Chương 18
18

Một Nhà Cải Chánh Người Mỹ

Chương 18—Một Nhà Cải Chánh Người Mỹ

Một người nông dân ngay thẳng, lòng dạ chân thật, đã từng bị dẫn đến chỗ nghi ngờ thẩm quyền thiêng liêng của Kinh Thánh, nhưng lại thành thật mong muốn biết lẽ thật, chính là người được Đức Chúa Trời đặc biệt chọn để đi đầu trong việc rao giảng về sự tái lâm của Đấng Christ. Như nhiều nhà cải chánh khác, William Miller trong thời niên thiếu đã phải vật lộn với cảnh nghèo khó, và nhờ đó đã học được những bài học lớn về nghị lực và sự tự chủ. Những thành viên trong gia đình mà ông xuất thân có đặc điểm là tinh thần độc lập, yêu chuộng tự do, khả năng chịu đựng bền bỉ, và lòng ái quốc nồng nàn—những nét tính cách cũng nổi bật trong con người ông. Cha của ông là một đại úy trong quân đội Cách Mạng, và chính từ những hy sinh mà ông ấy đã chịu trong cuộc đấu tranh và đau khổ của thời kỳ giông bão đó, có thể truy ra nguyên do của hoàn cảnh eo hẹp trong thời niên thiếu của Miller. GC 317.1

Ông có một thể chất khỏe mạnh, và ngay từ thuở ấu thơ đã cho thấy sức mạnh trí tuệ vượt trội hơn bình thường. Khi ông lớn lên, điều này càng trở nên rõ rệt hơn. Trí óc ông linh hoạt và phát triển tốt, và ông có lòng khao khát tri thức mãnh liệt. Dù không được hưởng lợi thế của nền giáo dục đại học, tình yêu học hỏi và thói quen suy nghĩ cẩn thận cùng sự phê bình sâu sắc đã khiến ông trở thành một người có óc phán đoán vững vàng và tầm nhìn toàn diện. Ông sở hữu một nhân cách đạo đức không thể chê trách và một danh tiếng đáng ao ước, nhìn chung được mọi người kính trọng vì sự liêm chính, siêng năng, và lòng nhân ái. Nhờ nghị lực và sự chuyên cần, ông sớm đạt được mức sống sung túc, dù ông vẫn duy trì thói quen học tập. Ông đã đảm nhiệm nhiều chức vụ dân sự và quân sự một cách đáng khen, và các con đường dẫn đến giàu sang và danh vọng dường như rộng mở trước mắt ông. GC 317.2

Mẹ ông là một phụ nữ có lòng đạo đức đáng quý, và trong thời ấu thơ, ông đã chịu ảnh hưởng bởi những ấn tượng tôn giáo. Tuy nhiên, trong thời thanh niên, ông bị cuốn vào xã hội của những người theo thuyết thần giáo tự nhiên, mà ảnh hưởng của họ càng mạnh mẽ hơn bởi thực tế rằng họ phần lớn là những công dân tốt và những người có tính cách nhân hậu và rộng lượng. Sống giữa các định chế Cơ-đốc, tính cách của họ đã phần nào được định hình bởi môi trường xung quanh. Những phẩm chất tốt đẹp đã giành được sự kính trọng và tin cậy của người khác đều là nhờ Kinh Thánh; vậy mà những ơn phước tốt đẹp đó lại bị bóp méo đến mức gây ảnh hưởng chống lại Lời Đức Chúa Trời. Do giao thiệp với những người này, Miller đã bị dẫn đến chỗ tiếp nhận quan điểm của họ. Những cách giải thích Kinh Thánh phổ biến thời bấy giờ trình bày những khó khăn mà đối với ông dường như không thể vượt qua; tuy nhiên, niềm tin mới của ông, trong khi gạt bỏ Kinh Thánh, lại không đưa ra điều gì tốt hơn để thay thế, và ông vẫn không hề thỏa mãn. Dù vậy, ông vẫn giữ những quan điểm này trong khoảng mười hai năm. Nhưng ở tuổi ba mươi bốn, Đức Thánh Linh đã tác động vào lòng ông, khiến ông ý thức được tình trạng của mình là một kẻ có tội. Ông không tìm thấy trong niềm tin trước đây của mình bất kỳ sự đảm bảo nào về hạnh phúc bên kia mồ mả. Tương lai thật tối tăm và u ám. Sau này, khi nói về những cảm xúc của mình vào thời điểm ấy, ông đã nói: GC 318.1

“Sự hủy diệt là một ý tưởng lạnh lẽo và rùng rợn, và sự chịu trách nhiệm chắc chắn là sự hủy diệt cho mọi người. Các tầng trời trên đầu tôi như bằng đồng, và đất dưới chân tôi như bằng sắt. Cõi đời đời—nó là gì? Và cái chết—tại sao nó lại xảy ra? Tôi càng lý luận, tôi càng xa rời việc chứng minh được. Tôi càng suy nghĩ, các kết luận của tôi càng tản mác. Tôi đã cố gắng ngừng suy nghĩ, nhưng các ý tưởng của tôi không thể bị kiểm soát. Tôi thực sự khốn khổ, nhưng không hiểu nguyên nhân. Tôi lẩm bẩm và phàn nàn, nhưng không biết với ai. Tôi biết có điều gì đó sai trật, nhưng không biết cách nào hay nơi đâu để tìm thấy điều đúng. Tôi than khóc, nhưng không có hy vọng.” GC 318.2

Ông cứ ở trong tình trạng này trong vài tháng. Ông nói: “Đột nhiên, hình ảnh về một Đấng Cứu Thế in sâu vào tâm trí tôi cách sống động. Dường như có thể có một Đấng tốt lành và đầy lòng thương xót đến nỗi chính Ngài sẽ chuộc tội cho những vi phạm của chúng ta, và nhờ đó cứu chúng ta khỏi phải chịu hình phạt của tội lỗi. Tôi lập tức cảm nhận được một Đấng như vậy hẳn phải đáng yêu mến biết bao, và tôi hình dung rằng mình có thể gieo mình vào cánh tay của Ngài, và tin cậy vào lòng thương xót của một Đấng như vậy. Nhưng câu hỏi nảy sinh: Làm thế nào có thể chứng minh rằng một Đấng như vậy thực sự tồn tại? Ngoài Kinh Thánh ra, tôi nhận thấy không thể tìm được bằng chứng nào về sự hiện hữu của một Đấng Cứu Thế như vậy, hoặc thậm chí về một trạng thái tương lai…. GC 319.1

“Tôi đã thấy rằng Kinh Thánh thực sự trình bày cho tôi thấy chính Đấng Cứu Thế mà tôi cần; và tôi bối rối không hiểu làm sao một cuốn sách không được linh cảm lại có thể khai triển những nguyên tắc phù hợp hoàn hảo đến thế với những nhu cầu của một thế giới sa ngã. Tôi buộc phải thừa nhận rằng Kinh Thánh chắc hẳn là sự mặc khải từ Đức Chúa Trời. Nó đã trở thành niềm vui thích của tôi; và trong Đức Chúa Giê-su, tôi tìm được một người bạn. Đấng Cứu Thế trở nên đối với tôi là Đấng tuyệt nhất giữa muôn ngàn; và Kinh Thánh, vốn trước đây tăm tối và mâu thuẫn, nay trở thành ngọn đèn cho chân tôi và ánh sáng cho đường lối tôi. Tâm trí tôi trở nên bình an và thỏa mãn. Tôi nhận thấy Giê-hô-va Đức Chúa Trời là Vầng Đá giữa đại dương cuộc đời. Kinh Thánh nay trở thành môn học chính của tôi, và tôi có thể thành thật nói rằng, tôi đã tra cứu nó với niềm vui thích lớn lao. Tôi thấy rằng một nửa cũng chưa bao giờ được kể cho tôi nghe. Tôi tự hỏi vì sao trước đây mình không nhìn thấy vẻ đẹp và sự vinh hiển của nó, và kinh ngạc rằng mình đã từng có thể chối bỏ nó. Tôi tìm thấy mọi điều được mặc khải mà lòng tôi có thể mong ước, và một phương thuốc cho mọi căn bệnh của linh hồn. Tôi mất hết hứng thú với những sách khác, và dồn hết tâm trí để tìm kiếm sự khôn ngoan từ Đức Chúa Trời.”—S. Bliss, Memoirs of Wm. Miller, trang 65-67. GC 319.2

Miller đã công khai tuyên xưng đức tin của mình vào tôn giáo mà ông đã từng khinh dể. Nhưng các bạn bè vô tín của ông không chậm trễ trong việc đưa ra tất cả những lý lẽ mà chính ông đã từng nhiều lần dùng để chống lại thẩm quyền thiêng liêng của Kinh Thánh. Lúc bấy giờ ông chưa sẵn sàng để trả lời họ; nhưng ông lý luận rằng nếu Kinh Thánh là sự mặc khải từ Đức Chúa Trời, thì nó phải nhất quán với chính nó; và vì nó được ban cho để chỉ dạy cho loài người, nên nó phải được thích nghi với sự hiểu biết của con người. Ông quyết định tự mình nghiên cứu Kinh Thánh, và xác định xem mọi mâu thuẫn bề ngoài có thể được hòa hợp hay không. GC 319.3

Nỗ lực gạt sang một bên tất cả những quan niệm có sẵn, và không dùng đến các sách chú giải, ông so sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh bằng sự trợ giúp của các tham chiếu bên lề và cuốn tra từ. Ông theo đuổi việc học của mình một cách đều đặn và có phương pháp; bắt đầu từ sách Sáng-thế Ký, và đọc từng câu một, ông không tiến nhanh hơn mức mà ý nghĩa của những đoạn văn khác nhau được mở ra cho đến khi không còn điều gì làm ông lúng túng. Khi ông thấy có điều gì tối nghĩa, thói quen của ông là so sánh nó với mọi câu khác dường như có bất kỳ liên hệ nào đến vấn đề đang xem xét. Mỗi lời đều được phép mang ý nghĩa thích hợp của nó đối với chủ đề của đoạn văn, và nếu cách hiểu của ông về nó hòa hợp với mọi câu có liên quan, thì nó không còn là một điều khó khăn nữa. Như vậy, bất cứ khi nào ông gặp một đoạn văn khó hiểu, ông đều tìm thấy sự giải thích ở một phần khác của Kinh Thánh. Khi ông học hỏi với lời cầu nguyện tha thiết xin sự soi sáng thiêng liêng, những gì trước đây dường như tối tăm đối với sự hiểu biết của ông đều được làm cho rõ ràng. Ông đã kinh nghiệm lẽ thật của lời tác giả thi thiên: Sự bày giãi lời Chúa, soi sáng cho, Ban sự thông hiểu cho người thật thà.

(Thi-thiên 119:130) GC 320.1

Với sự quan tâm sâu sắc, ông đã nghiên cứu các sách Đa-ni-ên và Khải Huyền, sử dụng cùng những nguyên tắc giải thích như trong các phần Kinh Thánh khác, và ông đã vui mừng khôn xiết khi nhận thấy rằng các biểu tượng tiên tri có thể được hiểu. Ông thấy rằng những lời tiên tri, cho đến chừng mực chúng đã được ứng nghiệm, thì đã được ứng nghiệm theo nghĩa đen; rằng tất cả các hình bóng, ẩn dụ, ngụ ngôn, phép so sánh khác nhau, v.v., hoặc được giải thích trong bối cảnh trực tiếp của chúng, hoặc các thuật ngữ dùng để diễn tả chúng được định nghĩa ở các chỗ khác trong Kinh Thánh, và khi được giải thích như vậy, thì phải được hiểu theo nghĩa đen. Ông nói: “Do đó tôi được thỏa mãn rằng Kinh Thánh là một hệ thống các lẽ thật được mặc khải, được trình bày rõ ràng và đơn sơ đến nỗi người lữ khách, dẫu là kẻ khờ dại, cũng không lầm lạc trong đó.”—Bliss, trang 70. Từng mắt xích nối tiếp nhau của chuỗi lẽ thật đã tưởng thưởng cho những nỗ lực của ông, khi từng bước một ông lần theo các dòng tiên tri vĩ đại. Các thiên sứ trên trời đang dẫn dắt tâm trí ông và mở Kinh Thánh ra cho sự hiểu biết của ông. GC 320.2

Lấy cách thức mà các lời tiên tri đã được ứng nghiệm trong quá khứ làm tiêu chuẩn để xét đoán sự ứng nghiệm của những lời tiên tri vẫn còn ở tương lai, ông được thuyết phục rằng quan điểm phổ biến về sự trị vì thuộc linh của Đấng Christ—một thiên hi niên tạm thời trước ngày tận thế—không được Lời Đức Chúa Trời ủng hộ. Giáo lý này, chỉ đến một ngàn năm công bình và hòa bình trước sự đích thân quang lâm của Chúa, đã đẩy xa những kinh hoàng của ngày Đức Chúa Trời. Nhưng dù có vẻ làm đẹp lòng đến đâu, nó vẫn trái ngược với sự dạy dỗ của Đấng Christ và các sứ đồ Ngài, là những người đã tuyên bố rằng lúa mì và cỏ lùng phải cùng mọc lên cho đến mùa gặt, là ngày tận thế; rằng “những người hung ác, kẻ giả mạo thì càng chìm đắm luôn trong điều dữ”; rằng “trong ngày sau rốt, sẽ có những thời kỳ khó khăn”; và rằng vương quốc của tối tăm sẽ tiếp tục cho đến khi Chúa tái lâm và sẽ bị tiêu diệt bằng hơi miệng Ngài và bị hủy phá bởi sự chói sáng của sự quang lâm Ngài. Hãy để cho cả hai thứ cùng lớn lên cho đến mùa gặt; đến mùa gặt, ta sẽ dặn con gặt rằng: Trước hết hãy nhổ cỏ lùng, bó lại từng bó mà đốt đi; song hãy thâu trữ lúa mì vào kho ta.

(Ma-thi-ơ 13:30)ruộng, là thế gian; giống tốt, là con cái nước thiên đàng; cỏ lùng, là con cái quỉ dữ; kẻ nghịch thù gieo cỏ ấy, là ma quỉ; mùa gặt, là ngày tận thế; con gặt, là các thiên sứ. Còn người ta nhổ cỏ lùng mà đốt trong lửa thể nào, thì ngày tận thế cũng sẽ như vậy; Con người sẽ sai các thiên sứ Ngài thâu mọi gương xấu và những kẻ làm ác khỏi nước Ngài, (Ma-thi-ơ 13:38-41) Nhưng những người hung ác, kẻ giả mạo thì càng chìm đắm luôn trong điều dữ, làm lầm lạc kẻ khác mà cũng lầm lạc chính mình nữa. (II Ti-mô-thê 3:13) Hãy biết rằng trong ngày sau rốt, sẽ có những thời kỳ khó khăn. (II Ti-mô-thê 3:1) Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Giê-su sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến. (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8) GC 321.1

Giáo lý về sự cải đạo của thế gian và sự trị vì thuộc linh của Đấng Christ không được hội thánh thời các sứ đồ nắm giữ. Nó không được những người Cơ-đốc chấp nhận rộng rãi cho đến khoảng đầu thế kỷ mười tám. Giống như mọi sai lầm khác, hậu quả của nó là xấu xa. Nó dạy người ta nhìn xa vào tương lai để chờ đợi sự quang lâm của Chúa và ngăn cản họ lưu tâm đến những dấu hiệu báo trước sự đến gần của Ngài. Nó gây nên một cảm giác tin tưởng và an ninh không có căn cứ vững chắc và khiến nhiều người lơ là sự chuẩn bị cần thiết để nghinh đón Chúa mình. GC 321.2

Miller nhận thấy sự đích thân quang lâm theo nghĩa đen của Đấng Christ được dạy rõ ràng trong Kinh Thánh. Phao-lô nói: Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết.

(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16)Và Đấng Cứu Thế tuyên bố: Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. (Ma-thi-ơ 24:30) Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy. (Ma-thi-ơ 24:27) Ngài sẽ được tất cả các đạo binh trên trời tháp tùng. Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. (Ma-thi-ơ 25:31) Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời này cho đến tận phương kia. (Ma-thi-ơ 24:31) GC 321.3

Khi Ngài đến, những người công bình đã chết sẽ được sống lại, và những người công bình còn sống sẽ được biến hóa. Phao-lô nói: Nầy là sự mầu nhiệm tôi tỏ cho anh em: Chúng ta không ngủ hết, nhưng hết thảy đều sẽ biến hóa, trong giây phút, trong nháy mắt, lúc tiếng kèn chót; vì kèn sẽ thổi, kẻ chết đều sống lại được không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa. Vả, thể hay hư nát này phải mặc lấy sự không hay hư nát, và thể hay chết này phải mặc lấy sự không hay chết.

(I Cô-rinh-tô 15:51-53)Và trong thư gửi cho người Tê-sa-lô-ni-ca, sau khi mô tả sự quang lâm của Chúa, ông nói: Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-17) GC 322.1

Phải đợi đến khi Đấng Christ đích thân tái lâm, dân sự Ngài mới có thể nhận lãnh vương quốc. Đấng Cứu Thế phán: Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người này với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; để chiên ở bên hữu và dê ở bên tả. Bấy giờ, vua sẽ phán cùng những kẻ ở bên hữu rằng: Hỡi các ngươi được Cha ta ban phước, hãy đến mà nhận lấy nước thiên đàng đã sắm sẵn cho các ngươi từ khi dựng nên trời đất.

(Ma-thi-ơ 25:31-34)Qua các đoạn Kinh Thánh vừa dẫn, chúng ta đã thấy rằng khi Con Người đến, kẻ chết được sống lại không hay hư nát và người sống được biến hóa. Nhờ sự biến đổi vĩ đại này, họ được chuẩn bị để nhận lãnh vương quốc; vì Phao-lô nói: Hỡi anh em, tôi đoán quyết rằng thịt và máu chẳng hưởng nước Đức Chúa Trời được, và sự hay hư nát không hưởng sự không hay hư nát được. (I Cô-rinh-tô 15:50) Con người trong tình trạng hiện tại là hay chết, hay hư nát; nhưng nước Đức Chúa Trời sẽ là không hay hư nát, tồn tại đời đời. Do đó, con người trong tình trạng hiện tại không thể vào nước Đức Chúa Trời được. Nhưng khi Đức Chúa Giê-su đến, Ngài ban sự bất tử cho dân sự Ngài; và bấy giờ Ngài gọi họ đến thừa hưởng vương quốc mà cho đến lúc ấy họ mới chỉ là những kẻ kế tự. GC 322.2

Những đoạn Kinh Thánh này và các đoạn khác đã chứng tỏ rõ ràng cho tâm trí Miller rằng các biến cố mà người ta thường trông đợi sẽ xảy ra trước sự tái lâm của Đấng Christ, như sự trị vì phổ quát của hòa bình và sự thiết lập nước Đức Chúa Trời trên đất, sẽ xảy ra sau sự tái lâm. Hơn nữa, tất cả các dấu hiệu của thời đại và tình trạng của thế giới đều tương ứng với sự mô tả tiên tri về ngày sau rốt. Chỉ bằng việc nghiên cứu Kinh Thánh, ông đã buộc phải đi đến kết luận rằng thời kỳ được ấn định cho sự tiếp tục của trái đất ở tình trạng hiện tại sắp kết thúc. GC 323.1

Ông nói: “Một loại bằng chứng khác đã ảnh hưởng sâu sắc đến tâm trí tôi là niên đại học của Kinh Thánh… Tôi nhận thấy các biến cố đã được báo trước, và đã được ứng nghiệm trong quá khứ, thường xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định. Một trăm hai mươi năm cho đến cơn Đại hồng thủy (Đức Giê-hô-va phán rằng: Thần ta sẽ chẳng hằng ở trong loài người luôn; trong điều lầm lạc, loài người chỉ là xác thịt; đời người sẽ là một trăm hai mươi năm mà thôi.

(Sáng-thế Ký 6:3)bảy ngày trước đó, với bốn mươi ngày mưa đã được báo trước (Vì còn bảy ngày nữa, ta sẽ làm mưa xuống mặt đất, trong bốn mươi ngày và bốn mươi đêm; ta sẽ tuyệt diệt khỏi đất hết các loài của ta đã dựng nên. (Sáng-thế Ký 7:4) bốn trăm năm dòng dõi Áp-ra-ham kiều ngụ (Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Phải biết rằng, dòng dõi ngươi sẽ ngụ trong một xứ chẳng thuộc về chúng nó, làm tôi mọi cho dân xứ đó và bị họ hà hiếp bốn trăm năm. (Sáng-thế Ký 15:13) ba ngày trong các giấc chiêm bao của quan tửu chánh và quan thượng thiện (Giô-sép nói: Ý nghĩa chiêm bao đó là thể này: Ba nhành nho tức là ba ngày. Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ tha quan ra khỏi ngục, phục chức lại, quan sẽ dâng cái chén của Pha-ra-ôn vào tay người như cũ, như khi còn làm chức tửu chánh. Song khi quan được hưởng lộc lại rồi, xin nhớ đến tôi, làm ơn tâu cùng Pha-ra-ôn về nỗi tôi, và đem tôi ra khỏi chốn này. Vì tôi bị người ta bắt đem ra khỏi xứ của người Hê-bơ-rơ, và tại đây tôi cũng chẳng có làm tội gì mà bị cầm nơi lao lung này. Quan thượng thiện thấy Giô-sép bàn mộng được tốt, bèn nói: Còn trong điềm chiêm bao của tôi đây, tôi đội ba giỏ bánh trắng trên đầu; trong giỏ cao hơn hết, có đủ món vật thực của thợ làm bánh hấp cho Pha-ra-ôn; chim đáp vào giỏ trên đầu tôi ăn các món đó. Giô-sép đáp rằng: Ý nghĩa chiêm bao này là, ba giỏ, tức là ba ngày. Trong ba ngày nữa, Pha-ra-ôn sẽ xử trảm quan, sai đem treo lên cây cho chim chóc ăn thịt quan vậy. Đến ngày thứ ba, là ngày sanh nhựt của Pha-ra-ôn, người bèn bày tiệc đãi cả quần thần, và tha quan tửu chánh cùng quan thượng thiện ra khỏi ngục. (Sáng-thế Ký 40:12-20) bảy năm của Pha-ra-ôn (Ấy là điều tôi đã tâu cùng bệ hạ rồi: Đức Chúa Trời có cho bệ hạ thấy những việc Ngài sẽ làm. Nầy, trong khắp xứ Ê-díp-tô sẽ có bảy năm được mùa dư dật. Nhưng bảy năm đó lại liền tiếp bảy năm đói kém; dân bổn xứ đều sẽ quên sự dư dật đó, và ách đói kém sẽ làm cho toàn xứ hao mòn. Và vì sự đói kém liên tiếp này lớn quá, nên thiên hạ chẳng còn thấy chi về sự dư dật đó nữa. Nếu điềm chiêm bao đến hai lần cho bệ hạ, ấy bởi Đức Chúa Trời đã quyết định điều đó rồi, và Ngài mau mau lo làm cho thành vậy. Bây giờ bệ hạ khá chọn một người thông minh trí huệ, lập người lên làm đầu trong xứ Ê-díp-tô, cùng lập các ủy viên trong xứ, để góp một phần năm của số thâu vào trong bảy năm được mùa dư dật đó. Họ hãy thâu góp hết thảy mùa màng trong bảy năm được mùa dư dật sẽ đến sau này, cùng thâu nhập lúa mì sẵn dành cho Pha-ra-ôn, dùng làm lương để dành trong các thành, và họ hãy giữ gìn lấy. Các lương thực này phải để dành cho bảy năm đói kém sẽ đến trong xứ Ê-díp-tô, hầu cho xứ này khỏi bị diệt bởi sự đói kém đó. Các lời này đẹp ý Pha-ra-ôn và quần thần. Pha-ra-ôn phán cùng quần thần rằng: Chúng ta há dễ tìm một người như người này, có thần minh của Đức Chúa Trời được sao? Pha-ra-ôn phán cùng Giô-sép rằng: Vì Đức Chúa Trời xui cho ngươi biết mọi việc này, thì chẳng còn ai được thông minh trí huệ như ngươi nữa. Vậy, ngươi sẽ lên cai trị nhà trẫm; hết thảy dân sự của trẫm đều sẽ vâng theo lời ngươi. Trẫm lớn hơn ngươi chỉ vì ngự ngôi vua mà thôi. Pha-ra-ôn lại phán cùng Giô-sép rằng: Hãy xem! Trẫm lập ngươi cầm quyền trên cả xứ Ê-díp-tô. Vua liền cởi chiếc nhẫn trong tay mình, đeo vào tay Giô-sép, truyền mặc áo vải gai mịn, và đeo vòng vàng vào cổ người; rồi, truyền cho lên ngồi xe sau xe vua, có người đi trước hô rằng: Hãy quì xuống! Ấy, Giô-sép được lập lên cầm quyền cả xứ Ê-díp-tô là vậy. Pha-ra-ôn lại phán cùng Giô-sép: Ta là Pha-ra-ôn, nhưng nếu chẳng có ngươi, thì trong cả xứ Ê-díp-tô không có ai giơ tay đưa chân lên được. Pha-ra-ôn đặt tên Giô-sép là Xa-phơ-nát-Pha-nê-ách, đưa nàng Ách-nát, con gái Phô-ti-phê-ra, thầy cả thành Ôn, cho người làm vợ. Người thường tuần hành trong xứ Ê-díp-tô. Vả, khi Giô-sép ra mắt Pha-ra-ôn, vua Ê-díp-tô, thì người đã ba mươi tuổi. Vậy, người từ tạ Pha-ra-ôn mà đi tuần khắp xứ Ê-díp-tô. Trong bảy năm được mùa dư dật, đất sanh sản ra đầy dẫy. Giô-sép bèn thâu góp hết thảy lương thực của bảy năm đó trong xứ Ê-díp-tô, và chứa lương thực này khắp các thành; trong mỗi thành, đều dành chứa hoa lợi của các ruộng ở chung quanh thành đó. Vậy, Giô-sép thâu góp lúa mì rất nhiều, như cát nơi bờ biển, cho đến đỗi người ta đếm không được, vì đầy dẫy vô số. Trước khi đến năm đói kém, thì Ách-nát, con gái Phô-ti-phê-ra, thầy cả thành Ôn, sanh cho Giô-sép hai con trai. Giô-sép đặt tên đứa đầu lòng là Ma-na-se, vì nói rằng: Đức Chúa Trời đã làm cho ta quên điều cực nhọc, và cả nhà cha ta. Người đặt tên đứa thứ nhì là Ép-ra-im, vì nói rằng: Đức Chúa Trời làm cho ta được hưng vượng trong xứ mà ta bị khốn khổ. Bảy năm được mùa dư dật trong xứ Ê-díp-tô bèn qua, thì bảy năm đói kém khởi đến, y như lời Giô-sép đã bàn trước. Khắp các xứ khác cũng đều bị đói, nhưng trong cả xứ Ê-díp-tô lại có bánh. (Sáng-thế Ký 41:28-54) bốn mươi năm trong đồng vắng (Các ngươi đi do thám xứ bao nhiêu ngày, nghĩa là bốn mươi ngày, thì các ngươi cũng sẽ mang hình phạt vì tội gian ác mình bấy nhiêu năm, nghĩa là bốn mươi năm, một năm đền cho một ngày; bấy giờ các ngươi sẽ biết ta đã xây khỏi các ngươi. (Dân-số Ký 14:34) ba năm rưỡi đói kém (Ê-li ở Thi-sê-be, là một người trong bọn đã sang ngụ Ga-la-át, nói với A-háp rằng: Ta đứng trước mặt Giê-hô-va Đức Chúa Trời của Y-sơ-ra-ên hằng sống mà thề rằng: Mấy năm về sau đây, nếu ta chẳng nói, chắc sẽ không có sương, cũng không có mưa. (I Các Vua 17:1) xem Ta nói thật cùng các ngươi, về đời Ê-li, khi trời đóng chặt trong ba năm sáu tháng, cả xứ bị đói kém, trong dân Y-sơ-ra-ên có nhiều đàn bà góa; (Lu-ca 4:25) bảy mươi năm bị lưu đày (Cả đất này sẽ trở nên hoang vu gở lạ, các nước này sẽ phục sự vua Ba-by-lôn trong bảy mươi năm. (Giê-rê-mi 25:11) bảy kỳ của Nê-bu-cát-nết-sa (Ta nhìn xem những sự hiện thấy trong đầu ta, khi ta nằm trên giường, và này, có một đấng thánh canh giữ từ trên trời xuống. Người kêu lớn tiếng và nói rằng: Hãy đốn cây và chặt nhành nó; hãy làm rụng lá và vãi trái nó ra; hãy cho thú vật tránh khỏi dưới nó, và chim chóc khỏi nhành nó! Dầu vậy, hãy để lại gốc của rễ nó trong đất, mà cột nó bằng một dây xích sắt và đồng, nơi giữa cỏ xanh trong đồng ruộng; cho nó bị sương trên trời thấm ướt; và cho người cùng các loài thú chia phần cỏ dưới đất! Cho lòng người bị đổi đi, và người được ban cho lòng thú; và trải qua bảy kỳ trên người. (Đa-ni-ên 4:13-16) và bảy tuần lễ, sáu mươi hai tuần lễ, và một tuần lễ, hợp thành bảy mươi tuần lễ, đã được định cho người Do Thái (Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh. Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lệnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định. Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định. (Đa-ni-ên 9:24-27) các biến cố bị giới hạn bởi những thời kỳ này đều có một lần chỉ là vấn đề của lời tiên tri, và đã được ứng nghiệm đúng như những lời báo trước."—Bliss, trang 74, 75. GC 323.2

Do đó, khi trong sự nghiên cứu Kinh Thánh ông đã tìm thấy nhiều thời kỳ niên đại khác nhau mà, theo sự hiểu biết của ông, kéo dài đến sự tái lâm của Đấng Christ, ông không thể không xem chúng như “các kỳ đã định sẵn”, mà Đức Chúa Trời đã bày tỏ cho các tôi tớ Ngài. Môi-se nói: “Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời”; và Chúa phán qua tiên tri A-mốt rằng Ngài “chẳng có làm một việc gì, mà Ngài không tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri”. Những sự bí mật thuộc về Giê-hô-va Đức Chúa Trời chúng ta; song những sự bày tỏ thuộc về chúng ta, và con cháu chúng ta đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp này.

(Phục-truyền Luật-lệ Ký 29:29)Cũng vậy, Chúa Giê-hô-va chẳng có làm một việc gì mà Ngài chưa tỏ sự kín nhiệm Ngài ra trước cho tôi tớ Ngài, là các đấng tiên tri. (A-mốt 3:7) Vậy thì, những người nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời có thể tin tưởng trông mong tìm thấy biến cố vĩ đại nhất sẽ xảy ra trong lịch sử loài người được chỉ ra rõ ràng trong Kinh Thánh chân lý. GC 324.1

Miller nói: “Vì tôi hoàn toàn được thuyết phục rằng cả Kinh Thánh đều được Đức Chúa Trời soi dẫn và có ích (Cả Kinh thánh đều là bởi Đức Chúa Trời soi dẫn. có ích cho sự dạy dỗ, bẻ trách, sửa trị, dạy người trong sự công bình,

(II Ti-mô-thê 3:16)rằng nó chẳng hề do ý người ta mà ra, nhưng được viết ra bởi những người thánh được Đức Thánh Linh cảm động (Vì chẳng hề có lời tiên tri nào là bởi ý một người nào mà ra, nhưng ấy là bởi Đức Thánh Linh cảm động mà người ta đã nói bởi Đức Chúa Trời. (II Phi-e-rơ 1:21) và được viết ra ‘hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh Thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy’ (Vả, mọi sự đã chép từ xưa đều để dạy dỗ chúng ta, hầu cho bởi sự nhịn nhục và sự yên ủi của Kinh thánh dạy mà chúng ta được sự trông cậy. (Rô-ma 15:4) tôi không thể không xem các phần niên đại của Kinh Thánh cũng là một phần của Lời Đức Chúa Trời, và cũng xứng đáng được chúng ta xem xét nghiêm túc, như bất kỳ phần nào khác của Kinh Thánh. Do đó tôi cảm thấy rằng trong việc cố gắng hiểu những gì Đức Chúa Trời trong sự thương xót của Ngài đã đoái xem mà bày tỏ cho chúng ta, tôi không có quyền bỏ qua các thời kỳ tiên tri."—Bliss, trang 75. GC 324.2

Lời tiên tri dường như bày tỏ rõ ràng nhất về thời điểm của sự tái lâm là lời tiên tri trong Đa-ni-ên 8:14: Người trả lời cùng ta rằng: Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.

(Đa-ni-ên 8:14)Theo nguyên tắc để Kinh Thánh tự giải nghĩa chính mình, Miller đã học biết rằng một ngày trong lời tiên tri tượng trưng thì đại diện cho một năm (Dân-số Ký 14:34; Ê-xê-chi-ên 4:6); ông thấy rằng khoảng thời gian 2300 ngày tiên tri, hay 2300 năm theo nghĩa đen, sẽ kéo dài vượt xa sự kết thúc của thời đại Do Thái, vì vậy nó không thể ám chỉ đến đền thánh của thời đại ấy. Miller chấp nhận quan điểm được công nhận chung rằng trong thời đại Cơ-đốc, trái đất là đền thánh, và do đó ông hiểu rằng sự làm sạch đền thánh được tiên báo trong Đa-ni-ên 8:14 đại diện cho sự thanh tẩy trái đất bằng lửa khi Đấng Christ tái lâm. Vậy thì, nếu có thể tìm được điểm khởi đầu chính xác cho 2300 ngày, ông kết luận rằng thời điểm của sự tái lâm có thể được xác định dễ dàng. Như vậy sẽ được tỏ ra thời điểm của sự hoàn tất vĩ đại ấy, thời điểm mà tình trạng hiện tại, với “tất cả sự kiêu ngạo và quyền lực, sự phô trương và hư không, sự gian ác và áp bức của nó, sẽ đi đến hồi kết thúc;” khi sự rủa sả sẽ được “cất khỏi trái đất, sự chết bị tiêu diệt, phần thưởng được ban cho các tôi tớ của Đức Chúa Trời, các tiên tri và các thánh đồ, và những kẻ kính sợ danh Ngài, và những kẻ hủy hoại trái đất sẽ bị hủy diệt."—Bliss, trang 76. GC 324.3

Với một sự nhiệt thành mới và sâu sắc hơn, Miller tiếp tục nghiên cứu các lời tiên tri, dành cả những đêm lẫn những ngày để nghiên cứu điều mà giờ đây dường như có tầm quan trọng to lớn và thu hút toàn bộ sự quan tâm. Trong chương tám của sách Đa-ni-ên, ông không thể tìm thấy manh mối nào cho điểm khởi đầu của 2300 ngày; thiên sứ Gáp-ri-ên, mặc dù được lệnh phải khiến Đa-ni-ên hiểu khải tượng, chỉ đưa ra một lời giải thích từng phần. Khi cuộc bắt bớ khủng khiếp sẽ giáng xuống hội thánh được bày tỏ cho khải tượng của tiên tri, sức lực thể chất đã suy sụp. Ông không thể chịu đựng thêm được nữa, và thiên sứ đã rời khỏi ông một thời gian. Đa-ni-ên “ngất đi, và đau ốm trong nhiều ngày.” “Ta lấy làm lạ về sự hiện thấy ấy,” ông nói, “nhưng chẳng ai hiểu được.” GC 325.1

Thế nhưng Đức Chúa Trời đã truyền bảo sứ giả của Ngài: “Hãy làm cho người này hiểu sự hiện thấy.” Mệnh lệnh ấy phải được hoàn thành. Vâng theo mệnh lệnh đó, sau một thời gian, thiên sứ đã trở lại với Đa-ni-ên, phán rằng: “Bây giờ ta ra để ban sự khôn sáng và thông hiểu cho ngươi;” “vậy hãy hiểu sự đó, và hãy suy xét về sự hiện thấy.” Đa-ni-ên 8:27, 16; 9:22, 23, 25-27. Có một điểm quan trọng trong khải tượng của chương 8 đã không được giải thích, đó là điều liên quan đến thời gian—khoảng thời gian 2300 ngày; vì vậy thiên sứ, khi tiếp tục lời giải thích của mình, tập trung chủ yếu vào chủ đề thời gian: GC 325.2

“Có bảy mươi tuần lễ định trên dân ngươi và thành thánh ngươi, đặng ngăn sự phạm phép, trừ tội lỗi, làm sạch sự gian ác, và đem sự công bình đời đời vào, đặng đặt ấn tín nơi sự hiện thấy và lời tiên tri, và xức dầu cho Đấng rất thánh. Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lệnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. Sau sáu mươi hai tuần lễ đó, Đấng chịu xức dầu sẽ bị trừ đi, và sẽ không có chi hết. Có dân của vua hầu đến sẽ hủy phá thành và nơi thánh; cuối cùng nó sẽ như bị nước lụt ngập, có sự tranh chiến cho đến cuối cùng; những sự hoang vu đã định. Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ, và đến giữa tuần ấy, người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi. Kẻ hủy phá sẽ đến bởi cánh gớm ghiếc, và sẽ có sự giận dữ đổ trên nơi bị hoang vu, cho đến kỳ sau rốt, là kỳ đã định.” (Đa-ni-ên 9:24-27) GC 326.1

Thiên sứ đã được sai đến với Đa-ni-ên vì mục đích rõ ràng là giải thích cho ông điểm mà ông đã không hiểu được trong khải tượng của chương tám, lời tuyên bố liên quan đến thời gian—“cho đến hai ngàn ba trăm ngày; bấy giờ đền thánh sẽ được thanh sạch.” Sau khi truyền bảo Đa-ni-ên “hãy hiểu sự đó, và hãy suy xét về sự hiện thấy,” những lời đầu tiên của thiên sứ là: “Có bảy mươi tuần lễ định cho dân ngươi và thành thánh ngươi.” Từ được dịch ở đây là “định” theo nghĩa đen có nghĩa là “cắt ra.” Bảy mươi tuần lễ, tượng trưng cho 490 năm, được thiên sứ tuyên bố là được cắt ra, đặc biệt dành riêng cho người Do Thái. Nhưng chúng được cắt ra từ đâu? Vì 2300 ngày là khoảng thời gian duy nhất được đề cập trong chương 8, nên đó phải là khoảng thời gian mà từ đó bảy mươi tuần lễ được cắt ra; bảy mươi tuần lễ vì vậy phải là một phần của 2300 ngày, và hai khoảng thời gian ấy phải bắt đầu cùng lúc. Bảy mươi tuần lễ được thiên sứ tuyên bố bắt đầu từ khi mệnh lệnh được ban ra để khôi phục và xây dựng lại Giê-ru-sa-lem. Nếu có thể tìm được ngày tháng của mệnh lệnh này, thì điểm khởi đầu cho khoảng thời gian lớn 2300 ngày sẽ được xác định. GC 326.2

Trong chương bảy của sách E-xơ-ra, có thể tìm thấy sắc lệnh đó. Câu 12-26. Ở hình thức hoàn chỉnh nhất, nó được ban hành bởi Ạt-ta-xét-xe, vua Phe-rơ-sơ, vào năm 457 T.C. Nhưng trong E-xơ-ra 6:14 có nói rằng nhà của Chúa tại Giê-ru-sa-lem được xây dựng “theo mạng lịnh [“sắc lệnh,” bản chú thích] của Si-ru, Đa-ri-út, và Ạt-ta-xét-xe, vua Phe-rơ-sơ.” Ba vị vua này, khi khởi xướng, tái xác nhận và hoàn tất sắc lệnh, đã đưa nó đến sự hoàn hảo mà lời tiên tri đòi hỏi để đánh dấu sự khởi đầu của 2300 năm. Lấy năm 457 T.C., thời điểm sắc lệnh được hoàn tất, làm ngày tháng của mệnh lệnh, mọi chi tiết của lời tiên tri về bảy mươi tuần lễ đều được thấy là đã được ứng nghiệm. GC 326.3

“Từ khi ra lịnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ và sáu mươi hai tuần lễ”—tức là sáu mươi chín tuần lễ, hay 483 năm. Sắc lệnh của Ạt-ta-xét-xe có hiệu lực vào mùa thu năm 457 T.C. Từ ngày này, 483 năm kéo dài đến mùa thu năm 27 S.C. (Xem Phụ Lục.) Vào thời điểm đó lời tiên tri này đã được ứng nghiệm. Từ “Mê-si” có nghĩa là “Đấng Chịu Xức Dầu.” Vào mùa thu năm 27 S.C., Đấng Christ đã được Giăng làm báp-têm và nhận sự xức dầu của Đức Thánh Linh. Sứ đồ Phi-e-rơ làm chứng rằng thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.

(Công-vụ các Sứ-đồ 10:38)Và chính Đấng Cứu Thế đã tuyên bố: Thần của Chúa ngự trên ta; Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo; (Lu-ca 4:18) Sau khi chịu báp-têm, Ngài đi vào xứ Ga-li-lê, Sau khi Giăng bị tù, Đức Chúa Giê-su đến xứ Ga-li-lê, giảng Tin lành của Đức Chúa Trời, mà rằng: Kỳ đã trọn, nước Đức Chúa Trời đã đến gần; các ngươi hãy ăn năn và tin đạo Tin lành. (Mác 1:14-15) GC 327.1

“Người sẽ lập giao ước vững bền với nhiều người trong một tuần lễ.” “Tuần lễ” được đề cập ở đây là tuần lễ cuối cùng trong bảy mươi tuần lễ; đó là bảy năm cuối cùng của khoảng thời gian đặc biệt dành cho người Do Thái. Trong thời gian này, kéo dài từ năm 27 S.C. đến năm 34 S.C., Đấng Christ, ban đầu là chính Ngài và sau đó qua các môn đồ của Ngài, đã mở rộng lời mời gọi tin lành đặc biệt cho người Do Thái. Khi các sứ đồ đi ra với tin mừng về nước Đức Chúa Trời, sự chỉ dẫn của Đấng Cứu Thế là: Ấy đó là mười hai sứ đồ Đức Chúa Giê-su sai đi, và có truyền rằng: Đừng đi đến dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri cả; song thà đi đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.

(Ma-thi-ơ 10:5-6) GC 327.2

“Người sẽ khiến của lễ và của lễ chay dứt đi trong nửa tuần lễ ấy.” Vào năm 31 S.C., ba năm rưỡi sau khi chịu báp-têm, Chúa chúng ta đã bị đóng đinh. Với của lễ vĩ đại được dâng trên đồi Gô-gô-tha, hệ thống các của lễ dâng suốt bốn ngàn năm đã chỉ về Chiên Con của Đức Chúa Trời đã kết thúc. Hình bóng đã gặp thực thể, và tất cả các của lễ và của lễ chay của hệ thống nghi lễ sẽ chấm dứt tại đó. GC 327.3

Bảy mươi tuần lễ, hay 490 năm, đặc biệt dành cho người Do Thái, đã kết thúc, như chúng ta đã thấy, vào năm 34 S.C. Vào thời điểm đó, qua hành động của Tòa Công Luận Do Thái, dân tộc này đã đóng ấn sự chối bỏ tin lành của mình bằng sự tử đạo của Ê-tiên và sự bắt bớ những người theo Đấng Christ. Bấy giờ sứ điệp cứu rỗi, không còn bị giới hạn cho dân được chọn, đã được ban cho toàn thế giới. Các môn đồ, bị buộc phải trốn khỏi Giê-ru-sa-lem vì sự bắt bớ, “đều đi từ nơi này đến nơi khác và truyền Đạo.” “Phi-líp đi xuống trong thành Sa-ma-ri mà giảng về Đấng Christ tại đó.” Phi-e-rơ, được sự hướng dẫn của Đức Chúa Trời, đã mở tin lành cho viên đội trưởng ở Sê-sa-rê, Cọt-nây là người kính sợ Đức Chúa Trời; và Phao-lô nhiệt thành, được chinh phục để đến với đức tin nơi Đấng Christ, đã được ủy thác mang tin mừng “đến nơi dân ngoại ở xa.” Công-vụ 8:4, 5; 22:21. GC 328.1

Cho đến đây mỗi chi tiết của lời tiên tri đều được ứng nghiệm một cách đáng kinh ngạc, và sự khởi đầu của bảy mươi tuần lễ được xác định chắc chắn không còn nghi ngờ gì nữa là vào năm 457 T.C., và sự kết thúc của chúng vào năm 34 S.C. Từ dữ liệu này, không khó để tìm ra thời điểm chấm dứt của 2300 ngày. Vì bảy mươi tuần lễ — 490 ngày — đã được cắt ra khỏi 2300 ngày, nên còn lại 1810 ngày. Sau khi 490 ngày kết thúc, vẫn còn 1810 ngày phải được ứng nghiệm. Từ năm 34 S.C., 1810 năm kéo dài đến năm 1844. Do đó, 2300 ngày trong Người trả lời cùng ta rằng: Cho đến hai ngàn ba trăm buổi chiều và buổi mai; sau đó nơi thánh sẽ được thanh sạch.

(Đa-ni-ên 8:14)chấm dứt vào năm 1844. Khi thời kỳ tiên tri vĩ đại này kết thúc, theo lời chứng của thiên sứ của Đức Chúa Trời, “đền thánh sẽ được thanh tẩy.” Như vậy, thời điểm thanh tẩy đền thánh — điều mà hầu như mọi người đều tin là sẽ xảy ra vào lúc sự tái lâm — đã được chỉ ra một cách rõ ràng. GC 328.2

Miller và các cộng sự của ông lúc đầu tin rằng 2300 ngày sẽ kết thúc vào mùa xuân năm 1844, trong khi lời tiên tri chỉ về mùa thu của năm đó. (Xem Phụ lục.) Sự hiểu lầm điểm này đã đem đến nỗi thất vọng và bối rối cho những người đã ấn định ngày sớm hơn là thời điểm Chúa đến. Nhưng điều này không hề làm suy giảm sức mạnh của lập luận cho thấy rằng 2300 ngày chấm dứt vào năm 1844, và rằng biến cố vĩ đại được tiêu biểu bởi sự thanh tẩy đền thánh phải xảy ra vào lúc ấy. GC 328.3

Khi bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh như ông đã làm, để chứng minh rằng Kinh Thánh là sự mặc khải từ Đức Chúa Trời, lúc đầu Miller không hề mong đợi sẽ đi đến kết luận mà ông hiện đã đạt được. Chính bản thân ông cũng khó tin vào kết quả của sự nghiên cứu của mình. Nhưng bằng chứng trong Kinh Thánh quá rõ ràng và mạnh mẽ đến nỗi không thể gạt bỏ được. GC 329.1

Ông đã dành hai năm để nghiên cứu Kinh Thánh, khi vào năm 1818, ông đi đến niềm xác tín nghiêm trang rằng khoảng hai mươi lăm năm nữa Đấng Christ sẽ hiện ra để cứu chuộc dân sự Ngài. Miller nói: “Tôi không cần phải nói về niềm vui tràn ngập lòng tôi trước viễn cảnh vui mừng ấy, cũng không nói về sự khao khát nồng nhiệt của linh hồn tôi được dự phần trong niềm vui của những người được cứu chuộc. Kinh Thánh bây giờ đối với tôi là một quyển sách mới. Quả thật đó là một bữa tiệc của lý trí; tất cả những gì đối với tôi trước kia là tối tăm, huyền bí, hay khó hiểu trong các lời dạy của Kinh Thánh, đã bị tan biến khỏi tâm trí tôi trước ánh sáng rõ ràng giờ đây chiếu ra từ các trang thánh của nó; và, ôi, chân lý xuất hiện sao mà sáng ngời và vinh hiển! Tất cả những mâu thuẫn và nghịch lý mà trước kia tôi đã tìm thấy trong Lời Đức Chúa Trời đều biến mất; và mặc dù có nhiều phần mà tôi chưa thỏa mãn là mình đã hiểu trọn vẹn, nhưng ánh sáng đã tỏa ra từ đó để soi sáng tâm trí tối tăm trước đây của tôi đến nỗi tôi cảm thấy một niềm vui thích khi nghiên cứu Kinh Thánh mà trước đây tôi không nghĩ rằng có thể có được từ các lời dạy của nó.” — Bliss, trang 76, 77. GC 329.2

“Với niềm xác tín nghiêm trang rằng những biến cố trọng đại như vậy đã được báo trước trong Kinh Thánh sẽ được ứng nghiệm trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, câu hỏi về bổn phận của tôi đối với thế gian đến với tôi cách đầy năng quyền, trước bằng chứng đã tác động đến tâm trí tôi.” — Sđd., trang 81. Ông không thể không cảm thấy rằng bổn phận của ông là truyền đạt cho người khác ánh sáng mà ông đã nhận được. Ông mong đợi sẽ gặp sự chống đối từ những kẻ không tin kính, nhưng ông tin chắc rằng mọi Cơ-đốc nhân sẽ vui mừng trong hy vọng gặp Đấng Cứu Thế mà họ xưng nhận là yêu mến. Nỗi sợ duy nhất của ông là trong niềm vui lớn lao của họ trước viễn cảnh về sự giải cứu vinh hiển sắp được hoàn thành, nhiều người sẽ tiếp nhận giáo lý mà không xem xét Kinh Thánh đầy đủ để chứng minh chân lý của nó. Vì vậy ông ngần ngại trình bày nó, e rằng mình có thể sai lầm và trở thành nguyên nhân làm cho người khác bị lừa dối. Ông do đó được dẫn dắt đến chỗ xem xét lại các bằng chứng ủng hộ các kết luận mà ông đã đạt được, và cân nhắc kỹ lưỡng mọi khó khăn hiện ra trong tâm trí mình. Ông thấy rằng các điều phản đối tan biến trước ánh sáng của Lời Đức Chúa Trời, như sương mù trước các tia nắng mặt trời. Năm năm trải qua như vậy đã khiến ông hoàn toàn tin chắc về sự đúng đắn của lập trường mình. GC 329.3

Và giờ đây bổn phận công bố cho người khác điều mà ông tin là đã được dạy rõ ràng trong Kinh Thánh lại thúc giục ông với một sức mạnh mới. Ông nói: “Khi tôi đang làm công việc của mình, nó cứ vang lên trong tai tôi, ‘Hãy đi và nói cho thế gian biết về sự nguy hiểm của họ.’ Câu Kinh Thánh này liên tục đến với tôi: Khi ta phán cùng kẻ dữ rằng: Hỡi kẻ dữ, mầy chắc chết! Nếu ngươi không răn bảo để cho kẻ dữ xây bỏ đường lối xấu của nó, thì kẻ dữ ấy sẽ chết trong sự gian ác mình; nhưng ta sẽ đòi máu nó nơi tay ngươi. Nếu, trái lại, ngươi đã răn bảo kẻ dữ đặng xây bỏ đường lối xấu của nó mà nó không xây bỏ, thì nó sẽ chết trong sự gian ác nó, còn ngươi đã giải cứu mạng sống mình.

(Ê-xê-chi-ên 33:8-9)Tôi cảm thấy rằng nếu kẻ ác có thể được cảnh báo một cách hữu hiệu, thì vô số trong họ sẽ ăn năn; và nếu họ không được cảnh báo, thì huyết của họ có thể bị đòi nơi tay tôi.” — Bliss, trang 92. GC 330.1

Ông bắt đầu trình bày quan điểm của mình một cách riêng tư khi có cơ hội, cầu nguyện rằng một mục sư nào đó có thể cảm nhận được sức mạnh của chúng và dâng mình cho việc truyền bá chúng. Nhưng ông không thể xua tan được niềm xác tín rằng ông có một bổn phận cá nhân phải thực hiện trong việc đưa ra lời cảnh báo. Những lời này cứ hiện về trong tâm trí ông: “Hãy đi và nói cho thế gian biết; huyết của họ ta sẽ đòi nơi tay ngươi.” Trong chín năm ông đã chờ đợi, gánh nặng vẫn đè trên linh hồn ông, cho đến khi vào năm 1831 lần đầu tiên ông công khai trình bày các lý do của đức tin mình. GC 330.2

Như Ê-li-sê được gọi từ việc đi theo các con bò của mình ngoài đồng, để nhận lấy áo choàng tận hiến cho chức vụ tiên tri, thì William Miller cũng vậy được gọi để rời khỏi cái cày của mình và mở ra cho dân chúng những điều mầu nhiệm của nước Đức Chúa Trời. Ông run rẩy bước vào công việc của mình, dẫn dắt thính giả đi xuống, từng bước một, qua các thời kỳ tiên tri đến sự hiện ra lần thứ hai của Đấng Christ. Với mỗi nỗ lực, ông có thêm sức mạnh và can đảm khi ông thấy sự quan tâm rộng lớn được khơi dậy bởi các lời của ông. GC 331.1

Chỉ khi được các anh em khẩn khoản yêu cầu, mà trong lời nói của họ ông nghe thấy tiếng gọi của Đức Chúa Trời, Miller mới đồng ý trình bày quan điểm của mình trước công chúng. Lúc đó ông đã năm mươi tuổi, không quen nói trước công chúng, và mang gánh nặng cảm thấy mình không xứng đáng với công việc trước mặt. Nhưng ngay từ đầu công việc của ông đã được ban phước một cách đáng kể trong việc cứu rỗi các linh hồn. Bài giảng đầu tiên của ông được theo sau bởi một sự thức tỉnh tôn giáo, trong đó mười ba gia đình trọn vẹn, ngoại trừ hai người, đã được cải đạo. Ông lập tức được yêu cầu nói chuyện ở những nơi khác, và hầu như ở mọi nơi công việc của ông đưa đến sự phục hưng công việc của Đức Chúa Trời. Tội nhân được cải đạo, Cơ-đốc nhân được khơi dậy đến sự tận hiến lớn hơn, và những người theo thuyết thần giáo tự nhiên và những người vô tín được dẫn đến chỗ thừa nhận chân lý của Kinh Thánh và Cơ-đốc Giáo. Lời chứng của những người giữa vòng đó ông lao nhọc là: “Có một loại tâm trí được ông tác động đến mà không nằm trong ảnh hưởng của những người khác.” — Sđd., trang 138. Sự giảng dạy của ông được tính toán để đánh thức tâm trí công chúng về những điều trọng đại của tôn giáo và để ngăn chặn sự thế tục hóa và nhục dục đang gia tăng của thời đại. GC 331.2

Tại hầu hết mọi thành phố đều có hàng chục, ở một số nơi, hàng trăm người được cải đạo do kết quả của sự giảng dạy của ông. Tại nhiều nơi các hội thánh Tin Lành thuộc gần như mọi giáo phái đều mở cửa đón ông, và các lời mời đến làm việc thường đến từ các mục sư của những hội chúng khác nhau. Quy tắc bất di bất dịch của ông là không làm việc ở bất cứ nơi nào mà ông chưa được mời, nhưng ông sớm thấy mình không thể đáp ứng được một nửa những yêu cầu đổ đến với ông. Nhiều người dù không chấp nhận quan điểm của ông về thời điểm chính xác của sự tái lâm đã được thuyết phục về sự chắc chắn và gần kề của sự đến của Đấng Christ và nhu cầu chuẩn bị của họ. Tại một số thành phố lớn công việc của ông tạo ra một ấn tượng rõ rệt. Những người buôn bán rượu đã từ bỏ nghề và biến cửa tiệm của họ thành phòng nhóm; các sòng bạc bị dẹp bỏ; những người vô tín, người theo thuyết thần giáo tự nhiên, người theo thuyết phổ cứu, và ngay cả những kẻ trụy lạc nhất cũng được cải tạo, một số người trong họ đã không bước vào nhà thờ trong nhiều năm. Các buổi nhóm cầu nguyện được thiết lập bởi các giáo phái khác nhau, ở những khu vực khác nhau, vào gần như mọi giờ, các thương gia họp nhau vào giữa trưa để cầu nguyện và ngợi khen. Không có sự kích động thái quá, nhưng một sự nghiêm trang hầu như phổ quát trên tâm trí dân chúng. Công việc của ông, giống như công việc của các nhà Cải chánh ban đầu, có khuynh hướng thuyết phục sự hiểu biết và đánh thức lương tâm hơn là chỉ khơi dậy cảm xúc. GC 331.3

Năm 1833, Miller nhận được giấy phép giảng đạo từ Hội thánh Báp-tít, nơi ông là thành viên. Một số lớn các mục sư thuộc giáo phái của ông cũng chấp thuận công việc của ông, và chính với sự chuẩn nhận chính thức của họ mà ông tiếp tục công lao của mình. Ông đi khắp nơi và giảng đạo không ngừng, mặc dù công lao cá nhân của ông chủ yếu giới hạn ở các tiểu bang New England và Trung Đại Tây Dương. Trong nhiều năm, chi phí của ông hoàn toàn do túi tiền riêng ông chi trả, và về sau ông cũng không hề nhận được đủ để trang trải chi phí đi lại đến những nơi ông được mời. Do đó, công lao công khai của ông, thay vì đem lại lợi ích tài chánh, lại là một gánh nặng lớn trên tài sản của ông, và tài sản ấy dần dần giảm sút trong giai đoạn này của đời ông. Ông là cha của một gia đình đông con, nhưng vì tất cả đều cần kiệm và siêng năng, nông trại của ông đủ để nuôi sống họ cũng như chính ông. GC 332.1

Năm 1833, hai năm sau khi Miller bắt đầu trình bày công khai các bằng chứng về sự sớm đến của Đấng Christ, dấu hiệu cuối cùng trong những dấu hiệu mà Đấng Cứu Thế đã hứa như là điềm báo về sự tái lâm của Ngài đã xuất hiện. Đức Chúa Giê-su phán: Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động.

(Ma-thi-ơ 24:29)Và Giăng trong sách Khải Huyền đã tuyên bố, khi ông nhìn thấy trong sự hiện thấy những cảnh tượng báo trước ngày của Đức Chúa Trời: Các vì sao trên trời sa xuống đất, như những trái xanh của một cây vả bị cơn gió lớn lung lay rụng xuống. (Khải-huyền 6:13) Lời tiên tri này đã được ứng nghiệm một cách nổi bật và đầy ấn tượng trong trận mưa sao băng lớn ngày 13 tháng 11 năm 1833. Đó là cuộc biểu hiện sao sa rộng lớn và kỳ diệu nhất từng được ghi lại; “cả bầu trời, trên toàn nước Hoa Kỳ, lúc bấy giờ, trong suốt nhiều giờ, đã ở trong một sự náo động rực lửa! Chưa có hiện tượng thiên thể nào từng xảy ra tại đất nước này, kể từ khi được định cư lần đầu, mà được một hạng người trong cộng đồng chiêm ngưỡng với lòng ngưỡng mộ mãnh liệt đến như vậy, hoặc được một hạng người khác nhìn với sự kinh hãi và hoảng sợ đến như thế."—R. M. Devens, American Progress; or, The Great Events of the Greatest Century, chương 28, đoạn 1-5. “Vẻ uy nghi và đẹp đẽ đáng kinh khiếp của nó vẫn còn lưu lại trong nhiều tâm trí…. Chưa bao giờ mưa rơi dày đặc như các thiên thạch đổ xuống đất; đông, tây, bắc, nam, đâu đâu cũng vậy. Tóm lại, cả bầu trời dường như đang chuyển động…. Cuộc biểu hiện, như được mô tả trong Tạp chí của Giáo sư Silliman, đã được nhìn thấy khắp Bắc Mỹ…. Từ hai giờ sáng cho đến khi trời sáng hẳn, bầu trời hoàn toàn trong lành và không một gợn mây, một sự chơi đùa không ngớt của những tia sáng rực rỡ chói lọi đã được duy trì trên khắp bầu trời.” GC 333.1

“Thật vậy, không ngôn ngữ nào có thể diễn tả được sự huy hoàng của cuộc biểu hiện tráng lệ ấy;… không ai không tận mắt chứng kiến có thể hình dung đầy đủ về vinh quang của nó. Dường như cả bầu trời đầy sao đã tụ lại tại một điểm gần đỉnh đầu, và đồng loạt bắn ra, với tốc độ của tia chớp, đến mọi phần của chân trời; mà vẫn chưa cạn kiệt—hàng ngàn cái tiếp nối nhanh chóng theo vết của hàng ngàn cái khác, như thể được tạo ra cho dịp ấy."—F. Reed, trong Christian Advocate and Journal, ngày 13 tháng 12 năm 1833. “Không thể nào có được một bức tranh chính xác hơn về một cây vả rụng những trái vả của nó khi bị một cơn gió mạnh thổi qua."—“The Old Countryman,” trong Portland Evening Advertiser, ngày 26 tháng 11 năm 1833. GC 333.2

Trong tờ New York Journal of Commerce ngày 14 tháng 11 năm 1833, đã xuất hiện một bài báo dài về hiện tượng kỳ diệu này, có chứa lời tuyên bố này: “Tôi cho rằng chưa có nhà triết học hay học giả nào đã kể lại hay ghi chép một sự kiện như sự kiện của sáng hôm qua. Một vị tiên tri cách đây một ngàn tám trăm năm đã báo trước điều đó một cách chính xác, nếu chúng ta chịu khó hiểu rằng ’những ngôi sao sa xuống’ có nghĩa là sao băng,… trong ý nghĩa duy nhất mà điều đó có thể đúng theo nghĩa đen.” GC 334.1

Như vậy, dấu hiệu cuối cùng trong các dấu hiệu về sự đến của Ngài đã được tỏ ra, mà về những dấu hiệu ấy Đức Chúa Giê-su đã truyền cho các môn đồ Ngài: Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đương ở trước cửa.

(Ma-thi-ơ 24:33)Sau những dấu hiệu này, Giăng đã nhìn thấy, như là sự kiện lớn tiếp theo sắp xảy ra, các từng trời dời đi như một cuốn sách cuốn lại, còn đất thì rúng động, các núi và các hải đảo bị dời khỏi chỗ mình, và những kẻ ác trong cơn kinh hãi đã tìm cách trốn tránh khỏi mặt Con Người. Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ sáu, thì có một cơn động đất lớn; mặt trời bèn trở nên tối tăm như túi lông đen, cả mặt trăng trở nên như huyết. Các vì sao trên trời sa xuống đất, như những trái xanh của một cây vả bị cơn gió lớn lung lay rụng xuống. Trời bị dời đi như quyển sách cuốn tròn, và hết thảy các núi các đảo bị quăng ra khỏi chỗ mình; các vua ở trên đất, các quan lớn, các tướng quân, các kẻ giàu, các kẻ quyền thế, các kẻ tôi mọi, các người tự chủ đều ẩn mình trong hang hố cùng hòn đá lớn trên núi, chúng nói với núi và đá lớn rằng: Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi? (Khải-huyền 6:12-17) GC 334.2

Nhiều người chứng kiến sao sa đã xem đó là điềm báo về sự phán xét sắp đến, “một hình bóng kinh khiếp, một sự báo trước chắc chắn, một dấu hiệu thương xót, về ngày vĩ đại và đáng sợ ấy."—“The Old Countryman,” trong Portland Evening Advertiser, ngày 26 tháng 11 năm 1833. Như vậy, sự chú ý của dân chúng đã được hướng đến sự ứng nghiệm của lời tiên tri, và nhiều người được dẫn đến chỗ lưu tâm đến lời cảnh báo về sự tái lâm. GC 334.3

Trong năm 1840, một sự ứng nghiệm đáng chú ý khác của lời tiên tri đã khơi dậy sự quan tâm rộng khắp. Hai năm trước đó, Josiah Litch, một trong những mục sư hàng đầu giảng về sự tái lâm, đã xuất bản một bài giải nghĩa Khải Huyền 9, tiên đoán sự sụp đổ của Đế quốc Ottoman. Theo tính toán của ông, quyền lực này sẽ bị lật đổ “vào năm 1840 sau Công nguyên, vào khoảng tháng Tám”; và chỉ vài ngày trước khi điều đó được ứng nghiệm, ông viết: “Nếu cho phép giai đoạn thứ nhất, 150 năm, đã được ứng nghiệm chính xác trước khi Deacozes lên ngôi với sự cho phép của người Thổ Nhĩ Kỳ, và rằng 391 năm, mười lăm ngày, bắt đầu vào cuối giai đoạn thứ nhất, thì nó sẽ kết thúc vào ngày 11 tháng 8 năm 1840, khi quyền lực Ottoman tại Constantinople có thể được trông đợi sẽ bị phá vỡ. Và tôi tin rằng điều đó sẽ đúng như vậy."—Josiah Litch, trong Signs of the Times, and Expositor of Prophecy, ngày 1 tháng 8 năm 1840. GC 334.4

Đúng vào thời điểm được chỉ định, Thổ Nhĩ Kỳ, qua các đại sứ của mình, đã chấp nhận sự bảo hộ của các cường quốc đồng minh châu Âu, và do đó đã đặt mình dưới quyền kiểm soát của các quốc gia Cơ-đốc. Sự kiện ấy đã ứng nghiệm chính xác lời tiên đoán. (Xem Phụ Lục.) Khi điều đó được biết đến, rất nhiều người đã được thuyết phục về tính đúng đắn của các nguyên tắc giải nghĩa tiên tri mà Miller và các cộng sự của ông đã áp dụng, và một sự thúc đẩy kỳ diệu đã được ban cho phong trào tái lâm. Những người có học thức và địa vị đã hiệp với Miller, cả trong việc giảng đạo lẫn xuất bản các quan điểm của ông, và từ năm 1840 đến năm 1844, công việc lan rộng một cách nhanh chóng. GC 335.1

William Miller sở hữu năng lực trí tuệ mạnh mẽ, được rèn luyện bởi suy nghĩ và học tập; và ông còn thêm vào đó sự khôn ngoan từ thiên đàng bằng cách kết nối mình với Nguồn của sự khôn ngoan. Ông là một người có phẩm chất thực sự, không thể không nhận được sự kính trọng và quý mến ở bất cứ nơi nào mà sự chính trực của tánh tình và sự xuất sắc về đạo đức được coi trọng. Kết hợp lòng nhân ái chân thật với sự khiêm nhường Cơ-đốc và năng lực tự chủ, ông ân cần và hòa nhã với mọi người, sẵn sàng lắng nghe ý kiến của người khác và cân nhắc các lập luận của họ. Không chút say mê hay kích động, ông đã thử nghiệm mọi lý thuyết và giáo lý bằng Lời Đức Chúa Trời, và sự lập luận vững chắc cùng sự hiểu biết thấu đáo về Kinh Thánh đã giúp ông bác bỏ sự sai lầm và phơi bày sự giả dối. GC 335.2

Tuy nhiên, ông đã không tiến hành công việc của mình mà không gặp sự chống đối cay đắng. Cũng như với các nhà Cải chánh thời trước, những lẽ thật mà ông trình bày đã không được các giáo sư tôn giáo phổ biến đón nhận một cách thiện cảm. Vì họ không thể duy trì lập trường của mình bằng Kinh Thánh, nên họ buộc phải viện đến những lời nói và giáo lý của loài người, đến các truyền thống của các Giáo phụ. Nhưng Lời Đức Chúa Trời là lời chứng duy nhất được các người giảng về lẽ thật tái lâm chấp nhận. “Kinh Thánh, và chỉ Kinh Thánh mà thôi,” là khẩu hiệu của họ. Sự thiếu lập luận từ Kinh Thánh của phía đối lập đã được bù đắp bằng sự chế nhạo và chế giễu. Thời giờ, phương tiện và tài năng đã được dùng để phỉ báng những người mà tội duy nhất của họ là họ trông đợi với niềm vui sự trở lại của Chúa họ, và đang cố gắng sống cuộc đời thánh khiết cùng khích lệ những người khác chuẩn bị cho sự hiện đến của Ngài. GC 335.3

Những nỗ lực tha thiết đã được đưa ra để kéo tâm trí của dân chúng ra khỏi đề tài về sự tái lâm. Việc nghiên cứu các lời tiên tri liên quan đến sự đến của Đấng Christ và sự tận thế đã bị làm cho có vẻ như là một tội lỗi, một điều gì đó mà người ta phải xấu hổ. Do đó, các mục sư phổ biến đã làm suy yếu đức tin vào Lời Đức Chúa Trời. Sự dạy dỗ của họ đã khiến người ta thành những kẻ vô tín, và nhiều người đã lấy cớ đó để đi theo những dục vọng vô đạo của chính mình. Rồi những kẻ gây ra điều ác đó lại đổ hết tội lên đầu những người Cơ-đốc Phục Lâm. GC 336.1

Trong khi thu hút được những nhà đầy người nghe thông minh và chăm chú, tên của Miller hiếm khi được báo chí tôn giáo nhắc đến, trừ khi để chế nhạo hoặc lên án. Những kẻ bất cẩn và vô đạo, được bạo dạn bởi lập trường của các giáo sư tôn giáo, đã dùng đến những biệt danh sỉ nhục, những câu đùa hèn hạ và báng bổ, trong nỗ lực chất chứa sự khinh miệt lên ông và công việc của ông. Người đàn ông tóc bạc đã rời bỏ một mái nhà êm ấm để đi bằng chi phí của chính mình từ thành này sang thành khác, từ thị trấn này sang thị trấn khác, cực nhọc không ngừng để đem đến cho thế giới lời cảnh báo trang nghiêm về sự phán xét gần kề, đã bị lên án một cách chế giễu như là một kẻ cuồng tín, một kẻ dối trá, một kẻ bịp bợm đầu cơ. GC 336.2

Sự chế giễu, dối trá và lăng mạ đổ trên ông đã khiến ngay cả báo chí thế tục cũng phải lên tiếng phản đối cách phẫn nộ. “Đối xử với một đề tài có sự uy nghi áp đảo và những hậu quả đáng sợ như vậy” bằng sự nhẹ dạ và thô tục, những người thế gian tuyên bố là “không chỉ đùa giỡn với cảm xúc của những người truyền bá và ủng hộ nó,” mà còn “chế nhạo ngày phán xét, khinh dể chính Đức Chúa Trời, và coi thường những sự kinh khiếp nơi tòa phán xét của Ngài.”—Bliss, trang 183. GC 336.3

Kẻ xúi giục mọi điều ác không chỉ tìm cách làm vô hiệu tác dụng của sứ điệp về sự tái lâm, mà còn muốn tiêu diệt chính người đưa sứ điệp. Miller đã áp dụng lẽ thật Kinh Thánh một cách thiết thực vào lòng những người nghe ông, quở trách tội lỗi họ và làm xáo trộn sự tự mãn của họ, và những lời nói thẳng thắn, sắc bén của ông đã khơi dậy sự thù nghịch của họ. Sự chống đối mà các tín hữu trong hội thánh bày tỏ đối với sứ điệp của ông đã làm cho hạng người hèn hạ hơn thêm táo bạo đi đến mức xa hơn; và những kẻ thù đã âm mưu lấy mạng ông khi ông rời khỏi nơi nhóm họp. Nhưng các thiên sứ thánh đã ở giữa đám đông, và một trong số đó, mang hình dạng một người, đã nắm lấy cánh tay của tôi tớ Chúa này và dẫn ông ra khỏi đám đông giận dữ một cách an toàn. Công việc của ông chưa hoàn tất, và Sa-tan cùng các thuộc hạ của nó đã thất vọng trong mục đích của chúng. GC 336.4

Bất chấp mọi sự chống đối, sự quan tâm đến phong trào tái lâm vẫn tiếp tục gia tăng. Từ hàng chục, hàng trăm, các hội chúng đã phát triển lên đến hàng ngàn người. Nhiều người đã gia nhập vào các hội thánh khác nhau, nhưng sau một thời gian, tinh thần chống đối cũng được bày tỏ ngay cả đối với những người cải đạo này, và các hội thánh bắt đầu thi hành những biện pháp kỷ luật đối với những ai đã tiếp nhận quan điểm của Miller. Hành động này đã khiến ông cầm bút đáp lại, trong một bài gửi cho các Cơ-đốc nhân thuộc mọi giáo phái, yêu cầu rằng nếu giáo lý của ông là sai, thì hãy chỉ cho ông thấy sai lầm ấy từ Kinh Thánh. GC 337.1

Ông nói: “Chúng tôi đã tin điều gì mà Lời Đức Chúa Trời không dạy chúng tôi phải tin, mà chính quý vị cũng thừa nhận là quy tắc, và là quy tắc duy nhất, cho đức tin và nếp sống của chúng ta? Chúng tôi đã làm gì để đáng bị lên án cay độc như vậy từ trên tòa giảng và trên báo chí, và cho quý vị lý do chính đáng để loại chúng tôi [những người Cơ-đốc Phục Lâm] ra khỏi các hội thánh và sự thông công của quý vị?” “Nếu chúng tôi sai, xin hãy chỉ cho chúng tôi thấy chúng tôi sai ở chỗ nào. Xin hãy từ Lời Đức Chúa Trời chỉ cho chúng tôi thấy chúng tôi đã lầm lạc; chúng tôi đã chịu đủ sự chế nhạo rồi; điều đó không bao giờ có thể thuyết phục chúng tôi rằng chúng tôi sai; chỉ có Lời Đức Chúa Trời mới có thể thay đổi quan điểm của chúng tôi. Những kết luận của chúng tôi đã được hình thành một cách thận trọng và đầy cầu nguyện, khi chúng tôi thấy bằng chứng trong Kinh Thánh.”— Sách đã dẫn, trang 250, 252. GC 337.2

Từ thời đại này sang thời đại khác, những lời cảnh cáo mà Đức Chúa Trời đã sai các tôi tớ Ngài đem đến cho thế gian đều được đón nhận với sự hoài nghi và không tin tương tự. Khi tội ác của những người trước cơn Đại hồng thủy đã khiến Ngài đem nước lụt trên đất, trước hết Ngài đã tỏ cho họ biết ý định của Ngài, để họ có cơ hội quay khỏi đường lối gian ác của mình. Trong một trăm hai mươi năm, lời cảnh cáo đã vang lên trong tai họ, kêu gọi họ ăn năn, kẻo cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời sẽ giáng xuống trong sự hủy diệt họ. Nhưng sứ điệp dường như đối với họ chỉ là một câu chuyện vô nghĩa, và họ không tin. Càng táo bạo hơn trong sự gian ác của mình, họ chế nhạo sứ giả của Đức Chúa Trời, coi thường lời van nài của ông, và thậm chí còn buộc tội ông là ngạo mạn. Làm sao một người dám đứng lên chống lại tất cả những bậc vĩ nhân trên đất? Nếu sứ điệp của Nô-ê là thật, tại sao cả thế gian không thấy và tin điều đó? Lời khẳng định của một người chống lại sự khôn ngoan của hàng ngàn người! Họ không chịu tin lời cảnh cáo, cũng không chịu tìm nơi trú ẩn trong chiếc tàu. GC 337.3

Những kẻ chế giễu chỉ vào các vật thuộc thiên nhiên,—sự tuần hoàn không thay đổi của các mùa, bầu trời xanh chưa bao giờ đổ mưa, những cánh đồng xanh tươi được làm tươi mới bởi sương dịu của ban đêm,—và họ kêu lên: “Há chẳng phải người nói lời ví dụ sao?” Trong sự khinh dể, họ tuyên bố rằng người rao giảng sự công bình là một kẻ cuồng tín; và họ tiếp tục, càng hăm hở hơn trong việc theo đuổi khoái lạc, càng chăm chú hơn vào đường lối gian ác của mình hơn trước. Nhưng sự không tin của họ không ngăn được biến cố đã được báo trước. Đức Chúa Trời đã nhẫn nại lâu dài với sự gian ác của họ, ban cho họ đầy đủ cơ hội để ăn năn; nhưng đến thời điểm đã định, sự phán xét của Ngài đã giáng trên những kẻ chối bỏ lòng thương xót của Ngài. GC 338.1

Đấng Christ tuyên bố rằng sẽ có sự không tin tương tự liên quan đến sự tái lâm của Ngài. Như người ta vào thời Nô-ê “không hay biết cho đến chừng nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy; khi Con Người đến cũng như vậy,” theo lời của Đấng Cứu Thế chúng ta. và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, — khi Con người đến cũng như vậy.

(Ma-thi-ơ 24:39)Khi dân sự xưng mình là của Đức Chúa Trời hiệp với thế gian, sống như họ sống, và cùng họ tham dự vào những thú vui bị cấm; khi sự xa hoa của thế gian trở thành sự xa hoa của hội thánh; khi chuông cưới đang ngân vang, và mọi người đang trông đợi nhiều năm thịnh vượng thế gian—thì bỗng nhiên, như tia chớp lòe ra từ trời, sẽ đến hồi kết của những viễn ảnh tươi sáng và những hy vọng lừa dối của họ. GC 338.2

Như Đức Chúa Trời đã sai tôi tớ Ngài cảnh cáo thế gian về cơn Đại hồng thủy sắp đến, thì Ngài cũng sai những sứ giả được chọn để công bố sự gần kề của sự phán xét cuối cùng. Và như những người đồng thời với Nô-ê đã cười nhạo những lời tiên báo của người rao giảng sự công bình, thì vào thời Miller cũng vậy, nhiều người, ngay cả những người xưng là dân của Đức Chúa Trời, đã chế nhạo những lời cảnh cáo. GC 339.1

Và vì sao giáo lý và sự rao giảng về sự tái lâm của Đấng Christ lại không được các hội thánh đón nhận? Trong khi đối với kẻ ác, sự tái lâm của Chúa đem đến tai ương và hoang tàn, thì đối với người công bình, nó chứa đầy niềm vui và hy vọng. Lẽ thật vĩ đại này đã là sự an ủi cho những người trung tín của Đức Chúa Trời qua mọi thời đại; vì sao nó lại trở nên, giống như Tác Giả của nó, “hòn đá vấp chân” và “vầng đá vướng mắc” cho dân xưng là của Ngài? Chính Chúa chúng ta đã hứa với các môn đồ Ngài: “Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta.” Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó.

(Giăng 14:3)Chính Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót, khi đoán trước sự cô đơn và buồn rầu của những người theo Ngài, đã truyền cho các thiên sứ an ủi họ bằng sự bảo đảm rằng Ngài sẽ đích thân trở lại, cũng như Ngài đã thăng thiên. Khi các môn đồ đứng chăm chú nhìn lên để bắt lấy cái nhìn cuối cùng về Đấng mà họ yêu mến, sự chú ý của họ đã bị thu hút bởi những lời: “Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Đức Chúa Giê-su nầy đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy.” và nói rằng: Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-su này đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy. (Công-vụ các Sứ-đồ 1:11) Hy vọng được thắp lại bởi sứ điệp của các thiên sứ. Các môn đồ “trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm. Môn đồ cứ ở trong đền thờ luôn, ngợi khen Đức Chúa Trời.” Môn đồ thờ lạy Ngài rồi trở về thành Giê-ru-sa-lem, mừng rỡ lắm. Môn đồ cứ ở trong đền thờ luôn, ngợi khen Đức Chúa Trời. (Lu-ca 24:52-53) Họ vui mừng không phải vì Đức Chúa Giê-su đã được cất khỏi họ và họ bị bỏ lại phải vật lộn với những thử thách và cám dỗ của thế gian, nhưng vì sự bảo đảm của các thiên sứ rằng Ngài sẽ trở lại. GC 339.2

Sự công bố về sự tái lâm của Đấng Christ giờ đây phải là, như khi các thiên sứ loan báo cho những người chăn chiên ở Bết-lê-hem, tin lành về sự vui mừng lớn. Những ai thật sự yêu mến Đấng Cứu Thế không thể không hân hoan đón nhận lời công bố dựa trên Lời Đức Chúa Trời rằng Đấng mà hy vọng về sự sống đời đời của họ đặt nơi Ngài sẽ trở lại, không phải để bị lăng mạ, khinh dể và chối bỏ, như khi Ngài đến lần thứ nhất, nhưng trong quyền năng và vinh hiển, để cứu chuộc dân Ngài. Chính những kẻ không yêu mến Đấng Cứu Thế mới mong Ngài cứ ở xa, và không thể có bằng chứng nào rõ ràng hơn cho thấy các hội thánh đã xa rời Đức Chúa Trời bằng sự bực tức và thù địch mà sứ điệp từ trời này khơi dậy. GC 339.3

Những ai đã tiếp nhận giáo lý về sự tái lâm đều được thức tỉnh về sự cần thiết của việc ăn năn và hạ mình trước mặt Đức Chúa Trời. Nhiều người đã từ lâu do dự giữa Đấng Christ và thế gian; giờ đây họ cảm thấy đã đến lúc phải có lập trường dứt khoát. “Những điều thuộc về cõi đời đời đã trở nên một thực tại khác thường đối với họ. Thiên đàng được đem đến gần, và họ cảm thấy mình có tội trước mặt Đức Chúa Trời.” — Bliss, trang 146. Những người Cơ-đốc được giục giã đến một đời sống thuộc linh mới. Họ được khiến phải cảm thấy rằng thời gian ngắn ngủi, rằng những gì họ phải làm cho đồng loại mình phải được thực hiện cách mau chóng. Trần gian lùi xa, cõi đời đời dường như mở ra trước mắt họ, và linh hồn, cùng với tất cả những gì thuộc về phúc hay họa đời đời của nó, được cảm nhận là làm lu mờ mọi sự vật tạm thời. Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự trên họ và ban quyền năng cho những lời kêu gọi tha thiết của họ đối với anh em mình, cũng như đối với những tội nhân, để chuẩn bị cho ngày của Đức Chúa Trời. Chứng cứ thầm lặng của đời sống hằng ngày của họ là một sự quở trách liên tục đối với những thành viên hội thánh hình thức và không tận hiến. Những người này không muốn bị quấy rầy trong việc theo đuổi lạc thú, sự tận tụy kiếm tiền, và tham vọng về danh vọng thế gian của mình. Do đó mà sự thù ghét và chống đối đã dấy lên nghịch cùng đức tin về sự tái lâm và những người rao giảng đức tin ấy. GC 340.1

Khi các luận cứ rút ra từ những giai đoạn tiên tri được thấy là không thể bác bỏ, thì những kẻ chống đối cố gắng làm nản lòng việc tra cứu đề tài này bằng cách dạy rằng các lời tiên tri đã bị niêm phong. Như vậy, người Tin lành đã đi theo bước chân của những người Công Giáo La-mã. Trong khi giáo hội giáo hoàng giữ Kinh Thánh (xem Phụ lục) khỏi tay dân chúng, thì các hội thánh Tin Lành lại tuyên bố rằng một phần quan trọng của Lời Thánh — chính là phần trình bày những chân lý đặc biệt áp dụng cho thời đại chúng ta — không thể hiểu được. GC 340.2

Các mục sư và dân chúng tuyên bố rằng những lời tiên tri của Đa-ni-ên và Khải Huyền là những điều huyền nhiệm không thể hiểu thấu. Nhưng Đức Chúa Giê-su đã hướng các môn đồ Ngài đến những lời của tiên tri Đa-ni-ên về các biến cố sẽ xảy ra trong thời đại của họ, và phán: Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý),

(Ma-thi-ơ 24:15)Và sự khẳng định rằng sách Khải Huyền là một điều huyền nhiệm, không thể hiểu được, đã bị chính tựa đề của sách này bác bỏ: Sự mặc thị của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài đặng đem tỏ ra cùng tôi tớ Ngài những điều kíp phải xảy đến, thì Ngài đã sai thiên sứ đến tỏ những điều đó cho Giăng, tôi tớ Ngài, là kẻ đã rao truyền lời Đức Chúa Trời và chứng cớ của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, về mọi điều mình đã thấy. Phước cho kẻ đọc cùng những kẻ nghe lời tiên tri này, và giữ theo điều đã viết ra đây. Vì thì giờ đã gần rồi. (Khải-huyền 1:1-3) GC 341.1

Tiên tri phán: “Phước cho kẻ đọc” — có những người sẽ không đọc; phước ấy không dành cho họ. “Và những kẻ nghe” — cũng có một số người từ chối nghe bất cứ điều gì liên quan đến các lời tiên tri; phước ấy không dành cho hạng người này. “Và giữ các điều đã chép trong đó” — nhiều người từ chối lưu tâm đến những lời cảnh báo và chỉ dẫn chứa đựng trong sách Khải Huyền; không một ai trong số này có thể đòi hỏi phước hạnh đã hứa. Tất cả những ai chế nhạo các đề tài của lời tiên tri và nhạo báng các biểu tượng đã được ban cho cách trang trọng ở đây, tất cả những ai từ chối cải sửa đời sống mình và chuẩn bị cho sự đến của Con Người, sẽ không được phước. GC 341.2

Trước chứng cứ của sự Soi Dẫn, làm sao người ta lại dám dạy rằng sách Khải Huyền là một điều huyền nhiệm vượt quá tầm hiểu biết của con người? Đó là một điều huyền nhiệm đã được mặc khải, một quyển sách đã được mở ra. Việc nghiên cứu sách Khải Huyền hướng tâm trí đến những lời tiên tri của Đa-ni-ên, và cả hai đều trình bày sự chỉ dẫn hết sức quan trọng, do Đức Chúa Trời ban cho loài người, liên quan đến những biến cố sẽ xảy ra vào thời kỳ kết thúc lịch sử của thế gian này. GC 341.3

Đối với Giăng, những cảnh tượng sâu sắc và kỳ thú trong kinh nghiệm của hội thánh đã được mở ra. Ông thấy vị trí, những nguy hiểm, những cuộc xung đột, và sự giải cứu cuối cùng của dân sự Đức Chúa Trời. Ông ghi lại những thông điệp cuối cùng sẽ làm chín mùi mùa gặt của trái đất, hoặc như những bó lúa cho kho trời, hoặc như những bó củi cho ngọn lửa hủy diệt. Những đề tài có tầm quan trọng to lớn đã được bày tỏ cho ông, đặc biệt dành cho hội thánh cuối cùng, để những ai quay khỏi sai lầm để đến với chân lý có thể được chỉ dẫn về những mối nguy hiểm và những cuộc xung đột trước mặt họ. Không một ai cần phải ở trong bóng tối về những gì sắp xảy đến trên trái đất. GC 341.4

Vậy thì, vì sao có sự thiếu hiểu biết lan rộng như thế về một phần quan trọng của Kinh Thánh? Vì sao có sự miễn cưỡng chung đối với việc tra cứu những lời dạy của nó? Đó là kết quả của một nỗ lực có chủ đích của chúa tể của sự tối tăm nhằm che giấu khỏi loài người điều vạch trần những mưu chước lừa dối của nó. Vì lý do đó, Đấng Christ là Đấng Mặc Khải, khi thấy trước cuộc chiến sẽ dấy lên chống lại việc nghiên cứu sách Khải Huyền, đã ban phước trên tất cả những ai đọc, nghe, và giữ những lời của lời tiên tri. GC 342.1