Cuộc Phục Hưng Tôn Giáo Vĩ Đại
Chương 20—Một Cuộc Phục Hưng Tôn Giáo Lớn
Một cuộc phục hưng tôn giáo lớn dưới sự rao giảng về sự tái lâm gần kề của Đấng Christ đã được báo trước trong lời tiên tri về sứ điệp của vị thiên sứ thứ nhất trong Khải Huyền 14. Một thiên sứ được thấy bay “giữa trời, có tin lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng và mọi dân tộc.” Với “tiếng lớn,” thiên sứ công bố sứ điệp: Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời đất, biển và các suối nước.
(Khải-huyền 14:7)Câu 6, 7. GC 355.1
Việc một thiên sứ được nói là sứ giả của lời cảnh báo này là điều có ý nghĩa. Qua sự thanh khiết, sự vinh hiển và quyền năng của sứ giả thiên thượng, sự khôn ngoan của Đức Chúa Trời đã vui lòng biểu thị đặc tính cao cả của công việc sẽ được hoàn thành bởi sứ điệp này và quyền năng cùng sự vinh hiển sẽ đi kèm với nó. Và việc thiên sứ bay “giữa trời,” “tiếng lớn” mà lời cảnh báo được phát ra, và sự truyền bá nó cho tất cả “dân cư trên đất”—“cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng và mọi dân tộc”—cho thấy sự mau chóng và tầm lan rộng khắp thế giới của phong trào này. GC 355.2
Chính sứ điệp này soi sáng về thời điểm phong trào này sẽ diễn ra. Nó được tuyên bố là một phần của “tin lành đời đời;” và nó loan báo sự mở đầu của sự phán xét. Sứ điệp về sự cứu rỗi đã được rao giảng trong mọi thời đại; nhưng sứ điệp này là một phần của tin lành chỉ có thể được công bố trong những ngày sau rốt, vì chỉ khi ấy mới đúng là giờ phán xét đã đến. Các lời tiên tri trình bày một chuỗi các sự kiện dẫn xuống đến sự mở đầu của sự phán xét. Điều này đặc biệt đúng với sách Đa-ni-ên. Nhưng phần lời tiên tri của ông liên quan đến những ngày sau rốt, Đa-ni-ên được truyền phải đóng lại và niêm phong “cho đến kỳ cuối cùng.” Không phải cho đến khi chúng ta đến thời kỳ này thì một sứ điệp về sự phán xét mới có thể được công bố, dựa trên sự ứng nghiệm của các lời tiên tri này. Nhưng vào kỳ cuối cùng, tiên tri nói: Còn như ngươi, hỡi Đa-ni-ên, ngươi hãy đóng lại những lời này, và hãy đóng ấn sách này cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên.
(Đa-ni-ên 12:4)Đa-ni-ên 12:4. GC 355.3
Sứ đồ Phao-lô đã cảnh báo hội thánh đừng trông đợi sự tái lâm của Đấng Christ trong thời của ông. “Ngày đó sẽ không đến,” ông nói, Mặc ai dùng cách nào, cũng đừng để họ lừa dối mình. Vì phải có sự bỏ đạo đến trước, và có người tội ác, con của sự hư mất hiện ra,
(II Tê-sa-lô-ni-ca 2:3)Tê-sa-lô-ni-ca 2:3. Không phải cho đến sau sự bội đạo lớn, và thời gian dài của triều đại “người tội ác,” chúng ta mới có thể trông đợi sự tái lâm của Chúa chúng ta. “Người tội ác,” cũng được gọi là “sự mầu nhiệm của điều gian ác,” “con của sự hư mất,” và “kẻ đại ác,” tiêu biểu cho giáo hoàng, là quyền lực, như đã được báo trước trong lời tiên tri, sẽ duy trì quyền tối thượng của mình trong 1260 năm. Thời kỳ này đã kết thúc vào năm 1798. Sự tái lâm của Đấng Christ không thể xảy ra trước thời điểm đó. Phao-lô bao trùm với lời cảnh báo của mình toàn bộ thời kỳ Cơ-đốc cho đến năm 1798. Chính sau thời điểm đó sứ điệp về sự tái lâm của Đấng Christ mới được công bố. GC 356.1
Chưa bao giờ có sứ điệp như thế được ban ra trong các thời đại quá khứ. Phao-lô, như chúng ta đã thấy, đã không rao giảng điều đó; ông chỉ cho anh em mình hướng đến tương lai xa xăm thời ấy về sự tái lâm của Chúa. Các nhà Cải chánh đã không công bố điều đó. Martin Lu-thơ đặt sự phán xét khoảng ba trăm năm trong tương lai kể từ thời của ông. Nhưng kể từ năm 1798, sách Đa-ni-ên đã được mở niêm, sự hiểu biết về các lời tiên tri đã gia tăng, và nhiều người đã công bố sứ điệp trọng đại về sự phán xét gần kề. GC 356.2
Giống như cuộc Cải chánh vĩ đại của thế kỷ thứ mười sáu, phong trào tái lâm xuất hiện tại các quốc gia khác nhau của Cơ-đốc Giáo cùng một thời điểm. Ở cả Âu châu và Mỹ châu, những người có đức tin và cầu nguyện đã được hướng dẫn đến việc nghiên cứu các lời tiên tri, và, lần theo các ghi chép được soi dẫn, họ đã thấy bằng chứng thuyết phục rằng sự kết thúc của mọi sự đã gần kề. Tại nhiều xứ khác nhau có những nhóm Cơ-đốc nhân biệt lập, chỉ qua việc nghiên cứu Kinh Thánh, đã đi đến niềm tin rằng sự tái lâm của Đấng Cứu Thế đã gần. GC 357.1
Năm 1821, ba năm sau khi Miller đi đến sự giải thích các lời tiên tri chỉ về thời điểm của sự phán xét, Tiến sĩ Joseph Wolff, “nhà truyền giáo cho thế giới,” đã bắt đầu công bố sự tái lâm gần kề của Chúa. Wolff sinh ra tại Đức, trong một gia đình Hê-bơ-rơ, cha ông là một thầy ra-bi Do Thái. Khi còn rất nhỏ, ông đã tin chắc về lẽ thật của Cơ-đốc Giáo. Có một tâm trí năng động, ham tìm hiểu, ông đã chăm chú lắng nghe các cuộc trò chuyện diễn ra trong nhà cha mình khi những người Hê-bơ-rơ sùng đạo tụ họp hằng ngày để thuật lại những hy vọng và mong đợi của dân tộc họ, sự vinh hiển của Đấng Mê-si sẽ đến, và sự khôi phục của Y-sơ-ra-ên. Một ngày nọ nghe nhắc đến Giê-su người Na-xa-rét, cậu bé hỏi Ngài là ai. “Một người Do Thái có tài năng lớn nhất,” là câu trả lời; “nhưng vì Ngài tự xưng là Đấng Mê-si, nên tòa án Do Thái đã kết án tử hình Ngài.” “Vì sao,” cậu bé hỏi tiếp, “Giê-ru-sa-lem bị hủy phá, và vì sao chúng ta bị lưu đày?” “Than ôi, than ôi!” cha cậu trả lời, “vì người Do Thái đã giết các tiên tri.” Ý nghĩ lập tức nảy sinh trong tâm trí đứa trẻ: “Có lẽ Giê-su cũng là một tiên tri, và người Do Thái đã giết Ngài khi Ngài vô tội."— Travels and Adventures of the Rev. Joseph Wolff, tập 1, trang 6. Cảm nhận này mạnh mẽ đến nỗi, dù bị cấm vào nhà thờ Cơ-đốc, cậu vẫn thường nán lại bên ngoài để lắng nghe bài giảng. GC 357.2
Khi chỉ mới bảy tuổi, cậu đang khoe với một người hàng xóm Cơ-đốc lớn tuổi về chiến thắng tương lai của Y-sơ-ra-ên khi Đấng Mê-si đến, thì ông cụ ân cần nói: “Cháu yêu quý, ta sẽ cho cháu biết ai là Đấng Mê-si thật: Đó là Giê-su người Na-xa-rét,… Đấng mà tổ tiên cháu đã đóng đinh, như họ đã làm với các tiên tri xưa. Hãy về nhà và đọc chương năm mươi ba của sách Ê-sai, và cháu sẽ tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời."— Sách đã dẫn, tập 1, trang 7. Sự tin chắc lập tức chiếm lấy lòng cậu. Cậu về nhà và đọc đoạn Kinh Thánh, kinh ngạc khi thấy nó đã ứng nghiệm cách trọn vẹn trong Giê-su người Na-xa-rét. Lời của người Cơ-đốc có đúng không? Cậu bé hỏi cha mình về lời giải thích lời tiên tri này, nhưng chỉ gặp sự im lặng nghiêm khắc đến nỗi cậu không bao giờ dám nhắc lại chủ đề ấy nữa. Tuy nhiên, điều này chỉ làm tăng thêm ước muốn của cậu được biết nhiều hơn về Cơ-đốc Giáo. GC 357.3
Sự hiểu biết mà cậu tìm kiếm đã bị cố tình giấu đi trong ngôi nhà Do Thái của cậu; nhưng khi chỉ mới mười một tuổi, cậu đã rời khỏi nhà cha mình và đi ra thế giới để tự mình tìm kiếm một nền giáo dục, để chọn tôn giáo và sự nghiệp của mình. Cậu tìm được một mái nhà trong một thời gian với những người bà con, nhưng chẳng bao lâu sau bị họ đuổi đi như một kẻ bội đạo, và một mình không xu dính túi cậu phải tự mình bươn chải giữa những người xa lạ. Cậu đi từ nơi này đến nơi khác, học tập chăm chỉ và tự nuôi thân bằng cách dạy tiếng Hê-bơ-rơ. Qua ảnh hưởng của một giáo viên Công Giáo, cậu được dẫn đến chỗ chấp nhận đức tin La-mã và hình thành ý định trở thành một nhà truyền giáo cho chính dân tộc mình. Với mục tiêu này, vài năm sau, cậu đến theo đuổi việc học tại Trường Cao đẳng Truyền bá Đức tin ở La-mã. Tại đây thói quen tư tưởng độc lập và lời nói thẳng thắn của cậu đã mang đến cho cậu điều tiếng là người lạc đạo. Cậu công khai công kích những sự lạm dụng của giáo hội và nhấn mạnh sự cần thiết của cải cách. Dù ban đầu được các phẩm trật giáo hoàng đối đãi cách ưu ái đặc biệt, sau một thời gian cậu đã bị chuyển khỏi La-mã. Dưới sự giám sát của giáo hội, cậu đi từ nơi này đến nơi khác, cho đến khi trở nên rõ ràng rằng cậu không bao giờ có thể bị khuất phục dưới ách nô lệ của chủ nghĩa La-mã. Cậu bị tuyên bố là không thể sửa đổi được và được để cho tự do đi đâu tùy ý. Bấy giờ cậu tìm đường sang Anh và, xưng nhận đức tin Tin Lành, gia nhập Giáo hội Anh Quốc. Sau hai năm học tập, cậu lên đường vào năm 1821, bắt đầu sứ mạng của mình. GC 358.1
Trong khi Wolff chấp nhận lẽ thật vĩ đại về sự giáng sinh lần thứ nhất của Đấng Christ với tư cách là “Người từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm,” ông cũng thấy rằng các lời tiên tri đưa ra trước mắt chúng ta với sự rõ ràng tương đương về sự tái lâm của Ngài trong quyền năng và vinh hiển. Và trong khi ông tìm cách dẫn dân mình đến với Giê-su người Na-xa-rét là Đấng đã được hứa ban, và chỉ cho họ sự giáng sinh lần thứ nhất của Ngài trong sự hạ mình như một của lễ chuộc tội lỗi loài người, ông cũng dạy họ về sự tái lâm của Ngài với tư cách là vua và đấng giải cứu. GC 358.2
“Giê-su người Na-xa-rét, Đấng Mê-si thật,” ông nói, “là Đấng mà tay chân đã bị đâm, là Đấng đã bị đem đi như chiên con đến lò cạo, là Người từng trải sự buồn bực và biết sự đau ốm, là Đấng đã đến lần thứ nhất sau khi cây phủ việt đã lìa khỏi Giu-đa, và quyền lập pháp đã lìa khỏi giữa hai chân người; sẽ đến lần thứ hai trong các đám mây trên trời, cùng với tiếng kèn của Thiên sứ trưởng” (Joseph Wolff, Researches and Missionary Labors, trang 62) “và sẽ đứng trên núi Ô-li-ve; và quyền thống trị, vốn đã được giao cho A-đam trên muôn vật Đức Chúa Trời phán rằng: Chúng ta hãy làm nên loài người như hình ta và theo tượng ta, đặng quản trị loài cá biển, loài chim trời, loài súc vật, loài côn trùng bò trên mặt đất, và khắp cả đất.
(Sáng-thế Ký 1:26)Ngài lại phán cùng A-đam rằng: Vì ngươi nghe theo lời vợ mà ăn trái cây ta đã dặn không nên ăn, vậy, đất sẽ bị rủa sả vì ngươi; trọn đời ngươi phải chịu khó nhọc mới có vật đất sanh ra mà ăn.
(Sáng-thế Ký 3:17) và đã bị ông đánh mất, sẽ được ban cho Đức Chúa Giê-su. Ngài sẽ là vua trên cả đất. Những tiếng than thở và rên siết của muôn vật sẽ chấm dứt, nhưng các bài ca ngợi khen và cảm tạ sẽ được vang lên… Khi Đức Chúa Giê-su đến trong sự vinh hiển của Cha Ngài, cùng với các thiên sứ thánh,… những tín đồ đã chết sẽ sống lại trước. Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết.
(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16) nhưng mỗi người theo thứ tự riêng của mình: Đấng Cơ-đốc là trái đầu mùa; rồi tới ngày Đấng Cơ-đốc đến, những kẻ thuộc về Ngài sẽ sống lại.
(I Cô-rinh-tô 15:23) Đây là điều mà chúng ta, những người Cơ-đốc, gọi là sự sống lại thứ nhất. Rồi thế giới loài vật sẽ thay đổi bản tánh của nó Bấy giờ muông sói sẽ ở với chiên con, beo nằm với dê con; bò con, sư tử con với bò nuôi mập cùng chung một chỗ, một đứa con trẻ sẽ dắt chúng nó đi. Bò cái sẽ ăn với gấu; các con nhỏ chúng nó nằm chung, sư tử ăn cỏ khô như bò. Trẻ con đương bú sẽ chơi kề ổ rắn hổ mang, trẻ con thôi bú sẽ thò tay vào hang rắn lục. Nó chẳng làm hại, chẳng giết ai trong cả núi thánh của ta; vì thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển.
(Ê-sai 11:6-9) và sẽ phục tùng Đức Chúa Giê-su. [[BIBLE:Psalm 8]]. Sự bình an phổ quát sẽ ngự trị.”—Journal of the Rev. Joseph Wolff, trang 378, 379. “Chúa lại sẽ đoái xem đất, và phán: ‘Kìa, thật là rất tốt lành.’”—Sách đã dẫn, trang 294. GC 359.1
Wolff tin rằng sự đến của Chúa đã gần kề, vì sự giải thích của ông về các thời kỳ tiên tri đã đặt sự hoàn tất vĩ đại vào trong vòng vài năm so với thời điểm mà Miller đã chỉ ra. Đối với những người trích dẫn Kinh Thánh rằng, “Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết,” để cho rằng loài người chẳng thể biết gì về sự gần gũi của sự tái lâm, Wolff đáp lại: “Có phải Chúa chúng ta đã nói rằng ngày và giờ đó sẽ không bao giờ được biết đến? Có phải Ngài đã không ban cho chúng ta các dấu hiệu của thời đại, để ít ra chúng ta có thể biết sự đến gần của Ngài, như người ta biết sự đến gần của mùa hạ khi cây vả đâm chồi nẩy lá? Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới.
(Ma-thi-ơ 24:32)Chẳng lẽ chúng ta không bao giờ được biết thời kỳ đó, trong khi chính Ngài khuyên chúng ta không chỉ đọc tiên tri Đa-ni-ên mà còn phải hiểu sách ấy? Và chính trong sách Đa-ni-ên, nơi có nói rằng những lời đó được đóng lại cho đến kỳ cuối cùng (đó là trường hợp trong thời của ông), và rằng ‘nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại’ (một thành ngữ tiếng Hê-bơ-rơ chỉ việc quan sát và suy xét về thời gian), ‘và sự học thức’ (liên quan đến thời gian đó) ‘sẽ được thêm lên.’ Còn như ngươi, hỡi Đa-ni-ên, ngươi hãy đóng lại những lời này, và hãy đóng ấn sách này cho đến kỳ cuối cùng. Nhiều kẻ sẽ đi qua đi lại, và sự học thức sẽ được thêm lên.
(Đa-ni-ên 12:4) Ngoài ra, bằng lời này Chúa chúng ta không có ý nói rằng sự đến gần của thời điểm sẽ không được biết đến, nhưng chính ‘ngày và giờ đó thì chẳng có ai biết.’ Đủ rồi, Ngài có phán rằng, qua các dấu hiệu của thời đại, chúng ta sẽ biết đủ để chuẩn bị cho sự đến của Ngài, như Nô-ê đã chuẩn bị chiếc tàu.”—Wolff, Researches and Missionary Labors, trang 404, 405. GC 359.2
Liên quan đến phương pháp phổ biến về việc giải nghĩa, hay giải nghĩa sai, Kinh Thánh, Wolff viết: “Phần lớn hội thánh Cơ-đốc đã quay khỏi ý nghĩa đơn sơ của Kinh Thánh, và đã xoay về hệ thống ảo tưởng của những người theo Phật giáo, là những người tin rằng hạnh phúc tương lai của loài người sẽ bao gồm việc bay lượn trong không trung, và cho rằng khi họ đọc chữ ‘người Do Thái’ thì phải hiểu là ‘dân ngoại’; và khi họ đọc ‘Giê-ru-sa-lem,’ thì phải hiểu là ‘hội thánh’; và nếu nói ‘đất,’ thì có nghĩa là ‘trời’; và đối với sự đến của Chúa, họ phải hiểu là sự tiến bộ của các hội truyền giáo; và việc đi lên núi của nhà Chúa, có nghĩa là một buổi họp lớn của những người theo phái Giám lý.”—Journal of the Rev. Joseph Wolff, trang 96. GC 360.1
Trong suốt hai mươi bốn năm, từ 1821 đến 1845, Wolff đi lại khắp nơi: tại châu Phi, ông thăm Ai Cập và Abyssinia; tại châu Á, ông đi khắp Pa-lét-tin, Sy-ri, Ba Tư, Bokhara, và Ấn Độ. Ông cũng đã thăm Hoa Kỳ, trên đường đi ông đã giảng trên đảo Saint Helena. Ông đến New York vào tháng Tám năm 1837; và sau khi giảng tại thành phố ấy, ông đã giảng tại Philadelphia và Baltimore, và cuối cùng đi đến Washington. Tại đây, ông thuật rằng, “theo một đề nghị được cựu Tổng thống John Quincy Adams đưa ra, tại một trong hai viện của Quốc hội, Hạ viện đã nhất trí cho phép tôi sử dụng Sảnh Quốc hội để thuyết giảng, và tôi đã thuyết giảng vào một ngày Thứ Bảy, được vinh dự có sự hiện diện của tất cả các thành viên Quốc hội, cũng như giám mục của Virginia, và của các giáo sĩ và các công dân Washington. Cùng vinh dự ấy đã được các thành viên chính quyền tiểu bang New Jersey và Pennsylvania dành cho tôi, trước sự hiện diện của họ, tôi đã thuyết giảng về những khảo cứu của tôi tại châu Á, và cũng về sự trị vì đích thân của Đức Chúa Giê-su.”—Sách đã dẫn, trang 398, 399. GC 360.2
Tiến sĩ Wolff đi lại trong những xứ man rợ nhất mà không có sự bảo vệ của bất kỳ chính quyền châu Âu nào, chịu đựng nhiều gian khổ và bị vây quanh bởi vô số hiểm nguy. Ông bị đánh đập vào lòng bàn chân và bị bỏ đói, bị bán làm nô lệ, và ba lần bị kết án tử hình. Ông bị bọn cướp hãm hại, và đôi khi gần chết vì khát. Có lần ông bị tước đoạt mọi thứ sở hữu và bị bỏ lại phải đi bộ hàng trăm dặm qua các núi non, với tuyết đập vào mặt và đôi chân trần tê cóng vì tiếp xúc với mặt đất đóng băng. GC 361.1
Khi bị khuyên không nên đi tay không giữa các bộ lạc man rợ và thù địch, ông tuyên bố rằng chính mình “đã được trang bị vũ khí”—“sự cầu nguyện, lòng nhiệt thành vì Đấng Christ, và sự tin cậy vào sự giúp đỡ của Ngài.” Ông nói: “Tôi cũng được trang bị bằng lòng yêu mến Đức Chúa Trời và người lân cận trong tấm lòng mình, và Kinh Thánh ở trong tay tôi.”—W.H.D. Adams, In Perils Oft, trang 192. Ông mang theo Kinh Thánh bằng tiếng Hê-bơ-rơ và tiếng Anh bất cứ nơi nào ông đi. Về một trong những chuyến đi sau này của ông, ông nói: “Tôi… giữ Kinh Thánh mở ra trong tay tôi. Tôi cảm thấy quyền năng của tôi là ở trong Sách ấy, và sức mạnh của Sách ấy sẽ nâng đỡ tôi.”—Sách đã dẫn, trang 201. GC 361.2
Như vậy, ông đã kiên trì trong công việc của mình cho đến khi sứ điệp về sự phán xét đã được đem đến một phần lớn của thế giới có người ở. Giữa người Do Thái, người Thổ, người Parsee, người Hin-đu, và nhiều dân tộc và sắc dân khác, ông phân phát Lời Đức Chúa Trời trong các thứ tiếng này và khắp nơi ông loan báo về sự trị vì đang đến gần của Đấng Mê-si. GC 361.3
Trong những chuyến đi của ông tại Bokhara, ông đã tìm thấy giáo lý về sự đến gần của Chúa được một dân tộc xa xôi và biệt lập giữ gìn. Ông nói rằng người Ả-rập tại Yemen, “có một quyển sách tên là Seera, thông báo về sự tái lâm của Đấng Christ và sự trị vì của Ngài trong vinh hiển; và họ trông đợi những biến cố lớn sẽ xảy đến vào năm 1840.”—Journal of the Rev. Joseph Wolff, trang 377. “Tại Yemen… tôi đã trải qua sáu ngày với con cháu của Rê-cáp. Họ không uống rượu, không trồng vườn nho, không gieo giống, và sống trong các lều trại, và ghi nhớ Giô-na-đáp tốt lành thuở xưa, con trai của Rê-cáp; và tôi đã tìm thấy trong số họ có các con cháu của Y-sơ-ra-ên, thuộc chi phái Đan,… là những người cùng với con cháu của Rê-cáp trông đợi sự đến mau chóng của Đấng Mê-si trong các đám mây trên trời.”—Sách đã dẫn, trang 389. GC 361.4
Một niềm tin tương tự đã được một giáo sĩ khác tìm thấy đang tồn tại tại xứ Tác-ta-ri. Một thầy tế lễ người Tác-ta đã đặt câu hỏi với vị giáo sĩ rằng khi nào Đấng Christ sẽ đến lần thứ hai. Khi vị giáo sĩ đáp rằng ông không biết gì về điều đó, thầy tế lễ đó dường như rất ngạc nhiên về sự thiếu hiểu biết như thế nơi một người tự xưng là giáo sư Kinh Thánh, và ông đã trình bày niềm tin riêng của mình, đặt nền trên lời tiên tri, rằng Đấng Christ sẽ đến vào khoảng năm 1844. GC 362.1
Sớm nhất vào năm 1826, sứ điệp tái lâm đã bắt đầu được rao giảng tại nước Anh. Phong trào ở đây không có hình thức rõ rệt như ở Mỹ; thời điểm chính xác của sự tái lâm không được giảng dạy rộng rãi đến thế, nhưng lẽ thật vĩ đại về sự đến mau chóng của Đấng Christ trong quyền năng và vinh hiển đã được công bố rộng khắp. Và điều này không chỉ xảy ra giữa những người ly khai và những người không theo quốc giáo. Mourant Brock, một nhà văn người Anh, cho biết rằng khoảng bảy trăm giáo sĩ của Giáo hội Anh Quốc đã dấn thân rao giảng “tin lành về nước Đức Chúa Trời.” Sứ điệp chỉ về năm 1844 là thời điểm Chúa tái lâm cũng đã được công bố tại Vương quốc Anh. Các ấn phẩm về sự tái lâm từ Hoa Kỳ được lưu hành rộng rãi. Sách vở và tạp chí được tái bản tại Anh. Và vào năm 1842, Robert Winter, một người sinh trưởng tại Anh, là người đã tiếp nhận đức tin về sự tái lâm tại Mỹ, đã trở về quê hương để loan báo sự đến của Chúa. Nhiều người đã hiệp cùng ông trong công việc, và sứ điệp về sự phán xét đã được công bố tại nhiều vùng của nước Anh. GC 362.2
Tại Nam Mỹ, giữa cảnh dã man và sự lộng hành của giới thầy tu, Lacunza, một người Tây Ban Nha và là một tu sĩ Dòng Tên, đã tìm đến Kinh Thánh và nhờ đó nhận được lẽ thật về sự tái lâm sắp đến của Đấng Christ. Bị thôi thúc phải đưa ra lời cảnh báo, nhưng lại muốn tránh sự chỉ trích của Rô-ma, ông đã xuất bản quan điểm của mình dưới bút danh “Rabbi Ben-Ezra”, tự xưng là một người Do Thái đã được cải đạo. Lacunza sống vào thế kỷ mười tám, nhưng phải đến khoảng năm 1825, cuốn sách của ông mới được mang đến Luân Đôn và được dịch sang tiếng Anh. Việc xuất bản này đã làm sâu sắc thêm sự quan tâm đang được khơi dậy tại Anh quốc về đề tài sự tái lâm. GC 363.1
Tại Đức, giáo lý này đã được Bengel giảng dạy vào thế kỷ mười tám; ông là một mục sư thuộc Giáo hội Lu-thơ và là một học giả, nhà phê bình Kinh Thánh nổi tiếng. Sau khi hoàn tất việc học, Bengel đã “dâng mình cho việc nghiên cứu thần học, một ngành mà tính nghiêm trang và tâm hồn mộ đạo của ông, được đào sâu bởi sự rèn luyện và kỷ luật từ thuở thiếu thời, đã tự nhiên hướng ông đến. Giống như những thanh niên có tâm hồn sâu sắc khác, trước và sau ông, ông đã phải tranh đấu với những nghi ngờ và khó khăn về mặt tôn giáo, và ông đã nhắc đến, với nhiều cảm xúc, ‘nhiều mũi tên đã đâm thấu tấm lòng đáng thương của ông, và khiến tuổi trẻ của ông trở nên khó nhọc.’” Trở thành một thành viên của hội đồng giáo phẩm Wurttemberg, ông đã bênh vực sự nghiệp tự do tôn giáo. “Trong khi bảo vệ các quyền và đặc quyền của hội thánh, ông là người ủng hộ mọi sự tự do hợp lý được dành cho những ai cảm thấy bị ràng buộc, vì lý do lương tâm, phải rút lui khỏi sự thông công của hội thánh.”— Encyclopaedia Britannica, ấn bản lần thứ 9, mục “Bengel.” Những hiệu quả tốt đẹp của chính sách này vẫn còn được cảm nhận tại quê hương ông. GC 363.2
Chính trong khi soạn một bài giảng từ Khải Huyền 21 cho Chúa nhật trước lễ Giáng sinh mà ánh sáng về sự tái lâm của Đấng Christ đã bừng lên trong tâm trí Bengel. Những lời tiên tri của sách Khải Huyền được tỏ ra cho sự hiểu biết của ông như chưa từng có trước đó. Bị tràn ngập bởi cảm nhận về tầm quan trọng vĩ đại và vinh quang vượt trội của những cảnh tượng mà tiên tri đã trình bày, ông buộc phải tạm rời khỏi sự suy gẫm về đề tài này một thời gian. Trên tòa giảng, nó lại hiện ra với ông với tất cả sự sống động và quyền năng của nó. Từ lúc đó, ông đã dâng mình cho việc nghiên cứu các lời tiên tri, đặc biệt là các lời tiên tri của sách Khải Huyền, và sớm đi đến niềm tin rằng chúng chỉ đến sự đến gần của Đấng Christ. Thời điểm ông ấn định cho sự tái lâm chỉ cách thời điểm sau này được Miller giữ vài năm. GC 363.3
Các tác phẩm của Bengel đã được phổ biến khắp Cơ-đốc Giáo. Các quan điểm của ông về lời tiên tri được tiếp nhận khá rộng rãi tại tiểu bang Wurttemberg của ông, và ở một mức độ nào đó tại các phần khác của nước Đức. Phong trào tiếp tục sau khi ông qua đời, và sứ điệp về sự tái lâm được nghe thấy ở Đức cùng lúc nó đang thu hút sự chú ý tại các xứ khác. Từ sớm, một số tín hữu đã đi đến nước Nga và lập các làng định cư tại đó, và đức tin về sự đến gần của Đấng Christ vẫn còn được giữ bởi các hội thánh người Đức tại xứ ấy. GC 364.1
Ánh sáng cũng chiếu đến nước Pháp và Thụy Sĩ. Tại Geneva, nơi Farel và Calvin đã truyền bá lẽ thật của cuộc Cải chánh, Gaussen đã rao giảng sứ điệp về sự tái lâm. Khi còn là một học sinh, Gaussen đã gặp phải tinh thần duy lý thịnh hành khắp châu Âu trong phần cuối thế kỷ mười tám và phần đầu thế kỷ mười chín; và khi bước vào chức vụ mục sư, ông không những dốt nát về đức tin chân thật, mà còn có khuynh hướng hoài nghi. Thuở thiếu thời, ông đã quan tâm đến việc nghiên cứu lời tiên tri. Sau khi đọc cuốn Cổ Sử của Rollin, sự chú ý của ông được hướng đến chương hai của sách Đa-ni-ên, và ông kinh ngạc trước sự chính xác kỳ diệu mà lời tiên tri đã được ứng nghiệm, như được thấy trong ký thuật của sử gia. Đây là một bằng chứng về sự linh cảm của Kinh Thánh, phục vụ như một cái neo cho ông giữa những nguy hiểm của những năm về sau. Ông không thể thỏa mãn với sự dạy dỗ của chủ nghĩa duy lý, và trong khi nghiên cứu Kinh Thánh và tìm kiếm ánh sáng rõ hơn, sau một thời gian, ông đã được dẫn đến một đức tin chắc chắn. GC 364.2
Khi ông tiếp tục sự nghiên cứu các lời tiên tri, ông đi đến niềm tin rằng sự đến của Chúa đã gần. Bị ấn tượng bởi sự trọng đại và tầm quan trọng của lẽ thật lớn lao này, ông mong muốn đem nó đến trước dân chúng; nhưng niềm tin phổ biến rằng các lời tiên tri của Đa-ni-ên là những điều huyền bí và không thể hiểu được là một trở ngại nghiêm trọng cho ông. Cuối cùng ông đã quyết định — như Farel đã làm trước ông trong việc truyền giáo ở Geneva — bắt đầu với trẻ em, qua đó ông hy vọng sẽ gây được sự quan tâm của các bậc cha mẹ. GC 364.3
“Tôi mong điều này được hiểu rõ,” sau này ông nói khi đề cập đến mục đích của mình trong công việc này, “không phải vì tầm quan trọng nhỏ bé của nó, mà trái lại vì giá trị lớn lao của nó, mà tôi muốn trình bày nó dưới hình thức quen thuộc này, và tôi đã hướng nó đến các em thiếu nhi. Tôi mong muốn được lắng nghe, và tôi sợ rằng tôi sẽ không được lắng nghe nếu tôi nói với những người lớn trước.” “Vì vậy tôi quyết định đi đến những người trẻ nhất. Tôi tập hợp một đám thính giả trẻ em; nếu nhóm ấy lớn thêm, nếu thấy rằng chúng lắng nghe, hài lòng, quan tâm, rằng chúng hiểu và giải thích được đề tài, tôi chắc chắn sẽ sớm có một vòng tròn thứ hai, và đến lượt họ, những người lớn sẽ thấy rằng đáng để ngồi xuống và nghiên cứu. Khi việc này được thực hiện, sự nghiệp đã thắng.”—L. Gaussen, Daniel the Prophet, tập 2, Lời tựa. GC 365.1
Sự nỗ lực đã thành công. Khi ông nói với trẻ em, những người lớn tuổi hơn cũng đến lắng nghe. Các hành lang của nhà thờ ông đầy những thính giả chăm chú. Trong số đó có những người có địa vị và học thức, những khách lạ và người ngoại quốc viếng thăm Geneva; và nhờ vậy sứ điệp được mang đến các nơi khác. GC 365.2
Được khích lệ bởi thành công này, Gaussen đã xuất bản các bài học của mình, với hy vọng thúc đẩy việc nghiên cứu các sách tiên tri trong các hội thánh của những dân nói tiếng Pháp. “Việc xuất bản sự dạy dỗ dành cho trẻ em,” Gaussen nói, “là nói với người lớn, là những người thường bỏ qua các sách như vậy dưới lời viện cớ sai trật rằng chúng mờ tối, ‘Làm sao chúng có thể mờ tối, khi chính con cái của các ngươi hiểu được chúng?’” “Tôi có một ước ao lớn lao,” ông nói thêm, “là làm cho sự hiểu biết về các lời tiên tri trở nên phổ biến trong các bầy chiên của chúng ta, nếu có thể.” “Quả thật, không có sự nghiên cứu nào, dường như đối với tôi, đáp ứng nhu cầu của thời đại tốt hơn.” “Chính nhờ điều này mà chúng ta sẽ chuẩn bị cho cơn hoạn nạn gần kề, và tỉnh thức cùng trông đợi Đức Chúa Giê-su Christ.” GC 365.3
Mặc dù là một trong những nhà thuyết giáo xuất sắc nhất và được yêu mến nhất trong tiếng Pháp, Gaussen sau một thời gian đã bị đình chỉ khỏi chức vụ mục sư, với cớ chính là thay vì dùng sách giáo lý của hội thánh — một cuốn cẩm nang nhạt nhẽo và duy lý, hầu như không có đức tin tích cực — ông đã dùng Kinh Thánh trong việc dạy dỗ thanh thiếu niên. Sau đó ông trở thành giáo sư tại một trường thần học, trong khi vào Chúa nhật ông tiếp tục công việc của mình với tư cách là người dạy giáo lý, nói với trẻ em và dạy dỗ chúng Kinh Thánh. Các tác phẩm của ông về lời tiên tri cũng đã khơi dậy nhiều sự quan tâm. Từ ghế giáo sư, qua báo chí, và trong công việc mà ông ưa thích là dạy dỗ trẻ em, ông đã tiếp tục trong nhiều năm thi hành một ảnh hưởng rộng lớn và là công cụ trong việc hướng sự chú ý của nhiều người đến sự nghiên cứu các lời tiên tri là những điều cho thấy sự đến của Chúa đã gần. GC 366.1
Tại Scandinavia, sứ điệp tái lâm cũng được rao giảng, và một sự quan tâm rộng rãi đã được nhen lên. Nhiều người được đánh thức khỏi sự an toàn hờ hững của mình để xưng nhận và từ bỏ tội lỗi, và tìm kiếm sự tha thứ trong danh Đấng Christ. Nhưng hàng giáo phẩm của giáo hội nhà nước đã chống lại phong trào này, và qua ảnh hưởng của họ, một số người đã rao giảng sứ điệp bị tống giam. Tại nhiều nơi, nơi mà những người rao giảng về sự đến gần của Chúa bị bịt miệng như vậy, Đức Chúa Trời đã đẹp lòng sai sứ điệp, theo một cách kỳ diệu, qua các trẻ em nhỏ. Vì chúng chưa đến tuổi thành niên, luật pháp của nhà nước không thể kềm chế chúng, và chúng được phép nói mà không bị quấy rầy. GC 366.2
Phong trào này chủ yếu diễn ra trong tầng lớp lao động thấp, và chính tại những căn nhà khiêm nhường của những người lao động mà dân chúng tụ họp để nghe lời cảnh báo. Những em bé rao giảng ấy phần lớn là con của các gia đình nghèo sống trong những túp lều. Một số các em chỉ mới sáu hoặc tám tuổi; và dù đời sống của các em làm chứng rằng các em yêu mến Đấng Cứu Thế, và cố gắng sống vâng theo các mạng lệnh thánh của Đức Chúa Trời, nhưng thông thường các em chỉ bày tỏ trí hiểu và khả năng như bao trẻ em khác ở độ tuổi ấy. Tuy nhiên, khi đứng trước dân chúng, rõ ràng là các em được cảm động bởi một ảnh hưởng vượt quá các tài năng tự nhiên của mình. Giọng nói và phong thái thay đổi, và với quyền năng trang nghiêm các em công bố lời cảnh báo về sự phán xét, dùng chính những lời trong Kinh Thánh: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến.” Các em quở trách tội lỗi của dân chúng, không chỉ lên án sự vô luân và thói hư tật xấu, mà còn khiển trách lòng yêu thế gian và sự sa sút thuộc linh, và cảnh báo người nghe phải mau chạy trốn khỏi cơn thạnh nộ hầu đến. GC 366.3
Dân chúng nghe với lòng run sợ. Đức Thánh Linh cáo trách lòng họ. Nhiều người được dẫn dắt để tra xem Kinh Thánh với sự quan tâm mới mẻ và sâu sắc hơn, những kẻ say sưa và vô luân được sửa đổi, những người khác từ bỏ những việc làm gian dối, và một công việc đã được thực hiện rõ ràng đến nỗi ngay cả các mục sư của giáo hội nhà nước cũng buộc phải nhìn nhận rằng bàn tay của Đức Chúa Trời đang hành động trong phong trào ấy. GC 367.1
Ấy là ý muốn của Đức Chúa Trời rằng tin tức về sự đến của Đấng Cứu Thế phải được rao ra trong các xứ Scandinavia; và khi tiếng của những đầy tớ Ngài bị bắt im lặng, Ngài đã đặt Thần Linh Ngài trên con trẻ, để công việc có thể được hoàn thành. Khi Đức Chúa Giê-su đến gần Giê-ru-sa-lem, có đoàn dân đông vui mừng theo sau, với tiếng hò reo đắc thắng và những cành chà là phất cao, tung hô Ngài là Con vua Đa-vít, thì những người Pha-ri-si ganh tị kêu Ngài bảo họ im đi; nhưng Đức Chúa Giê-su đáp rằng tất cả điều ấy là sự ứng nghiệm lời tiên tri, và nếu những người này nín lặng, thì chính những hòn đá cũng sẽ kêu lên. Dân chúng, bị sợ hãi bởi những lời hăm dọa của các thầy tế lễ và các quan trưởng, đã ngưng lời tung hô vui mừng khi bước qua cổng thành Giê-ru-sa-lem; nhưng các trẻ em trong hành lang đền thờ sau đó đã tiếp nối điệp khúc ấy, và, phất những cành chà là, kêu lên: Bấy giờ phần nhiều trong đám dân đông trải áo mình trên đường; kẻ khác chặt nhánh cây mà rải ra giữa đường. Đoàn dân đi trước và theo sau đều kêu lên rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng khen ngợi cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao! Khi Ngài đã vào thành Giê-ru-sa-lem, thì cả thành đều xôn xao, nói rằng: Người này là ai? Chúng trả lời rằng: Ấy là Đấng tiên tri Giê-su ở thành Na-xa-rét, xứ Ga-li-lê. Đức Chúa Giê-su vào đền thờ, đuổi hết kẻ bán người mua ở đó; đổ bàn của người đổi bạc, và ghế của người bán bồ câu. Ngài phán cùng họ rằng: Có lời chép: Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện; nhưng các ngươi thì làm cho nhà ấy thành ra ổ trộm cướp. Bấy giờ, những kẻ mù và què đến cùng Ngài trong đền thờ, thì Ngài chữa cho họ được lành. Nhưng các thầy tế lễ cả và các thầy thông giáo thấy sự lạ Ngài đã làm, và nghe con trẻ reo lên trong đền thờ rằng: Hô-sa-na con vua Đa-vít! Thì họ tức giận, và nói với Ngài rằng: Thầy có nghe điều những đứa trẻ này nói không? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Có. Vậy chớ các ngươi chưa hề đọc lời này: Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và con đương bú, hay sao?
(Ma-thi-ơ 21:8-16)Khi những người Pha-ri-si, hết sức bất bình, thưa với Ngài: “Thầy có nghe điều những đứa trẻ này nói không?” Đức Chúa Giê-su đáp: “Có; các ngươi chưa hề đọc lời này sao: Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và trẻ còn bú sao?” Như Đức Chúa Trời đã làm việc qua con trẻ vào thời Đấng Christ giáng lâm lần thứ nhất, thì Ngài cũng làm việc qua chúng trong việc ban sứ điệp về sự tái lâm của Ngài. Lời Đức Chúa Trời phải được ứng nghiệm, rằng sự rao giảng về sự đến của Đấng Cứu Thế phải được ban cho mọi dân, mọi thứ tiếng và mọi nước. GC 367.2
Việc rao giảng lời cảnh báo tại Mỹ đã được giao cho William Miller và các bạn đồng lao của ông. Xứ này trở nên trung tâm của phong trào tái lâm vĩ đại. Chính tại đây mà lời tiên tri của sứ điệp thiên sứ thứ nhất đã được ứng nghiệm một cách trực tiếp nhất. Các tác phẩm của Miller và những người cộng sự được đưa đi đến các xứ xa xôi. Nơi nào các giáo sĩ đã đặt chân đến trên khắp thế giới, thì nơi đó tin mừng về sự trở lại mau chóng của Đấng Christ được gửi đến. Xa gần lan rộng sứ điệp của tin lành đời đời: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến.” GC 368.1
Lời chứng của các lời tiên tri dường như chỉ về sự đến của Đấng Christ vào mùa xuân năm 1844 đã chiếm lấy tâm trí dân chúng cách sâu đậm. Khi sứ điệp đi từ tiểu bang này sang tiểu bang khác, khắp nơi đều dấy lên sự quan tâm rộng rãi. Nhiều người được thuyết phục rằng những luận cứ từ các thời kỳ tiên tri là đúng, và, từ bỏ lòng tự cao về quan điểm của mình, họ vui mừng tiếp nhận lẽ thật. Một số mục sư đã gác lại những quan điểm và tình cảm giáo phái, rời bỏ lương bổng và hội thánh của mình, và hiệp nhau rao giảng sự đến của Đức Chúa Giê-su. Tuy nhiên, số mục sư chịu tiếp nhận sứ điệp này tương đối ít; bởi vậy, công việc phần lớn được giao cho các tín hữu khiêm nhường. Người nông dân bỏ ruộng đồng, thợ thủ công bỏ dụng cụ, thương gia bỏ hàng hóa, người có nghề nghiệp bỏ chức vị của mình; thế mà số người làm việc vẫn còn ít so với công việc cần phải thực hiện. Tình trạng của một hội thánh bội nghịch và một thế giới nằm trong điều ác đè nặng trên tâm hồn của những người canh giữ chân thật, và họ vui lòng chịu đựng lao khổ, thiếu thốn và khổ sở, để có thể kêu gọi người ta ăn năn hầu được cứu rỗi. Dù bị Sa-tan chống đối, công việc vẫn tiến tới đều đặn, và lẽ thật về sự tái lâm đã được hàng ngàn người tiếp nhận. GC 368.2
Khắp nơi đều nghe lời chứng thấu suốt, cảnh báo những kẻ có tội, cả người thế gian lẫn người trong hội thánh, phải chạy trốn khỏi cơn thạnh nộ hầu đến. Giống như Giăng Báp-tít, người tiền hô của Đấng Christ, các nhà rao giảng đặt cái rìu vào gốc cây và thúc giục mọi người phải kết quả xứng đáng với sự ăn năn. Những lời kêu gọi tha thiết của họ tương phản rõ rệt với những lời cam đoan về bình an và an toàn vang lên từ các tòa giảng phổ biến; và nơi nào sứ điệp được ban ra, nơi đó nó động lòng dân chúng. Lời chứng giản dị, trực tiếp của Kinh Thánh, được đóng ấn bởi quyền năng của Đức Thánh Linh, đem đến một sức nặng cáo trách mà ít ai có thể hoàn toàn cưỡng lại được. Những người xưng mình có đạo được đánh thức khỏi sự an toàn giả dối của họ. Họ thấy sự sa sút, lòng yêu thế gian và sự chẳng tin, sự kiêu ngạo và tánh vị kỷ của mình. Nhiều người tìm kiếm Chúa với lòng ăn năn và hạ mình. Những tình cảm đã bám chặt vào những vật trần gian quá lâu, nay họ hướng về thiên đàng. Thần Linh của Đức Chúa Trời ngự trên họ, và với tấm lòng mềm mại và khiêm nhường, họ cùng nhau cất tiếng rao: “Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài; vì giờ phán xét của Ngài đã đến.” GC 369.1
Những kẻ có tội than khóc hỏi rằng: “Tôi phải làm chi để được cứu?” Những người có đời sống từng bị đánh dấu bởi sự bất lương đều lo lắng muốn bồi thường. Tất cả những ai tìm được sự bình an trong Đấng Christ đều khao khát thấy những người khác cũng được chia sẻ phước lành ấy. Lòng cha mẹ hướng về con cái, và lòng con cái hướng về cha mẹ. Những rào cản của sự kiêu ngạo và dè dặt đã bị cuốn đi. Những lời xưng tội chân thành được thốt ra, và các thành viên trong gia đình ra sức cho sự cứu rỗi của những người thân cận và yêu dấu nhất. Thường nghe tiếng cầu thay tha thiết. Khắp nơi có những linh hồn trong nỗi đau sâu thẳm nài xin Đức Chúa Trời. Nhiều người đã vật lộn suốt đêm trong lời cầu nguyện để có được sự đoan chắc rằng tội lỗi của chính mình đã được tha, hoặc để cầu cho sự hoán cải của bà con hoặc láng giềng của mình. GC 369.2
Mọi tầng lớp đều tuôn đến các buổi nhóm của phái Cơ-đốc Phục Lâm. Người giàu và kẻ nghèo, người cao sang và kẻ thấp hèn, vì nhiều lý do khác nhau, đều nóng lòng muốn tự mình nghe về giáo lý sự tái lâm. Chúa kiềm chế tinh thần chống đối trong khi các đầy tớ Ngài giải thích những lý do của đức tin mình. Đôi khi dụng cụ thì yếu ớt; nhưng Thần Linh của Đức Chúa Trời ban quyền năng cho lẽ thật của Ngài. Sự hiện diện của các thiên sứ thánh được cảm nhận trong các buổi nhóm này, và mỗi ngày có nhiều người được thêm vào số tín hữu. Khi những bằng chứng về sự đến mau chóng của Đấng Christ được nhắc lại, vô số đoàn dân đông lắng nghe trong sự im lặng nín thở những lời trang nghiêm ấy. Thiên đàng và trần gian dường như xích lại gần nhau. Quyền năng của Đức Chúa Trời được cảm nhận trên người già, người trẻ và người trung niên. Người ta trở về nhà với lời ngợi khen trên môi, và âm thanh vui mừng ấy vang dội trong không khí tĩnh lặng của ban đêm. Không một ai đã dự những buổi nhóm ấy có thể quên được những cảnh tượng có ý nghĩa sâu sắc nhất. GC 369.3
Việc công bố một thời điểm xác định cho sự đến của Đấng Christ đã gây nên sự chống đối lớn từ nhiều người thuộc mọi tầng lớp, từ mục sư trên tòa giảng cho đến những kẻ tội nhân liều lĩnh, xúc phạm đến trời. Những lời tiên tri đã được ứng nghiệm: Trước hết phải biết rằng, trong những ngày sau rốt, sẽ có mấy kẻ hay gièm chê, dùng lời giễu cợt, ở theo tình dục riêng của mình, đến mà nói rằng: Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu? Vì từ khi tổ phụ chúng ta qua đời rồi, muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.
(II Phi-e-rơ 3:3-4)Nhiều người xưng rằng mình yêu mến Đấng Cứu Thế, tuyên bố rằng họ không chống đối giáo lý sự tái lâm; họ chỉ phản đối thời điểm xác định mà thôi. Nhưng con mắt thấu suốt mọi sự của Đức Chúa Trời đọc được lòng họ. Họ không muốn nghe về sự đến của Đấng Christ để phán xét thế gian trong sự công bình. Họ đã là những đầy tớ bất trung, việc làm của họ không thể chịu nổi sự tra xét của Đức Chúa Trời dò xét lòng người, và họ sợ phải gặp Chúa mình. Giống như người Do Thái thời Đấng Christ giáng lâm lần thứ nhất, họ không sẵn sàng tiếp đón Đức Chúa Giê-su. Họ không những từ chối nghe những luận cứ rõ ràng từ Kinh Thánh, mà còn chế giễu những người đang trông đợi Chúa. Sa-tan và các thiên sứ của hắn hớn hở, và ném lời mỉa mai vào mặt Đấng Christ và các thiên sứ thánh rằng dân xưng danh Ngài có rất ít lòng yêu mến Ngài đến nỗi họ không mong muốn sự hiện ra của Ngài. GC 370.1
“Không ai biết ngày và giờ đó” là lý lẽ thường được những kẻ khước từ đức tin về sự tái lâm đưa ra nhất. Câu Kinh Thánh ấy là: Về ngày và giờ đó, chẳng có ai biết chi cả, thiên sứ trên trời hay là Con cũng vậy, song chỉ một mình Cha biết mà thôi.
(Ma-thi-ơ 24:36)Ma-thi-ơ 24:36. Một lời giải thích rõ ràng và hài hòa về câu Kinh Thánh này đã được đưa ra bởi những người trông đợi Chúa, và sự vận dụng sai lầm câu ấy của những kẻ chống đối họ đã được phơi bày rõ ràng. Những lời này được Đấng Christ phán trong cuộc trò chuyện đáng ghi nhớ với các môn đồ Ngài trên núi Ô-li-ve, sau khi Ngài lần cuối cùng rời khỏi đền thờ. Các môn đồ đã đặt câu hỏi: “Điềm gì chỉ về sự Chúa đến, và tận thế?” Đức Chúa Giê-su đã cho họ các điềm, và phán: Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đương ở trước cửa.
(Ma-thi-ơ 24:33) Câu 3, 33. Một lời phán của Đấng Cứu Thế không được dùng để phá hủy một lời phán khác. Dù không ai biết ngày và giờ của sự Ngài đến, chúng ta được dạy dỗ và được yêu cầu phải biết khi nào sự ấy đã gần. Chúng ta còn được dạy rằng việc xem thường lời cảnh báo của Ngài, và khước từ hoặc xao lãng không biết khi nào sự tái lâm của Ngài đã gần, sẽ là tai hại cho chúng ta như đã từng xảy ra cho những người sống trong thời Nô-ê không biết khi nào cơn Đại hồng thủy sẽ đến. Và ví dụ trong cùng chương ấy, đối chiếu đầy tớ trung tín với đầy tớ bất trung, và công bố án phạt cho kẻ nói trong lòng mình rằng, “Chủ ta đến chậm”, cho thấy Đấng Christ sẽ nhìn nhận và ban thưởng thế nào cho những ai Ngài thấy đang tỉnh thức và rao giảng về sự đến của Ngài, và những kẻ chối bỏ điều ấy. Ngài phán: “Vậy hãy tỉnh thức.” Phước cho đầy tớ đó, khi chủ đến thấy làm như vậy!
(Ma-thi-ơ 24:46) Câu 42, 46. Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình.
(Khải-huyền 3:3) Khải Huyền 3:3. GC 370.2
Phao-lô nói về một hạng người mà sự hiện đến của Chúa sẽ xảy đến cách bất ngờ. vì chính anh em biết rõ lắm rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy. Khi người ta sẽ nói rằng: Bình hòa và yên ổn, thì tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu.
(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:2-3)Nhưng ông nói thêm, đối với những ai đã để ý đến lời cảnh báo của Đấng Cứu Thế: Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối tăm, nên nỗi ngày đó đến thình lình cho anh em như kẻ trộm. Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ tối.
(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:4-5) Tê-sa-lô-ni-ca 5:2-5. GC 371.1
Như vậy đã được chứng tỏ rằng Kinh Thánh không cho phép con người vẫn cứ ở trong sự ngu dốt về việc sự đến của Đấng Christ đang gần kề. Nhưng những kẻ chỉ muốn tìm một cớ để khước từ lẽ thật đã bịt tai đối với lời giải thích này, và câu “Không ai biết ngày và giờ đó” vẫn tiếp tục được vang lên bởi những kẻ nhạo báng trơ tráo và ngay cả bởi những người xưng mình là mục sư của Đấng Christ. Khi dân chúng được đánh thức và bắt đầu dò hỏi con đường cứu rỗi, các nhà dạy đạo đã bước vào giữa họ và lẽ thật, tìm cách làm yên nỗi sợ hãi của họ bằng cách giải thích sai lệch Lời Đức Chúa Trời. Những kẻ canh gác bất trung đã hợp sức với kẻ lừa dối vĩ đại, kêu lên: Bình an, bình an, trong khi Đức Chúa Trời không hề phán bình an. Giống như những người Pha-ri-si trong thời Đấng Christ, nhiều người từ chối bước vào nước thiên đàng, và họ cản trở những kẻ đang muốn bước vào. Huyết của những linh hồn ấy sẽ bị đòi nơi tay họ. GC 372.1
Những người khiêm nhường và tận hiến nhất trong các hội thánh thường là những người đầu tiên tiếp nhận sứ điệp. Những ai tự mình nghiên cứu Kinh Thánh không thể không nhận thấy tính chất trái với Kinh Thánh của những quan điểm phổ biến về lời tiên tri; và ở bất cứ nơi nào dân chúng không bị kiểm soát bởi ảnh hưởng của hàng giáo phẩm, ở bất cứ nơi nào họ tự mình tra cứu Lời Đức Chúa Trời, thì giáo lý về sự tái lâm chỉ cần được đem so sánh với Kinh Thánh là đủ để xác lập thẩm quyền thiêng liêng của nó. GC 372.2
Nhiều người bị chính anh em chẳng tin của mình bắt bớ. Để giữ vững vị thế trong hội thánh, một số người đã chấp nhận im lặng về niềm hy vọng của mình; nhưng những người khác cảm thấy lòng trung thành với Đức Chúa Trời cấm họ giấu đi những lẽ thật mà Ngài đã giao phó cho họ. Không ít người đã bị dứt khỏi sự thông công của hội thánh chỉ vì bày tỏ niềm tin vào sự đến của Đấng Christ. Lời của tiên tri thật quý báu đối với những người chịu thử thách đức tin này: Hỡi các ngươi là kẻ nghe lời phán Đức Giê-hô-va mà run, hãy nghe lời Ngài: Anh em các ngươi ghét các ngươi, vì cớ danh ta bỏ các ngươi, từng nói rằng: Xin Đức Giê-hô-va được vinh hiển, đặng chúng ta thấy sự vui mừng các ngươi; nhưng chính họ sẽ bị hổ thẹn.
(Ê-sai 66:5)Ê-sai 66:5. GC 372.3
Các thiên sứ của Đức Chúa Trời đã theo dõi với sự quan tâm sâu sắc nhất kết quả của lời cảnh báo. Khi có sự khước từ chung sứ điệp từ các hội thánh, các thiên sứ đã quay đi trong nỗi buồn. Nhưng có nhiều người chưa được thử thách về lẽ thật của sự tái lâm. Nhiều người bị dẫn dắt lầm lạc bởi vợ, chồng, cha mẹ, hoặc con cái, và bị khiến tin rằng ngay cả việc lắng nghe những tà thuyết như điều mà những người Cơ-đốc Tái Lâm dạy cũng là một tội lỗi. Các thiên sứ được truyền lệnh phải canh giữ trung tín trên những linh hồn này, vì một nguồn ánh sáng khác vẫn còn sẽ chiếu trên họ từ ngôi của Đức Chúa Trời. GC 372.4
Với một ước vọng không thể diễn tả, những người đã tiếp nhận sứ điệp trông đợi sự đến của Đấng Cứu Thế mình. Thời điểm mà họ mong gặp Ngài đã gần kề. Họ tiến đến giờ ấy với sự trang nghiêm điềm tĩnh. Họ yên nghỉ trong sự thông công ngọt ngào với Đức Chúa Trời, và là sự bảo chứng của niềm bình an sẽ thuộc về họ trong cõi vinh quang mai sau. Không ai đã từng trải nghiệm niềm hy vọng và sự tin cậy này có thể quên được những giờ trông đợi quý báu ấy. Trong vài tuần trước thời điểm đó, công việc đời phần lớn đã được gác lại. Những tín đồ chân thành cẩn thận xét lại mọi ý tưởng và cảm xúc trong lòng mình như thể họ đang trên giường hấp hối và chỉ còn vài giờ nữa là nhắm mắt từ giã cảnh trần. Không hề có việc may sắm “áo thăng thiên” (xem Phụ lục); nhưng mọi người đều cảm thấy cần có bằng chứng nội tâm rằng mình đã sẵn sàng gặp Đấng Cứu Thế; áo trắng của họ chính là sự trong sạch của linh hồn — những phẩm cách đã được tẩy sạch khỏi tội lỗi bởi huyết chuộc tội của Đấng Christ. Ước gì trong những người xưng mình là dân của Đức Chúa Trời ngày nay vẫn còn chính tinh thần tra xét lòng mình ấy, chính đức tin tha thiết và kiên quyết ấy. Nếu họ cứ tiếp tục hạ mình trước Chúa như vậy và dâng lời cầu xin tại nắp thi ân, hẳn họ đã có được một kinh nghiệm phong phú hơn nhiều so với điều họ có bây giờ. Có quá ít sự cầu nguyện, quá ít sự nhận thức thật sự về tội lỗi, và sự thiếu đức tin sống động khiến nhiều người thiếu thốn ân điển đã được Đấng Cứu Chuộc chúng ta cung ứng cách dư dật. GC 373.1
Đức Chúa Trời có ý định thử thách dân sự Ngài. Tay Ngài đã che đi một sai sót trong việc tính toán các thời kỳ tiên tri. Những người Cơ-đốc Tái Lâm không phát hiện ra sai lầm ấy, và ngay cả những kẻ uyên bác nhất trong các đối thủ của họ cũng không phát hiện ra. Những người sau này nói: “Cách tính của các ông về các thời kỳ tiên tri là đúng. Một biến cố lớn sắp xảy ra; nhưng không phải điều ông Miller dự đoán; đó là sự cải đạo của thế gian, chứ không phải sự tái lâm của Đấng Christ.” (Xem Phụ lục.) GC 373.2
Thời gian trông đợi đã qua, và Đấng Christ đã không hiện đến để giải cứu dân sự Ngài. Những người đã với đức tin và tình yêu chân thành trông đợi Đấng Cứu Thế mình đã trải qua một sự thất vọng cay đắng. Thế nhưng ý định của Đức Chúa Trời đang được hoàn thành; Ngài đang thử lòng của những người xưng mình đang chờ đợi sự hiện đến của Ngài. Giữa vòng họ có nhiều người chẳng vì động cơ nào cao thượng hơn là sự sợ hãi. Sự xưng nhận đức tin của họ đã không tác động đến lòng hay đời sống của họ. Khi biến cố được mong đợi không xảy ra, những người này tuyên bố rằng họ không thất vọng; họ chưa bao giờ tin rằng Đấng Christ sẽ đến. Họ nằm trong số những kẻ đầu tiên chế giễu nỗi buồn của những tín hữu chân thật. GC 374.1
Nhưng Đức Chúa Giê-su và toàn thể thiên binh đã nhìn với tình yêu thương và sự cảm thông trên những người đã bị thử thách và trung tín nhưng bị thất vọng ấy. Giá mà tấm màn ngăn cách thế giới hữu hình có thể được vén ra, thì người ta đã thấy các thiên sứ đến gần những linh hồn kiên định này và che chở họ khỏi các mũi tên của Sa-tan. GC 374.2