Ánh Sáng Xuyên Qua Bóng Tối
Chương 19—Ánh Sáng Xuyên Qua Bóng Tối
Công việc của Đức Chúa Trời trên đất, từ thời đại này sang thời đại khác, đều cho thấy một sự tương đồng rõ rệt trong mỗi cuộc cải chánh lớn hay phong trào tôn giáo. Các nguyên tắc mà Đức Chúa Trời dùng để đối xử với loài người luôn luôn không thay đổi. Những phong trào quan trọng của hiện tại có sự tương ứng với những phong trào trong quá khứ, và kinh nghiệm của hội thánh trong những thời đại trước có những bài học quý báu cho thời đại chúng ta. GC 343.1
Không có lẽ thật nào được dạy rõ ràng trong Kinh Thánh hơn lẽ thật rằng Đức Chúa Trời, bởi Đức Thánh Linh của Ngài, đặc biệt hướng dẫn các tôi tớ của Ngài trên đất trong những phong trào lớn nhằm đẩy mạnh công cuộc cứu rỗi. Loài người là những công cụ trong tay Đức Chúa Trời, được Ngài dùng để hoàn thành các mục đích ân điển và thương xót của Ngài. Mỗi người đều có phần việc của mình; mỗi người đều được ban cho một lượng ánh sáng thích hợp với nhu cầu của thời đại mình, và đủ để giúp người ấy thực hiện công việc mà Đức Chúa Trời đã giao phó. Nhưng không một ai, dầu được thiên đàng tôn vinh đến đâu, đã từng đạt đến sự hiểu biết trọn vẹn về chương trình cứu chuộc vĩ đại, hay thậm chí nhận thức một cách hoàn hảo về mục đích thiêng liêng trong công việc của thời đại mình. Loài người không hiểu thấu điều Đức Chúa Trời muốn hoàn thành qua công việc mà Ngài giao cho họ; họ không thấu hiểu, trong mọi khía cạnh, sứ điệp mà họ rao giảng trong danh Ngài. GC 343.2
“Nếu ông dò xét, há có thể hiểu biết được sự sâu nhiệm của Đức Chúa Trời, Và thấu rõ Đấng Toàn năng sao?” (Gióp 11:7)
Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu.(Ê-sai 55:8-9)Hãy nhớ lại những sự ngày xưa; vì ta là Đức Chúa Trời, và chẳng có Chúa nào khác; ta là Đức Chúa Trời, chẳng có ai giống như ta. Ta đã rao sự cuối cùng từ buổi đầu tiên, và đã nói từ thuở xưa những sự chưa làm nên. Ta phán rằng: Mưu của ta sẽ lập, và ta sẽ làm ra mọi sự ta đẹp ý.(Ê-sai 46:9-10) Gióp 11:7; Ê-sai 55:8, 9; 46:9, 10. GC 343.3
Ngay cả các tiên tri được ban cho ơn đặc biệt soi sáng bởi Đức Thánh Linh cũng không thấu hiểu trọn vẹn ý nghĩa của những sự mặc khải được ủy thác cho họ. Ý nghĩa ấy sẽ được tỏ ra từ thời đại này sang thời đại khác, theo như dân sự của Đức Chúa Trời cần đến sự dạy dỗ chứa đựng trong đó. GC 344.1
Phi-e-rơ, khi viết về sự cứu rỗi được tỏ ra qua tin lành, đã nói: Về sự cứu rỗi này, Về sự cứu rỗi đó, các đấng tiên tri đã tìm tòi suy xét, và đã nói tiên tri về ân điển định sẵn cho anh em: nghĩa là tìm cho biết thời kỳ nào và thời kỳ cách nào mà Thánh Linh Đấng Cơ-đốc ở trong lòng mình đã chỉ cho, là khi làm chứng trước về sự đau đớn của Đấng Cơ-đốc và về sự vinh hiển sẽ theo sau. Các đấng ấy đã được tỏ cho rằng chẳng phải vì mình, bèn là vì anh em mà truyền ra những điều đó, là những điều hiện nay đã rao cho anh em, bởi những người nhờ Đức Thánh Linh từ trên trời sai xuống, mà giảng Tin lành cho anh em; các thiên sứ cũng ước ao xem thấu những sự đó.
(I Phi-e-rơ 1:10-12)Phi-e-rơ 1:10-12. GC 344.2
Tuy các tiên tri không được ban cho sự hiểu biết trọn vẹn về những điều đã được tỏ ra cho họ, nhưng họ đã tha thiết tìm kiếm để có được mọi ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã vui lòng bày tỏ. Họ đã “tra xem và kiếm tìm hết sức,” “tra xem Đức Thánh Linh của Đấng Christ trong lòng mình đã chỉ về thời kỳ nào và thể nào.” Đây là bài học cho dân sự của Đức Chúa Trời trong thời đại Cơ-đốc Giáo, là những người mà vì ích lợi của họ mà các lời tiên tri này đã được ban cho các tôi tớ Ngài! “Họ đã được tỏ ra rằng chẳng phải vì mình, bèn là vì anh em mà truyền ra những điều đó.” Hãy nhìn xem những người thánh của Đức Chúa Trời khi họ “tra xem và kiếm tìm hết sức” về những sự mặc khải đã được ban cho họ vì các thế hệ chưa sinh ra. Hãy đối chiếu lòng sốt sắng thánh khiết của họ với sự hờ hững thờ ơ của những người được ưu đãi trong các thời đại về sau đối với món quà thiên đàng này. Thật là một lời quở trách cho sự thờ ơ ưa chuộng an nhàn, yêu chuộng thế gian, là sự thờ ơ vốn cứ khăng khăng cho rằng không thể hiểu được các lời tiên tri! GC 344.3
Dầu trí óc hữu hạn của loài người không đủ để bước vào các mưu định của Đấng Vô hạn, hay thấu hiểu trọn vẹn việc Ngài thực hiện các mục đích của Ngài, nhưng thường thường chính vì một lỗi lầm hay sự sơ suất nào đó của họ mà họ hiểu các sứ điệp của thiên đàng một cách lờ mờ. Không ít khi tâm trí của dân sự, và cả của các tôi tớ Đức Chúa Trời, bị che mờ bởi các ý kiến loài người, bởi những truyền thống và giáo lý sai lầm của loài người, đến nỗi họ chỉ nắm bắt được một phần những điều lớn lao mà Ngài đã tỏ ra trong lời Ngài. Các môn đồ của Đấng Christ cũng đã như vậy, ngay cả khi Đấng Cứu Thế ở cùng họ cách trực tiếp. Tâm trí họ đã thấm nhuần quan niệm phổ biến về Đấng Mê-si như một vị vua trần thế, đấng sẽ nâng Y-sơ-ra-ên lên ngai của một đế quốc hoàn cầu, và họ đã không thể hiểu ý nghĩa lời Ngài báo trước về sự thương khó và sự chết của Ngài. GC 344.4
Chính Đấng Christ đã sai họ ra đi với sứ điệp: mà rằng: Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành.
(Mác 1:15)Mác 1:15. Sứ điệp ấy được đặt trên lời tiên tri của Đa-ni-ên 9. Sáu mươi chín tuần lễ đã được thiên sứ tuyên bố sẽ kéo dài cho đến “Đấng chịu xức dầu, tức là vua,” và với lòng trông cậy cao và sự mong đợi vui mừng, các môn đồ hướng về sự thiết lập vương quốc của Đấng Mê-si tại Giê-ru-sa-lem để cai trị trên cả thế gian. GC 345.1
Họ đã rao giảng sứ điệp mà Đấng Christ đã giao phó cho họ, dầu chính họ đã hiểu sai ý nghĩa của nó. Trong khi lời rao báo của họ được đặt trên Đa-ni-ên 9:25, họ đã không thấy, trong câu kế tiếp của cùng một chương, rằng Đấng Mê-si sẽ bị trừ đi. Ngay từ lúc mới sinh ra, lòng họ đã đặt vào sự vinh hiển được mong đợi của một đế quốc trần thế, và điều này đã làm mờ sự hiểu biết của họ đối với cả những chi tiết cụ thể của lời tiên tri lẫn những lời của Đấng Christ. GC 345.2
Họ đã hoàn thành bổn phận của mình trong việc đem lời mời gọi của lòng thương xót đến với dân Do Thái, rồi, đúng vào lúc họ mong đợi được thấy Chúa mình lên ngai Đa-vít, họ lại thấy Ngài bị bắt như một kẻ gian ác, bị đánh đòn, bị chế nhạo, bị kết án và bị treo lên trên thập tự giá tại đồi Gô-gô-tha. Tuyệt vọng và đau đớn biết bao đã giằng xé lòng các môn đồ trong những ngày khi Chúa họ đang an giấc trong mộ! GC 345.3
Đấng Christ đã đến đúng thời điểm và theo cách thức mà lời tiên tri đã báo trước. Lời chứng của Kinh Thánh đã được ứng nghiệm trong từng chi tiết của chức vụ Ngài. Ngài đã rao giảng sứ điệp cứu rỗi, và “lời Ngài có quyền phép.” Lòng của những người nghe Ngài đã làm chứng rằng đó là điều từ thiên đàng. Lời và Thánh Linh của Đức Chúa Trời chứng thực sự ủy nhiệm thiêng liêng của Con Ngài. GC 346.1
Các môn đồ vẫn bám chặt với tình yêu thương không phai nhạt đối với Thầy yêu dấu của họ. Tuy nhiên, tâm trí họ bị phủ trong sự không chắc chắn và nghi ngờ. Trong cơn đau đớn, bấy giờ họ không nhớ lại những lời của Đấng Christ đã chỉ về sự thương khó và sự chết của Ngài. Nếu Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét thật là Đấng Mê-si chân thật, thì họ đã bị đắm chìm trong đau buồn và thất vọng như vậy sao? Đây là câu hỏi dày vò linh hồn họ trong khi Đấng Cứu Thế nằm trong mộ suốt những giờ khắc không hy vọng của ngày Sa-bát ấy, là ngày giữa sự chết và sự sống lại của Ngài. GC 346.2
Dầu đêm đau buồn đã bao phủ dày đặc quanh những môn đồ này của Đức Chúa Giê-su, nhưng họ không bị bỏ rơi. Tiên tri có phán: Hỡi kẻ thù ta, chớ vui mừng vì cớ ta. Ta dầu bị ngã, sẽ lại dậy; dầu ngồi trong nơi tối tăm, Đức Giê-hô-va sẽ làm sự sáng cho ta. Ta chịu lấy sự thạnh nộ của Đức Giê-hô-va vì ta đã phạm tội nghịch cùng Ngài, cho đến chừng Ngài đã binh vực lẽ ta và phán xét cho ta, thì Ngài sẽ dắt ta đến sự sáng và ta sẽ thấy sự công bình của Ngài.
(Mi-chê 7:8-9)Thì chính sự tối tăm không thể giấu chi khỏi Chúa, Ban đêm soi sáng như ban ngày, Và sự tối tăm cũng như ánh sáng cho Chúa.
(Thi-thiên 139:12) Ánh sáng soi nơi tối tăm cho người ngay thẳng. Người hay làm ơn, có lòng thương xót, và là công bình.
(Thi-thiên 112:4) Ta sẽ khiến kẻ mù đi trên con đường mình không thuộc, dắt họ bởi các nẻo chẳng quen; ta sẽ đổi bóng tối trước mặt họ ra ánh sáng, nơi cong queo ra ngay thẳng. Thật, ta sẽ làm các sự đó, và không lìa bỏ chúng nó đâu.
(Ê-sai 42:16) Mi-chê 7:8, 9; Thi Thiên 139:12; 112:4; Ê-sai 42:16. GC 346.3
Lời loan báo mà các môn đồ đã công bố trong danh Chúa là hoàn toàn chính xác trong mọi chi tiết, và những biến cố mà lời ấy chỉ đến thậm chí đang xảy ra ngay lúc đó. “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần,” đó đã là sứ điệp của họ. Khi “kỳ” ấy đã mãn — tức sáu mươi chín tuần lễ của Đa-ni-ên 9, kéo dài cho đến Đấng Mê-si, “Đấng Chịu Xức Dầu” — thì Đấng Christ đã nhận sự xức dầu của Thánh Linh sau khi Ngài chịu báp-têm bởi Giăng tại sông Giô-đanh. Và “nước Đức Chúa Trời” mà họ đã tuyên bố là đã đến gần thì được thiết lập bởi sự chết của Đấng Christ. Nước này không phải, như họ đã được dạy để tin, là một đế quốc trần thế. Nó cũng không phải là nước bất tử tương lai sẽ được dựng lên khi “nước, quyền thế, và sự tôn đại của các nước ở dưới cả trời, sẽ được ban cho dân các thánh của Đấng Rất Cao;” là nước đời đời ấy, trong đó “hết thảy các quyền sẽ phục tùng và vâng lời Ngài.” Đa-ni-ên 7:27. Như được dùng trong Kinh Thánh, cụm từ “nước Đức Chúa Trời” được dùng để chỉ cả nước ân điển lẫn nước vinh hiển. Nước ân điển được Phao-lô trình bày trong thư gửi cho người Hê-bơ-rơ. Sau khi chỉ đến Đấng Christ, Đấng cầu thay đầy lòng thương xót, là Đấng “cảm thương sự yếu đuối chúng ta,” vị sứ đồ nói: Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội. Vậy, chúng ta hãy vững lòng đến gần ngôi ơn phước, hầu cho được thương xót và tìm được ơn để giúp chúng ta trong thì giờ có cần dùng.
(Hê-bơ-rơ 4:15-16)Ngôi ân điển tiêu biểu cho nước ân điển; vì sự hiện hữu của một ngôi ngụ ý sự hiện hữu của một nước. Trong nhiều thí dụ của Ngài, Đấng Christ dùng cụm từ “nước thiên đàng” để chỉ công việc của ân điển thiêng liêng trên lòng loài người. GC 346.4
Cũng vậy, ngôi vinh hiển tiêu biểu cho nước vinh hiển; và nước này được đề cập đến trong lời của Đấng Cứu Thế: Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người này với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra;
(Ma-thi-ơ 25:31-32)Nước này còn ở tương lai. Nó sẽ không được thiết lập cho đến sự tái lâm của Đấng Christ. GC 347.1
Nước ân điển đã được thiết lập ngay sau sự sa ngã của loài người, khi một chương trình được hoạch định cho sự cứu chuộc dòng giống có tội. Bấy giờ nước ấy hiện hữu trong mục đích và bởi lời hứa của Đức Chúa Trời; và bởi đức tin, loài người có thể trở thành thần dân của nước ấy. Tuy vậy, nó đã không thực sự được thiết lập cho đến khi Đấng Christ chịu chết. Ngay cả sau khi đã bắt đầu sứ mạng trần thế của Ngài, Đấng Cứu Thế, mệt mỏi vì sự cứng lòng và vô ơn của loài người, có thể đã rút lui khỏi sự hy sinh trên đồi Gô-gô-tha. Tại Ghết-sê-ma-nê, chén thống khổ đã run rẩy trong tay Ngài. Ngay lúc đó Ngài vẫn có thể lau đi mồ hôi như máu trên trán Ngài và bỏ mặc dòng giống có tội chết mất trong tội ác của họ. Nếu Ngài đã làm vậy, thì sẽ không còn có sự cứu chuộc nào cho loài người sa ngã. Nhưng khi Đấng Cứu Thế phó sự sống Ngài, và với hơi thở cuối cùng kêu lớn lên, “Mọi việc đã được trọn,” thì sự ứng nghiệm của chương trình cứu chuộc được bảo đảm. Lời hứa về sự cứu rỗi đã ban cho đôi vợ chồng có tội tại vườn Ê-đen đã được phê chuẩn. Nước ân điển, mà trước đó đã hiện hữu bởi lời hứa của Đức Chúa Trời, bấy giờ được thiết lập. GC 347.2
Như vậy, sự chết của Đấng Christ — chính biến cố mà các môn đồ đã xem như sự tiêu hủy cuối cùng của niềm hy vọng họ — lại là biến cố làm cho niềm hy vọng ấy được chắc chắn đời đời. Dầu nó đã đem đến cho họ một sự thất vọng đau đớn, nó lại là đỉnh điểm của bằng cớ cho thấy niềm tin của họ là đúng. Biến cố đã khiến lòng họ đầy tang tóc và tuyệt vọng lại là biến cố đã mở cánh cửa hy vọng cho mọi con cái của A-đam, và là nơi tập trung sự sống tương lai cùng hạnh phúc đời đời của mọi người trung tín của Đức Chúa Trời trong mọi thời đại. GC 348.1
Các mục đích của lòng thương xót vô biên đang đạt đến sự ứng nghiệm, ngay qua sự thất vọng của các môn đồ. Trong khi lòng họ đã bị chinh phục bởi ân điển và quyền phép thiêng liêng của sự dạy dỗ của Đấng “phán như chưa từng có người nào phán như vậy,” tuy vậy, pha lẫn với vàng ròng của tình yêu họ dành cho Đức Chúa Giê-su, là hợp kim thấp kém của sự kiêu ngạo thế tục và tham vọng ích kỷ. Ngay cả trong phòng dự lễ Vượt Qua, vào giờ phút trang nghiêm khi Chủ họ đã bước vào bóng tối của Ghết-sê-ma-nê, đã có “sự tranh luận sanh ra giữa các sứ đồ, rằng trong các ngươi ai sẽ được tôn là lớn hơn hết.” Lu-ca 22:24. Tầm mắt họ đầy ngôi báu, mão triều thiên và vinh hiển, trong khi ngay trước mặt họ là sự sỉ nhục và thống khổ của khu vườn, sảnh xét xử, và thập tự giá trên đồi Gô-gô-tha. Chính lòng kiêu ngạo của họ, chính sự khao khát vinh hiển trần thế, đã khiến họ bám chặt cách ngoan cố vào sự dạy dỗ sai lầm của thời đại họ, và bỏ qua không để ý đến lời của Đấng Cứu Thế tỏ cho biết bản chất thật của nước Ngài, và chỉ về phía trước đến sự thống khổ và sự chết của Ngài. Và những sai lầm này đã dẫn đến thử thách — sắc bén nhưng cần thiết — được cho phép để sửa dạy họ. Dầu các môn đồ đã hiểu sai ý nghĩa sứ điệp của họ, và đã không thấy được sự trông mong của mình được thực hiện, tuy vậy họ đã rao giảng lời cảnh báo mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ, và Chúa sẽ thưởng đức tin của họ và tôn trọng sự vâng lời của họ. Công việc rao truyền cho muôn dân tin lành vinh hiển về Chúa phục sinh của họ sẽ được giao phó cho họ. Chính để chuẩn bị cho họ công việc này mà kinh nghiệm mà đối với họ dường như quá cay đắng đã được cho phép xảy ra. GC 348.2
Sau sự sống lại của Ngài, Đức Chúa Giê-su hiện ra với các môn đồ trên đường đến Em-ma-út, và “bắt đầu từ Môi-se rồi kế đến mọi đấng tiên tri mà cắt nghĩa cho hai người đó những lời chỉ về Ngài trong cả Kinh Thánh.” Lu-ca 24:27. Lòng các môn đồ được rúng động. Đức tin được nhóm lên. Họ đã “được lại sanh bởi một sự trông cậy sống” ngay trước khi Đức Chúa Giê-su tỏ mình ra cho họ. Mục đích của Ngài là soi sáng sự hiểu biết của họ và khiến đức tin họ bám chắc vào “lời tiên tri chắc chắn.” Ngài muốn lẽ thật bén rễ vững vàng trong tâm trí họ, không chỉ vì được chứng thực bởi lời chứng đích thân của Ngài, mà còn vì bằng chứng không thể chối cãi được trình bày bởi các biểu tượng và hình bóng của luật điển hình, và bởi các lời tiên tri của Cựu Ước. Các môn đồ của Đấng Christ cần phải có một đức tin thông sáng, không những vì chính họ, mà cũng để họ có thể đem sự hiểu biết về Đấng Christ đến cho thế gian. Và như bước đầu tiên trong việc truyền đạt sự hiểu biết này, Đức Chúa Giê-su đã hướng các môn đồ đến “Môi-se và hết thảy các đấng tiên tri.” Đó là lời chứng được Đấng Cứu Thế phục sinh ban cho về giá trị và tầm quan trọng của Kinh Thánh Cựu Ước. GC 349.1
Thật là một sự biến đổi được thực hiện trong lòng các môn đồ khi họ một lần nữa nhìn thấy gương mặt yêu dấu của Chủ mình! Lu-ca 24:32. Theo một ý nghĩa đầy đủ và trọn vẹn hơn bao giờ hết, họ đã “tìm thấy Đấng mà Môi-se có chép trong luật pháp, và các tiên tri cũng có nói đến.” Sự bất định, sự đau đớn, sự tuyệt vọng, đã nhường chỗ cho sự bảo đảm trọn vẹn, cho đức tin không còn bị mây che. Không lạ gì sau khi Ngài thăng thiên thì họ “cứ ở trong đền thờ, ngợi khen và chúc tụng Đức Chúa Trời.” Dân chúng, chỉ biết về sự chết nhục nhã của Đấng Cứu Thế, trông mong nhìn thấy trên gương mặt họ vẻ đau buồn, bối rối và thất bại; nhưng họ lại thấy ở đó sự vui mừng và đắc thắng. Các môn đồ này đã nhận được biết bao sự chuẩn bị cho công việc trước mặt họ! Họ đã trải qua thử thách sâu xa nhất mà họ có thể kinh nghiệm, và đã thấy, khi dưới tầm mắt loài người mọi sự dường như đã mất, thì lời của Đức Chúa Trời đã được hoàn tất cách đắc thắng. Từ đây trở đi, điều gì có thể làm rúng động đức tin họ hay làm nguội sự sốt sắng của tình yêu họ? Trong sự đau buồn cay đắng nhất, họ đã có “sự yên ủi bền chặt,” một niềm hy vọng là “cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt.” hầu cho nhờ hai điều chẳng thay đổi đó, — và về hai điều ấy Đức Chúa Trời chẳng có thể nói dối, — mà chúng ta tìm được sự yên ủi lớn mạnh, là kẻ đã trốn đến nơi ẩn náu, mà cầm lấy sự trông cậy đã đặt trước mặt chúng ta. Chúng ta giữ điều trông cậy này như cái neo của linh hồn, vững vàng bền chặt, thấu vào phía trong màn,
(Hê-bơ-rơ 6:18-19)Họ đã từng chứng kiến sự khôn ngoan và quyền phép của Đức Chúa Trời, và họ “tin chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể” phân rẽ họ khỏi “sự yêu thương của Đức Chúa Trời, là sự yêu thương ở trong Đức Chúa Giê-su, Chúa chúng ta.” “Trong mọi sự đó,” họ nói, “chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần.” Trái lại, trong mọi sự đó, chúng ta nhờ Đấng yêu thương mình mà thắng hơn bội phần. Vì tôi chắc rằng bất kỳ sự chết, sự sống, các thiên sứ, các kẻ cầm quyền, việc bây giờ, việc hầu đến, quyền phép, bề cao, hay là bề sâu, hoặc một vật nào, chẳng có thể phân rẽ chúng ta khỏi sự yêu thương mà Đức Chúa Trời đã chứng cho chúng ta trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, là Chúa chúng ta.
(Rô-ma 8:37-39) Lời Chúa còn lại đời đời.” Nhưng lời Chúa còn lại đời đời. Và lời đó là đạo Tin lành đã giảng ra cho anh em.
(I Phi-e-rơ 1:25) Và “ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Giê-su Christ là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta.” Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta.
(Rô-ma 8:34) GC 349.2
Chúa phán rằng: Các ngươi sẽ đủ ăn và được no nê. Các ngươi sẽ ngợi khen danh Giê-hô-va Đức Chúa Trời mình, là Đấng đã xử với các ngươi cách lạ lùng. Rồi dân ta sẽ không hề bị xấu hổ nữa.
(Giô-ên 2:26)Vì sự giận Ngài chỉ trong một lúc, Còn ơn của Ngài có trọn một đời; Sự khóc lóc đến trọ ban đêm, Nhưng buổi sáng bèn có sự vui mừng.
(Thi-thiên 30:5) Khi vào ngày phục sinh của Ngài, các môn đồ nầy gặp Đấng Cứu Thế, và lòng họ nóng nảy trong khi lắng nghe lời Ngài; khi họ nhìn xem đầu, tay, và chân của Ngài đã bị thương tích vì họ; khi trước lúc thăng thiên, Đức Chúa Giê-su dẫn họ ra đến làng Bê-tha-ni, và giơ tay lên ban phước cho họ, truyền bảo họ: Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người.
(Mác 16:15) thêm rằng: và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.
(Ma-thi-ơ 28:20) Ngài phán cùng các sứ đồ rằng: Hãy đi khắp thế gian, giảng Tin lành cho mọi người.
(Mác 16:15) và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi. Và này, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.
(Ma-thi-ơ 28:20) khi trong ngày lễ Ngũ Tuần, Đấng Yên Ủi đã hứa giáng xuống và quyền năng từ trên cao được ban cho, và linh hồn các tín đồ rung động với sự hiện diện hữu thức của Chúa họ đã thăng thiên—lúc đó, dầu con đường của họ, như của Ngài, phải trải qua sự hy sinh và tử đạo, họ có chịu đổi chức vụ tin lành của ân điển Ngài, cùng với “mão triều thiên của sự công bình” sẽ được nhận khi Ngài đến, để lấy vinh quang của một ngai vàng trần gian, vốn là niềm hy vọng của họ trong giai đoạn làm môn đồ ban đầu chăng? Đấng “có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng”, đã ban cho họ, cùng với sự thông công trong những sự đau đớn của Ngài, sự thông công trong niềm vui của Ngài—niềm vui “dẫn nhiều con đến sự vinh hiển”, niềm vui không thể nói ra được, một “sự vinh hiển cao trọng đời đời” mà, như Phao-lô nói, “sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta” thì “không đáng so sánh”. GC 350.1
Kinh nghiệm của các môn đồ là những người đã rao giảng “tin lành của nước Đức Chúa Trời” vào sự tái lâm thứ nhứt của Đấng Christ, có sự tương ứng trong kinh nghiệm của những người đã rao truyền sứ điệp về sự tái lâm của Ngài. Như các môn đồ đã đi ra rao giảng: “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần”, thì Miller và các cộng sự của ông đã rao truyền rằng thời kỳ tiên tri dài nhứt và cuối cùng được tỏ ra trong Kinh Thánh sắp chấm dứt, sự phán xét đã gần, và nước đời đời sắp được khai mạc. Sự rao giảng của các môn đồ về thời điểm dựa trên bảy mươi tuần lễ của [[BIBLE:Daniel 9]]. Sứ điệp được Miller và các cộng sự của ông đưa ra loan báo sự chấm dứt của 2300 ngày trong Người trả lời cùng ta rằng: Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.
(Đa-ni-ên 8:14)trong đó bảy mươi tuần lễ là một phần. Sự rao giảng của mỗi bên đều dựa trên sự ứng nghiệm của một phần khác nhau trong cùng một thời kỳ tiên tri lớn. GC 351.1
Giống như các môn đồ đầu tiên, William Miller và các cộng sự của ông, chính họ, đã không hoàn toàn hiểu được ý nghĩa của sứ điệp mà họ mang. Những sai lầm đã được thiết lập từ lâu trong hội thánh đã cản trở họ đạt đến một sự giải thích đúng đắn về một điểm quan trọng trong lời tiên tri. Vì vậy, dầu họ rao truyền sứ điệp mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho họ để ban cho thế giới, nhưng qua sự hiểu lầm về ý nghĩa của nó, họ đã chịu sự thất vọng. GC 351.2
Khi giải thích Người trả lời cùng ta rằng: Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.
(Đa-ni-ên 8:14)Người trả lời cùng ta rằng: Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.
(Đa-ni-ên 8:14) Miller, như đã được nói đến, đã chấp nhận quan điểm thông thường cho rằng trái đất là đền thánh, và ông tin rằng sự làm sạch đền thánh tượng trưng cho sự thanh tẩy trái đất bằng lửa khi Chúa đến. Vì vậy, khi ông thấy rằng sự chấm dứt của 2300 ngày được tiên tri cách rõ ràng, ông kết luận rằng điều nầy đã tỏ ra thời điểm của sự tái lâm. Sai lầm của ông đến từ việc chấp nhận quan điểm phổ thông về điều gì cấu thành đền thánh. GC 352.1
Trong hệ thống biểu tượng, là hình bóng của sự hy sinh và chức tế lễ của Đấng Christ, sự làm sạch đền thánh là công việc cuối cùng được thầy tế lễ thượng phẩm thực hiện trong chu kỳ chức vụ hằng năm. Đó là công việc kết thúc của sự chuộc tội—một sự cất đi hay dẹp bỏ tội lỗi khỏi dân Y-sơ-ra-ên. Nó tiền báo công việc kết thúc trong chức vụ của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm của chúng ta ở trên trời, trong việc cất đi hay xóa sạch tội lỗi của dân Ngài, vốn được ghi lại trong sổ sách trên trời. Công việc nầy bao hàm một công việc tra xét, một công việc phán xét; và nó xảy ra ngay trước khi Đấng Christ đến trong mây trời với quyền năng và vinh quang lớn; vì khi Ngài đến, mọi trường hợp đã được phán quyết. Đức Chúa Giê-su phán: Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.
(Khải-huyền 22:12)Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.
(Khải-huyền 22:12) Chính công việc phán xét nầy, xảy ra ngay trước sự tái lâm, được loan báo trong sứ điệp của thiên sứ thứ nhứt trong Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời đất, biển và các suối nước.
(Khải-huyền 14:7) Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời đất, biển và các suối nước.
(Khải-huyền 14:7) GC 352.2
Những người đã rao truyền lời cảnh cáo nầy đã ban sứ điệp đúng vào thời điểm đúng. Nhưng cũng như các môn đồ đầu tiên đã tuyên bố: “Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần,” dựa trên lời tiên tri của [[BIBLE:Daniel 9]], mà không nhận ra rằng sự chết của Đấng Mê-si cũng được tiên tri trong cùng một đoạn Kinh Thánh, thì Miller và các cộng sự của ông cũng đã rao giảng sứ điệp dựa trên Người trả lời cùng ta rằng: Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.
(Đa-ni-ên 8:14)và Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời đất, biển và các suối nước.
(Khải-huyền 14:7) mà không thấy rằng còn có những sứ điệp khác được tỏ ra trong [[BIBLE:Revelation 14]], cũng phải được ban ra trước sự tái lâm của Chúa. Như các môn đồ đã sai lầm về nước sắp được thiết lập vào cuối bảy mươi tuần lễ, thì những người Cơ-đốc Phục Lâm cũng đã sai lầm về biến cố sẽ xảy ra vào lúc chấm dứt của 2300 ngày. Trong cả hai trường hợp đều có sự chấp nhận, hay nói đúng hơn là sự bám víu vào những sai lầm phổ thông đã làm mờ tâm trí không thấy được lẽ thật. Cả hai nhóm đều đã làm trọn ý chỉ của Đức Chúa Trời trong việc truyền ban sứ điệp mà Ngài muốn được ban ra, và cả hai, qua sự hiểu lầm của chính mình về sứ điệp của họ, đã chịu sự thất vọng. GC 352.3
Tuy nhiên, Đức Chúa Trời đã hoàn thành mục đích nhân từ của chính Ngài trong việc cho phép lời cảnh cáo về sự phán xét được ban ra đúng như vậy. Ngày trọng đại đã đến gần, và trong sự quan phòng của Ngài, dân chúng đã được đưa đến sự thử thách của một thời điểm rõ ràng, để bày tỏ cho họ điều gì đang có trong lòng họ. Sứ điệp được thiết kế để thử thách và thanh tẩy hội thánh. Họ phải được dẫn đến chỗ thấy rõ tình cảm của họ có đặt vào thế gian nầy hay là vào Đấng Christ và thiên đàng. Họ tuyên xưng yêu mến Đấng Cứu Thế; bây giờ họ phải chứng minh tình yêu của họ. Họ có sẵn sàng từ bỏ những hy vọng và tham vọng trần thế của mình, và vui mừng đón tiếp sự tái lâm của Chúa mình không? Sứ điệp được thiết kế để giúp họ phân biệt tình trạng thuộc linh thật của mình; nó được gởi đến trong sự thương xót để đánh thức họ tìm kiếm Chúa với sự ăn năn và hạ mình. GC 353.1
Sự thất vọng cũng vậy, dầu là kết quả của sự hiểu lầm của chính họ về sứ điệp mà họ đã ban ra, cũng phải được sử dụng để làm điều tốt. Nó sẽ thử lòng của những người đã tuyên xưng tiếp nhận lời cảnh cáo. Đối diện với sự thất vọng của mình, họ có sẽ khinh suất từ bỏ kinh nghiệm của mình và ném bỏ lòng tin cậy của mình nơi lời Đức Chúa Trời chăng? hay là họ, trong sự cầu nguyện và hạ mình, sẽ tìm cách phân biệt nơi nào mình đã không hiểu được ý nghĩa của lời tiên tri? Có bao nhiêu người đã di chuyển do sợ hãi, hay do xung động và phấn khích? Có bao nhiêu người nửa lòng và không tin? Vô số người tuyên xưng yêu mến sự hiện ra của Chúa. Khi được gọi chịu đựng những lời chế giễu và sỉ nhục của thế gian, cùng sự thử thách của sự trì hoãn và thất vọng, họ có sẽ từ bỏ đức tin chăng? Bởi vì họ không lập tức hiểu được cách đối xử của Đức Chúa Trời với họ, họ có sẽ ném bỏ những lẽ thật được chứng thực bởi chứng cớ rõ ràng nhứt của lời Ngài chăng? GC 353.2
Sự thử thách nầy sẽ tỏ ra sức mạnh của những người với đức tin chân thật đã vâng theo điều họ tin là sự dạy dỗ của lời và Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời. Nó sẽ dạy họ, như chỉ một kinh nghiệm như vậy mới có thể dạy được, sự nguy hiểm của việc chấp nhận các lý thuyết và cách giải thích của loài người, thay vì để Kinh Thánh tự giải thích chính mình. Đối với con cái của đức tin, sự bối rối và buồn rầu do sai lầm của họ sẽ đem lại sự sửa đổi cần thiết. Họ sẽ được dẫn đến một sự nghiên cứu chặt chẽ hơn về lời tiên tri. Họ sẽ được dạy dỗ để xem xét cẩn thận hơn nền tảng của đức tin mình, và chối bỏ mọi điều, dầu được thế giới Cơ-đốc rộng rãi chấp nhận đến đâu, mà không được lập nền trên Kinh Thánh của lẽ thật. GC 354.1
Với những tín đồ nầy, cũng như với các môn đồ đầu tiên, điều mà trong giờ thử thách dường như tối tăm đối với sự hiểu biết của họ, về sau sẽ được làm cho rõ ràng. Khi họ được thấy “sự cuối cùng mà Chúa đã làm ra”, họ sẽ biết rằng, bất chấp sự thử thách do sai lầm của họ, các mục đích yêu thương của Ngài đối với họ đã được hoàn thành cách đều đặn. Họ sẽ học được qua một kinh nghiệm phước hạnh rằng Ngài “đầy lòng thương xót, và nhân từ dịu dàng”; rằng mọi đường lối Ngài “đều là nhân từ và chân thật cho kẻ nào giữ giao ước và chứng cớ của Ngài”. GC 354.2