Chương 17
17

Sứ Giả Của Buổi Bình Minh

Chương 17—Những Sứ Giả Của Buổi Mai

Một trong những lẽ thật trọng thể nhất và cũng vinh hiển nhất được bày tỏ trong Kinh Thánh là sự tái lâm của Đấng Christ để hoàn tất công cuộc cứu chuộc vĩ đại. Đối với dân lữ hành của Đức Chúa Trời, là những người đã lâu nay phải tạm trú trong “miền và bóng của sự chết,” một hi vọng quý báu và đầy vui mừng đã được ban cho qua lời hứa về sự hiện ra của Đấng là “sự sống lại và sự sống,” để “đem những kẻ bị lưu đày của Ngài trở về nhà.” Giáo lý về sự tái lâm chính là âm điệu chủ đạo của Kinh Thánh. Từ ngày cặp vợ chồng đầu tiên rời Ê-đen với những bước chân đau buồn, các con cái của đức tin đã trông đợi sự đến của Đấng được Hứa để phá tan quyền lực của kẻ hủy diệt và đem họ trở về Địa Đàng đã mất. Những thánh nhân thuở xưa đã hướng về sự quang lâm của Đấng Mê-si trong vinh hiển, như sự thành tựu của hi vọng họ. Hê-nóc, chỉ là đời thứ bảy kể từ những người cư ngụ tại Ê-đen, là người đã đồng đi với Đức Chúa Trời của mình suốt ba thế kỷ trên đất, đã được phép nhìn thấy từ xa sự đến của Đấng Giải Cứu. Ông tuyên bố: [[BIBLE:Jude 14-15]]. Tộc trưởng Gióp trong đêm tối của hoạn nạn đã kêu lên với lòng tin không lay chuyển: Còn tôi, tôi biết rằng Đấng cứu chuộc tôi vẫn sống, Đến lúc cuối cùng Ngài sẽ đứng trên đất. Sau khi da tôi, tức xác thịt này, đã bị tan nát, Bấy giờ ngoài xác thịt tôi sẽ xem thấy Đức Chúa Trời; Chánh tôi sẽ thấy Ngài, Mắt tôi sẽ nhìn xem Ngài, chớ chẳng phải kẻ khác, Lòng tôi hao mòn trong mình tôi.

(Gióp 19:25-27) GC 299.1

Sự đến của Đấng Christ để khai mở triều đại của sự công bình đã khơi nguồn cho những lời phát biểu cao quý và nồng nhiệt nhất của các tác giả Kinh Thánh. Các thi nhân và các tiên tri của Kinh Thánh đã viết về điều đó bằng những lời rực cháy lửa thiên đàng. Tác giả Thi thiên đã ca ngợi quyền năng và sự oai nghi của Vua Y-sơ-ra-ên: Từ Si-ôn tốt đẹp toàn vẹn, Đức Chúa Trời đã sáng chói ra. Đức Chúa Trời chúng tôi đến, không nín lặng đâu. Trước mặt Ngài có đám lửa cháy thiêu, Chung quanh Ngài một trận bão dữ dội. Ngài kêu các từng trời trên cao, Và đất ở dưới đặng đoán xét dân sự Ngài:

(Thi-thiên 50:2-4)Nguyện các từng trời vui vẻ và đất mừng rỡ, Nguyện biển và mọi vật ở trong biển nổi tiếng ầm ầm lên. Nguyện đồng ruộng và mọi vật ở trong đó đều hớn hở; Bấy giờ những cây cối trong rừng đều sẽ hát mừng rỡ Trước mặt Đức Giê-hô-va; vì Ngài đến, Ngài đến để đoán xét thế gian; Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian, Dùng sự ngay thẳng mà đoán xét muôn dân. (Thi-thiên 96:11-13) GC 300.1

Tiên tri Ê-sai đã phán: Những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những xác chết của tôi đều chỗi dậy! Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi.

(Ê-sai 26:19)Ngài đã nuốt sự chết đến đời đời. Chúa Giê-hô-va sẽ lau nước mắt khỏi mọi mặt, và trừ bỏ sự xấu hổ của dân Ngài khỏi cả thế gian; vì Đức Giê-hô-va đã phán vậy. Trong ngày đó, người ta sẽ nói rằng: Kìa, ấy là Đức Chúa Trời chúng ta; chúng ta đã mong đợi Ngài, và Ngài sẽ cứu chúng ta. Ấy là Đức Giê-hô-va; chúng ta đã mong đợi Ngài, chúng ta sẽ nức lòng mừng rỡ và đồng vui về sự cứu rỗi của Ngài! (Ê-sai 25:8-9) GC 300.2

Và Ha-ba-cúc, được đưa vào khải tượng thánh, đã thấy sự hiện ra của Ngài. Đức Chúa Trời đến từ Thê-man, Đấng Thánh đến từ núi Pha-ran. (Sê-la) Vinh hiển Ngài bao phủ các từng trời, Đất đầy sự khen ngợi Ngài. Sự chói rạng của Ngài như ánh sáng, Những tia sáng ra từ tay Ngài, Quyền năng Ngài giấu trong nơi đó.

(Ha-ba-cúc 3:3-4)Ngài đứng và đo đất; Ngài nhìn xem, làm tan tác các dân tộc; Các núi hằng còn đều tan nát, Các đồi đời đời đều quì xuống: Các đường lối Ngài giống như thuở xưa. (Ha-ba-cúc 3:6) Có phải Đức Giê-hô-va nổi giận nghịch cùng các sông chăng? Cơn giận Ngài có phải nổi lên nghịch cùng các sông chăng? Có phải sự thạnh nộ Ngài nổi lên nghịch cùng biển, Khi Ngài cỡi ngựa cỡi xe đặng giải cứu chăng? (Ha-ba-cúc 3:8) Các núi thấy Ngài thì đều sợ hãi; Các dòng nước chảy mạnh, Vực sâu vang tiếng, Rún biển giơ tay lên cao. Mặt trời mặt trăng dừng lại trong nơi ở nó; Vì cớ bóng sáng của những tên Ngài, Và chớp nháng của gươm giáo Ngài chiếu ra. (Ha-ba-cúc 3:10-11) Ngài đi ra đặng cứu dân mình, Đi ra đặng cứu đấng chịu xức dầu của mình; Ngài đánh thương đầu kẻ ác, phá nhà nó, Làm trần trụi nền nó cho đến cổ. (Sê-la) (Ha-ba-cúc 3:13) GC 300.3

Khi Đấng Cứu Thế sắp phân rẽ khỏi các môn đồ Ngài, Ngài đã an ủi họ trong nỗi buồn bằng sự bảo đảm rằng Ngài sẽ trở lại: Lòng các ngươi chớ hề bối rối; hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin ta nữa. Trong nhà Cha ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với ta, hầu cho ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó.

(Giăng 14:1-3)Khi Con người ngự trong sự vinh hiển mình mà đến với các thiên sứ thánh, thì Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài. Muôn dân nhóm lại trước mặt Ngài, rồi Ngài sẽ chia người này với người khác ra, như kẻ chăn chiên chia chiên với dê ra; (Ma-thi-ơ 25:31-32) GC 301.1

Các thiên sứ còn nán lại trên núi Ô-li-ve sau khi Đấng Christ thăng thiên đã lặp lại cho các môn đồ lời hứa về sự trở lại của Ngài: và nói rằng: Hỡi người Ga-li-lê, sao các ngươi đứng ngóng lên trời làm chi? Giê-su này đã được cất lên trời khỏi giữa các ngươi, cũng sẽ trở lại như cách các ngươi đã thấy Ngài lên trời vậy.

(Công-vụ các Sứ-đồ 1:11)Và sứ đồ Phao-lô, được Thánh Linh cảm thúc, đã làm chứng: Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết. (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16) Tiên tri của đảo Bát-mô nói: Kìa, Ngài đến giữa những đám mây, mọi mắt sẽ trông thấy, cả đến những kẻ đã đâm Ngài cũng trông thấy; hết thảy các chi họ trong thế gian sẽ than khóc vì cớ Ngài. Quả thật vậy. A-men! (Khải-huyền 1:7) GC 301.2

Xoay quanh sự đến của Ngài là mọi vinh hiển của “kỳ muôn vật đổi mới, là kỳ mà Đức Chúa Trời đã phán từ đời xưa bởi miệng các thánh tiên tri Ngài.” mà trời phải rước về cho đến kỳ muôn vật đổi mới, là kỳ mà Đức Chúa Trời thuở xưa đã phán trước bởi miệng các thánh tiên tri.

(Công-vụ các Sứ-đồ 3:21)Bấy giờ triều đại lâu dài của sự ác sẽ bị phá vỡ; “các nước của thế gian” sẽ trở nên “nước của Chúa chúng ta và của Đấng Christ của Ngài; Ngài sẽ trị vì đời đời vô cùng.” Vị thiên sứ thứ bảy thổi loa, có những tiếng lớn vang ra trên trời rằng: Từ nay nước của thế gian thuộc về Chúa chúng ta và Đấng Cơ-đốc của Ngài, Ngài sẽ trị vì đời đời. (Khải-huyền 11:15) Bấy giờ sự vinh hiển của Đức Giê-hô-va sẽ hiện ra, và mọi xác thịt đều sẽ xem thấy; vì miệng Đức Giê-hô-va đã phán vậy. (Ê-sai 40:5) Vả, như đất làm cho cây mọc lên, vườn làm cho hột giống nứt lên thể nào, thì Chúa Giê-hô-va cũng sẽ làm cho sự công bình và sự khen ngợi nứt ra trước mặt mọi dân tộc thể ấy. (Ê-sai 61:11) Ngài sẽ là Trong ngày đó, Đức Giê-hô-va vạn quân sẽ trở nên mão triều thiên chói sáng và mão miện rực rỡ của dân sót Ngài; (Ê-sai 28:5) GC 301.3

Bấy giờ nước bình an và đã được trông mong lâu ngày của Đấng Mê-si sẽ được thiết lập dưới cả các tầng trời. Vì Đức Giê-hô-va đã yên ủi Si-ôn; Ngài đã yên ủi mọi nơi đổ nát của nó. Ngài đã khiến đồng vắng nên như vườn Ê-đen, nơi sa mạc nên như vườn Đức Giê-hô-va; giữa vườn ấy sẽ có sự vui vẻ, mừng rỡ, tạ ơn, và tiếng ca hát.

(Ê-sai 51:3)Nó trổ hoa nhiều và vui mừng, cất tiếng hát hớn hở. Sự vinh hiển của Li-ban cùng sự tốt đẹp của Cạt-mên và Sa-rôn sẽ được ban cho nó. Chúng sẽ thấy sự vinh hiển Đức Giê-hô-va, và sự tốt đẹp của Đức Chúa Trời chúng ta. (Ê-sai 35:2) Người ta sẽ chẳng gọi ngươi là Kẻ bị bỏ nữa, chẳng gọi đất ngươi là Đất hoang vu nữa; nhưng sẽ gọi ngươi là Kẻ mà ta ưa thích; và đất ngươi sẽ được xưng là Kẻ có chồng; vì Đức Giê-hô-va sẽ ưa thích ngươi, và đất ngươi sẽ có chồng. Như người trai tráng cưới người nữ đồng trinh, thì các con trai ngươi cũng sẽ cưới ngươi; chàng rể mới vui mừng vì vợ mới mình, Đức Chúa Trời ngươi cũng vui mừng vì ngươi. (Ê-sai 62:4-5) bản dịch bên lề. GC 302.1

Sự đến của Chúa ở mọi thời đại đã là niềm hi vọng của những tín đồ chân thật của Ngài. Lời hứa tạm biệt của Đấng Cứu Thế trên núi Ô-li-ve, rằng Ngài sẽ trở lại, đã thắp sáng tương lai cho các môn đồ Ngài, đổ đầy lòng họ sự vui mừng và hi vọng mà đau buồn không thể dập tắt hay thử thách không thể làm lu mờ. Giữa đau khổ và bắt bớ, “sự hiện ra của Đức Chúa Trời lớn và Đấng Cứu Thế chúng ta là Đức Chúa Giê-su” chính là “sự trông cậy hạnh phước.” Khi các Cơ-đốc nhân tại Tê-sa-lô-ni-ca chìm trong sự đau buồn lúc chôn cất những người thân yêu của họ, là những người đã hi vọng được sống để thấy sự đến của Chúa, Phao-lô, thầy dạy họ, đã hướng họ đến sự sống lại, sẽ diễn ra vào lúc Đấng Cứu Thế tái lâm. Bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại, và cùng với những kẻ đang sống được cất lên để gặp Chúa giữa không trung. Ông phán: Vì sẽ có tiếng kêu lớn và tiếng của thiên sứ lớn cùng tiếng kèn của Đức Chúa Trời, thì chính mình Chúa ở trên trời giáng xuống; bấy giờ những kẻ chết trong Đấng Cơ-đốc, sẽ sống lại trước hết. Kế đến chúng ta là kẻ sống, mà còn ở lại, sẽ cùng nhau đều được cất lên với những người ấy giữa đám mây, tại nơi không trung mà gặp Chúa, như vậy chúng ta sẽ ở cùng Chúa luôn luôn. Thế thì, anh em hãy dùng lời đó mà yên ủi nhau.

(I Tê-sa-lô-ni-ca 4:16-18) GC 302.2

Trên đảo đá Bát-mô, vị môn đồ được yêu dấu nghe lời hứa: Đấng làm chứng cho những điều ấy, phán rằng: Phải, ta đến mau chóng. — A-men, lạy Đức Chúa Giê-su, xin hãy đến!

(Khải-huyền 22:20)và lời đáp khát khao của ông cất tiếng thay cho lời cầu nguyện của hội thánh trong suốt cuộc lữ hành: “A-men, lạy Đức Chúa Giê-su, xin hãy đến!” GC 302.3

Từ ngục tối, cột thiêu, đoạn đầu đài, nơi các thánh đồ và những người tử đạo đã làm chứng cho lẽ thật, tiếng nói của đức tin và hi vọng họ vang vọng qua bao thế kỷ. “Được bảo đảm về sự sống lại thuộc thể của chính Ngài, và do đó về sự sống lại của chính họ khi Ngài đến, vì cớ ấy,” một trong những người Cơ-đốc này nói, “họ đã khinh dể sự chết, và được tìm thấy là ở trên nó.”—Daniel T. Taylor, The Reign of Christ on Earth: or, The Voice of the Church in All Ages, trang 33. Họ sẵn lòng đi xuống mồ mả, hầu cho có thể “chỗi dậy cách tự do.”—Sđd., trang 54. Họ trông đợi “Chúa đến từ thiên đàng trong các đám mây với vinh hiển của Cha Ngài,” “đem đến cho những người công bình các thời kỳ của nước Ngài.” Những người Waldenses cũng ấp ủ đức tin ấy.—Sđd., trang 129-132. Wycliffe hướng đến sự hiện ra của Đấng Cứu Chuộc như là niềm hi vọng của hội thánh.—Sđd., trang 132-134. GC 302.4

Lu-thơ tuyên bố: “Tôi tự thuyết phục mình rằng ngày phán xét sẽ không vắng mặt trọn ba trăm năm. Đức Chúa Trời sẽ không, không thể chịu đựng thế gian gian ác này lâu hơn nữa.” “Ngày trọng đại đang đến gần, trong ngày ấy vương quốc của những điều gớm ghiếc sẽ bị lật đổ.”— Ibid., trang 158, 134. GC 303.1

“Thế gian già cỗi này không còn xa ngày tận cùng của nó,” Mê-lanh-tôn nói. Calvin khuyên các Cơ-đốc nhân “đừng do dự, mà hãy tha thiết khao khát ngày Đấng Christ đến như biến cố tốt đẹp nhất trong mọi biến cố;” và tuyên bố rằng “toàn thể gia đình những người trung tín sẽ hằng hướng mắt về ngày ấy.” “Chúng ta phải đói khát Đấng Christ, chúng ta phải tìm kiếm, chiêm ngưỡng,” ông nói, “cho đến rạng đông của ngày trọng đại ấy, khi Chúa chúng ta sẽ bày tỏ trọn vẹn vinh quang của nước Ngài.”— Ibid., trang 158, 134. GC 303.2

“Chẳng phải Đức Chúa Giê-su đã đem xác thịt chúng ta lên trời sao?” Knox, nhà Cải chánh người Tô Cách Lan, nói, “và chẳng phải Ngài sẽ trở lại sao? Chúng ta biết rằng Ngài sẽ trở lại, và trở lại cách mau chóng.” Ridley và Latimer, những người đã hiến dâng mạng sống vì lẽ thật, đã trông đợi với đức tin sự đến của Chúa. Ridley viết: “Thế gian chắc chắn—điều này tôi tin, và vì vậy tôi nói—đang đi đến hồi kết. Cùng với Giăng, đầy tớ của Đức Chúa Trời, chúng ta hãy kêu xin trong lòng với Đấng Cứu Thế Christ của chúng ta: Lạy Đức Chúa Giê-su, xin hãy đến, xin hãy đến.”— Ibid., trang 151, 145. GC 303.3

“Những ý tưởng về sự đến của Chúa,” Baxter nói, “là những điều ngọt ngào và vui mừng nhất đối với tôi.”—Richard Baxter, Works, quyển 17, trang 555. “Ấy là công việc của đức tin và là đặc tính của các thánh đồ Ngài khi yêu mến sự hiện ra của Ngài và trông đợi niềm hy vọng phước hạnh ấy.” “Nếu sự chết là kẻ thù cuối cùng bị tiêu diệt trong sự sống lại, thì chúng ta có thể học biết những người tin nên tha thiết trông mong và cầu nguyện cho sự tái lâm của Đấng Christ đến biết dường nào, khi cuộc chinh phục trọn vẹn và sau cùng này được hoàn thành.”— Ibid., quyển 17, trang 500. “Đây là ngày mà mọi tín hữu nên khao khát, hy vọng và trông đợi, vì ấy là sự hoàn thành mọi công việc của sự cứu chuộc họ, và mọi khao khát cùng nỗ lực của linh hồn họ.” “Lạy Chúa, xin hãy mau đến ngày phước hạnh này!”— Ibid., quyển 17, trang 182, 183. Đó là niềm hy vọng của hội thánh sứ đồ, của “hội thánh trong đồng vắng,” và của các nhà Cải chánh. GC 303.4

Lời tiên tri không những báo trước cách thức và mục đích sự đến của Đấng Christ, mà còn đưa ra những dấu hiệu để loài người biết khi ngày ấy đã gần. Đức Chúa Giê-su phán: Sẽ có các điềm lạ trong mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao; còn dưới đất, dân các nước sầu não rối loạn vì biển nổi tiếng om sòm và sóng đào.

(Lu-ca 21:25)Trong những ngày ấy, sau kỳ tai nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng chẳng chiếu sáng nữa, các ngôi sao sẽ tự trên trời rớt xuống, và thế lực các từng trời sẽ rúng động. Bấy giờ người ta sẽ thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự đến trên đám mây; (Mác 13:24-26) Người mặc khải đã mô tả dấu hiệu thứ nhất đi trước sự tái lâm như sau: Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ sáu, thì có một cơn động đất lớn; mặt trời bèn trở nên tối tăm như túi lông đen, cả mặt trăng trở nên như huyết. (Khải-huyền 6:12) GC 304.1

Những dấu hiệu này đã được chứng kiến trước khi thế kỷ thứ mười chín mở ra. Để ứng nghiệm lời tiên tri này, vào năm 1755 đã xảy ra trận động đất khủng khiếp nhất từng được ghi lại. Mặc dù thường được biết đến với tên trận động đất Lisbon, nó lan rộng đến phần lớn Âu Châu, Phi Châu và Mỹ Châu. Nó được cảm nhận ở Greenland, ở Tây Ấn, ở đảo Madeira, ở Na Uy và Thụy Điển, Anh Quốc và Ái Nhĩ Lan. Nó bao phủ một diện tích không dưới bốn triệu dặm vuông. Tại Phi Châu, chấn động gần như khốc liệt như ở Âu Châu. Một phần lớn Algiers bị tàn phá; và cách Morocco không xa, một ngôi làng có tám hay mười ngàn cư dân đã bị nuốt chửng. Một làn sóng khổng lồ quét qua bờ biển Tây Ban Nha và Phi Châu, nhận chìm các thành phố và gây tàn phá kinh hoàng. GC 304.2

Chính tại Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha mà cơn chấn động bày tỏ sự dữ dội cực độ. Tại Cadiz, làn sóng tràn vào được kể là cao sáu mươi bộ. Núi non, “một vài trong số lớn nhất ở Bồ Đào Nha, đã bị rung chuyển dữ dội, dường như từ chính nền móng, và một số trong chúng đã nứt ra ở đỉnh, bị rạch và toác ra một cách kỳ lạ, những khối đá khổng lồ bị ném xuống các thung lũng bên dưới. Ngọn lửa được kể là đã phát ra từ những ngọn núi này.”—Sir Charles Lyell, Principles of Geology, trang 495. GC 304.3

Tại Lisbon “một âm thanh như sấm được nghe dưới lòng đất, và ngay sau đó một chấn động dữ dội đã đánh đổ phần lớn thành phố ấy. Trong khoảng sáu phút, sáu mươi ngàn người đã bỏ mạng. Biển trước hết rút lui, làm cạn trơ bãi cát; rồi nó cuộn trở lại, dâng lên năm mươi bộ hoặc hơn trên mực nước thông thường.” “Trong những biến cố phi thường khác được kể đã xảy ra tại Lisbon trong thảm họa, là sự sụp lún của một bến tàu mới, hoàn toàn xây bằng đá cẩm thạch, với phí tổn khổng lồ. Một đám đông lớn đã tụ tập tại đó để tìm an toàn, như một nơi họ có thể ngoài tầm với của các tòa nhà đổ; nhưng đột nhiên bến tàu đã lún xuống cùng với toàn bộ đám người trên đó, và không một xác chết nào từng nổi lên mặt nước.”— Ibid., trang 495. GC 305.1

“Chấn động” của trận động đất “ngay lập tức được tiếp nối bởi sự sụp đổ của mọi hội thánh và tu viện, hầu hết mọi tòa nhà công cộng lớn, và hơn một phần tư số nhà cửa. Khoảng hai giờ sau cơn chấn động, hỏa hoạn bùng phát ở nhiều khu vực khác nhau, và hoành hành dữ dội trong khoảng gần ba ngày, đến nỗi thành phố bị hoàn toàn hoang tàn. Trận động đất xảy ra vào một ngày lễ, khi các hội thánh và tu viện đầy ắp người, rất ít người trong số đó thoát được.”— Encyclopedia Americana, mục “Lisbon,” chú thích (ấn bản 1831). “Sự kinh hoàng của dân chúng vượt quá lời mô tả. Không ai khóc; nó vượt quá cả nước mắt. Họ chạy đi chạy lại, mê sảng vì kinh hãi và kinh ngạc, đập vào mặt mình và ngực mình, la lên, ‘Misericordia! thế gian đến hồi tận cùng rồi!’ Các người mẹ quên cả con mình, và chạy quanh mang theo các tượng thập tự. Bất hạnh thay, nhiều người chạy đến các hội thánh để được bảo vệ; nhưng vô ích thay bí tích được phơi bày; vô ích thay những kẻ khốn khổ ôm lấy bàn thờ; tượng ảnh, các thầy tế lễ, và dân chúng đều bị chôn vùi trong cùng một đống đổ nát.” Người ta ước tính chín mươi ngàn người đã mất mạng trong ngày định mệnh ấy. GC 305.2

Hai mươi lăm năm sau xuất hiện dấu hiệu kế tiếp được nhắc đến trong lời tiên tri—sự tối tăm của mặt trời và mặt trăng. Điều làm nên sự ấn tượng hơn là việc thời điểm ứng nghiệm đã được chỉ ra cách xác định. Trong cuộc trò chuyện của Đấng Cứu Thế với các môn đồ Ngài trên núi Ô-li-ve, sau khi mô tả thời kỳ dài của thử thách cho hội thánh,—1260 năm bách hại của giáo hoàng, mà Ngài đã hứa rằng cơn hoạn nạn sẽ được rút ngắn,—Ngài đã đề cập đến một số biến cố sẽ đi trước sự đến của Ngài, và ấn định thời điểm khi dấu đầu tiên trong số ấy sẽ được chứng kiến: Trong những ngày ấy, sau kỳ tai nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng chẳng chiếu sáng nữa,

(Mác 13:24)ngày, hay năm, đã kết thúc vào năm 1798. Một phần tư thế kỷ trước đó, sự bách hại hầu như đã chấm dứt hoàn toàn. Tiếp theo sự bách hại này, theo lời Đấng Christ, mặt trời sẽ bị tối đen. Vào ngày 19 tháng 5, năm 1780, lời tiên tri này đã được ứng nghiệm. GC 306.1

“Hầu như, nếu không phải hoàn toàn đơn lẻ, như hiện tượng bí ẩn nhất và cho đến nay chưa được giải thích thuộc loại của nó, … là ngày tối tăm 19 tháng 5 năm 1780,—một sự tối tăm không thể giải thích của toàn thể bầu trời và bầu khí quyển nhìn thấy được ở New England.”—R. M. Devens, Our First Century, trang 89. GC 306.2

Một nhân chứng mắt thấy sinh sống tại Massachusetts đã mô tả biến cố như sau: “Vào buổi sáng, mặt trời mọc trong trẻo, nhưng chẳng bao lâu đã bị che phủ. Các đám mây trở nên u ám, và từ chúng, đen tối và đầy điềm gở, lằn chớp lóe lên, sấm động vang rền, và một ít mưa rơi xuống. Khoảng chín giờ, các đám mây trở nên mỏng hơn, và mang vẻ như đồng thau hoặc đỏ đồng, và đất, đá, cây cối, nhà cửa, nước, và con người đều bị biến đổi bởi ánh sáng kỳ lạ, không thuộc về thế gian này. Vài phút sau, một đám mây đen nặng nề phủ khắp bầu trời ngoại trừ một vành hẹp ở chân trời, và trời tối như thường lệ vào chín giờ tối của một buổi tối mùa hè…. GC 306.3

“Sự sợ hãi, lo âu, và kinh hoàng dần dần tràn ngập tâm trí dân chúng. Các người nữ đứng ở ngưỡng cửa, nhìn ra cảnh vật tối tăm; đàn ông trở về từ công việc ngoài đồng; người thợ mộc bỏ đồ nghề của mình, người thợ rèn bỏ lò rèn của mình, người buôn bán bỏ quầy hàng của mình. Trường học đóng cửa, và run rẩy, các em nhỏ chạy về nhà. Khách lữ hành trú lại nông trại gần nhất. ‘Điều gì đang đến?’ mỗi môi miệng và tấm lòng đều hỏi. Dường như một cơn cuồng phong sắp càn quét khắp đất, hoặc như thể đó là ngày tận cùng của muôn vật. GC 306.4

“Người ta đã thắp nến; và lửa trong lò sưởi bừng sáng như trong một buổi tối mùa thu không trăng…. Gà lên chuồng ngủ, gia súc tụ lại nơi rào đồng cỏ và rống lên, ếch kêu, chim hót bài ca chiều tà, và dơi bay lượn. Nhưng loài người biết rằng đêm vẫn chưa đến…. GC 307.1

“Tiến sĩ Nathanael Whittaker, mục sư của hội thánh Tabernacle tại Salem, đã tổ chức các buổi nhóm thờ phượng tại nhà hội, và giảng một bài giảng trong đó ông cho rằng sự tối tăm ấy là siêu nhiên. Các hội chúng cũng nhóm lại tại nhiều nơi khác. Các câu Kinh Thánh cho những bài giảng ứng khẩu ấy luôn luôn là những câu dường như cho thấy rằng sự tối tăm ấy phù hợp với lời tiên tri của Kinh Thánh…. Sự tối tăm dày đặc nhất là ngay sau mười một giờ.” — The Essex Antiquarian, April, 1899, vol. 3, No. 4, pp. 53, 54. “Tại hầu hết các vùng trong xứ, vào ban ngày sự tối tăm lớn đến nỗi người ta không thể xem giờ bằng đồng hồ đeo tay hay đồng hồ treo tường, cũng không thể ăn bữa, hay làm việc trong nhà nếu không có ánh nến…. GC 307.2

“Phạm vi của sự tối tăm nầy thật phi thường. Nó được quan sát thấy xa về phía đông đến tận Falmouth. Về phía tây, nó lan đến phần xa nhất của Connecticut, và đến Albany. Về phía nam, nó được quan sát thấy dọc theo bờ biển; và về phía bắc xa đến tận các khu định cư Hoa Kỳ.” — William Gordon, History of the Rise, Progress, and Establishment of the Independence of the U.S.A., vol. 3, p. 57. GC 307.3

Sự tối tăm dày đặc của ngày hôm ấy được tiếp nối, khoảng một hoặc hai giờ trước buổi tối, bằng một bầu trời quang đãng phần nào, và mặt trời xuất hiện, dù vẫn còn bị che khuất bởi làn sương mù đen nặng nề. “Sau khi mặt trời lặn, mây lại kéo đến trên đầu, và trời tối sầm rất nhanh.” “Sự tối tăm của ban đêm cũng không kém phần khác thường và kinh hãi so với ban ngày; mặc dù lúc đó gần như có trăng tròn, nhưng không một vật gì có thể nhìn thấy được nếu không có sự trợ giúp của ánh sáng nhân tạo nào đó, mà khi nhìn từ những ngôi nhà lân cận và những nơi khác ở xa, nó hiện ra xuyên qua một thứ tối tăm như Ai-cập dường như hầu như không thể xuyên qua được bằng các tia sáng.” — Isaiah Thomas, Massachusetts Spy; or, American Oracle of Liberty, vol. 10, No. 472 (May 25, 1780). Một nhân chứng tại hiện trường đã nói: “Lúc ấy tôi không thể nào không nghĩ rằng nếu mọi vật thể phát sáng trong vũ trụ đã bị bao phủ trong bóng tối không thể xuyên thấu, hoặc bị xóa khỏi sự tồn tại, thì sự tối tăm cũng không thể nào trọn vẹn hơn được nữa.” — Letter by Dr. Samuel Tenney, of Exeter, New Hampshire, December, 1785 (in Massachusetts Historical Society Collections, 1792, 1st series, vol. 1, p. 97). Mặc dù lúc chín giờ đêm ấy trăng tròn đã mọc, “nó vẫn không có chút ảnh hưởng nào để xua tan những bóng tối như tử thần ấy.” Sau nửa đêm sự tối tăm biến mất, và mặt trăng, khi lần đầu có thể nhìn thấy được, có diện mạo như máu. GC 307.4

Ngày 19 tháng 5 năm 1780 được ghi vào lịch sử là “Ngày Tối Tăm.” Kể từ thời Môi-se, chưa từng có thời kỳ tối tăm nào có cùng mức độ dày đặc, phạm vi và thời lượng như vậy được ghi nhận. Lời mô tả về biến cố nầy, do các nhân chứng tận mắt thuật lại, chỉ là tiếng vang của lời Chúa, được tiên tri Giô-ên ghi lại hai ngàn năm trăm năm trước khi chúng được ứng nghiệm: Mặt trời sẽ đổi ra tối tăm, mặt trăng ra máu, trước khi ngày lớn và kinh khiếp của Đức Giê-hô-va chưa đến.

(Giô-ên 2:31)Giô-ên 2:31. GC 308.1

Đức Chúa Giê-su đã truyền cho dân Ngài phải canh chừng các dấu hiệu về sự tái lâm của Ngài và vui mừng khi họ nhìn thấy các dấu chỉ về Vua sắp đến của mình. Ngài phán: Chừng nào các việc đó khởi xảy đến, hãy đứng thẳng lên, ngước đầu lên, vì sự giải cứu của các ngươi gần tới.

(Lu-ca 21:28)Ngài chỉ cho các môn đồ thấy những cây đang nứt lộc vào mùa xuân, và phán: khi nó mới nứt lộc, các ngươi thấy thì tự biết rằng mùa hạ đã gần đến. Cũng vậy, khi các ngươi thấy những điều ấy xảy ra, hãy biết nước Đức Chúa Trời gần đến. (Lu-ca 21:30-31) Lu-ca 21:28, 30, 31. GC 308.2

Nhưng vì tinh thần khiêm nhường và sốt sắng trong hội thánh đã nhường chỗ cho sự kiêu ngạo và hình thức, nên tình yêu đối với Đấng Christ và đức tin nơi sự tái lâm của Ngài đã trở nên nguội lạnh. Bị cuốn hút vào sự thế tục và việc tìm kiếm thú vui, dân xưng là của Đức Chúa Trời đã trở nên mù lòa đối với những lời dạy của Đấng Cứu Thế về các dấu hiệu sự hiện đến của Ngài. Giáo lý về sự tái lâm đã bị xao lãng; những đoạn Kinh Thánh liên hệ đến điều ấy đã bị che mờ bởi sự giải nghĩa sai lạc, cho đến khi nó bị xem thường và quên lãng đến mức độ lớn. Điều nầy đặc biệt xảy ra trong các hội thánh ở Hoa Kỳ. Sự tự do và tiện nghi mà mọi tầng lớp xã hội được hưởng, sự ham muốn tham vọng về của cải và xa hoa, sinh ra lòng tận tụy mê mải với việc làm giàu, sự hối hả khát khao danh tiếng và quyền lực, dường như trong tầm tay của mọi người, đã khiến người ta tập trung những mối quan tâm và hy vọng của mình vào những sự thuộc về đời nầy, và đẩy ra xa trong tương lai cái ngày trọng đại khi trật tự hiện tại của muôn vật sẽ qua đi. GC 309.1

Khi Đấng Cứu Thế chỉ cho các môn đồ Ngài thấy những dấu hiệu về sự trở lại của Ngài, Ngài đã báo trước tình trạng bội đạo sẽ tồn tại ngay trước sự tái lâm của Ngài. Sẽ có, như trong thời Nô-ê, sự bận rộn và náo nhiệt của công việc thế tục và sự tìm kiếm thú vui — mua, bán, trồng tỉa, xây cất, cưới vợ, gả chồng — với sự quên lãng Đức Chúa Trời và đời sống tương lai. Đối với những người sống vào thời nầy, lời khuyên răn của Đức Chúa Giê-su là: Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời này làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa;

(Lu-ca 21:34)Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người. (Lu-ca 21:36) Lu-ca 21:34, 36. GC 309.2

Tình trạng của hội thánh vào thời nầy được chỉ ra trong lời của Đấng Cứu Thế trong sách Khải Huyền: Ngươi cũng hãy viết cho thiên sứ của Hội thánh Sạt-đe rằng: Nầy là lời phán của Đấng có bảy vị thần Đức Chúa Trời và bảy ngôi sao: Ta biết công việc ngươi; ngươi có tiếng là sống, nhưng mà là chết.

(Khải-huyền 3:1)Và đối với những kẻ từ chối tỉnh thức khỏi sự yên ổn cẩu thả của mình, lời cảnh cáo trọng đại được phán ra: Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình. (Khải-huyền 3:3) Khải Huyền 3:1, 3. GC 309.3

Cần thiết phải đánh thức loài người về nguy cơ của họ; để họ được khơi dậy mà chuẩn bị cho những biến cố trọng đại liên hệ đến việc kết thúc thời kỳ ân điển. Tiên tri của Đức Chúa Trời tuyên bố: Đức Giê-hô-va làm cho vang tiếng ra trước mặt cơ binh Ngài; vì trại quân Ngài rất lớn; và những kẻ làm theo mạng lịnh Ngài rất mạnh. Thật, ngày của Đức Giê-hô-va là lớn và đáng khiếp; ai có thể đương lại?

(Giô-ên 2:11)Ai sẽ đứng nổi khi Ngài hiện đến, là Đấng Mắt Chúa thánh sạch chẳng nhìn sự dữ, chẳng có thể nhìn được sự trái ngược. Sao Ngài nhìn xem kẻ làm sự dối trá, khi kẻ dữ nuốt người công bình hơn nó, sao Ngài nín lặng đi? (Ha-ba-cúc 1:13) Giô-ên 2:11; Ha-ba-cúc 1:13. Đối với những kẻ kêu lên: “Đức Chúa Trời tôi ôi, chúng tôi nhận biết Ngài,” nhưng lại đã vi phạm giao ước của Ngài, và vội vàng chạy theo một thần khác, giấu tội lỗi trong lòng, và yêu mến những lối bất nghĩa — đối với những kẻ ấy, ngày của Chúa là Ngày của Đức Giê-hô-va há chẳng phải tối tăm, không sáng láng, và mù mịt, không chói lói hay sao? (A-mốt 5:20) Ô-sê 8:2, 1; Thi Thiên 16:4; A-mốt 5:20. Đức Giê-hô-va phán: Trong lúc đó, ta sẽ dùng đèn đuốc lục soát trong Giê-ru-sa-lem, sẽ phạt những kẻ đọng trong cặn rượu và tự nói trong lòng mình rằng: Đức Giê-hô-va sẽ chẳng xuống phước cũng chẳng xuống họa. (Sô-phô-ni 1:12) Sô-phô-ni 1:12. Ta sẽ phạt thế gian vì sự độc ác nó, phạt kẻ dữ vì tội lỗi chúng nó, làm cho kẻ kiêu hết kiêu, hạ sự tự cao của kẻ bạo ngược. (Ê-sai 13:11) Ê-sai 13:11. Hoặc bạc hoặc vàng của chúng nó, đều không có thể giải cứu chúng nó trong ngày thạnh nộ của Đức Giê-hô-va; nhưng cả đất này sẽ bị lửa ghen Ngài thiêu nuốt; vì Ngài sẽ diệt hết dân cư đất này cách thình lình. (Sô-phô-ni 1:18) Của cải chúng nó sẽ bị cướp, nhà cửa chúng nó sẽ hoang vu; chúng nó sẽ xây nhà mà không được ở, trồng nho mà không được uống rượu. (Sô-phô-ni 1:13) Sô-phô-ni 1:18, 13. GC 310.1

Tiên tri Giê-rê-mi, nhìn thấy trước thời kỳ đáng sợ nầy, đã kêu lên: Ôi! Tôi đau lòng, đau lòng! Cơn đau đớn quặn thắt lòng tôi; lòng đương bối rối trong tôi. Tôi không thể làm thinh! Hỡi linh hồn tôi, vì mầy nghe giọng kèn và tiếng giặc giã. Hủy diệt càng thêm hủy diệt, báo tin chẳng dứt, cả đất bị phá tán; nhà tạm tôi thình lình bị hủy, màn cháng tôi bỗng chốc bị hư!

(Giê-rê-mi 4:19-20)Giê-rê-mi 4:19, 20. GC 310.2

“Ngày ấy là ngày thạnh nộ, ngày hoạn nạn và buồn rầu, ngày hủy phá và hoang vu, ngày tối tăm và mờ mịt, ngày mây và sương mù, ngày mà tiếng kèn và tiếng báo giặc nghịch cùng các thành bền vững và các tháp cao góc thành.” (Sô-phô-ni 1:15-16) Sô-phô-ni 1:15, 16. Nầy, ngày Đức Giê-hô-va đến, là ngày hung dữ, có sự thạnh nộ và nóng giận để làm đất này nên hoang vu, và diệt những kẻ có tội khỏi đó. (Ê-sai 13:9) Ê-sai 13:9. GC 310.3

Trước ngày trọng đại ấy, Lời Đức Chúa Trời, bằng ngôn ngữ trang nghiêm và cảm động nhất, kêu gọi dân sự Ngài hãy thức tỉnh khỏi sự mê muội thuộc linh và tìm kiếm mặt Ngài với lòng ăn năn và hạ mình: Hãy thổi kèn trong Si-ôn; hãy thổi vang ra trên núi thánh ta! Hết thảy dân cư trong đất khá đều run rẩy! Vì ngày của Đức Giê-hô-va đến, ngày ấy đã gần:

(Giô-ên 2:1)Hãy thổi kèn trong Si-ôn; hãy định sự kiêng ăn, gọi một hội đồng trọng thể! Hãy nhóm dân sự, biệt riêng hội chúng nên thánh; hãy mời các trưởng lão đến đó! Hãy họp lại các con trẻ, và những đứa đương bú vú! Người chồng mới khá ra khỏi buồng mình, và người vợ mới khá ra khỏi chốn động phòng! Các thầy tế lễ, là những kẻ hầu việc Đức Giê-hô-va, khá khóc lóc giữa hiên cửa và bàn thờ, và nói rằng: Hỡi Đức Giê-hô-va, xin hãy tiếc dân Ngài, và chớ để cơ nghiệp Ngài bị sỉ nhục, và bị các nước cai trị! Làm sao để người ta nói giữa các dân tộc rằng: Nào Đức Chúa Trời chúng nó ở đâu? (Giô-ên 2:15-17) Đức Giê-hô-va phán: Bây giờ cũng hãy hết lòng trở về cùng ta, kiêng ăn, khóc lóc và buồn rầu. Hãy xé lòng các ngươi, và đừng xé áo các ngươi. Khá trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời các ngươi; vì Ngài là nhân từ và hay thương xót, chậm giận và giàu ơn, đổi ý về sự tai vạ. (Giô-ên 2:12-13) GC 311.1

Để chuẩn bị một dân tộc đứng vững trong ngày của Đức Chúa Trời, một công cuộc cải cách vĩ đại cần được hoàn thành. Đức Chúa Trời thấy rằng nhiều người xưng mình là dân sự Ngài không xây dựng cho cõi đời đời, và trong lòng thương xót, Ngài sắp gởi đến một sứ điệp cảnh báo để đánh thức họ khỏi sự mê ngủ và dẫn dắt họ sẵn sàng cho sự đến của Chúa. GC 311.2

Lời cảnh báo này được trình bày trong Khải Huyền 14. Đây là một sứ điệp ba phần được miêu tả là do các thiên sứ trên trời công bố, và liền sau đó là sự đến của Con Người để gặt “mùa màng của đất.” Sứ điệp đầu tiên trong các lời cảnh báo này loan báo sự phán xét sắp đến. Đấng tiên tri thấy một thiên sứ bay “giữa trời” Điều ấy đoạn, tôi thấy một vị thiên sứ khác bay giữa trời, có Tin lành đời đời, đặng rao truyền cho dân cư trên đất, cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc. Người cất tiếng lớn nói rằng: Hãy kính sợ Đức Chúa Trời, và tôn vinh Ngài, vì giờ phán xét của Ngài đã đến; hãy thờ phượng Đấng dựng nên trời đất, biển và các suối nước.

(Khải-huyền 14:6-7) GC 311.3

Sứ điệp này được tuyên bố là một phần của “tin lành đời đời.” Công việc rao giảng tin lành không được giao phó cho các thiên sứ, nhưng đã được ủy thác cho loài người. Các thiên sứ thánh đã được sử dụng trong việc hướng dẫn công việc này, họ phụ trách những phong trào lớn cho sự cứu rỗi loài người; nhưng việc công bố tin lành thực sự được thi hành bởi các tôi tớ của Đấng Christ trên đất. GC 312.1

Những người trung tín, vâng theo sự thúc giục của Thánh Linh Đức Chúa Trời và sự dạy dỗ của Lời Ngài, phải công bố lời cảnh báo này cho thế giới. Họ là những người đã chú ý đến “lời tiên tri chắc chắn hơn,” “ngọn đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc lên.” Nhân đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn, anh em nên chú ý lời đó, như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em.

(II Phi-e-rơ 1:19)Họ đã tìm kiếm sự hiểu biết về Đức Chúa Trời hơn mọi kho báu giấu kín, kể đó là “quí hơn bạc, và hoa lợi của nó hơn vàng ròng.” Vì thà được nó hơn là được tiền bạc, Hoa lợi nó sanh ra tốt hơn vàng ròng. (Châm-ngôn 3:14) Và Chúa đã tỏ cho họ những điều lớn lao của nước Ngài. Đức Giê-hô-va kết bạn thiết cùng người kính sợ Ngài, Tỏ cho người ấy biết giao ước của Ngài. (Thi-thiên 25:14) GC 312.2

Không phải những nhà thần học uyên bác là những người hiểu được lẽ thật này và dấn thân vào việc công bố nó. Nếu họ đã là những người canh giữ trung tín, siêng năng và cầu nguyện tra xét Kinh Thánh, họ đã biết được thì giờ của ban đêm; các lời tiên tri đã mở ra cho họ biết những biến cố sắp xảy ra. Nhưng họ đã không đứng vào vị trí đó, và sứ điệp đã được ban cho qua những người khiêm nhường hơn. Đức Chúa Giê-su phán: Đức Chúa Giê-su bèn đáp rằng: Sự sáng còn ở giữa các ngươi ít lâu; hãy đi trong khi các ngươi còn có sự sáng, e rằng sự tối tăm đến thình lình cùng các ngươi chăng; kẻ đi trong nơi tối tăm thì chẳng biết mình đi đâu.

(Giăng 12:35)Những ai quay lưng khỏi ánh sáng mà Đức Chúa Trời đã ban, hoặc không tìm kiếm khi ánh sáng ở trong tầm tay, thì bị bỏ lại trong tối tăm. Nhưng Đấng Cứu Thế tuyên bố: Đức Chúa Giê-su lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống. (Giăng 8:12) Bất cứ ai với lòng thành tâm tìm cách làm theo ý muốn Đức Chúa Trời, hết lòng chú ý đến ánh sáng đã được ban cho, sẽ nhận được ánh sáng lớn hơn; đến với linh hồn ấy một ngôi sao thiên thượng sẽ được sai đến để dẫn dắt người vào mọi lẽ thật. GC 312.3

Vào thời Đức Chúa Giê-su tái lâm lần thứ nhất, các thầy tế lễ và các thầy thông giáo của Thành Thánh, những người được giao phó lời Đức Chúa Trời, lẽ ra đã có thể nhận thấy các dấu hiệu của thời đại và công bố sự đến của Đấng đã được hứa. Lời tiên tri của Mi-chê đã chỉ định nơi Ngài sinh ra; Đa-ni-ên đã xác định thời điểm Ngài đến. Vậy nên Ngài sẽ phó chúng nó cho đến lúc người đàn bà phải sanh đẻ đã sanh đẻ, và kẻ sót lại của anh em Ngài sẽ trở về với con cái Y-sơ-ra-ên.

(Mi-chê 5:2)Ngươi khá biết và hiểu rằng từ khi ra lệnh tu bổ và xây lại Giê-ru-sa-lem, cho đến Đấng chịu xức dầu, tức là vua, thì được bảy tuần lễ, và sáu mươi hai tuần lễ; thành đó sẽ được xây lại, có đường phố và hào, trong kỳ khó khăn. (Đa-ni-ên 9:25) Đức Chúa Trời đã giao phó những lời tiên tri này cho các nhà lãnh đạo Do Thái; họ không có lý do biện hộ nếu họ không biết và không công bố cho dân chúng rằng sự đến của Đấng Mê-si đã gần kề. Sự ngu muội của họ là kết quả của sự lơ là tội lỗi. Người Do Thái xây dựng đền đài cho các tiên tri của Đức Chúa Trời đã bị giết, trong khi bằng sự tôn kính đối với các vĩ nhân của đất, họ đang tôn thờ các tôi tớ của Sa-tan. Say mê trong cuộc tranh giành tham vọng về địa vị và quyền lực giữa loài người, họ đã đánh mất những vinh dự thiêng liêng mà Vua của thiên đàng ban cho họ. GC 313.1

Với sự quan tâm sâu sắc và tôn kính, các trưởng lão của Y-sơ-ra-ên lẽ ra phải nghiên cứu địa điểm, thời gian, hoàn cảnh của biến cố vĩ đại nhất trong lịch sử thế giới — sự đến của Con Đức Chúa Trời để hoàn thành sự cứu chuộc loài người. Toàn thể dân chúng lẽ ra phải tỉnh thức và trông đợi để có thể là một trong những người đầu tiên chào đón Đấng Cứu Chuộc của thế giới. Nhưng, kìa, tại Bết-lê-hem, hai lữ khách mệt mỏi từ các ngọn đồi Na-xa-rét đi suốt chiều dài con đường hẹp đến tận cùng phía đông của thị trấn, tìm kiếm vô vọng một nơi nghỉ ngơi và trú ẩn cho đêm. Không cánh cửa nào mở ra để tiếp đón họ. Trong một túp lều tồi tàn chuẩn bị cho súc vật, cuối cùng họ tìm được nơi trú ẩn, và tại đó Đấng Cứu Thế của thế giới được sinh ra. GC 313.2

Các thiên sứ trên trời đã nhìn thấy sự vinh hiển mà Con Đức Chúa Trời đã chia sẻ với Đức Chúa Cha trước khi có thế gian, và họ đã mong chờ với sự quan tâm mãnh liệt về sự xuất hiện của Ngài trên đất như một biến cố đầy niềm vui lớn nhất cho mọi người. Các thiên sứ đã được chỉ định để mang tin mừng đến những người sẵn sàng tiếp nhận và sẽ vui vẻ loan báo tin ấy cho các cư dân trên đất. Đấng Christ đã hạ mình mang lấy bản tính loài người; Ngài phải gánh chịu một gánh nặng đau thương vô hạn khi Ngài dâng linh hồn mình làm của lễ chuộc tội lỗi; tuy nhiên, các thiên sứ mong muốn rằng dầu trong sự hạ mình, Con của Đấng Chí Cao có thể xuất hiện trước loài người với phẩm giá và vinh hiển xứng đáng với bản tính của Ngài. Các vĩ nhân của đất có tụ họp tại kinh đô Y-sơ-ra-ên để đón chào sự đến của Ngài không? Các đạo binh thiên sứ có giới thiệu Ngài với đoàn người trông đợi không? GC 313.3

Một thiên sứ đến thăm trái đất để xem ai đã sẵn sàng chào đón Đức Chúa Giê-su. Nhưng người không thể nhận ra dấu hiệu nào của sự mong đợi. Người không nghe thấy tiếng ngợi khen và khải hoàn nào rằng thời kỳ của sự đến của Đấng Mê-si đã gần kề. Thiên sứ bay lượn một lúc trên thành đã được chọn và đền thờ nơi sự hiện diện thiêng liêng đã được tỏ ra qua nhiều thế kỷ; nhưng ngay cả tại đây cũng là sự thờ ơ ấy. Các thầy tế lễ, trong sự phô trương và kiêu ngạo của họ, đang dâng những của lễ ô uế trong đền thờ. Người Pha-ri-si đang lớn tiếng nói với dân chúng hoặc cầu nguyện khoe khoang nơi góc đường. Trong các cung điện của các vua, trong các hội nghị của các triết gia, trong các trường của các ra-bi, tất cả đều không để ý đến sự kiện kỳ diệu đã làm đầy cả thiên đàng với niềm vui và sự ngợi khen — rằng Đấng Cứu Chuộc của loài người sắp xuất hiện trên đất. GC 314.1

Không có bằng chứng nào cho thấy Đấng Christ được mong đợi, và không có sự chuẩn bị nào cho Đấng Chủ của sự sống. Kinh ngạc, vị sứ giả thiên thượng sắp trở về trời với tin tức đáng hổ thẹn, thì người khám phá ra một nhóm người chăn chiên đang canh giữ bầy chiên mình ban đêm, và khi họ ngước nhìn các tầng trời đầy sao, họ đang suy ngẫm lời tiên tri về một Đấng Mê-si sẽ đến trần gian, và khao khát sự tái lâm của Đấng Cứu Chuộc thế giới. Đây là một nhóm người đã sẵn sàng nhận sứ điệp thiên thượng. Và bỗng nhiên thiên sứ của Chúa hiện ra, tuyên bố tin lành về sự vui mừng lớn. Vinh quang thiên thượng tràn ngập cả đồng bằng, một đoàn vô số thiên sứ hiện ra, và như thể niềm vui quá lớn để một sứ giả có thể mang từ trời đến, vô số tiếng nói cất lên bài thánh ca mà tất cả các dân được cứu rỗi một ngày kia sẽ ca hát: Sáng danh Chúa trên các từng trời rất cao, Bình an dưới đất, ân trạch cho loài người!

(Lu-ca 2:14) GC 314.2

Ôi, câu chuyện kỳ diệu về Bết-lê-hem là một bài học lớn dường nào! Nó quở trách sự vô tín, lòng kiêu ngạo và tánh tự mãn của chúng ta biết bao. Nó cảnh báo chúng ta phải coi chừng, kẻo bởi sự thờ ơ đáng trách, chúng ta cũng không nhận biết các dấu hiệu của thời đại, và do đó không biết ngày Chúa thăm viếng mình. GC 315.1

Chẳng phải chỉ trên các đồi của xứ Giu-đê, chẳng phải chỉ giữa những người chăn chiên hèn mọn, mà các thiên sứ đã tìm thấy những người trông đợi sự đến của Đấng Mê-si. Nơi xứ của dân ngoại cũng có những người trông đợi Ngài; họ là những nhà thông thái, giàu có và cao quý, các triết gia của phương Đông. Là những học trò của thiên nhiên, các nhà thông thái đã thấy Đức Chúa Trời trong công trình của tay Ngài. Qua Kinh Thánh Hê-bơ-rơ, họ đã học biết về Ngôi Sao sẽ mọc lên từ Gia-cốp, và với lòng khao khát mãnh liệt, họ chờ đợi sự đến của Đấng chẳng những là “sự yên ủi của Y-sơ-ra-ên,” mà còn là “sự sáng để soi dân ngoại,” và “để đem sự cứu rỗi cho đến cùng trái đất.” Vả, trong thành Giê-ru-sa-lem có một người công bình đạo đức, tên là Si-mê-ôn, trông đợi sự yên ủi dân Y-sơ-ra-ên, và Đức Thánh Linh ngự trên người.

(Lu-ca 2:25)Soi khắp thiên hạ, Và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài. (Lu-ca 2:32) Vì Chúa có phán dặn chúng ta như vầy: Ta lập ngươi lên đặng làm sự sáng cho các dân, Hầu cho ngươi đem sự cứu rỗi cho đến cùng cõi đất. (Công-vụ các Sứ-đồ 13:47) Họ là những kẻ tìm kiếm sự sáng, và sự sáng từ ngôi Đức Chúa Trời đã soi đường cho bước chân họ. Trong khi các thầy tế lễ và các ra-bi tại Giê-ru-sa-lem, những người được chỉ định để gìn giữ và giải nghĩa chân lý, lại bị bao phủ trong sự tối tăm, thì ngôi sao do trời sai đến đã hướng dẫn những người ngoại quốc dân ngoại này đến nơi sanh của Vua mới ra đời. GC 315.2

Ấy là “cho những kẻ trông đợi Ngài” mà Đấng Christ sẽ “hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi.” cũng vậy, Đấng Cơ-đốc đã dâng mình chỉ một lần đặng cất tội lỗi của nhiều người; Ngài lại sẽ hiện ra lần thứ hai, không phải để cất tội đi nữa, nhưng để ban sự cứu rỗi cho kẻ chờ đợi Ngài.

(Hê-bơ-rơ 9:28)Giống như tin mừng về sự giáng sanh của Đấng Cứu Thế, sứ điệp về sự tái lâm không được giao phó cho các nhà lãnh đạo tôn giáo của dân chúng. Họ đã không giữ vững mối liên hệ với Đức Chúa Trời, và đã từ chối sự sáng từ trời; cho nên họ không thuộc trong số những người mà sứ đồ Phao-lô mô tả: “Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối tăm, nên nỗi ngày đó đến thình lình cho anh em như kẻ trộm. Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự tối tăm.” Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối tăm, nên nỗi ngày đó đến thình lình cho anh em như kẻ trộm. Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ tối. (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:4-5) GC 315.3

Những người canh giữ trên tường thành Si-ôn đáng lẽ phải là những người đầu tiên đón nhận tin tức về sự tái lâm của Đấng Cứu Thế, những người đầu tiên cất tiếng rao báo rằng Ngài đã gần, những người đầu tiên cảnh báo dân chúng chuẩn bị sẵn sàng cho sự đến của Ngài. Nhưng họ lại thảnh thơi, mơ tưởng về bình an và yên ổn, trong khi dân chúng ngủ say trong tội lỗi mình. Đức Chúa Giê-su thấy hội thánh của Ngài, giống như cây vả không ra trái, phủ đầy những chiếc lá khoe khoang, nhưng lại thiếu trái quý báu. Có sự tuân giữ các hình thức tôn giáo cách khoe khoang, trong khi tinh thần khiêm nhường chân thật, sự ăn năn, và đức tin — là những điều duy nhất có thể làm cho sự thờ phượng được Đức Chúa Trời nhậm — lại thiếu vắng. Thay cho các ân tứ của Đức Thánh Linh, lại bày tỏ ra sự kiêu ngạo, hình thức chủ nghĩa, sự khoe khoang hư không, tính ích kỷ, sự áp bức. Một hội thánh sa sút đã nhắm mắt trước các dấu hiệu của thời đại. Đức Chúa Trời không từ bỏ họ, cũng không để sự thành tín của Ngài sa sút; nhưng chính họ đã lìa khỏi Ngài, và tự tách mình khỏi tình yêu thương của Ngài. Vì họ từ chối làm trọn các điều kiện, nên các lời hứa của Ngài không được ứng nghiệm cho họ. GC 315.4

Đó là kết quả chắc chắn của việc bỏ bê không biết quý trọng và sử dụng sự sáng cùng các đặc ân mà Đức Chúa Trời đã ban cho. Trừ phi hội thánh cứ tiếp tục theo sự dẫn dắt của Ngài, tiếp nhận mỗi tia sáng, thi hành mỗi bổn phận được bày tỏ, thì tôn giáo chắc chắn sẽ suy thoái thành sự tuân giữ các hình thức, và tinh thần của sự tin kính sống động sẽ biến mất. Lẽ thật này đã nhiều lần được minh chứng trong lịch sử của hội thánh. Đức Chúa Trời đòi hỏi dân Ngài những việc làm bởi đức tin và sự vâng lời tương xứng với các phước lành và đặc ân đã được ban cho. Sự vâng lời đòi hỏi phải hy sinh và liên quan đến một thập tự giá; và đây là lý do tại sao rất nhiều người trong vòng những kẻ xưng mình là môn đồ của Đấng Christ đã từ chối tiếp nhận sự sáng từ trời, và, giống như người Do Thái xưa, đã không biết thời điểm Chúa thăm viếng mình. Họ sẽ hủy hết thảy, mầy và con cái ở giữa mầy nữa. Không để cho mầy hòn đá này trên hòn đá kia, vì mầy không biết lúc mình đã được thăm viếng.

(Lu-ca 19:44)Vì lòng kiêu ngạo và sự vô tín của họ, Chúa đã bỏ qua họ và bày tỏ lẽ thật của Ngài cho những người, giống như các kẻ chăn chiên tại Bết-lê-hem và các nhà thông thái phương Đông, đã lưu tâm đến mọi tia sáng mà họ đã nhận được. GC 316.1