấng Christ không hiện ra, thì toàn bộ hệ thống của phong trào Cơ-đốc Phục Lâm sẽ bị từ bỏ. Nhưng trong khi nhiều người, dưới sự cám dỗ mạnh mẽ, đã đầu hàng đức tin của mình, thì có một số người đứng vững. Những kết quả của phong trào Phục Lâm — tinh thần khiêm nhường và xét lòng, tinh thần từ bỏ thế gian và cải cách đời sống, vốn đã đi kèm với công việc ấy — đã làm chứng rằng nó thuộc về Đức Chúa Trời. Họ không dám phủ nhận rằng quyền năng của Đức Thánh Linh đã làm chứng cho sự rao giảng về sự tái lâm, và họ không thể tìm ra lỗi nào trong cách tính toán các thời kỳ tiên tri của mình. Ngay cả những người chống đối tài ba nhất cũng không thành công trong việc lật đổ hệ thống giải nghĩa tiên tri của họ. Họ không thể thuận, nếu không có bằng chứng từ Kinh Thánh, mà từ bỏ những lập trường đã đạt được qua sự học hỏi Kinh Thánh cách chân thành và đầy lời cầu nguyện, bởi những tâm trí được soi sáng bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời và những tấm lòng cháy bừng với quyền năng sống động của Ngài; những lập trường đã chịu đựng được sự phê phán khắt khe nhất và sự chống đối cay đắng nhất của các giáo sư tôn giáo nổi tiếng và những người khôn ngoan theo thế gian, và đã đứng vững trước các lực lượng liên hiệp của học thức và hùng biện, cũng như những lời chế nhạo và nhục mạ của cả người danh giá lẫn kẻ hèn hạ. GC 405.3
Thật vậy, đã có sự thất bại về biến cố trông đợi, nhưng ngay cả điều này cũng không thể lay chuyển đức tin của họ nơi lời của Đức Chúa Trời. Khi Giô-na rao truyền trong các đường phố Ni-ni-ve rằng trong bốn mươi ngày nữa thành sẽ bị hủy diệt, Chúa đã chấp nhận sự hạ mình của dân Ni-ni-ve và gia hạn thời gian thử thách của họ; tuy vậy sứ điệp của Giô-na là do Đức Chúa Trời sai đi, và Ni-ni-ve đã được thử nghiệm theo ý muốn Ngài. Những người theo phái Phục Lâm tin rằng cũng một thể ấy Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ để trao lời cảnh cáo về sự phán xét. Họ tuyên bố: “Sứ điệp ấy đã thử lòng của tất cả những người đã nghe nó, và đã khơi dậy lòng yêu mến sự hiện đến của Chúa; hoặc đã khơi dậy một sự ghét bỏ, ít nhiều có thể nhận thấy được, nhưng Đức Chúa Trời biết, đối với sự đến của Ngài. Nó đã vạch ra một ranh giới,… để cho những ai sẽ xét lòng mình có thể biết họ đã ở bên nào của ranh giới ấy, nếu Chúa đã đến ngay lúc đó — liệu họ sẽ kêu lên, ‘Kìa, ấy là Đức Chúa Trời chúng ta; chúng ta đã trông đợi Ngài, và Ngài sẽ cứu chúng ta;’ hay họ sẽ kêu gọi các núi và các hòn đá đổ xuống trên mình để che giấu họ khỏi mặt Đấng ngồi trên ngôi, và khỏi cơn thạnh nộ của Chiên Con. Như vậy Đức Chúa Trời, như chúng tôi tin, đã thử dân sự Ngài, đã thử đức tin của họ, đã thử luyện họ, và xem liệu họ có lui bước, trong giờ thử thách, khỏi vị trí mà Ngài thấy thích hợp để đặt họ vào hay không; và liệu họ có từ bỏ thế gian này và nương cậy với lòng tin cậy trọn vẹn nơi lời của Đức Chúa Trời hay không.” — The Advent Herald and Signs of the Times Reporter, tập 8, số 14 (ngày 13 tháng 11 năm 1844). GC 406.1
Cảm xúc của những người vẫn tin rằng Đức Chúa Trời đã dẫn dắt họ trong kinh nghiệm quá khứ được bày tỏ qua lời của William Miller: “Nếu tôi được sống lại cuộc đời mình, với cùng bằng chứng mà tôi đã có khi ấy, để trung thực với Đức Chúa Trời và với loài người, tôi sẽ phải làm như tôi đã làm.” “Tôi hy vọng rằng tôi đã tẩy sạch áo xống mình khỏi huyết của các linh hồn. Tôi cảm thấy rằng, trong khả năng của mình, tôi đã giải thoát chính mình khỏi mọi tội lỗi trong sự đoán phạt họ.” “Dù tôi đã bị thất vọng hai lần,” người của Đức Chúa Trời này viết, “tôi vẫn chưa ngã lòng hay nản chí…. Niềm hy vọng của tôi về sự đến của Đấng Christ vẫn mạnh mẽ như bao giờ. Tôi chỉ làm điều mà, sau nhiều năm suy xét nghiêm trang, tôi cảm thấy là bổn phận trọng đại của mình phải làm. Nếu tôi có sai, thì đó là sai về phía lòng bác ái, tình yêu thương đối với đồng loại, và sự xác tín về bổn phận đối với Đức Chúa Trời.” “Có một điều tôi biết chắc, tôi chẳng rao giảng điều gì ngoài những điều tôi đã tin; và Đức Chúa Trời đã ở cùng tôi; quyền năng của Ngài đã được bày tỏ trong công việc, và nhiều điều tốt lành đã được thực hiện.” “Nhiều ngàn người, theo mọi biểu hiện bên ngoài, đã được thúc đẩy nghiên cứu Kinh Thánh qua sự rao giảng về kỳ hạn; và nhờ phương tiện đó, qua đức tin và sự rảy huyết của Đấng Christ, đã được giải hòa với Đức Chúa Trời.”—Bliss, trang 256, 255, 277, 280, 281. “Tôi chưa bao giờ tìm kiếm nụ cười của kẻ kiêu ngạo, cũng chẳng chùn bước khi thế gian cau mày. Nay tôi cũng sẽ không mua chuộc sự ưu ái của họ, cũng chẳng đi quá bổn phận để khiêu khích sự ghét bỏ của họ. Tôi sẽ không bao giờ cầu xin mạng sống mình từ tay họ, và tôi mong rằng cũng chẳng lùi bước trước việc mất đi mạng sống ấy, nếu Đức Chúa Trời trong sự quan phòng tốt lành của Ngài định liệu như vậy.”—J. White, Life of Wm. Miller, trang 315. GC 406.2
Đức Chúa Trời đã không từ bỏ dân sự Ngài; Đức Thánh Linh của Ngài vẫn ở cùng những ai không vội vàng chối bỏ ánh sáng mà họ đã nhận được, và lên án phong trào tái lâm. Trong thư tín gửi cho người Hê-bơ-rơ có những lời khích lệ và cảnh cáo dành cho những người bị thử thách, đang chờ đợi trong cơn khủng hoảng này: Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình, vốn có một phần thưởng lớn đã để dành cho. Vì anh em cần phải nhịn nhục, hầu cho khi đã làm theo ý muốn Đức Chúa Trời rồi, thì được như lời đã hứa cho mình. Còn ít lâu, thật ít lâu nữa, Thì Đấng đến sẽ đến; Ngài không chậm trễ đâu. Người Cong bình của ta sẽ cậy đức tin mà sống, Nhưng nếu lui đi thì linh hồn ta chẳng lấy làm đẹp chút nào. Về phần chúng ta, nào phải là kẻ lui đi cho hư mất đâu, bèn là kẻ giữ đức tin cho linh hồn được cứu rỗi.
(Hê-bơ-rơ 10:35-39) GC 407.1
Rằng lời khuyên này được gửi đến hội thánh trong những ngày sau rốt là điều hiển nhiên qua những lời chỉ về sự gần kề của sự đến của Chúa: “Vì còn ít lâu nữa, Đấng đến sẽ đến, và không chậm trễ đâu.” Và điều được ngụ ý rõ ràng là sẽ có một sự chậm trễ bề ngoài và Chúa dường như sẽ trì hoãn. Lời dạy được ban ra ở đây đặc biệt thích hợp với kinh nghiệm của những người Cơ-đốc tin vào sự tái lâm vào thời điểm này. Những người được nói đến ở đây đang có nguy cơ bị đắm chìm đức tin. Họ đã làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời khi đi theo sự dẫn dắt của Đức Thánh Linh và Lời Ngài; tuy nhiên họ không thể hiểu được mục đích của Ngài trong kinh nghiệm quá khứ của họ, cũng chẳng thể nhận ra con đường phía trước, và họ bị cám dỗ nghi ngờ liệu Đức Chúa Trời có thật sự dẫn dắt họ hay không. Vào lúc này những lời ấy thích hợp: “Người công bình sẽ sống bởi đức tin.” Khi ánh sáng rạng rỡ của “tiếng kêu lúc nửa đêm” đã chiếu trên lối đi của họ, và họ đã thấy những lời tiên tri được mở ra cùng với những dấu hiệu đang nhanh chóng được ứng nghiệm cho biết sự đến của Đấng Christ đã gần, thì họ đã bước đi, như có thể nói, bởi sự thấy. Nhưng bây giờ, bị đè nặng bởi những hy vọng bị tan vỡ, họ chỉ có thể đứng vững bởi đức tin nơi Đức Chúa Trời và nơi Lời Ngài. Thế gian nhạo báng nói rằng: “Các ngươi đã bị lừa dối. Hãy từ bỏ đức tin mình, và nói rằng phong trào tái lâm là của Sa-tan.” Nhưng Lời Đức Chúa Trời tuyên bố: “Nếu ai lui đi, thì linh hồn ta chẳng đẹp lòng kẻ ấy.” Chối bỏ đức tin mình lúc này, và phủ nhận quyền năng của Đức Thánh Linh đã đi kèm với sứ điệp, sẽ là lui đi về sự hư mất. Họ được khích lệ giữ lòng kiên định bởi những lời của Phao-lô: “Vậy chớ bỏ lòng dạn dĩ mình đi;” “anh em cần phải nhịn nhục,” “vì còn ít lâu nữa, Đấng đến sẽ đến, và không chậm trễ đâu.” Con đường an toàn duy nhất của họ là trân trọng ánh sáng mà họ đã nhận được từ Đức Chúa Trời, nắm giữ các lời hứa của Ngài, và tiếp tục tra xem Kinh Thánh, kiên nhẫn chờ đợi và trông mong để nhận thêm ánh sáng. GC 408.1