Chương 15
15

Kinh Thánh và Cuộc Cách Mạng Pháp

Chương 15—Kinh Thánh và Cuộc Cách Mạng Pháp

Vào thế kỷ thứ mười sáu, cuộc Cải chánh, đem đến cho dân chúng một quyển Kinh Thánh mở ra, đã tìm cách thâm nhập vào tất cả các nước châu Âu. Một số quốc gia đã vui mừng đón nhận nó, như một sứ giả từ Thiên đàng. Ở những xứ khác, giáo hoàng đã thành công rất lớn trong việc ngăn cản sự xâm nhập của nó; và ánh sáng của sự hiểu biết Kinh Thánh, cùng với những ảnh hưởng nâng cao của nó, đã gần như bị loại trừ hoàn toàn. Trong một quốc gia, mặc dù ánh sáng đã tìm được đường vào, nhưng sự tối tăm lại không thấu hiểu nó. Trong nhiều thế kỷ, chân lý và sai lầm đã tranh đấu để giành quyền làm chủ. Cuối cùng, điều ác đã chiến thắng, và chân lý của Thiên đàng bị đẩy ra ngoài. Vả, sự đoán xét đó là như vầy: Sự sáng đã đến thế gian, mà người ta ưa sự tối tăm hơn sự sáng, vì việc làm của họ là xấu xa.

(Giăng 3:19)Quốc gia ấy bị bỏ mặc để gặt hái hậu quả của con đường mình đã chọn. Sự kiềm chế của Thánh Linh Đức Chúa Trời đã được rút khỏi một dân tộc đã khinh dể ân điển của Ngài. Điều ác được phép phát triển đến mức trưởng thành. Và cả thế giới đã thấy bông trái của sự cố ý chối bỏ ánh sáng. GC 265.1

Cuộc chiến chống lại Kinh Thánh, được tiến hành trong nhiều thế kỷ ở nước Pháp, đã lên đến đỉnh điểm trong các cảnh tượng của cuộc Cách Mạng. Sự bùng nổ khủng khiếp ấy chỉ là kết quả tất yếu của việc Giáo hội La-mã đàn áp Kinh Thánh. (Xem Phụ lục.) Nó trình bày sự minh họa sống động nhất mà thế giới từng chứng kiến về sự vận hành của chính sách giáo hoàng—một sự minh họa về những kết quả mà trong hơn một ngàn năm, sự giảng dạy của Giáo hội La-mã đã hướng tới. GC 265.2

Sự đàn áp Kinh Thánh trong thời kỳ quyền tối cao của giáo hoàng đã được các tiên tri báo trước; và tác giả sách Khải Huyền cũng chỉ ra những hậu quả khủng khiếp đặc biệt sẽ giáng xuống nước Pháp từ sự thống trị của “người tội ác.” GC 266.1

Thiên sứ của Chúa phán: Còn sân ngoài đền thờ thì hãy để nó ra ngoài, đừng đo làm chi; vì chỗ đó đã phó cho dân ngoại, họ sẽ giày đạp thành thánh đủ bốn mươi hai tháng. Ta sẽ cho hai người làm chứng ta mặc áo bao gai đi nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày. Hai người làm chứng ấy tức là hai cây ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian. Nếu ai muốn làm hại hai người đó, thì có lửa ra từ miệng hai người thiêu nuốt kẻ thù nghịch mình: Kẻ nào muốn làm hại hai người thì phải bị giết như vậy. Hai người có quyền đóng trời lại, để cho trời không mưa trong những ngày mình nói tiên tri; hai người lại có quyền biến nước thành huyết và khiến các thứ tai nạn làm hại trên đất, lúc nào muốn làm cũng được cả. Khi hai người đã làm chứng xong rồi, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi. Thây hai người sẽ còn lại trên đường cái của thành lớn, gọi bóng là Sô-đôm và Ê-díp-tô, tức là nơi mà Chúa hai người cũng đã bị đóng đinh trên thập tự giá. Người ta ở các dân tộc, các chi phái, các tiếng, các nước sẽ trông thấy thây hai người trong ba ngày rưỡi, và chúng sẽ không cho chôn những thây ấy trong mồ. Các dân sự trên đất sẽ vui mừng hớn hở về hai người, và gởi lễ vật cho nhau, bởi hai tiên tri đó đã khuấy hại dân sự trên đất. Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sinh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: Hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể.

(Khải-huyền 11:2-11) GC 266.2

Các thời kỳ được nhắc đến ở đây—“bốn mươi hai tháng” và “một ngàn hai trăm sáu mươi ngày”—là giống nhau, đều tượng trưng cho thời gian mà hội thánh của Đấng Christ phải chịu sự áp bức từ Giáo hội La-mã. 1260 năm quyền tối cao của giáo hoàng bắt đầu vào năm 538 sau Công nguyên, và do đó sẽ kết thúc vào năm 1798. (Xem ghi chú Phụ lục cho trang 54.) Vào thời điểm đó, một đội quân Pháp đã tiến vào La-mã và bắt giáo hoàng làm tù nhân, và ông đã qua đời trong cảnh lưu đày. Mặc dù một giáo hoàng mới đã sớm được bầu chọn sau đó, nhưng hệ thống giáo hoàng kể từ đó chưa bao giờ có thể nắm giữ quyền lực mà nó đã có trước đây. GC 266.3

Sự bắt bớ hội thánh không kéo dài suốt toàn bộ thời kỳ 1260 năm. Đức Chúa Trời vì lòng thương xót đối với dân Ngài đã rút ngắn thời gian thử thách cay đắng của họ. Khi báo trước về “cơn đại nạn” sẽ giáng xuống hội thánh, Đấng Cứu Thế đã phán: Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các người được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt.

(Ma-thi-ơ 24:22)Qua ảnh hưởng của cuộc Cải chánh, sự bắt bớ đã chấm dứt trước năm 1798. GC 266.4

Về hai chứng nhân, nhà tiên tri còn tuyên bố thêm: Hai người làm chứng ấy tức là hai cây ô-li-ve và hai chân đèn đứng trước mặt Chúa của thế gian.

(Khải-huyền 11:4)Tác giả Thi Thiên đã nói: Lời Chúa là ngọn đèn cho chân tôi, Ánh sáng cho đường lối tôi. (Thi-thiên 119:105) Hai chứng nhân tượng trưng cho Kinh Thánh Cựu Ước và Tân Ước. Cả hai đều là những lời chứng quan trọng về nguồn gốc và sự trường tồn của luật pháp Đức Chúa Trời. Cả hai cũng là những chứng nhân về kế hoạch cứu rỗi. Các hình bóng, sinh tế, và lời tiên tri của Cựu Ước hướng tới một Đấng Cứu Thế sẽ đến. Các sách Tin Lành và Thư Tín của Tân Ước kể về một Đấng Cứu Thế đã đến theo đúng cách thức mà hình bóng và lời tiên tri đã báo trước. GC 267.1

“Hai người sẽ nói tiên tri trong một ngàn hai trăm sáu mươi ngày, mặc áo bằng vải gai.” Trong phần lớn thời kỳ này, các chứng nhân của Đức Chúa Trời đã ở trong tình trạng mờ khuất. Quyền lực giáo hoàng tìm cách che giấu Lời chân lý khỏi dân chúng, và đặt trước họ những chứng nhân giả dối để phủ nhận lời chứng của nó. (Xem Phụ lục.) Khi Kinh Thánh bị cấm đoán bởi quyền lực tôn giáo và thế tục; khi lời chứng của nó bị xuyên tạc, và mọi nỗ lực mà con người và ma quỷ có thể bày ra đều được thực hiện để xoay chuyển tâm trí dân chúng khỏi nó; khi những người dám rao giảng các chân lý thánh của nó bị săn đuổi, phản bội, tra tấn, giam cầm trong ngục tối, tử đạo vì đức tin của họ, hoặc buộc phải chạy trốn đến các thành trì trong núi non, đến các hang hốc của đất—thì các chứng nhân trung tín đã nói tiên tri trong áo vải gai. Tuy nhiên, họ vẫn tiếp tục lời chứng của mình trong suốt toàn bộ thời kỳ 1260 năm. Trong những thời điểm đen tối nhất, vẫn có những người trung tín yêu mến Lời Đức Chúa Trời và sốt sắng vì danh dự của Ngài. Các tôi tớ trung thành này đã được ban cho sự khôn ngoan, quyền năng, và thẩm quyền để tuyên bố chân lý của Ngài trong suốt thời gian này. GC 267.2

“Nếu ai muốn làm hại hai người đó, thì có lửa ra từ miệng hai người thiêu nuốt kẻ thù nghịch mình: Kẻ nào muốn làm hại hai người thì phải bị giết như vậy.” (Khải-huyền 11:5) Con người không thể chà đạp lên Lời Đức Chúa Trời mà không bị trừng phạt. Ý nghĩa của lời tuyên án đáng sợ này được nêu ra trong chương cuối của sách Khải Huyền: Tôi ngỏ cho kẻ nào nghe lời tiên tri trong sách này: Nếu ai thêm vào sách tiên tri này điều gì, thì Đức Chúa Trời sẽ thêm cho người ấy tai nạn đã ghi chép trong sách này. Và kẻ nào bớt điều gì trong những lời ở sách tiên tri này, thì Đức Chúa Trời sẽ cất lấy phần họ về cây sự sống và thành thánh, mà đã chép ra trong sách này. (Khải-huyền 22:18-19) GC 268.1

Đó là những lời cảnh báo mà Đức Chúa Trời đã ban để ngăn ngừa con người thay đổi bằng bất cứ cách nào những điều Ngài đã bày tỏ hoặc truyền phán. Những lời tuyên án trọng đại này áp dụng cho tất cả những ai bằng ảnh hưởng của mình dẫn dắt người khác xem nhẹ luật pháp Đức Chúa Trời. Chúng phải khiến những kẻ ngang nhiên tuyên bố rằng việc vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời hay không chẳng có gì quan trọng phải kinh sợ và run rẩy. Tất cả những ai đề cao ý kiến riêng mình trên sự mặc khải thiêng liêng, tất cả những ai muốn thay đổi ý nghĩa rõ ràng của Kinh Thánh để phù hợp với sự tiện lợi của riêng mình, hoặc vì muốn thuận theo thế gian, đều đang gánh lấy một trách nhiệm đáng sợ. Lời được chép ra, luật pháp Đức Chúa Trời, sẽ đo lường tánh nết của mỗi người và lên án tất cả những ai bị bài kiểm tra không sai lầm này tuyên bố là thiếu sót. GC 268.2

“Khi hai người đã làm chứng xong [đang hoàn tất lời chứng của mình].” Thời kỳ mà hai chứng nhân phải nói tiên tri trong áo vải gai đã kết thúc vào năm 1798. Khi họ đang đến gần sự kết thúc công việc của mình trong sự mờ khuất, một cuộc chiến sẽ được tiến hành chống lại họ bởi quyền lực được tượng trưng là “con thú từ vực sâu không đáy lên.” Ở nhiều quốc gia châu Âu, các quyền lực cai trị trong hội thánh và nhà nước đã bị Sa-tan kiểm soát trong nhiều thế kỷ qua phương tiện của giáo hoàng. Nhưng ở đây, một biểu hiện mới của quyền lực Sa-tan được đưa ra để xem xét. GC 268.3

Chính sách của Giáo hội La-mã, dưới vỏ bọc tôn kính Kinh Thánh, là giữ nó bị khóa chặt trong một ngôn ngữ xa lạ và giấu khỏi dân chúng. Dưới sự cai trị của nó, các chứng nhân đã nói tiên tri “mặc áo bằng vải gai.” Nhưng một quyền lực khác—con thú từ vực sâu không đáy—sẽ trỗi dậy để công khai, công nhiên tuyên chiến với Lời Đức Chúa Trời. GC 269.1

“Thành phố lớn” mà trên các đường phố của nó hai chứng nhân bị giết, và nơi thi thể họ nằm, về “thuộc linh” là Ê-díp-tô. Trong tất cả các dân tộc được trình bày trong lịch sử Kinh Thánh, Ê-díp-tô là nước dạn dĩ nhất chối bỏ sự hiện hữu của Đức Chúa Trời hằng sống và chống lại các mạng lịnh của Ngài. Không một vị vua nào từng dám nổi loạn cách công khai và ngạo mạn chống lại thẩm quyền của Thiên đàng hơn vua Ê-díp-tô. Khi Môi-se đem sứ điệp đến cho người, nhân danh Chúa, Pha-ra-ôn đã kiêu ngạo trả lời: Nhưng Pha-ra-ôn đáp rằng: Giê-hô-va là ai mà trẫm phải vâng lời người, để cho dân Y-sơ-ra-ên đi? Trẫm chẳng biết Giê-hô-va nào hết; cũng chẳng cho dân Y-sơ-ra-ên đi nữa.

(Xuất Ê-díp-tô Ký 5:2)Đây là chủ nghĩa vô thần, và dân tộc được tượng trưng bởi Ê-díp-tô sẽ cất tiếng chối bỏ tương tự các lời tuyên bố của Đức Chúa Trời hằng sống và sẽ biểu lộ một tinh thần vô tín và thách thức giống như vậy. “Thành phố lớn” cũng được so sánh, về “thuộc linh”, với Sô-đôm. Sự bại hoại của Sô-đôm trong việc vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời đặc biệt được biểu lộ trong sự dâm dục. Và tội lỗi này cũng sẽ là một đặc tính nổi bật của dân tộc sẽ làm ứng nghiệm các chi tiết của đoạn Kinh Thánh này. GC 269.2

Theo lời của vị tiên tri, vậy thì, một ít trước năm 1798 sẽ có một thế lực thuộc nguồn gốc và bản chất của Sa-tan nổi lên để gây chiến với Kinh Thánh. Và trong xứ mà tại đó lời chứng của hai chứng nhân của Đức Chúa Trời bị làm cho câm lặng như vậy, sẽ biểu lộ chủ nghĩa vô thần của Pha-ra-ôn và sự dâm dục của Sô-đôm. GC 269.3

Lời tiên tri này đã nhận được sự ứng nghiệm hết sức chính xác và đáng kinh ngạc trong lịch sử nước Pháp. Trong cuộc Cách Mạng, vào năm 1793, “lần đầu tiên thế giới nghe một hội đồng gồm những người được sanh ra và giáo dục trong nền văn minh, và tự cho mình quyền cai trị một trong những dân tộc tốt đẹp nhất của châu Âu, cất tiếng nói hiệp nhứt để chối bỏ chân lý long trọng nhất mà linh hồn con người tiếp nhận, và đồng lòng từ bỏ niềm tin và sự thờ phượng một Đấng Thiêng Liêng.”— Sir Walter Scott, Cuộc đời của Napoléon, tập 1, chương 17. “Nước Pháp là dân tộc duy nhất trên thế giới mà hồ sơ xác thực còn lưu lại rằng, với tư cách là một dân tộc, đã giơ tay nổi loạn công khai chống lại Đấng Tạo Hóa của vũ trụ. Nhiều kẻ phạm thượng, nhiều kẻ vô tín đã có, và vẫn tiếp tục có, tại Anh, Đức, Tây Ban Nha, và những nơi khác; nhưng nước Pháp đứng biệt riêng trong lịch sử thế giới như là quốc gia duy nhất mà, bởi sắc lệnh của Hội Đồng Lập Pháp, đã tuyên bố rằng không có Đức Chúa Trời, và mà toàn dân của thủ đô, và đại đa số ở những nơi khác, đàn bà cũng như đàn ông, đã nhảy múa và ca hát vui mừng khi chấp nhận lời tuyên bố ấy.”— Tạp chí Blackwood, tháng 11, 1870. GC 269.4

Nước Pháp cũng trình bày các đặc tính đặc biệt phân biệt Sô-đôm. Trong cuộc Cách Mạng đã biểu lộ một tình trạng suy đồi và bại hoại về đạo đức giống như tình trạng đã đem sự hủy diệt đến trên các thành phố của đồng bằng. Và sử gia trình bày chung chủ nghĩa vô thần và sự dâm dục của nước Pháp, như đã được nói trong lời tiên tri: “Gắn liền mật thiết với những luật lệ ảnh hưởng đến tôn giáo này, là luật đã hạ thấp sự kết hợp của hôn nhân—mối giao kết thiêng liêng nhất mà loài người có thể lập nên, và sự bền vững của nó dẫn đến sự củng cố mạnh mẽ nhất của xã hội—xuống thành một hợp đồng dân sự đơn thuần có tính chất tạm thời, mà bất cứ hai người nào cũng có thể tham gia và cắt đứt tùy ý…. Nếu các ác quỷ tự đặt mình ra công tìm kiếm một phương cách để hủy diệt hữu hiệu nhất bất cứ điều gì đáng tôn kính, duyên dáng, hay lâu bền trong đời sống gia đình, và đồng thời bảo đảm rằng tai họa mà chúng nhắm đến tạo ra sẽ được kéo dài từ đời này sang đời khác, chúng cũng không thể phát minh ra một kế hoạch nào hữu hiệu hơn việc hạ thấp hôn nhân…. Sophie Arnoult, một nữ diễn viên nổi tiếng với những lời dí dỏm nàng nói, đã mô tả hôn nhân cộng hòa là ‘bí tích của sự ngoại tình.’”— Scott, tập 1, chương 17. GC 270.1

“Nơi cũng chính là nơi Chúa chúng ta bị đóng đinh.” Chi tiết này của lời tiên tri cũng đã được ứng nghiệm bởi nước Pháp. Tại không một xứ nào tinh thần thù địch chống lại Đấng Christ đã được biểu lộ cách nổi bật hơn. Tại không một quốc gia nào chân lý đã gặp phải sự chống đối cay đắng và tàn nhẫn hơn. Trong sự bắt bớ mà nước Pháp đã giáng trên những người xưng nhận tin lành, nước này đã đóng đinh Đấng Christ nơi bản thân các môn đồ của Ngài. GC 271.1

Hết thế kỷ này đến thế kỷ khác, huyết của các thánh đồ đã bị đổ ra. Trong khi những người Waldenses hy sinh mạng sống trên các núi non của Piedmont “vì Lời Đức Chúa Trời, và vì lời chứng của Đức Chúa Giê-su,” thì lời chứng tương tự về chân lý cũng đã được anh em của họ, những người Albigenses của nước Pháp, làm chứng. Trong thời kỳ cuộc Cải chánh, các môn đồ của nó đã bị giết với những sự tra tấn khủng khiếp. Vua chúa và quý tộc, các phụ nữ quyền quý và các thiếu nữ thanh tao, niềm hãnh diện và giới hiệp sĩ của quốc gia, đã làm mãn nhãn bằng những sự đau đớn của những người tử đạo vì Đức Chúa Giê-su. Những người Huguenots dũng cảm, chiến đấu cho những quyền mà lòng con người coi là thiêng liêng nhất, đã đổ huyết trên nhiều chiến trường khó khăn. Những người Tin lành bị coi là những kẻ ngoài vòng pháp luật, một cái giá được treo lên đầu họ, và họ bị săn đuổi như những con thú hoang. GC 271.2

“Hội Thánh trong Đồng Vắng,” vài hậu duệ của những người Cơ-đốc xưa còn lưu lại tại nước Pháp trong thế kỷ mười tám, ẩn náu trong các núi non miền nam, vẫn giữ gìn đức tin của tổ phụ mình. Khi họ mạo hiểm nhóm họp vào ban đêm trên sườn núi hay đồng hoang vắng vẻ, họ đã bị kỵ binh rượt đuổi và bị kéo đi làm nô lệ suốt đời trên các thuyền khổ sai. Những người trong sạch nhất, tinh tế nhất, và thông minh nhất của nước Pháp bị xiềng xích, trong sự tra tấn khủng khiếp, giữa bọn cướp và kẻ sát nhân. (Xem Wylie, q. 22, ch. 6.) Những người khác, được đối xử có lòng thương xót hơn, bị bắn chết trong máu lạnh, khi họ, không vũ khí và bất lực, quỳ xuống cầu nguyện. Hàng trăm cụ già, những phụ nữ không có khả năng tự vệ, và các trẻ em vô tội bị bỏ chết trên mặt đất tại nơi nhóm họp của họ. Khi đi qua sườn núi hay rừng, là nơi họ thường hay tụ họp, không phải là điều bất thường khi thấy “cứ mỗi bốn bước, thi thể rải rác trên cỏ, và xác chết bị treo lủng lẳng trên các cây.” Xứ sở của họ, bị tàn phá bởi gươm giáo, búa rìu, và lửa thiêu, “đã trở thành một vùng hoang vu rộng lớn, ảm đạm.” “Những hành vi tàn ác này đã được diễn ra… không phải trong một thời kỳ tăm tối nào, mà trong thời đại rực rỡ của Louis XIV. Khoa học khi ấy được trau dồi, văn chương nở rộ, các nhà thần học của triều đình và của thủ đô là những người học rộng và hùng biện, và rất tỏ ra có vẻ khiêm nhu và nhân ái.”— Sách đã dẫn, q. 22, ch. 7. GC 271.3

Nhưng đen tối nhất trong danh mục đen tối của tội ác, khủng khiếp nhất giữa những hành động của ác quỷ trong suốt mọi thế kỷ kinh hoàng, là Cuộc Thảm Sát Thánh Bartholomew. Thế giới vẫn còn nhớ lại với sự kinh hoàng rùng mình những cảnh của cuộc tấn công hèn nhát và tàn bạo nhất ấy. Vua nước Pháp, bị các thầy tế lễ và giáo phẩm của La-mã thúc giục, đã cho sự chuẩn thuận của mình cho công việc khủng khiếp đó. Một tiếng chuông, rung lên giữa đêm khuya, là dấu hiệu cho cuộc tàn sát. Hàng ngàn người Tin lành, đang ngủ yên trong nhà mình, tin cậy vào danh dự đã hứa của vua họ, bị kéo ra không một lời cảnh báo và bị giết trong máu lạnh. GC 272.1

Như Đấng Christ đã là Lãnh Tụ vô hình của dân sự Ngài ra khỏi ách nô lệ tại Ê-díp-tô, thì Sa-tan cũng đã là lãnh tụ vô hình của các thần dân hắn trong công việc khủng khiếp gia tăng số những người tử đạo này. Trong bảy ngày cuộc thảm sát đã được tiếp diễn tại Paris, ba ngày đầu với cơn cuồng nộ không thể tưởng tượng được. Và nó đã không giới hạn trong chính thành phố, nhưng bởi lệnh đặc biệt của vua đã được mở rộng ra tất cả các tỉnh và thị trấn nơi có người Tin lành. Không tuổi tác cũng không giới tính được tôn trọng. Đứa bé thơ vô tội cũng không, người đàn ông tóc bạc cũng không được tha. Quý tộc và nông dân, già và trẻ, mẹ và con, đều bị chém xuống cùng nhau. Khắp nước Pháp cuộc tàn sát đã tiếp diễn trong hai tháng. Bảy mươi ngàn người thuộc giới tinh hoa nhất của quốc gia đã bị diệt vong. GC 272.2

“Khi tin tức về cuộc thảm sát đến Rô-ma, sự hân hoan giữa hàng giáo phẩm không có giới hạn. Vị hồng y của Lorraine đã thưởng cho người đưa tin một ngàn đồng crown; đại bác của lâu đài St. Angelo đã nổ lên một loạt chào mừng vui vẻ; và chuông vang lên từ mỗi tháp chuông; các đống lửa mừng biến đêm thành ngày; và Gregory XIII, cùng các hồng y và các phẩm trật khác của giáo hội, đã đi trong một đoàn rước dài đến nhà thờ St. Louis, nơi vị hồng y của Lorraine đã xướng bài Te Deum…. Một tấm huy chương đã được đúc để kỷ niệm cuộc thảm sát, và trong Vatican vẫn có thể thấy ba bức bích họa của Vasari, mô tả cuộc tấn công đô đốc, vua đang họp hội đồng để âm mưu cuộc thảm sát, và chính cuộc thảm sát. Gregory đã gửi cho Charles Đóa Hồng Vàng; và bốn tháng sau cuộc thảm sát,… ông đã lắng nghe một cách hài lòng bài giảng của một thầy tế lễ người Pháp,… người đã nói về ‘ngày tràn đầy hạnh phúc và vui mừng ấy, khi đức thánh cha nhận được tin tức, và đã đi trong nghi lễ long trọng để dâng lời cảm tạ lên Đức Chúa Trời và St. Louis.’”— Henry White, Cuộc Thảm Sát Thánh Bartholomew, chương 14, đoạn 34. GC 272.3

Cũng chính thần linh chủ tể đã thúc đẩy cuộc Tàn sát Thánh Ba-thê-lê-my cũng đã dẫn dắt các cảnh tượng của cuộc Cách Mạng. Đức Chúa Giê-su bị tuyên bố là một kẻ mạo danh, và tiếng hô tập hợp của những kẻ vô tín người Pháp là “Hãy nghiền nát Kẻ Khốn Nạn”, ám chỉ Đấng Christ. Sự phạm thượng dám khinh miệt thiên đàng và sự gian ác ghê tởm đi đôi với nhau, và những kẻ hèn hạ nhất trong loài người, những quái vật sa đọa nhất của sự tàn nhẫn và tội lỗi, lại được tôn cao nhất. Trong tất cả những điều này, sự tôn kính tối cao được dâng cho Sa-tan; trong khi Đấng Christ, trong các phẩm chất chân lý, sự tinh sạch, và tình yêu thương vô kỷ của Ngài, thì bị đóng đinh. GC 273.1

Khi hai người đã làm chứng xong rồi, có con thú dưới vực sâu lên, sẽ chiến đấu cùng hai người; thú ấy sẽ thắng và giết đi.

(Khải-huyền 11:7)Quyền lực vô thần cai trị nước Pháp trong thời Cách Mạng và Triều đại Khủng bố đã tiến hành một cuộc chiến chống lại Đức Chúa Trời và Lời thánh của Ngài như thế giới chưa từng chứng kiến. Sự thờ phượng Đấng Thần Linh đã bị Quốc Hội bãi bỏ. Kinh Thánh bị thu gom và công khai thiêu đốt với mọi biểu hiện khinh miệt có thể. Luật pháp Đức Chúa Trời bị chà đạp dưới chân. Các định chế của Kinh Thánh bị bãi bỏ. Ngày nghỉ hàng tuần bị bỏ đi, và thay vào đó, mỗi ngày thứ mười được dành cho sự chè chén và phạm thượng. Phép báp-têm và lễ Tiệc Thánh bị cấm. Và những thông báo được dán nổi bật trên các nơi chôn cất tuyên bố rằng sự chết là một giấc ngủ đời đời. GC 273.2

Người ta nói rằng sự kính sợ Đức Chúa Trời, chẳng những không phải là khởi đầu của sự khôn ngoan, mà còn là khởi đầu của sự điên dại. Mọi sự thờ phượng tôn giáo đều bị cấm, ngoại trừ sự thờ phượng tự do và tổ quốc. “Vị giám mục lập hiến của Paris được đưa ra đóng vai chính trong trò hề trơ tráo và tai tiếng nhất từng được diễn ra trước mặt một cơ quan đại diện quốc gia…. Ông được đưa ra trong một đoàn rước đầy đủ, để tuyên bố trước Hội Nghị rằng tôn giáo mà ông đã dạy trong bao nhiêu năm, về mọi phương diện, là một mánh khóe của giới thầy tế, không có cơ sở nào trong lịch sử hay chân lý thiêng liêng. Ông công khai phủ nhận, bằng những lời long trọng và minh bạch, sự tồn tại của Đấng Thần Linh mà ông đã được hiến dâng để phụng sự, và cam kết từ nay dâng mình cho sự tôn kính tự do, bình đẳng, đức hạnh, và đạo đức. Rồi ông đặt các phẩm phục giám mục của mình lên bàn, và nhận một cái ôm huynh đệ từ chủ tịch Hội Nghị. Một số thầy tế bội đạo đã noi gương vị giám mục này."—Scott, tập 1, ch. 17. GC 274.1

Các dân sự trên đất sẽ vui mừng hớn hở về hai người, và gởi lễ vật cho nhau, bởi hai tiên tri đó đã khuấy hại dân sự trên đất.

(Khải-huyền 11:10)Nước Pháp vô tín đã làm im tiếng quở trách của hai chứng nhân của Đức Chúa Trời. Lời chân lý nằm chết trên các đường phố của nó, và những kẻ ghét các sự hạn chế và đòi hỏi của luật pháp Đức Chúa Trời thì hớn hở vui mừng. Người ta công khai thách thức Vua của thiên đàng. Như những kẻ tội lỗi thuở xưa, họ kêu lên: “Chúng nó rằng: Làm sao Đức Chúa Trời biết được? Há có sự tri thức nơi Đấng Chí Cao sao? (Thi-thiên 73:11) GC 274.2

Với sự trơ tráo phạm thượng gần như không thể tin được, một trong những thầy tế của trật tự mới nói: “Hỡi Đức Chúa Trời, nếu Ngài tồn tại, hãy báo thù cho danh bị xúc phạm của Ngài. Ta thách thức Ngài! Ngài vẫn im lặng; Ngài không dám giáng sấm sét của Ngài. Sau điều này, ai sẽ còn tin vào sự tồn tại của Ngài?"—Lacretelle, History 11:309; trong Sir Archibald Alison, History of Europe, tập 1, ch. 10. Thật là một tiếng vang của lời đòi hỏi của Pha-ra-ôn: “Giê-hô-va là ai mà ta phải vâng lời Ngài?” “Ta không biết Giê-hô-va!” GC 274.3

Kẻ ngu dại nói trong lòng rằng: chẳng có Đức Chúa Trời. Chúng nó đều bại hoại, đã làm những việc gớm ghiếc; Chẳng có ai làm điều lành.

(Thi-thiên 14:1)Và Chúa tuyên bố về những kẻ xuyên tạc chân lý: “Nhưng họ không làm thêm được nữa, vì sự điên dại của họ sẽ bày tỏ ra cho thiên hạ, cũng như của hai người kia. (II Ti-mô-thê 3:9) Sau khi nước Pháp đã từ bỏ sự thờ phượng Đức Chúa Trời hằng sống, “Đấng Cao Cả ngự trong cõi đời đời”, chỉ một thời gian ngắn sau nó đã rơi xuống sự thờ hình tượng đê hèn, bằng sự thờ phượng Nữ Thần Lý Trí, dưới hình dạng một người đàn bà phóng đãng. Và điều này diễn ra trong hội nghị đại diện của cả quốc gia, và bởi các thẩm quyền dân sự và lập pháp cao nhất của nó! Nhà sử học nói: “Một trong những nghi lễ của thời điên rồ này vô song về sự phi lý kết hợp với sự bất kính. Các cánh cửa của Hội Nghị được mở toang cho một ban nhạc, dẫn đầu bởi họ, các thành viên của cơ quan thành phố tiến vào trong đoàn rước long trọng, hát một bài thánh ca ca ngợi tự do, và hộ tống, như đối tượng tương lai của sự thờ phượng của họ, một người đàn bà đeo mạng che mặt, mà họ gọi là Nữ Thần Lý Trí. Khi được đưa vào trong khu vực, bà được vén mạng với nghi thức long trọng, và đặt ngồi bên phải chủ tịch, lúc bấy giờ bà được nhận ra phổ biến là một vũ nữ của nhà hát opera…. Cho người này, như đại diện thích hợp nhất của lý trí mà họ thờ phượng, Quốc Hội Pháp đã dâng sự tôn kính công khai. GC 275.1

“Trò hề bất kính và lố bịch này trở thành một thứ mốt; và việc đưa vào thờ phượng Nữ Thần Lý Trí được lặp lại và bắt chước khắp cả nước, tại những nơi mà cư dân muốn tỏ mình ngang tầm với mọi đỉnh cao của cuộc Cách Mạng."—Scott, tập 1, ch. 17. GC 275.2

Diễn giả đã giới thiệu sự thờ phượng Lý Trí nói: “Hỡi các nhà lập pháp! Sự cuồng tín đã nhường chỗ cho lý trí. Đôi mắt mờ đục của nó không thể chịu được sự rực rỡ của ánh sáng. Ngày hôm nay một đám đông khổng lồ đã tập hợp dưới những vòm gô-tíc này, mà, lần đầu tiên, vang vọng tiếng chân lý. Tại đó người Pháp đã cử hành sự thờ phượng chân thật duy nhất—sự thờ phượng Tự Do, sự thờ phượng Lý Trí. Tại đó chúng ta đã bày tỏ ước vọng cho sự thịnh vượng của quân đội Cộng Hòa. Tại đó chúng ta đã từ bỏ những thần tượng vô hồn để theo Lý Trí, theo hình ảnh sống động ấy, kiệt tác của thiên nhiên."—M. A. Thiers, History of the French Revolution, tập 2, trang 370, 371. GC 275.3

Khi nữ thần được đưa vào Hội Nghị, diễn giả nắm tay bà, và quay về phía hội đồng nói: “Hỡi các người phải chết, hãy thôi run sợ trước những sấm sét bất lực của một Đức Chúa Trời mà nỗi sợ hãi của các ngươi đã tạo ra. Từ nay hãy không thừa nhận thần linh nào ngoài Lý Trí. Tôi dâng cho các ngươi hình ảnh cao quý và tinh khiết nhất của nó; nếu các ngươi phải có thần tượng, hãy chỉ dâng tế lễ cho những thần tượng như thế này…. Hãy quỳ xuống trước Thượng Viện uy nghi của Tự Do, hỡi! Tấm Mạng của Lý Trí!” GC 276.1

“Nữ thần, sau khi được chủ tịch ôm hôn, được đưa lên một cỗ xe lộng lẫy, và được dẫn đi, giữa một đám đông khổng lồ, đến nhà thờ chính tòa Đức Bà, để chiếm chỗ của Đấng Thần Linh. Tại đó bà được nâng lên trên bàn thờ cao, và nhận sự thờ phượng của tất cả những người có mặt."—Alison, tập 1, ch. 10. GC 276.2

Tiếp theo điều này, không lâu sau đó, là việc công khai thiêu đốt Kinh Thánh. Vào một dịp nọ, “Hội Phổ Thông của Bảo Tàng” tiến vào hội trường của thành phố, hô lên “Vive la Raison!” và mang trên đầu một cây sào phần còn lại bị cháy nửa của nhiều cuốn sách, trong đó có các sách kinh nhật tụng, sách lễ, cùng Cựu Ước và Tân Ước, “đã chuộc tội,” chủ tịch nói, “trong một ngọn lửa lớn, mọi sự điên rồ mà chúng đã khiến loài người phạm phải."— Journal of Paris, 1793, Số 318. Trích dẫn trong Buchez-Roux, Collection of Parliamentary History, tập 30, trang 200, 201. GC 276.3

Chính Công Giáo đã khởi đầu công việc mà chủ nghĩa vô thần đang hoàn tất. Chính sách của La-mã đã tạo ra những điều kiện, xã hội, chính trị, và tôn giáo, đang đẩy nước Pháp lao nhanh đến sự suy vong. Các nhà văn, khi đề cập đến những nỗi kinh hoàng của cuộc Cách Mạng, nói rằng những sự quá đáng ấy phải bị quy trách nhiệm cho ngai vàng và hội thánh. (Xem Phụ Lục.) Theo sự công bình nghiêm ngặt, chúng phải bị quy trách nhiệm cho hội thánh. Công Giáo đã đầu độc tâm trí các vua chống lại cuộc Cải chánh, xem đó là kẻ thù của ngai vàng, một yếu tố bất hòa sẽ tai hại cho sự bình an và hòa thuận của dân tộc. Chính tinh thần của La-mã, bằng phương tiện này, đã truyền cảm hứng cho sự tàn nhẫn khủng khiếp nhất và sự áp bức khắc nghiệt nhất phát xuất từ ngai vàng. GC 276.4

Tinh thần tự do đi cùng với Kinh Thánh. Bất cứ nơi nào tin lành được tiếp nhận, tâm trí của dân chúng được đánh thức. Họ bắt đầu rũ bỏ những xiềng xích đã giam giữ họ làm nô lệ của sự dốt nát, tội lỗi, và mê tín. Họ bắt đầu suy nghĩ và hành động như những con người. Các vị vua thấy điều đó và run sợ cho chế độ chuyên chế của mình. GC 277.1

La Mã đã không chậm trễ trong việc khơi dậy những nỗi lo sợ đầy ganh tị của họ. Giáo hoàng đã nói với nhiếp chính của nước Pháp vào năm 1525: “Cơn cuồng loạn này [Tin Lành] sẽ không chỉ làm rối loạn và hủy diệt tôn giáo, mà còn cả mọi lãnh địa, giới quý tộc, luật pháp, trật tự và đẳng cấp.”—G. de Felice, History of the Protestants of France, q. 1, ch. 2, đoạn 8. Vài năm sau, một sứ thần giáo hoàng đã cảnh báo nhà vua: “Tâu bệ hạ, xin đừng để bị lừa dối. Những người Tin lành sẽ đảo lộn mọi trật tự dân sự cũng như tôn giáo…. Ngai vàng đang gặp nguy hiểm không kém gì bàn thờ…. Việc đưa vào một tôn giáo mới tất yếu sẽ đưa vào một chính quyền mới.”—D’Aubigne, History of the Reformation in Europe in the Time of Calvin, q. 2, ch. 36. Và các nhà thần học đã kêu gọi những thành kiến của dân chúng bằng cách tuyên bố rằng giáo lý Tin Lành “dụ dỗ người ta đi theo những điều mới lạ và điên rồ; nó cướp đi của nhà vua tình cảm tận tụy của thần dân, và tàn phá cả hội thánh lẫn nhà nước.” Như vậy, La Mã đã thành công trong việc xúi giục nước Pháp chống lại cuộc Cải chánh. “Chính để bảo vệ ngai vàng, gìn giữ giới quý tộc và duy trì luật pháp, mà thanh gươm bắt bớ đã được rút ra lần đầu tiên ở nước Pháp.”—Wylie, q. 13, ch. 4. GC 277.2

Các nhà cai trị của đất nước này đã chẳng thể lường trước được hậu quả của chính sách định mệnh ấy. Sự dạy dỗ của Kinh Thánh hẳn đã gieo vào trí óc và tấm lòng của dân chúng những nguyên tắc về công lý, tiết độ, chân thật, công bằng và nhân ái—là chính nền tảng của sự thịnh vượng của một dân tộc. “Sự công bình làm cho nước cao trọng.” Nhờ đó “ngôi nước được vững bền.” Sự công bình làm cho nước cao trọng; Song tội lỗi là sự hổ thẹn cho các dân tộc.

(Châm-ngôn 14:34)Làm gian ác, ấy là điều gớm ghiếc cho vua chúa; Vì nhờ công bình ngôi nước được lập vững bền. (Châm-ngôn 16:12) Công việc của sự công bình sẽ là bình an;” và hiệu quả là “sự yên lặng và an ổn mãi mãi.” Công bình sẽ sanh ra bình an, trái của sự công bình sẽ là yên lặng và an ổn mãi mãi. (Ê-sai 32:17) Người vâng theo luật pháp thiêng liêng sẽ thật sự tôn trọng và tuân theo luật pháp của đất nước mình. Người kính sợ Đức Chúa Trời sẽ tôn trọng nhà vua trong việc thi hành mọi quyền hành chính đáng và hợp pháp. Nhưng nước Pháp bất hạnh đã cấm đoán Kinh Thánh và tẩy chay các môn đồ của Kinh Thánh. Hết thế kỷ này sang thế kỷ khác, những người có nguyên tắc và liêm chính, những người có trí tuệ sắc sảo và sức mạnh đạo đức, những người có đủ can đảm để tuyên xưng niềm xác tín của mình và có đủ đức tin để chịu khổ vì lẽ thật—trong nhiều thế kỷ, những con người này đã lao nhọc như nô lệ trên các thuyền chèo, bỏ mạng trên giàn hỏa thiêu, hoặc mục rữa trong các ngục tối. Hàng ngàn hàng vạn người đã tìm được sự an toàn bằng cách chạy trốn; và việc này cứ tiếp diễn suốt hai trăm năm mươi năm sau khi cuộc Cải chánh bắt đầu. GC 277.3

“Hầu như không có một thế hệ người Pháp nào trong suốt thời kỳ dài đằng đẵng ấy mà không chứng kiến các môn đồ của tin lành phải chạy trốn trước cơn cuồng nộ điên rồ của kẻ bắt bớ, và mang theo mình trí tuệ, nghệ thuật, công nghiệp, trật tự mà họ thường vượt trội hơn cả, để làm giàu cho những vùng đất đã cho họ nương náu. Và tỉ lệ thuận với việc họ làm cho các nước khác trở nên dồi dào với những ân tứ tốt lành này, là việc họ làm cho chính đất nước mình bị cạn kiệt chúng. Nếu tất cả những gì đã bị xua đuổi ấy được giữ lại tại nước Pháp; nếu, trong suốt ba trăm năm ấy, tài năng công nghiệp của những người lưu vong đã được dùng để canh tác đất đai của nước Pháp; nếu, trong suốt ba trăm năm ấy, khuynh hướng nghệ thuật của họ đã được dùng để cải tiến các ngành chế tạo của nước Pháp; nếu, trong suốt ba trăm năm ấy, thiên tài sáng tạo và sức mạnh phân tích của họ đã được dùng để làm giàu văn chương và vun bồi khoa học của nước Pháp; nếu sự khôn ngoan của họ đã dẫn dắt các hội đồng của nước Pháp, lòng can đảm của họ chiến đấu trong các trận mạc của nước Pháp, sự công bằng của họ soạn thảo luật pháp của nước Pháp, và tôn giáo của Kinh Thánh tăng cường trí tuệ và cai quản lương tâm của dân nước Pháp, thì một vinh quang dường nào hẳn đã bao phủ nước Pháp ngày nay! Một đất nước vĩ đại, thịnh vượng và hạnh phúc dường nào—một mẫu mực cho các dân tộc—hẳn nước Pháp đã trở thành! GC 278.1

“Nhưng một sự cuồng tín mù quáng và không khoan nhượng đã xua đuổi khỏi đất nước ấy mọi người thầy dạy nhân đức, mọi người đấu tranh cho trật tự, mọi người bảo vệ trung thực cho ngai vàng; nó đã nói với những con người hẳn đã làm cho đất nước của họ trở nên ‘danh tiếng và vinh quang’ trên đất rằng: Hãy chọn lấy điều ngươi muốn, giàn hỏa thiêu hay lưu đày. Cuối cùng, sự hủy hoại của nhà nước đã hoàn tất; không còn lương tâm nào để mà cấm đoán; không còn tôn giáo nào để bị kéo đến giàn hỏa thiêu; không còn lòng yêu nước nào để bị truy đuổi đi lưu vong.”—Wylie, q. 13, ch. 20. Và cuộc Cách mạng, với tất cả những điều kinh hoàng của nó, đã là hậu quả khủng khiếp. GC 279.1

“Với sự chạy trốn của những người Huguenot, một sự suy tàn chung đã giáng xuống nước Pháp. Những thành phố chế tạo phồn thịnh đã rơi vào cảnh suy đồi; những vùng đất màu mỡ đã trở lại tình trạng hoang vu ban đầu; sự u ám của trí tuệ và sự suy đồi đạo đức đã nối tiếp một thời kỳ tiến bộ khác thường. Pa-ri đã trở thành một nhà tế bần khổng lồ, và người ta ước tính rằng, vào lúc cuộc Cách mạng nổ ra, hai trăm ngàn người bần cùng đã xin lòng từ thiện từ tay nhà vua. Chỉ có dòng Tên mới phát triển thịnh vượng trong đất nước đang suy tàn ấy, và cai trị với sự chuyên chế khủng khiếp trên các hội thánh và trường học, các nhà ngục và các thuyền chèo.” GC 279.2

Tin lành hẳn đã mang đến cho nước Pháp giải pháp cho những vấn đề chính trị và xã hội đã làm bối rối tài năng của hàng giáo phẩm, nhà vua và các nhà lập pháp, và cuối cùng đã đẩy dân tộc vào tình trạng hỗn loạn và sụp đổ. Nhưng dưới sự thống trị của La Mã, dân chúng đã đánh mất những bài học đầy phước hạnh của Đấng Cứu Thế về sự hy sinh bản thân và tình yêu thương không vụ lợi. Họ đã bị dẫn dắt xa khỏi việc thực hành sự từ bỏ bản thân vì lợi ích của người khác. Người giàu không tìm thấy lời quở trách nào về sự áp bức của họ đối với người nghèo, người nghèo không tìm thấy sự giúp đỡ nào cho tình trạng nô dịch và hạ nhục của họ. Sự ích kỷ của kẻ giàu có và quyền thế ngày càng trở nên rõ rệt và áp bức. Trong nhiều thế kỷ, lòng tham lam và sự phóng đãng của giới quý tộc đã dẫn đến sự bóc lột tàn nhẫn đối với nông dân. Người giàu đã làm hại người nghèo, và người nghèo đã căm ghét người giàu. GC 279.3

Tại nhiều tỉnh, các điền trang thuộc về giới quý tộc, và các tầng lớp lao động chỉ là những tá điền; họ phải nương nhờ vào lòng thương của chủ đất và buộc phải phục tùng những yêu sách quá đáng của chủ. Gánh nặng nâng đỡ cả hội thánh lẫn nhà nước đổ lên đầu các tầng lớp trung lưu và hạ lưu, những người bị đánh thuế nặng nề bởi các nhà cầm quyền dân sự và bởi hàng giáo phẩm. “Sở thích của giới quý tộc được coi là luật tối cao; các nông dân và tá điền có thể chết đói, mà những kẻ áp bức họ cũng chẳng hề quan tâm…. Dân chúng bị buộc phải luôn luôn lo lắng đến lợi ích riêng của chủ đất. Cuộc đời của những người lao động nông nghiệp là những cuộc đời làm việc không ngừng nghỉ và khốn khổ không được nhẹ bớt; những lời than phiền của họ, nếu họ dám than phiền, đều bị đối xử với sự khinh bỉ ngạo mạn. Các tòa án công lý luôn luôn lắng nghe một quý tộc chống lại một nông dân; việc các quan tòa nhận hối lộ là chuyện ai cũng biết; và mỗi ý thích nhất thời của giới quý tộc đều có hiệu lực như luật pháp, nhờ hệ thống tham nhũng phổ biến này. Trong số tiền thuế vắt ra từ dân thường, một bên là bởi các quan chức thế tục và bên kia là bởi hàng giáo phẩm, không đến một nửa từng đi vào ngân khố hoàng gia hay giám mục; phần còn lại bị tiêu xài lãng phí trong sự hưởng thụ phóng đãng. Và những người đã làm cho đồng bào của mình nghèo đi như vậy lại được miễn thuế, và theo luật pháp hoặc tập tục được hưởng mọi chức vụ của nhà nước. Các giai cấp đặc quyền có tới một trăm năm mươi ngàn người, và vì sự hưởng lạc của họ mà hàng triệu người bị kết án vào những cuộc đời vô vọng và nhục nhã.” (Xin xem Phụ lục.) GC 279.4

Triều đình bị phó mặc cho sự xa hoa và phóng đãng. Hầu như không còn sự tin cậy giữa dân chúng và các nhà cai trị. Sự nghi ngờ bám lấy mọi biện pháp của chính quyền, coi chúng là có dụng ý và ích kỷ. Trong hơn nửa thế kỷ trước thời cuộc Cách mạng, ngai vàng bị chiếm giữ bởi Louis XV, người mà ngay cả trong những thời kỳ xấu xa ấy, cũng nổi bật như một vị vua lười biếng, phù phiếm và dâm dật. Với một tầng lớp quý tộc suy đồi và tàn ác, một tầng lớp hạ lưu bần cùng và dốt nát, nhà nước thì bối rối về tài chính và dân chúng thì phẫn nộ, thì chẳng cần đến con mắt của một tiên tri mới có thể thấy trước một cuộc bùng nổ kinh hoàng sắp xảy ra. Đối với những lời cảnh báo của các cố vấn của mình, nhà vua thường trả lời: “Hãy cố làm cho mọi việc tiếp tục chừng nào trẫm còn sống; sau khi trẫm băng hà, muốn ra sao thì ra.” Thật vô ích khi thúc giục về sự cần thiết của cải cách. Ông thấy những tệ nạn, nhưng không có đủ can đảm cũng như không đủ quyền lực để đối phó với chúng. Số phận đang chờ đợi nước Pháp đã được mô tả quá ư chính xác trong câu trả lời lười biếng và ích kỷ của ông: “Sau trẫm là cơn đại hồng thủy!” GC 280.1

Bằng cách tác động vào lòng ganh tị của các vua và các giai cấp thống trị, La Mã đã gây ảnh hưởng để họ giữ dân chúng trong vòng nô lệ, biết rõ rằng nhờ đó nhà nước sẽ bị suy yếu, và có chủ đích dùng phương tiện này để cột chặt cả các nhà cai trị lẫn dân chúng trong xiềng xích của mình. Với chính sách nhìn xa trông rộng, nó đã nhận thấy rằng để nô dịch con người một cách hữu hiệu, thì phải trói xiềng lên linh hồn họ; rằng cách chắc chắn nhất để ngăn cản họ thoát khỏi ách nô lệ là làm cho họ không còn khả năng được tự do. Kinh khủng gấp ngàn lần so với sự đau khổ thể xác do chính sách của nó gây ra, là sự suy đồi đạo đức. Bị tước đoạt Kinh Thánh, và bị phó mặc cho những sự dạy dỗ của lòng cuồng tín và ích kỷ, dân chúng bị bao phủ trong sự dốt nát và mê tín, và bị chìm đắm trong thói xấu, đến nỗi họ hoàn toàn không thích hợp cho việc tự cai trị. GC 281.1

Nhưng kết quả của tất cả điều này lại khác xa với những gì Rô-ma đã toan tính. Thay vì giữ quần chúng trong sự phục tùng mù quáng đối với các giáo điều của mình, công việc của nó lại biến họ thành những kẻ vô tín và những kẻ cách mạng. Họ khinh bỉ đạo Rô-ma, coi đó là mưu mô của giới tăng lữ. Họ xem hàng giáo phẩm là đồng lõa trong sự áp bức họ. Vị thần duy nhất mà họ biết là vị thần của Rô-ma; sự dạy dỗ của Rô-ma là tôn giáo duy nhất của họ. Họ xem lòng tham lam và sự tàn ác của Rô-ma là kết quả chính đáng của Kinh Thánh, và họ không muốn dính dáng gì đến nó. GC 281.2

Rô-ma đã xuyên tạc bản tính của Đức Chúa Trời và bóp méo các yêu cầu của Ngài, và giờ đây loài người khước từ cả Kinh Thánh lẫn Tác Giả của nó. Rô-ma đã đòi hỏi một đức tin mù quáng vào các giáo điều của mình, dưới danh nghĩa giả mạo là được Kinh Thánh chuẩn nhận. Trong phản ứng ngược lại, Voltaire và các đồng sự của ông đã gạt bỏ hoàn toàn Lời Đức Chúa Trời và gieo rắc khắp nơi chất độc của chủ nghĩa vô tín. Rô-ma đã nghiền nát dân chúng dưới gót sắt của mình; và giờ đây quần chúng, bị hạ thấp và thú hóa, trong sự giật lùi khỏi chế độ chuyên chế của Rô-ma, đã vứt bỏ mọi ràng buộc. Bị phẫn nộ bởi sự lừa dối hào nhoáng mà họ đã tôn thờ bấy lâu, họ chối bỏ cả chân lý lẫn sự giả dối; và nhầm lẫn sự buông thả với tự do, những nô lệ của tật xấu hân hoan trong sự tự do tưởng tượng của mình. GC 281.3

Vào lúc khởi đầu Cách mạng, do nhà vua nhượng bộ, dân chúng được ban cho số đại biểu vượt quá số của giới quý tộc và giới tăng lữ cộng lại. Do vậy cán cân quyền lực nằm trong tay họ; nhưng họ chưa được chuẩn bị để sử dụng nó với sự khôn ngoan và chừng mực. Nôn nóng muốn sửa lại những sai trái mà mình đã chịu đựng, họ quyết tâm tái thiết xã hội. Một đám đông bị phẫn nộ, tâm trí đầy ắp những ký ức cay đắng và được nuôi dưỡng lâu ngày về sự bất công, đã quyết định cách mạng hóa tình trạng khốn khổ đã trở nên không thể chịu đựng nổi và trả thù những kẻ mà họ xem là thủ phạm gây ra nỗi thống khổ của mình. Những kẻ bị áp bức đem ra thực hành bài học họ đã học được dưới ách chuyên chế và trở thành những kẻ áp bức những người đã áp bức mình. GC 282.1

Nước Pháp bất hạnh đã gặt bằng máu vụ mùa mà nàng đã gieo. Khủng khiếp thay là kết quả của sự quy phục của nàng trước quyền lực chi phối của Rô-ma. Nơi mà nước Pháp, dưới ảnh hưởng của đạo Rô-ma, đã dựng lên cọc thiêu đầu tiên khi cuộc Cải chánh mới khởi đầu, thì cũng tại đó cuộc Cách mạng đã dựng lên máy chém đầu tiên của mình. Chính tại nơi những người tử đạo đầu tiên vì đức tin Tin Lành đã bị thiêu vào thế kỷ mười sáu, thì những nạn nhân đầu tiên đã bị chém vào thế kỷ mười tám. Khi khước từ tin lành, là điều lẽ ra có thể đem lại sự chữa lành cho mình, nước Pháp đã mở cửa cho chủ nghĩa vô tín và sự hủy diệt. Khi các sự ràng buộc của luật pháp Đức Chúa Trời bị vứt bỏ, người ta thấy rằng luật pháp của loài người không đủ để kiềm chế những dòng thác mạnh mẽ của dục vọng con người; và quốc gia cuốn trôi vào sự nổi loạn và vô chính phủ. Cuộc chiến chống lại Kinh Thánh đã khai mở một thời kỳ trong lịch sử thế giới được gọi là Thời Kỳ Khủng Bố. Sự bình an và hạnh phúc bị đuổi khỏi gia đình và lòng người. Không một ai được an toàn. Kẻ hôm nay đắc thắng thì ngày mai bị nghi ngờ, bị kết án. Bạo lực và dục vọng thống trị không ai tranh cãi. GC 282.2

Vua, giới tăng lữ và quý tộc buộc phải khuất phục trước những tội ác tàn bạo của một dân chúng bị kích động và điên cuồng. Cơn khát báo thù của họ chỉ càng được kích thích bởi việc hành quyết nhà vua; và những kẻ đã ra án tử cho ông chẳng bao lâu cũng theo ông lên đoạn đầu đài. Một cuộc thảm sát chung đối với tất cả những ai bị nghi là thù địch với Cách mạng đã được quyết định. Các nhà tù chật kín, có lúc giam giữ hơn hai trăm ngàn tù nhân. Các thành phố của vương quốc tràn ngập những cảnh tượng kinh hoàng. Một phe cách mạng này chống lại một phe khác, và nước Pháp trở thành một bãi chiến trường rộng lớn cho những đám đông tranh đấu, bị cuốn theo cơn cuồng nộ của dục vọng. “Tại Paris hết cuộc náo loạn này đến cuộc náo loạn khác kế tiếp nhau, và các công dân chia rẽ thành vô số phe phái, dường như chỉ chăm chú vào một điều là tiêu diệt lẫn nhau.” Và để làm trầm trọng thêm nỗi thống khổ chung, quốc gia còn vướng vào một cuộc chiến kéo dài và tàn phá với các cường quốc lớn của châu Âu. “Đất nước gần như phá sản, quân đội kêu gào đòi tiền lương còn nợ, người Paris chết đói, các tỉnh bị bọn cướp tàn phá, và nền văn minh gần như bị dập tắt trong sự vô chính phủ và buông thả.” GC 283.1

Dân chúng đã học thuộc quá kỹ những bài học về sự tàn ác và tra tấn mà Rô-ma đã cần mẫn dạy cho họ. Cuối cùng ngày báo ứng đã đến. Giờ đây không còn là các môn đồ của Đức Chúa Giê-su bị quẳng vào ngục tối và bị lôi đến cọc thiêu. Từ lâu những người ấy đã chết hoặc đã bị xua đuổi đi lưu đày. Rô-ma không thương xót nay cảm nhận được quyền lực chết chóc của những kẻ mà chính nàng đã huấn luyện để vui thích trong những hành động đẫm máu. “Tấm gương bắt bớ mà hàng giáo phẩm nước Pháp đã bày ra trong bao thế kỷ, nay được đáp trả lại chính họ với một sức mạnh đáng kể. Các đoạn đầu đài đỏ thắm máu của các linh mục. Các thuyền khổ sai và nhà tù, trước kia đầy người Huguenot, nay chật ních những kẻ bắt bớ họ. Bị xích vào ghế và cực nhọc kéo mái chèo, hàng giáo phẩm Công Giáo Rô-ma đã nếm trải tất cả những nỗi đau khổ mà giáo hội của họ đã từng áp đặt một cách phóng tay trên những kẻ dị giáo hiền lành.” (Xem Phụ Lục.) GC 283.2

“Rồi đến những ngày khi bộ luật dã man nhất được thi hành bởi những tòa án dã man nhất; khi không một ai có thể chào hàng xóm hay cầu nguyện… mà không gặp nguy cơ phạm một trọng tội; khi những kẻ do thám rình rập trong mọi ngóc ngách; khi máy chém hoạt động lâu và nặng nhọc mỗi buổi sáng; khi các nhà tù chật kín như khoang của một chiếc thuyền chở nô lệ; khi các rãnh nước tuôn máu sùi bọt chảy vào sông Seine…. Trong khi những xe chở đầy nạn nhân hằng ngày được chở đến nơi hành hình qua các đường phố Paris, thì các quan tổng trấn mà ủy ban tối cao đã phái xuống các tỉnh, lại say sưa trong một sự tàn ác vô độ chưa từng thấy ngay cả ở thủ đô. Lưỡi dao của cỗ máy chết chóc dâng lên và rơi xuống quá chậm so với công việc tàn sát của chúng. Những hàng dài tù nhân bị bắn hạ bằng đạn ghém. Những lỗ thủng được đục dưới đáy các sà lan chật ních người. Thành Lyons bị biến thành sa mạc. Tại Arras, ngay cả lòng thương xót tàn nhẫn của một cái chết nhanh chóng cũng bị từ chối đối với các tù nhân. Dọc suốt sông Loire, từ Saumur ra đến biển, những đàn quạ và diều hâu khổng lồ ăn tiệc trên những xác chết trần truồng, quấn quýt vào nhau trong những cái ôm ghê rợn. Không có sự thương xót nào được bày tỏ đối với giới tính hay tuổi tác. Số lượng các bé trai và các bé gái mười bảy tuổi bị sát hại bởi cái chính phủ đáng ghê tởm đó phải đếm bằng hàng trăm. Những em bé bị giật khỏi bầu vú mẹ bị tung từ mũi giáo này sang mũi giáo khác dọc theo hàng ngũ Jacobin.” (Xem Phụ Lục.) Trong vòng ngắn ngủi mười năm, vô số sinh mạng con người đã bị tiêu vong. GC 284.1

Tất cả điều này đều đúng như Sa-tan mong muốn. Đây là điều mà trong nhiều thế kỷ hắn đã ra sức bảo đảm. Chính sách của hắn từ đầu chí cuối là sự lừa dối, và mục đích kiên định của hắn là gieo tai họa và khốn khổ trên loài người, làm hư hoại và ô uế công trình của Đức Chúa Trời, làm hỏng các mục đích thiêng liêng của lòng nhân từ và tình yêu thương, và do đó gây ra sự đau buồn trên thiên đàng. Rồi bằng những thủ đoạn dối trá của mình, hắn làm mù tâm trí con người, và dẫn họ đổ lỗi cho Đức Chúa Trời về công việc của hắn, như thể tất cả nỗi khốn khổ này là kết quả của kế hoạch của Đấng Tạo Hóa. Cũng vậy, khi những kẻ đã bị hạ thấp và thú hóa bởi quyền lực tàn ác của hắn đạt được tự do, hắn thúc đẩy họ đến chỗ quá trớn và tàn bạo. Rồi bức tranh về sự buông thả không kiềm chế này được bọn chuyên chế và áp bức chỉ ra như một minh họa cho kết quả của tự do. GC 284.2

Khi một sai lầm trong một vỏ bọc bị phát hiện, Sa-tan chỉ ngụy trang nó bằng một lớp áo khác, và vô số người lại nhiệt thành đón nhận nó như lần đầu. Khi dân chúng nhận ra đạo Rô-ma là một sự lừa dối, và hắn không thể qua công cụ này dẫn họ đến chỗ vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, thì hắn thúc giục họ xem mọi tôn giáo là một sự lừa gạt, và Kinh Thánh là một chuyện hoang đường; và, gạt bỏ các luật lệ thiêng liêng, họ buông mình theo sự gian ác không kiềm chế. GC 285.1

Sai lầm tai hại đã gây ra nỗi thống khổ lớn như vậy cho cư dân nước Pháp là việc phớt lờ một chân lý vĩ đại này: rằng sự tự do chân thật nằm trong phạm vi những giới hạn của luật pháp Đức Chúa Trời. Than ôi! ước gì ngươi đã để ý đến các điều răn ta! thì sự bình an ngươi như sông, và sự công bình ngươi như sóng biển,

(Ê-sai 48:18)Những người ác chẳng hưởng sự bình an bao giờ, Đức Giê-hô-va phán vậy. (Ê-sai 48:22) Nhưng ai khứng nghe ta ắt sẽ ở an nhiên vô sự, Được bình tịnh, không sợ tai họa nào. (Châm-ngôn 1:33) Ê-sai 48:18, 22; Châm Ngôn 1:33. GC 285.2

Những kẻ vô thần, vô tín và bội đạo chống đối và tố cáo luật pháp Đức Chúa Trời; nhưng kết quả từ ảnh hưởng của họ chứng minh rằng phúc lợi của con người gắn liền với sự vâng phục của mình đối với các luật lệ thiêng liêng. Những ai sẽ không đọc bài học từ sách của Đức Chúa Trời thì được truyền phải đọc nó trong lịch sử các quốc gia. GC 285.3

Khi Sa-tan hành động qua Giáo hội La-mã để dẫn dắt loài người rời xa sự vâng phục, thì công việc của nó được che giấu, và được ngụy trang khéo léo đến nỗi sự sa đọa và khốn khổ do đó mà ra không được nhìn nhận là kết quả của sự vi phạm. Và quyền lực của nó bị cản trở rất nhiều bởi công việc của Thánh Linh Đức Chúa Trời đến nỗi các mục đích của nó không đạt được kết quả trọn vẹn. Dân chúng không truy ra được nguyên nhân của hậu quả và không khám phá được nguồn gốc của những khốn khổ của mình. Nhưng trong cuộc Cách mạng, luật pháp Đức Chúa Trời đã bị Quốc hội công khai bãi bỏ. Và trong Triều đại Khủng bố theo sau đó, mọi người đều có thể thấy được sự vận hành của nguyên nhân và hậu quả. GC 285.4

Khi nước Pháp công khai chối bỏ Đức Chúa Trời và gạt Kinh Thánh sang một bên, những kẻ gian ác và các thần linh của sự tối tăm vui mừng vì đã đạt được điều chúng ao ước từ lâu — một vương quốc không còn bị luật pháp Đức Chúa Trời ràng buộc. Bởi vì án phạt đối với việc ác không được thi hành mau chóng, nên lòng con loài người “chuyên làm điều ác.” Bởi chẳng thi hành ngay án phạt những việc ác, nên lòng con loài người chuyên làm điều ác.

(Truyền-đạo 8:11)Nhưng sự vi phạm một luật pháp công bình và chánh trực tất nhiên sẽ dẫn đến sự khốn khổ và diệt vong. Dầu sự phán xét không giáng xuống ngay lập tức, sự gian ác của loài người chắc chắn đang đưa họ đến chỗ diệt vong. Hàng thế kỷ bội đạo và tội ác đã chứa chất cơn thạnh nộ cho ngày báo trả; và khi tội ác của họ đã đầy dẫy, những kẻ khinh dể Đức Chúa Trời đã học biết quá trễ rằng thật là đáng sợ khi đã làm hao mòn sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời. Thánh Linh Đức Chúa Trời — Đấng kiềm chế quyền lực tàn bạo của Sa-tan — đã bị cất đi phần lớn, và kẻ chỉ vui thích trong sự khốn khổ của loài người được phép thực hiện ý muốn của mình. Những kẻ đã chọn phục vụ sự phản loạn bị bỏ mặc để gặt lấy hoa trái của nó, cho đến khi xứ đầy dẫy những tội ác khủng khiếp mà ngòi bút không thể mô tả nổi. Từ những tỉnh hoang tàn và những thành phố đổ nát, một tiếng kêu khủng khiếp được nghe thấy — tiếng kêu thống thiết đắng cay nhất. Nước Pháp rúng động như bị một trận động đất. Tôn giáo, luật pháp, trật tự xã hội, gia đình, nhà nước và hội thánh — tất cả đều bị đánh đổ bởi bàn tay phạm thượng đã giơ lên chống lại luật pháp Đức Chúa Trời. Người khôn ngoan đã nói rất đúng: “Kẻ ác sẽ ngã bởi sự gian ác của mình.” “Dẫu kẻ có tội làm ác một trăm lần và sống lâu ngày, song ta biết rằng kẻ kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời, sau rốt ắt được phước; nhưng kẻ ác sẽ chẳng được phước.” Sự công bình của người trọn vẹn ban bằng đường lối người; Nhưng kẻ hung ác vì gian ác mình mà sa ngã. (Châm-ngôn 11:5) Vì kẻ có tội làm ác một trăm lần vẫn được trường thọ; dầu vậy, ta biết rằng kẻ kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời, sau rốt ắt được phước. Nhưng kẻ ác sẽ chẳng được phước; cũng sẽ không được sống lâu, vì đời nó giống như bóng qua; ấy tại nó không kính sợ trước mặt Đức Chúa Trời. (Truyền-đạo 8:12-13) Vì chúng nó ghét sự hiểu biết, không chọn sự kính sợ Đức Giê-hô-va;” “Vì vậy chúng nó sẽ ăn bông trái của đường lối mình, và được no nê bởi mưu chước của mình riêng.” [[BIBLE:Proverbs 1:29,31]]. GC 286.1

Những nhân chứng trung tín của Đức Chúa Trời, bị giết bởi quyền lực phạm thượng “từ vực sâu lên,” sẽ không im lặng lâu dài. “Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sanh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể.” Nhưng, sau ba ngày rưỡi ấy, có sinh khí từ Đức Chúa Trời đến nhập vào trong hai người: Hai người bèn đứng thẳng dậy, và những kẻ đứng xem đều kinh hãi cả thể.

(Khải-huyền 11:11)Ấy là vào năm 1793 mà các sắc lệnh bãi bỏ Cơ-đốc Giáo và gạt bỏ Kinh Thánh đã được Quốc hội Pháp thông qua. Ba năm rưỡi sau, một nghị quyết hủy bỏ các sắc lệnh này, nhờ đó cho phép sự khoan dung đối với Kinh Thánh, đã được chính cơ quan đó thông qua. Thế giới kinh hoàng trước mức độ tày trời của tội lỗi đã nảy sinh từ việc khước từ Lời Thiêng Liêng, và loài người nhận ra sự cần thiết của đức tin nơi Đức Chúa Trời và Lời Ngài như là nền tảng của đức hạnh và luân lý. Chúa phán: “Ngươi đã đố thách và nói phạm đến ai? Ngươi đã cất tiếng lên và ngước mắt lên cao nghịch cùng ai? Ấy là nghịch cùng Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên.” Ngươi đã đố thách và nói phạm đến ai? Ngươi đã cất tiếng lên và ngước mắt lên cao nghịch cùng ai? Ấy là nghịch cùng Đấng thánh của Y-sơ-ra-ên. (Ê-sai 37:23) Vậy nên, nầy, ta sẽ cho chúng nó biết tay ta và quyền năng ta; trong một lần nầy, ta sẽ khiến chúng nó biết danh ta là Giê-hô-va.” Vậy nên, này, ta sẽ cho chúng nó biết, thật, lần này, ta sẽ cho chúng nó biết tay ta và quyền năng ta; và chúng nó sẽ biết danh ta là Giê-hô-va. (Giê-rê-mi 16:21) GC 287.1

Đề cập đến hai nhân chứng, tiên tri còn tuyên bố thêm: “Hai người nghe một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán cùng mình rằng: Hãy lên đây! Hai người bèn lên trời trong đám mây, và những kẻ thù nghịch đều trông thấy.” Hai người nghe một tiếng lớn ở từ trên trời đến phán cùng mình rằng: Hãy lên đây! Hai người bèn lên trời trong đám mây và những kẻ thù nghịch đều trông thấy.

(Khải-huyền 11:12)Từ khi nước Pháp gây chiến với hai nhân chứng của Đức Chúa Trời, họ đã được tôn vinh hơn bao giờ hết. Vào năm 1804, Hội Kinh Thánh Anh Quốc và Hải Ngoại được thành lập. Tiếp theo đó là những tổ chức tương tự, với nhiều chi nhánh, trên khắp lục địa Âu Châu. Năm 1816, Hội Kinh Thánh Hoa Kỳ được thành lập. Khi Hội Kinh Thánh Anh Quốc được thành lập, Kinh Thánh đã được in và phát hành bằng năm mươi thứ tiếng. Từ đó đến nay, Kinh Thánh đã được dịch ra hàng trăm ngôn ngữ và phương ngữ. (Xem Phụ Lục.) GC 287.2

Trong năm mươi năm trước 1792, ít ai chú ý đến công cuộc truyền giáo ở ngoại quốc. Không có hội đoàn mới nào được thành lập, và chỉ có rất ít hội thánh có nỗ lực truyền bá Cơ-đốc Giáo tại các xứ dân ngoại. Nhưng vào cuối thế kỷ thứ mười tám, một sự thay đổi lớn đã xảy ra. Loài người trở nên bất mãn với các kết quả của chủ nghĩa duy lý và nhận ra sự cần thiết của sự mặc khải thiêng liêng và tôn giáo kinh nghiệm. Từ thời điểm đó, công cuộc truyền giáo ngoại quốc đạt được sự tăng trưởng chưa từng có. (Xem Phụ Lục.) GC 287.3

Những tiến bộ trong ngành in đã thúc đẩy công việc phát hành Kinh Thánh. Các phương tiện thông tin liên lạc gia tăng giữa các quốc gia khác nhau, sự sụp đổ của những rào cản thành kiến cổ xưa và tính cách biệt lập của các dân tộc, cùng với sự mất đi quyền lực thế tục của giáo hoàng La-mã đã mở đường cho sự xâm nhập của Lời Đức Chúa Trời. Trong một số năm qua, Kinh Thánh đã được bán không hạn chế trên các đường phố của La-mã, và hiện nay đã được mang đến mọi nơi trên quả địa cầu này. GC 288.1

Voltaire, một kẻ vô tín, đã có lần khoe khoang rằng: “Tôi đã chán ngán khi nghe người ta lặp đi lặp lại rằng mười hai người đã thiết lập Cơ-đốc Giáo. Tôi sẽ chứng minh rằng một người cũng có thể đủ để lật đổ nó.” Nhiều thế hệ đã trôi qua từ khi ông ta qua đời. Hàng triệu người đã tham gia vào cuộc chiến chống lại Kinh Thánh. Nhưng Kinh Thánh chẳng những không bị tiêu diệt, mà nơi nào vào thời Voltaire có một trăm bản, thì nay có mười ngàn, phải, có đến một trăm ngàn bản sách của Đức Chúa Trời. Theo lời của một nhà Cải chánh thời kỳ đầu nói về hội thánh Cơ-đốc: “Kinh Thánh là một cái đe đã làm mòn rất nhiều búa.” Chúa phán: “Phàm binh khí chế ra nghịch cùng ngươi sẽ chẳng thạnh lợi, và ngươi sẽ định tội mọi lưỡi dấy lên để xét đoán ngươi.” Phàm binh khí chế ra nghịch cùng ngươi sẽ chẳng thạnh lợi, và ngươi sẽ định tội mọi lưỡi dấy lên để xét đoán ngươi. Đức Giê-hô-va phán: Ấy là phần cơ nghiệp của các tôi tớ Đức Giê-hô-va, và sự công bình bởi ta ban cho họ.

(Ê-sai 54:17) GC 288.2

“Lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời.” “Các giềng mối Ngài đều là chắc chắn, được lập vững bền đời đời vô cùng, theo sự chân thật và sự ngay thẳng.” cỏ khô, hoa rụng; nhưng lời của Đức Chúa Trời chúng ta còn mãi đời đời!

(Ê-sai 40:8)Công việc tay Ngài là chân thật và công bình; Các giềng mối Ngài đều là chắc chắn, Được lập vững bền đời đời vô cùng, Theo sự chân thật và sự ngay thẳng. (Thi-thiên 111:7-8) Bất cứ điều gì xây dựng trên thẩm quyền của loài người sẽ bị lật đổ; nhưng điều gì được đặt nền trên vầng đá của Lời bất biến của Đức Chúa Trời sẽ còn mãi đời đời. GC 288.3