Chương 14
14

Các Nhà Cải Chánh Anh Quốc Về Sau

Chương 14—Các Nhà Cải Chánh Anh Quốc Về Sau

Trong khi Lu-thơ đang mở ra quyển Kinh Thánh bị đóng kín cho dân chúng nước Đức, thì Tyndale được Thánh Linh của Đức Chúa Trời thúc giục làm điều tương tự cho nước Anh. Kinh Thánh của Wycliffe đã được dịch từ bản văn La-tinh, vốn chứa nhiều sai sót. Nó chưa bao giờ được in ấn, và chi phí cho các bản chép tay quá cao đến nỗi chỉ những người giàu có hoặc quý tộc mới có thể mua được; hơn nữa, vì bị giáo hội nghiêm cấm, nên nó đã có sự lưu hành tương đối hạn hẹp. Năm 1516, một năm trước khi các luận đề của Lu-thơ xuất hiện, Erasmus đã xuất bản bản Tân Ước bằng tiếng Hy Lạp và La-tinh của ông. Bấy giờ, lần đầu tiên Lời Đức Chúa Trời được in bằng nguyên ngữ. Trong công trình này, nhiều sai sót của các bản trước đã được sửa chữa, và ý nghĩa được chuyển tải rõ ràng hơn. Nó đã dẫn dắt nhiều người trong giới có học thức đến sự hiểu biết tốt hơn về lẽ thật, và tạo một động lực mới cho công cuộc cải chánh. Nhưng thường dân, ở mức độ lớn, vẫn bị ngăn trở khỏi Lời Đức Chúa Trời. Tyndale sẽ hoàn tất công việc của Wycliffe trong việc đem Kinh Thánh đến cho đồng bào mình. GC 245.1

Là một người học hành chuyên cần và là người tha thiết tìm kiếm lẽ thật, ông đã tiếp nhận tin lành từ Tân Ước Hy Lạp của Erasmus. Ông đã mạnh dạn rao giảng những niềm xác tín của mình, khẳng định rằng mọi giáo lý đều phải được thử nghiệm bởi Kinh Thánh. Đối với luận điệu của Công Giáo cho rằng hội thánh đã ban Kinh Thánh cho thế gian, và chỉ có hội thánh mới có thể giải thích nó, Tyndale đáp: “Ông có biết ai đã dạy chim ưng tìm mồi không? Chính Đức Chúa Trời ấy dạy những đứa con đang đói của Ngài tìm thấy Cha mình trong Lời Ngài. Các ông không hề ban Kinh Thánh cho chúng tôi, mà chính các ông đã giấu nó đi khỏi chúng tôi; chính các ông là những kẻ thiêu đốt những ai dạy Kinh Thánh, và nếu có thể, các ông sẽ thiêu đốt chính Kinh Thánh.”—D’Aubigne, History of the Reformation of the Sixteenth Century, b. 18, ch. 4. GC 245.2

Sự giảng dạy của Tyndale đã khơi dậy mối quan tâm lớn lao; nhiều người đã tiếp nhận lẽ thật. Nhưng các thầy tế lễ luôn cảnh giác, và ông vừa rời khỏi nơi nào là họ liền dùng những lời đe dọa và xuyên tạc để cố phá hoại công việc của ông. Họ thường thành công. “Phải làm gì đây?” ông than thở. “Trong khi tôi đang gieo ở một nơi, thì kẻ thù tàn phá cánh đồng tôi vừa mới rời. Tôi không thể có mặt khắp mọi nơi. Ôi! nếu những người Cơ-đốc có được Kinh Thánh trong tiếng mẹ đẻ của mình, thì tự họ có thể chống lại các kẻ ngụy biện này. Không có Kinh Thánh thì không thể xác lập tín hữu thường dân trong lẽ thật.”— Sđd., b. 18, ch. 4. GC 246.1

Một mục đích mới bấy giờ chiếm lấy tâm trí ông. “Chính trong tiếng của dân Y-sơ-ra-ên,” ông nói, “mà các bài Thi-thiên đã được hát trong đền thờ của Đức Giê-hô-va; vậy lẽ nào tin lành lại không nói tiếng Anh giữa vòng chúng ta?… Hội thánh lẽ nào lại phải có ít ánh sáng vào giữa trưa hơn là lúc hừng đông?… Những người Cơ-đốc phải đọc Tân Ước trong tiếng mẹ đẻ của mình.” Các tiến sĩ và giáo sư của hội thánh bất đồng với nhau. Chỉ nhờ Kinh Thánh, con người mới có thể đạt đến lẽ thật. “Người này theo tiến sĩ này, người kia theo tiến sĩ kia… Mỗi một trong các tác giả này lại mâu thuẫn với người kia. Vậy làm sao chúng ta có thể phân biệt được ai nói đúng và ai nói sai?… Bằng cách nào?… Quả thật, bởi Lời Đức Chúa Trời.”— Sđd., b. 18, ch. 4. GC 246.2

Không lâu sau đó, một tiến sĩ Công Giáo thông thái, khi tranh luận với ông, đã thốt lên: “Thà chúng ta không có luật pháp của Đức Chúa Trời còn hơn là không có luật của giáo hoàng.” Tyndale đáp: “Tôi thách thức giáo hoàng và tất cả luật lệ của ông ta; và nếu Đức Chúa Trời cho tôi sống, thì không lâu sau này, tôi sẽ khiến một cậu bé đi sau cái cày biết về Kinh Thánh nhiều hơn ông.”—Anderson, Annals of the English Bible, trang 19. GC 246.3

Mục đích mà ông đã bắt đầu ấp ủ, là đem đến cho dân chúng Kinh Thánh Tân Ước trong tiếng của chính họ, nay đã được khẳng định, và ông lập tức bắt tay vào công việc. Bị sự bắt bớ đuổi khỏi nhà, ông đi đến Luân Đôn, và ở đó một thời gian ông đã tiếp tục công việc mình mà không bị quấy rầy. Nhưng một lần nữa, sự hung bạo của phe Công Giáo đã buộc ông phải chạy trốn. Toàn nước Anh dường như đã đóng cửa với ông, và ông quyết định tìm nơi ẩn náu tại nước Đức. Tại đây, ông đã bắt đầu việc in ấn Tân Ước Anh ngữ. Hai lần công việc bị ngăn trở; nhưng khi bị cấm in tại một thành phố, ông đi đến thành phố khác. Cuối cùng, ông đến được Worms, nơi mà vài năm trước đó, Lu-thơ đã bênh vực tin lành trước Nghị Viện. Tại thành phố cổ này, có nhiều bạn hữu của cuộc Cải chánh, và Tyndale đã tiến hành công việc của mình tại đó mà không gặp trở ngại nào nữa. Ba ngàn bản Tân Ước đã sớm được hoàn tất, và một ấn bản khác tiếp theo trong cùng năm đó. GC 246.4

Với lòng sốt sắng lớn lao và sự kiên trì, ông tiếp tục công lao mình. Mặc dù các nhà chức trách nước Anh đã canh gác các cảng của họ với sự cảnh giác nghiêm ngặt nhất, Lời Đức Chúa Trời đã được bí mật đem vào Luân Đôn bằng nhiều cách, rồi từ đó được lưu hành khắp cả nước. Phe Công Giáo đã cố gắng dập tắt lẽ thật, nhưng vô ích. Giám mục của Durham có lần đã mua của một người bán sách là bạn của Tyndale toàn bộ kho Kinh Thánh của người ấy, với mục đích tiêu hủy chúng, vì nghĩ rằng làm vậy sẽ cản trở công việc rất lớn. Nhưng, ngược lại, số tiền được cung cấp qua việc ấy đã mua được vật liệu cho một ấn bản mới và tốt hơn, mà nếu không có việc đó, đã không thể xuất bản được. Khi Tyndale về sau bị làm tù nhân, ông được đề nghị trả tự do với điều kiện ông tiết lộ tên của những người đã giúp ông trang trải chi phí in Kinh Thánh của mình. Ông đáp rằng giám mục của Durham đã làm nhiều hơn bất cứ ai khác; bởi vì qua việc trả một giá lớn cho các sách còn lại, vị giám mục ấy đã giúp ông có thể tiếp tục công việc với lòng can đảm tốt đẹp. GC 247.1

Tyndale bị phản bội rơi vào tay kẻ thù, và có lần đã chịu tù đày nhiều tháng. Cuối cùng, ông đã làm chứng cho đức tin của mình bằng cái chết của một người tử đạo; nhưng những vũ khí mà ông đã chuẩn bị đã giúp cho những chiến sĩ khác có thể chiến đấu qua suốt các thế kỷ cho đến thời đại chúng ta. GC 247.2

Latimer từ trên tòa giảng đã khẳng định rằng Kinh Thánh phải được đọc trong ngôn ngữ của dân chúng. Tác Giả của Kinh Thánh, ông nói, “chính là Đức Chúa Trời”; và Kinh Thánh này dự phần trong quyền năng và sự đời đời của Tác Giả nó. “Không có vua, hoàng đế, quan tòa, và kẻ cai trị nào… mà không buộc phải vâng theo… Lời thánh của Ngài.” “Chúng ta đừng đi theo bất cứ lối rẽ nào, nhưng hãy để Lời Đức Chúa Trời hướng dẫn chúng ta: chúng ta đừng đi theo… tổ phụ của chúng ta, cũng đừng tìm xem họ đã làm gì, nhưng hãy tìm xem họ đáng lẽ phải làm gì.”—Hugh Latimer, “First Sermon Preached Before King Edward VI.” GC 248.1

Barnes và Frith, những người bạn trung thành của Tyndale, đã đứng lên bênh vực lẽ thật. Gia đình Ridley và Cranmer đã noi theo. Những nhà lãnh đạo này của cuộc Cải chánh Anh quốc là những người có học thức, và phần lớn họ đã được kính trọng cao vì lòng sốt sắng hoặc lòng mộ đạo trong giáo đoàn La-mã. Sự chống đối của họ đối với giáo hoàng là kết quả của sự hiểu biết của họ về những sai lầm của “tòa thánh.” Sự quen thuộc của họ với những điều huyền bí của Ba-by-lôn đã đem lại quyền năng lớn hơn cho lời chứng của họ chống lại bà ta. GC 248.2

“Bây giờ tôi xin hỏi một câu lạ lùng,” Latimer nói. “Ai là giám mục và giáo phẩm chuyên cần nhất trong toàn nước Anh?… Tôi thấy các bạn đang lắng nghe và chờ đợi tôi gọi tên người ấy… Tôi sẽ nói cho các bạn biết: đó là ma quỷ… Nó không bao giờ rời khỏi giáo phận của mình; gọi nó khi nào bạn muốn, nó luôn ở nhà;… nó luôn ở sau cái cày của mình… Các bạn sẽ không bao giờ thấy nó nhàn rỗi, tôi bảo đảm với các bạn… Nơi nào ma quỷ cư ngụ,… ở đó dẹp bỏ sách vở, dựng lên nến; dẹp bỏ Kinh Thánh, dựng lên chuỗi hạt; dẹp bỏ ánh sáng của tin lành, dựng lên ánh sáng của những ngọn nến, phải, ngay cả giữa trưa;… đánh đổ thập tự giá của Đấng Christ, dựng lên chốn luyện ngục móc túi;… dẹp bỏ việc mặc áo cho kẻ trần truồng, kẻ nghèo khổ và kẻ bất lực, dựng lên việc trang hoàng những hình tượng và tô điểm những khúc gỗ và viên đá; dựng lên truyền thống của loài người và luật lệ của nó, đánh đổ truyền thống của Đức Chúa Trời và Lời rất thánh của Ngài… Ôi, ước chi các giáo phẩm của chúng ta cũng chuyên cần gieo hạt giống của giáo lý lành, như Sa-tan chuyên cần gieo cỏ lùng và cỏ dại!”— Sđd., “Sermon of the Plough.” GC 248.3

Nguyên tắc lớn lao được các nhà Cải chánh này gìn giữ—cũng chính là nguyên tắc mà phái Waldenses, Wycliffe, John Huss, Lu-thơ, Zwingli cùng những người hiệp cùng họ đã gìn giữ—ấy là thẩm quyền không sai lầm của Kinh Thánh làm quy tắc cho đức tin và cách thực hành. Họ phủ nhận quyền của các giáo hoàng, các công đồng, các Giáo phụ, và các vị vua trong việc kiểm soát lương tâm về những vấn đề tôn giáo. Kinh Thánh là thẩm quyền của họ, và bởi sự dạy dỗ của Kinh Thánh, họ thử nghiệm mọi giáo lý và mọi tuyên bố. Đức tin nơi Đức Chúa Trời và Lời Ngài đã nâng đỡ những người thánh thiện này khi họ dâng mạng sống mình trên giàn hỏa. Latimer đã thốt lên với bạn tử đạo của mình khi ngọn lửa sắp làm tắt tiếng nói của họ: “Hãy vững lòng, bởi ân điển của Đức Chúa Trời, hôm nay chúng ta sẽ thắp lên tại nước Anh một ngọn nến mà tôi tin chắc sẽ chẳng hề bị dập tắt.”— Works of Hugh Latimer 1:8. GC 249.1

Tại Tô-cách-lan, những hạt giống lẽ thật mà Columba cùng các bạn đồng lao của ông đã gieo ra chưa hề bị hủy diệt hoàn toàn. Trong hàng trăm năm sau khi các hội thánh tại nước Anh đầu phục La-mã, các hội thánh tại Tô-cách-lan vẫn duy trì sự tự do của mình. Tuy nhiên, vào thế kỷ thứ mười hai, chế độ giáo hoàng đã được thiết lập tại đây, và không nơi nào nó thi hành quyền uy tuyệt đối hơn. Không nơi nào bóng tối lại dày đặc hơn. Dẫu vậy, vẫn có những tia sáng xuyên thủng màn đêm tăm tối và hứa hẹn một ngày mới đang đến. Phái Lollards, từ nước Anh đến với Kinh Thánh và các sự dạy dỗ của Wycliffe, đã đóng góp rất nhiều trong việc bảo tồn sự hiểu biết về tin lành, và mỗi thế kỷ đều có những chứng nhân và những người tử đạo riêng. GC 249.2

Với sự khởi đầu của cuộc Đại Cải chánh đã đến những tác phẩm của Lu-thơ, rồi đến Tân Ước tiếng Anh của Tyndale. Không bị giới giáo phẩm để ý, các sứ giả này đã âm thầm băng qua núi non và thung lũng, thắp lên sự sống mới cho ngọn đuốc lẽ thật gần như đã bị dập tắt tại Tô-cách-lan, và xóa bỏ công việc mà La-mã đã thực hiện trong bốn thế kỷ áp bức. GC 249.3

Kế đó, huyết của những người tử đạo đã đem lại một động lực mới cho phong trào. Các lãnh tụ Công Giáo, đột nhiên tỉnh thức trước mối nguy đe dọa sự nghiệp của họ, đã đem lên giàn hỏa một số người cao quý và được tôn trọng nhất trong các con cái của Tô-cách-lan. Nhưng họ chỉ dựng lên một bục giảng, từ đó những lời của các chứng nhân đang hấp hối này đã được nghe khắp cả xứ, làm rúng động linh hồn của dân chúng với một mục đích bất diệt là hất bỏ xiềng xích của La-mã. GC 249.4

Hamilton và Wishart, vừa cao quý về phẩm cách vừa cao quý về dòng dõi, cùng với một hàng dài các môn đồ khiêm nhường hơn, đã dâng mạng sống mình trên giàn hỏa. Nhưng từ giàn thiêu của Wishart đã xuất hiện một người mà ngọn lửa không thể làm cho im tiếng, một người mà dưới sự dẫn dắt của Đức Chúa Trời sẽ gióng lên hồi chuông báo tử cho chế độ giáo hoàng tại Tô-cách-lan. GC 250.1

John Knox đã lìa bỏ các truyền thống và những điều huyền bí của giáo hội để nuôi dưỡng mình bằng các lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời; và sự dạy dỗ của Wishart đã củng cố quyết tâm của ông là lìa khỏi sự thông công với La-mã và hiệp mình cùng các nhà Cải chánh đang bị bắt bớ. GC 250.2

Khi được các bạn đồng hành thúc giục đảm nhận chức vụ giảng đạo, ông run rẩy lùi bước trước trách nhiệm ấy, và chỉ sau nhiều ngày ẩn dật cùng cuộc vật lộn đau đớn với chính mình, ông mới ưng thuận. Nhưng một khi đã nhận lấy chức vụ, ông tiến bước với quyết tâm không lay chuyển và lòng can đảm không nao núng suốt cả đời mình. Nhà Cải chánh chân thành này không sợ hãi trước mặt loài người. Ngọn lửa tử đạo bùng cháy chung quanh ông chỉ càng làm tăng thêm lòng nhiệt thành của ông. Dẫu lưỡi rìu của bạo chúa treo lơ lửng trên đầu, ông vẫn đứng vững, giáng những đòn mạnh mẽ sang bên hữu và bên tả để đập tan sự thờ hình tượng. GC 250.3

Khi đối diện với nữ hoàng Tô-cách-lan, trước mặt bà nhiệt tâm của nhiều nhà lãnh đạo Tin Lành đã suy giảm, John Knox vẫn làm chứng không lay chuyển cho lẽ thật. Ông không bị chinh phục bởi những lời vuốt ve; ông không nao núng trước những lời hăm dọa. Nữ hoàng buộc tội ông về tà giáo. Bà tuyên bố rằng ông đã dạy dân chúng tiếp nhận một tôn giáo bị nhà nước cấm đoán, và vì vậy đã vi phạm mạng lệnh của Đức Chúa Trời buộc thần dân phải vâng lời các vua chúa của mình. Knox trả lời cách vững vàng: GC 250.4

“Cũng như tôn giáo chân chính không lấy sức mạnh hay thẩm quyền nguyên thủy từ các vua chúa trần gian, nhưng chỉ từ một mình Đức Chúa Trời đời đời, thì các thần dân cũng không bị buộc phải định hình tôn giáo của mình theo ý muốn của các vua chúa. Vì thường thường các vua chúa là những người ngu muội nhất trong tất cả về tôn giáo chân chính của Đức Chúa Trời…. Thưa bệ hạ, nếu tất cả dòng dõi Áp-ra-ham đều theo tôn giáo của Pha-ra-ôn, là người mà họ từng làm thần dân trong một thời gian dài, tôi xin hỏi bệ hạ, trên thế gian sẽ còn tôn giáo nào? Hoặc nếu tất cả mọi người trong thời các sứ đồ đều theo tôn giáo của các hoàng đế La-mã, thì trên mặt đất sẽ còn tôn giáo nào? … Và như vậy, thưa bệ hạ, ngài có thể thấy rằng thần dân không bị buộc phải theo tôn giáo của các vua chúa của mình, dầu họ được truyền phải vâng phục các vua chúa ấy.” GC 250.5

Ma-ri nói: “Ông giải nghĩa Kinh Thánh theo một cách, còn họ [những thầy dạy Công Giáo La-mã] lại giải nghĩa theo một cách khác; tôi phải tin ai, và ai sẽ làm quan xét?” GC 251.1

Nhà Cải chánh đáp: “Bệ hạ hãy tin Đức Chúa Trời, là Đấng phán dạy rõ ràng trong Lời Ngài; và ngoài những gì Lời dạy bệ hạ, bệ hạ chớ tin bên nào cả. Lời Đức Chúa Trời tự nó đã rõ ràng; và nếu có điều gì tối nghĩa ở một chỗ, thì Đức Thánh Linh, là Đấng không bao giờ tự mâu thuẫn, sẽ giải thích điều đó cách rõ ràng hơn ở những chỗ khác, đến nỗi không còn chút nghi ngờ nào, trừ những người cố chấp trong sự ngu muội.”—David Laing, The Collected Works of John Knox, quyển 2, trang 281, 284. GC 251.2

Đó là những lẽ thật mà nhà Cải chánh không sợ hãi ấy, dẫu tánh mạng bị đe dọa, đã nói thẳng vào tai bậc vương quyền. Với cùng một lòng can đảm không nao núng, ông kiên trì với mục đích của mình, cầu nguyện và chiến đấu các trận chiến của Chúa, cho đến khi Tô-cách-lan được giải thoát khỏi chế độ giáo hoàng. GC 251.3

Tại nước Anh, việc thiết lập Tin Lành làm quốc giáo đã làm giảm bớt, nhưng không hoàn toàn chấm dứt, sự bắt bớ. Trong khi nhiều giáo lý của La-mã đã bị chối bỏ, không ít các hình thức của nó vẫn được giữ lại. Quyền tối thượng của giáo hoàng đã bị chối bỏ, nhưng thay vào vị trí của ông, quốc vương được lên ngôi làm đầu của hội thánh. Trong sự phục vụ của hội thánh vẫn còn một sự xa rời lớn lao khỏi sự tinh sạch và đơn sơ của tin lành. Nguyên tắc lớn về tự do tôn giáo vẫn chưa được thấu hiểu. Dẫu những sự tàn bạo khủng khiếp mà La-mã đã sử dụng để chống lại tà giáo chỉ thỉnh thoảng được các nhà cai trị Tin Lành dùng đến, tuy vậy quyền của mỗi người được thờ phượng Đức Chúa Trời theo sự mách bảo của lương tâm mình vẫn chưa được thừa nhận. Tất cả đều bị buộc phải chấp nhận các giáo lý và tuân giữ các hình thức thờ phượng mà quốc giáo đã quy định. Những người bất đồng bị bắt bớ, ít hay nhiều, suốt hàng trăm năm. GC 251.4

Vào thế kỷ thứ mười bảy, hàng ngàn mục sư bị trục xuất khỏi chức vụ của mình. Dân chúng bị cấm, với án phạt tiền nặng, tù tội, và lưu đày, không được tham dự bất kỳ buổi nhóm tôn giáo nào ngoài những buổi nhóm được giáo hội chuẩn thuận. Những linh hồn trung tín không thể kiềm chế việc nhóm lại để thờ phượng Đức Chúa Trời buộc phải gặp nhau trong những con hẻm tối tăm, trên những gác xép khuất nẻo, và đôi khi trong rừng vào lúc nửa đêm. Trong những chốn rừng sâu che chở, là đền thờ do chính Đức Chúa Trời dựng nên, những con cái tản lạc và bị bắt bớ của Chúa nhóm lại để tuôn đổ linh hồn mình trong sự cầu nguyện và ngợi khen. Nhưng dẫu mọi phòng bị, nhiều người vẫn chịu khổ vì đức tin của mình. Các nhà tù chật ních. Các gia đình bị chia lìa. Nhiều người bị đày đi các xứ lạ. Tuy vậy, Đức Chúa Trời vẫn ở cùng dân sự Ngài, và sự bắt bớ không thể thắng được để làm im tiếng chứng của họ. Nhiều người đã bị đẩy qua đại dương đến Mỹ châu và tại đây đã đặt nền móng cho sự tự do dân sự và tôn giáo, là thành lũy và vinh hiển của xứ sở này. GC 252.1

Một lần nữa, như trong thời các sứ đồ, sự bắt bớ lại trở nên phương tiện cho sự tấn tới của tin lành. Trong một ngục tối ghê tởm chật ních những kẻ phóng đãng và trọng tội, John Bunyan đã hít thở chính bầu không khí của thiên đàng; và tại đó ông đã viết câu chuyện ngụ ngôn tuyệt diệu của mình về hành trình của người hành hương từ miền hủy diệt đến thành thiên quốc. Trong hơn hai trăm năm, tiếng nói từ nhà tù Bedford đó đã phán với quyền năng rúng động đến tấm lòng của loài người. Thiên Lộ Lịch TrìnhÂn Điển Dư Dật Cho Kẻ Tội Lỗi Đầu Đảng của Bunyan đã hướng dẫn nhiều bước chân vào con đường sự sống. GC 252.2

Baxter, Flavel, Alleine, cùng những người khác có tài năng, học thức và kinh nghiệm Cơ-đốc sâu sắc đã đứng lên can đảm bênh vực đức tin đã truyền cho các thánh đồ một lần đủ cả. Công việc mà những người này đã thực hiện, dù bị các nhà cầm quyền của thế gian này cấm đoán và đặt ra ngoài vòng pháp luật, sẽ không bao giờ bị hủy diệt. Cuốn Nguồn Sự SốngPhương Pháp của Ân Điển của Flavel đã dạy hàng ngàn người cách giao phó sự gìn giữ linh hồn mình cho Đấng Christ. Cuốn Mục Sư Cải Chánh của Baxter đã chứng tỏ là một phước lành cho nhiều người mong muốn sự phục hưng công việc của Đức Chúa Trời, và cuốn Sự Yên Nghỉ Đời Đời của Các Thánh Đồ đã hoàn thành công việc của nó trong việc dẫn dắt các linh hồn đến “sự yên nghỉ” còn dành cho dân sự Đức Chúa Trời. GC 252.3

Một trăm năm sau, trong một thời kỳ tối tăm thuộc linh lớn lao, Whitefield và anh em Wesley xuất hiện như những người mang ánh sáng cho Đức Chúa Trời. Dưới sự cai trị của giáo hội quốc giáo, dân nước Anh đã sa vào tình trạng suy đồi tôn giáo khó có thể phân biệt được với ngoại giáo. Tôn giáo tự nhiên là môn học ưa thích của hàng giáo phẩm, và chiếm phần lớn thần học của họ. Các tầng lớp cao thượng chế nhạo lòng sùng đạo, và tự hào vì đã vượt lên trên cái mà họ gọi là sự cuồng tín của nó. Các tầng lớp thấp thì dốt nát nặng nề và buông mình theo tật xấu, trong khi hội thánh không còn can đảm hay đức tin để ủng hộ chính nghĩa chân lý đã sa ngã. GC 253.1

Giáo lý vĩ đại về sự xưng công bình bởi đức tin, đã được Lu-thơ dạy dỗ cách rõ ràng, hầu như đã hoàn toàn bị lãng quên; và nguyên tắc của Công Giáo La-mã là nương cậy vào việc lành để được cứu rỗi đã thế chỗ cho nó. Whitefield và anh em Wesley, vốn là thành viên của giáo hội quốc giáo, là những người thành thật tìm kiếm ân huệ của Đức Chúa Trời, và họ đã được dạy rằng điều này phải đạt được bằng một đời sống đức hạnh và việc tuân giữ các nghi lễ tôn giáo. GC 253.2

Khi có một lần Charles Wesley ngã bệnh, và dự cảm rằng cái chết đang đến gần, ông được hỏi ông đặt hy vọng về sự sống đời đời của mình trên điều gì. Câu trả lời của ông là: “Tôi đã dùng những nỗ lực tốt nhất của mình để phục vụ Đức Chúa Trời.” Khi người bạn đã đặt câu hỏi dường như không hoàn toàn thỏa mãn với câu trả lời của ông, Wesley nghĩ: “Sao vậy! chẳng lẽ những nỗ lực của tôi không đủ làm nền tảng cho niềm hy vọng sao? Ông ấy muốn cướp đi những nỗ lực của tôi sao? Tôi không có gì khác để trông cậy.” — John Whitehead, Cuộc Đời Mục Sư Charles Wesley, trang 102. Đó là sự tối tăm dày đặc đã bao phủ hội thánh, che khuất sự chuộc tội, cướp mất vinh quang của Đấng Christ, và xoay chuyển tâm trí con người khỏi hy vọng cứu rỗi duy nhất của họ — huyết của Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh. GC 253.3

Wesley và các bạn đồng sự được dẫn dắt để thấy rằng tôn giáo chân thật ngự trị trong tấm lòng, và luật pháp Đức Chúa Trời bao trùm cả tư tưởng cũng như lời nói và hành động. Được thuyết phục về sự cần thiết của sự thánh khiết trong lòng, cũng như sự đúng đắn trong cách cư xử bên ngoài, họ nghiêm túc khởi đầu một đời sống mới. Bằng những nỗ lực siêng năng và cầu nguyện nhất, họ cố gắng chế ngự những điều xấu xa của tấm lòng tự nhiên. Họ sống một đời sống chối bỏ chính mình, làm việc từ thiện, và khiêm nhường, tuân giữ với sự nghiêm ngặt và chính xác lớn lao mọi biện pháp mà họ nghĩ có thể giúp họ đạt được điều họ khao khát nhất — sự thánh khiết có thể bảo đảm ân huệ của Đức Chúa Trời. Nhưng họ đã không đạt được mục tiêu mà họ tìm kiếm. Những nỗ lực của họ để giải thoát chính mình khỏi sự kết án của tội lỗi hay để phá vỡ quyền lực của nó đều vô ích. Đó cũng là sự vật lộn mà Lu-thơ đã kinh nghiệm trong phòng giam của mình tại Erfurt. Đó cũng là câu hỏi đã hành hạ linh hồn ông — Quả thật, tôi biết ấy là như vậy; Nhưng làm thế nào cho loài người được công bình trước mặt Đức Chúa Trời?

(Gióp 9:2) GC 254.1

Ngọn lửa của chân lý thiêng liêng, gần như đã tắt lịm trên bàn thờ của Tin Lành, sẽ được thắp lại từ ngọn đuốc cổ xưa được các Cơ-đốc nhân Bô-hê-mi truyền qua các thời đại. Sau cuộc Cải chánh, Tin Lành ở Bô-hê-mi đã bị đám đông La-mã giày đạp. Tất cả những ai từ chối chối bỏ chân lý đều bị buộc phải chạy trốn. Một số trong những người này, tìm được nơi ẩn náu tại Saxony, đã giữ vững đức tin cổ xưa tại đó. Chính từ con cháu của những Cơ-đốc nhân này mà ánh sáng đã đến với Wesley và các bạn đồng sự của ông. GC 254.2

John và Charles Wesley, sau khi được phong chức giáo phẩm, được phái đi truyền giáo sang Mỹ châu. Trên tàu có một đoàn người Moravia. Các cơn bão dữ dội đã gặp phải trong chuyến hải trình, và John Wesley, đối diện với cái chết, cảm thấy rằng mình chưa có sự bảo đảm về sự bình an với Đức Chúa Trời. Trái lại, những người Đức đã biểu lộ một sự điềm tĩnh và tin cậy mà ông không hề có. GC 254.3

“Đã từ lâu trước đây,” ông nói, “tôi đã quan sát sự nghiêm túc lớn lao trong cách cư xử của họ. Về sự khiêm nhường của họ, họ đã liên tục chứng tỏ điều ấy, bằng cách thực hiện những công việc hèn mọn cho các hành khách khác mà không một người Anh nào chịu làm; vì những việc đó họ không mong cầu và cũng không nhận tiền công, nói rằng điều ấy tốt cho tấm lòng kiêu ngạo của họ, và Đấng Cứu Thế yêu thương của họ đã làm nhiều hơn thế cho họ. Và mỗi ngày đã đem đến cho họ cơ hội để biểu lộ một sự nhu mì mà không một sự xúc phạm nào có thể làm lay chuyển. Nếu họ bị xô đẩy, bị đánh, hay bị quật ngã, họ đứng dậy và bỏ đi; nhưng không có lời than phiền nào trong miệng họ. Bây giờ đã có cơ hội để thử xem họ đã được giải thoát khỏi tinh thần sợ hãi hay chưa, cũng như khỏi tinh thần kiêu ngạo, giận dữ và trả thù. Giữa bài thánh ca mà buổi nhóm của họ bắt đầu, sóng biển tràn qua, xé toạc cánh buồm chính ra từng mảnh, phủ kín con tàu, và đổ xuống giữa các boong tàu như thể vực sâu lớn đã nuốt chửng chúng tôi. Một tiếng thét kinh hoàng vang lên giữa những người Anh. Những người Đức vẫn điềm tĩnh ca hát. Sau đó tôi hỏi một trong số họ, ‘Ông không sợ sao?’ Ông đáp, ‘Tạ ơn Đức Chúa Trời, không.’ Tôi hỏi, ‘Nhưng phụ nữ và trẻ em của các ông không sợ sao?’ Ông nhẹ nhàng đáp, ‘Không; phụ nữ và trẻ em của chúng tôi không sợ chết.’” — Whitehead, Cuộc Đời Mục Sư John Wesley, quyển 2, trang 10. GC 255.1

Khi đến Savannah, Wesley ở lại với những người Moravia trong một thời gian ngắn, và được cảm kích sâu sắc bởi cách cư xử Cơ-đốc của họ. Về một trong những buổi thờ phượng của họ, tương phản rõ rệt với chủ nghĩa hình thức không có sự sống của Giáo hội Anh Quốc, ông viết: “Sự đơn sơ lớn lao cũng như sự trang nghiêm của toàn buổi nhóm gần như làm tôi quên đi một ngàn bảy trăm năm ở giữa, và tưởng tượng mình đang ở trong một trong những buổi nhóm mà ở đó không có nghi thức và phẩm cách; nhưng có Phao-lô, người thợ may trại, hay Phi-e-rơ, người đánh cá, chủ tọa; tuy nhiên với sự tỏ ra của Thánh Linh và quyền năng.” — Sách đã dẫn, trang 11, 12. GC 255.2

Khi trở về nước Anh, Wesley, dưới sự chỉ dạy của một nhà truyền đạo Moravia, đã đạt đến sự hiểu biết rõ ràng hơn về đức tin Kinh Thánh. Ông tin chắc rằng mình phải từ bỏ mọi sự nương cậy nơi công việc riêng của mình để được cứu rỗi và phải hoàn toàn tin cậy nơi “Chiên Con của Đức Chúa Trời, Đấng cất tội lỗi của thế gian đi.” Tại một buổi họp của hội Moravia ở Luân Đôn, một lời tuyên bố của Lu-thơ được đọc lên, mô tả sự thay đổi mà Thánh Linh của Đức Chúa Trời thực hiện trong lòng người tin. Khi Wesley lắng nghe, đức tin được thắp lên trong linh hồn ông. “Tôi cảm thấy lòng mình được sưởi ấm cách lạ lùng,” ông nói. “Tôi cảm thấy tôi thật sự tin cậy nơi Đấng Christ, chỉ một mình Đấng Christ, để được cứu rỗi: và một sự bảo đảm đã được ban cho tôi, rằng Ngài đã cất đi tội lỗi của tôi, thậm chí tội lỗi của tôi, và đã cứu tôi khỏi luật của tội lỗi và sự chết.” — Sách đã dẫn, trang 52. GC 255.3

Qua nhiều năm dài vật lộn mệt mỏi và không được an ủi — những năm chối bỏ chính mình nghiêm ngặt, bị khinh chê và hạ nhục — Wesley đã kiên định gắn bó với mục đích duy nhất là tìm kiếm Đức Chúa Trời. Giờ đây ông đã tìm thấy Ngài; và ông thấy rằng ân điển mà ông đã cực nhọc để giành lấy bằng những lời cầu nguyện và sự kiêng ăn, bằng việc bố thí và tự phủ nhận chính mình, là một món quà, “không tốn tiền, không phải trả giá.” GC 256.1

Một khi đã được vững lập trong đức tin nơi Đấng Christ, cả linh hồn ông cháy bỏng với lòng khao khát truyền bá khắp mọi nơi sự hiểu biết về tin lành vinh hiển của ân điển miễn phí của Đức Chúa Trời. “Tôi xem cả thế giới như giáo khu của tôi,” ông nói; “bất cứ ở phần nào của nó mà tôi đang ở, tôi xét rằng điều thích hợp, đúng đắn, và bổn phận buộc ràng của tôi, là rao truyền cho tất cả những ai sẵn lòng nghe, tin mừng về sự cứu rỗi.” — Sách đã dẫn, trang 74. GC 256.2

Ông tiếp tục đời sống nghiêm ngặt và từ bỏ chính mình, không phải bây giờ như là nền tảng, nhưng là kết quả của đức tin; không phải rễ, nhưng là trái của sự thánh khiết. Ân điển của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ là nền tảng của hy vọng của Cơ-đốc nhân, và ân điển ấy sẽ được biểu lộ trong sự vâng lời. Đời sống của Wesley đã được dâng hiến cho việc rao giảng những chân lý vĩ đại mà ông đã nhận được — sự xưng công bình qua đức tin nơi huyết chuộc tội của Đấng Christ, và quyền năng đổi mới của Đức Thánh Linh trên tấm lòng, sanh ra trái trong một đời sống phù hợp với gương mẫu của Đấng Christ. GC 256.3

Whitefield và anh em nhà Wesley đã được chuẩn bị cho công việc của mình qua những sự nhận biết sâu sắc và đau đớn về tình trạng hư mất của chính họ; và để có thể chịu đựng gian khổ như những người lính giỏi của Đấng Christ, họ đã phải trải qua thử thách gay gắt của sự khinh miệt, nhạo báng và bắt bớ, cả ở trường đại học lẫn khi bước vào chức vụ. Họ và một vài người khác đồng cảm với họ đã bị các bạn học vô tín khinh bỉ gọi là những người Methodist — một cái tên mà ngày nay được xem là đáng kính bởi một trong những giáo phái lớn nhất ở Anh và Mỹ. GC 256.4

Là thành viên của Giáo hội Anh Quốc, họ gắn bó sâu sắc với các hình thức thờ phượng của giáo hội, nhưng Chúa đã trình bày trước mặt họ trong Lời Ngài một tiêu chuẩn cao hơn. Đức Thánh Linh thúc giục họ giảng về Đấng Christ và Đấng Christ bị đóng đinh. Quyền năng của Đấng Chí Cao đã đồng hành với công lao của họ. Hàng ngàn người đã được cáo trách và thật sự hoán cải. Cần phải bảo vệ những con chiên này khỏi những con sói hung dữ. Wesley không hề có ý định lập ra một giáo phái mới, nhưng ông đã tổ chức họ thành cái được gọi là Liên Hiệp Methodist. GC 257.1

Sự chống đối mà những nhà truyền đạo này gặp phải từ giáo hội chính thống thật bí ẩn và nặng nề; tuy nhiên Đức Chúa Trời, trong sự khôn ngoan của Ngài, đã khiến các sự kiện diễn ra sao cho cuộc cải cách bắt đầu ngay trong chính giáo hội. Nếu nó đến hoàn toàn từ bên ngoài, thì nó đã không thâm nhập được vào nơi mà sự cải cách cần thiết nhất. Nhưng vì các nhà truyền đạo phục hưng là người của giáo hội, và làm việc trong phạm vi giáo hội bất cứ nơi đâu họ tìm được cơ hội, lẽ thật có lối vào ở những nơi mà lẽ ra các cánh cửa sẽ đóng kín. Một số giáo sĩ được đánh thức khỏi tình trạng mê muội đạo đức và trở thành những nhà truyền đạo sốt sắng trong các giáo xứ của chính mình. Những hội thánh đã bị hóa đá bởi chủ nghĩa hình thức được làm cho sống lại. GC 257.2

Vào thời Wesley, cũng như trong mọi thời đại của lịch sử hội thánh, những người với các ân tứ khác nhau đã thực hiện công việc được chỉ định cho họ. Họ không đồng thuận trên từng điểm giáo lý, nhưng tất cả đều được Thánh Linh Đức Chúa Trời cảm động, và hiệp nhất trong mục tiêu chuyên tâm là chinh phục linh hồn cho Đấng Christ. Những bất đồng giữa Whitefield và anh em nhà Wesley có lúc đã đe dọa gây ra sự chia rẽ; nhưng khi họ học được sự nhu mì trong trường học của Đấng Christ, sự nhẫn nhịn và lòng yêu thương lẫn nhau đã hòa giải họ. Họ không có thì giờ để tranh cãi, trong khi sai lầm và gian ác đang lan tràn khắp nơi, và tội nhân đang đi xuống sự hư mất. GC 257.3

Các đầy tớ của Đức Chúa Trời đã bước đi trên một con đường gập ghềnh. Những người có thế lực và học thức đã dùng quyền lực của mình để chống lại họ. Sau một thời gian, nhiều giáo sĩ đã tỏ thái độ thù nghịch quyết liệt, và cửa các nhà thờ bị đóng lại trước một đức tin thuần khiết và những người rao giảng đức tin ấy. Việc các giáo sĩ lên án họ từ bục giảng đã khơi dậy những thế lực tối tăm, ngu dốt và gian ác. Hết lần này đến lần khác, John Wesley đã thoát chết nhờ phép lạ của lòng thương xót Đức Chúa Trời. Khi cơn thịnh nộ của đám đông nổi lên chống lại ông, và dường như không có đường thoát, một thiên sứ trong hình dạng con người đã đến bên ông, đám đông lùi lại, và đầy tớ của Đấng Christ đã an toàn đi khỏi nơi nguy hiểm. GC 258.1

Về việc được giải cứu khỏi đám đông giận dữ trong một lần nọ, Wesley đã nói: “Nhiều kẻ cố sức xô tôi ngã khi chúng tôi đi xuống một con dốc trơn trượt vào thị trấn; vì nghĩ rằng nếu tôi ngã xuống đất, tôi khó mà đứng dậy được nữa. Nhưng tôi chẳng hề vấp ngã, cũng chẳng trượt chân chút nào, cho đến khi tôi hoàn toàn thoát khỏi tay họ…. Dầu nhiều kẻ cố nắm lấy cổ áo hay quần áo tôi để kéo tôi xuống, họ không thể nào bám được: chỉ có một kẻ nắm được vạt áo gi-lê của tôi, nhưng nó sớm rơi vào tay hắn; vạt áo bên kia, trong túi có một tờ tiền giấy, bị xé rách mất một nửa…. Một người lực lưỡng ngay phía sau đã đánh tôi nhiều lần bằng một cây gậy sồi lớn; nếu hắn đánh trúng tôi một lần vào phía sau đầu, thì đã khỏi phải phiền thêm nữa. Nhưng mỗi lần, cú đánh đều lệch đi, tôi không biết vì sao; vì tôi không thể nhúc nhích qua phải hay qua trái…. Một kẻ khác xông qua đám đông, giơ tay lên để đánh, bỗng nhiên buông xuống, và chỉ vuốt đầu tôi mà nói, ‘Tóc hắn mềm biết bao!’ … Những người đầu tiên mà lòng được cảm hóa lại chính là những kẻ hung dữ của thị trấn, những tên cầm đầu đám đông trong mọi dịp, một trong số đó từng là một võ sĩ đấu tại các trường đấu gấu…. GC 258.2

“Đức Chúa Trời chuẩn bị chúng ta cho ý muốn Ngài bằng những mức độ nhẹ nhàng biết bao! Hai năm trước, một mảnh gạch đã sượt qua vai tôi. Một năm sau đó, hòn đá đập vào giữa hai mắt tôi. Tháng trước tôi nhận một cú đánh, và tối nay hai cú, một trước khi vào thị trấn, và một sau khi ra khỏi đó; nhưng cả hai đều như không có gì: bởi vì dầu một người đánh vào ngực tôi hết sức mình, và một người khác đánh vào miệng tôi mạnh đến nỗi máu trào ra ngay lập tức, tôi không cảm thấy đau đớn hơn là nếu họ chạm tôi bằng một cọng rơm."—John Wesley, Works, tập 3, trang 297, 298. GC 259.1

Những người Methodist trong những ngày đầu ấy—cả tín đồ lẫn các nhà truyền đạo—đã chịu đựng sự chế nhạo và bắt bớ, từ các thành viên giáo hội cũng như từ những kẻ công khai vô đạo bị kích động bởi những lời xuyên tạc của họ. Họ bị đưa ra trước các tòa công lý—chỉ có danh là vậy, vì công lý rất hiếm thấy trong các tòa án thời đó. Họ thường xuyên phải chịu bạo lực từ những kẻ bắt bớ mình. Các đám đông đi từ nhà này sang nhà khác, phá hủy đồ đạc và tài sản, cướp bóc bất cứ thứ gì chúng muốn, và hành hạ dã man đàn ông, phụ nữ và trẻ em. Trong một số trường hợp, các thông báo công khai được dán lên, kêu gọi những ai muốn tham gia phá cửa sổ và cướp nhà của những người Methodist hãy tụ họp vào một thời điểm và nơi chốn nhất định. Những vi phạm công khai đối với cả luật pháp loài người lẫn luật pháp Đức Chúa Trời này đã được để cho qua mà không bị khiển trách. Một cuộc bắt bớ có hệ thống đã được tiến hành chống lại một dân tộc mà lỗi duy nhất của họ là tìm cách xoay bước chân của tội nhân khỏi con đường hủy diệt sang con đường thánh khiết. GC 259.2

John Wesley, đề cập đến những lời cáo buộc chống lại bản thân ông và các cộng sự, đã nói: “Một số người cho rằng các giáo lý của những người này là sai, sai lầm và cuồng tín; rằng chúng là mới mẻ và chưa từng được nghe đến cho đến gần đây; rằng chúng là Quaker giáo, chủ nghĩa cuồng tín, Công Giáo chủ nghĩa. Toàn bộ sự giả vờ này đã bị cắt tận gốc rễ, vì đã được chứng minh rộng rãi rằng mỗi nhánh của giáo lý này là giáo lý rõ ràng của Kinh Thánh được chính giáo hội của chúng tôi giải nghĩa. Vì vậy nó không thể sai hoặc sai lầm được, miễn là Kinh Thánh là chân thật.” “Những người khác cho rằng, ‘Giáo lý của họ quá nghiêm khắc; họ làm cho con đường lên thiên đàng quá hẹp.’ Và đây thực ra là lời phản đối ban đầu, (cũng gần như là lời phản đối duy nhất trong một thời gian,) và ẩn giấu đằng sau hàng ngàn lời phản đối khác xuất hiện dưới nhiều hình thức. Nhưng họ có làm cho con đường lên thiên đàng hẹp hơn Chúa chúng ta và các sứ đồ Ngài đã làm không? Giáo lý của họ có nghiêm khắc hơn giáo lý của Kinh Thánh không? Chỉ cần xem xét một vài câu rõ ràng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.

(Mác 12:30)Vả, ta bảo các ngươi, đến ngày phán xét, người ta sẽ khai ra mọi lời hư không mà mình đã nói; (Ma-thi-ơ 12:36) Vậy, anh em hoặc ăn, hoặc uống, hay là làm sự chi khác, hãy vì sự vinh hiển Đức Chúa Trời mà làm. (I Cô-rinh-tô 10:31) GC 259.3

“Nếu giáo lý của họ nghiêm khắc hơn điều này, thì họ đáng trách; nhưng trong lương tâm quý vị biết rằng không phải vậy. Và ai có thể bớt đi dù chỉ một chút mà không làm hư hoại Lời Đức Chúa Trời? Có thể tìm thấy bất kỳ người quản gia nào của các sự mầu nhiệm Đức Chúa Trời là trung tín nếu người ấy thay đổi bất kỳ phần nào của kho báu thánh đó không? Không. Người ấy không thể giảm nhẹ điều gì, không thể làm dịu điều gì; người ấy buộc phải tuyên bố với mọi người, ‘Tôi không thể hạ Kinh Thánh xuống cho hợp với khẩu vị của quý vị. Quý vị phải vươn lên đến nó, nếu không sẽ hư mất đời đời.’ Đây là căn cứ thực sự của lời kêu ca phổ biến khác về ‘sự thiếu lòng yêu thương của những người này.’ Thiếu lòng yêu thương sao? Ở điểm nào? Họ không cho kẻ đói ăn và cho kẻ trần truồng mặc sao? ‘Không; đó không phải là vấn đề: họ không thiếu sót trong điều này: nhưng họ thiếu lòng yêu thương trong sự xét đoán! họ nghĩ rằng không ai có thể được cứu ngoại trừ những người theo đường lối của họ.’"—Sách đã dẫn, tập 3, trang 152, 153. GC 260.1

Sự suy đồi thuộc linh từng bày tỏ ra tại nước Anh ngay trước thời của Wesley phần lớn là kết quả của sự dạy dỗ phản luật pháp (antinomian). Nhiều người quả quyết rằng Đấng Christ đã bãi bỏ luật pháp đạo đức và vì thế những người Cơ-đốc không còn bổn phận nào phải tuân giữ nó nữa; rằng người tin Chúa được giải thoát khỏi “ách nô lệ của việc lành.” Những kẻ khác, dầu thừa nhận luật pháp là vĩnh viễn, lại tuyên bố rằng các mục sư không cần phải khuyên bảo dân chúng vâng giữ các điều răn của luật pháp, vì những ai mà Đức Chúa Trời đã chọn để được cứu rỗi sẽ, “bởi sự thôi thúc không thể cưỡng lại của ân điển thiêng liêng, được dẫn dắt vào việc thực hành sự tin kính và nhân đức,” trong khi những kẻ bị định cho sự hư mất đời đời “không có quyền năng để vâng theo luật pháp của Đức Chúa Trời.” GC 260.2

Những kẻ khác, cũng cho rằng “những người được chọn không thể sa ngã khỏi ân điển hay đánh mất sự ưu ái của Đức Chúa Trời,” đã đi đến một kết luận còn ghê tởm hơn nữa rằng “các hành động gian ác mà họ phạm phải thật ra không phải là tội lỗi, cũng không được coi là những trường hợp vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời, và do đó, họ không cần phải xưng tội mình ra hoặc từ bỏ chúng bằng sự ăn năn.”—McClintock and Strong, Cyclopedia, mục “Antinomians.” Vì thế, họ tuyên bố rằng ngay cả một trong những tội xấu xa nhất, “được coi chung là một sự vi phạm tày trời luật pháp của Đức Chúa Trời, cũng không phải là tội lỗi trước mắt Đức Chúa Trời,” nếu được phạm bởi một trong những người được chọn, “vì một trong những đặc điểm cốt yếu và riêng biệt của những người được chọn, ấy là họ không thể làm bất cứ điều gì làm Đức Chúa Trời phật lòng hoặc bị luật pháp cấm đoán.” GC 261.1

Những giáo lý quái gở này về bản chất cũng giống như sự dạy dỗ về sau của các nhà giáo dục và thần học được ưa chuộng—rằng không có luật pháp thiêng liêng bất di bất dịch nào làm tiêu chuẩn của điều phải, nhưng tiêu chuẩn đạo đức được chính xã hội chỉ định, và luôn luôn phải chịu sự thay đổi. Tất cả những tư tưởng này đều được truyền cảm hứng bởi cùng một thần chủ mưu—bởi kẻ mà, ngay giữa những cư dân vô tội nơi thiên đàng, đã khởi sự công việc tìm cách phá đổ những ràng buộc công bình của luật pháp Đức Chúa Trời. GC 261.2

Giáo lý về các sắc lệnh thiêng liêng, ấn định bất di bất dịch tính cách của con người, đã dẫn nhiều người đến chỗ thực sự chối bỏ luật pháp của Đức Chúa Trời. Wesley đã kiên định chống lại những sai lầm của các giáo sư phản luật pháp và cho thấy rằng giáo lý này, vốn dẫn đến chủ nghĩa phản luật pháp, là trái với Kinh Thánh. Vả, ân điển Đức Chúa Trời hay cứu mọi người, đã được bày tỏ ra rồi.

(Tít 2:11)Ấy là một sự lành và đẹp mắt Đức Chúa Trời, là Cứu Chúa chúng ta, Ngài muốn cho mọi người được cứu rỗi và hiểu biết lẽ thật. Vì chỉ có một Đức Chúa Trời, và chỉ có một Đấng Trung bảo ở giữa Đức Chúa Trời và loài người, tức là Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, là người; Ngài đã phó chính mình Ngài làm giá chuộc mọi người. Ấy là lời chứng đã làm đúng kỳ (I Ti-mô-thê 2:3-6) Thần Linh của Đức Chúa Trời được ban cho cách rộng rãi để giúp mọi người nắm lấy phương tiện của sự cứu rỗi. Như vậy, Đấng Christ, “Sự Sáng thật,” “soi sáng mọi người đến trong thế gian.” Sự sáng này là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người. (Giăng 1:9) Loài người không được cứu rỗi là do chính họ cố ý từ chối món quà sự sống. GC 261.3

Để trả lời cho lời tuyên bố rằng khi Đấng Christ chịu chết thì các điều răn của Mười Điều Răn đã bị bãi bỏ cùng với luật nghi lễ, Wesley nói: “Luật pháp đạo đức, chứa đựng trong Mười Điều Răn và được các tiên tri củng cố, Ngài đã không cất bỏ đi. Mục đích của sự Ngài đến không phải là để thu hồi bất cứ phần nào của luật ấy. Đây là một luật pháp không bao giờ có thể bị phá vỡ, vốn ‘đứng vững như nhân chứng trung tín trên các từng trời.’ … Luật này đã có từ lúc khởi đầu của thế giới, được ‘viết ra không phải trên các bảng đá,’ nhưng trên tấm lòng của mọi con cái loài người, khi họ ra từ tay của Đấng Tạo Hóa. Và dầu những chữ từng được viết bởi ngón tay Đức Chúa Trời nay phần lớn đã bị tội lỗi làm mờ đi, nhưng chúng không thể bị xóa sạch hoàn toàn, chừng nào chúng ta còn có bất cứ ý thức nào về điều thiện và điều ác. Mọi phần của luật pháp này phải tồn tại có hiệu lực trên toàn thể nhân loại, và trong mọi thời đại; vì không phụ thuộc vào thời gian hay nơi chốn, hoặc bất cứ hoàn cảnh nào khác có thể thay đổi, nhưng vào bản tính của Đức Chúa Trời, và bản tính của con người, cùng mối tương quan bất biến giữa hai bên. GC 262.1

“‘Ta đến không phải để phá bỏ, mà để làm trọn.’ … Không còn nghi ngờ gì nữa, ý nghĩa của Ngài trong chỗ này (phù hợp với tất cả những gì đi trước và theo sau) là,—Ta đến để thiết lập luật ấy trong sự trọn vẹn của nó, mặc cho mọi sự giải thích sai lệch của loài người: Ta đến để đặt vào tầm nhìn đầy đủ và sáng rõ bất cứ điều gì tối tăm hay u ám trong đó: Ta đến để tuyên bố ý nghĩa đích thực và trọn vẹn của mỗi phần của luật ấy; để tỏ ra chiều dài và chiều rộng, toàn bộ phạm vi, của mỗi điều răn chứa đựng trong đó, và chiều cao cùng chiều sâu, sự tinh sạch và thuộc linh không thể hiểu thấu của nó trong mọi nhánh của nó.”—Wesley, bài giảng số 25. GC 262.2

Wesley tuyên bố sự hòa hợp trọn vẹn giữa luật pháp và tin lành. “Do đó, giữa luật pháp và tin lành có mối liên kết chặt chẽ nhất mà người ta có thể hình dung được. Một mặt, luật pháp liên tục dọn đường cho tin lành, và chỉ chúng ta đến với tin lành; mặt khác, tin lành liên tục dẫn chúng ta đến sự ứng nghiệm chính xác hơn về luật pháp. Chẳng hạn, luật pháp đòi hỏi chúng ta yêu mến Đức Chúa Trời, yêu mến người lân cận, có lòng nhu mì, khiêm nhường, hay là thánh khiết. Chúng ta cảm thấy rằng mình không đủ sức cho những điều ấy; phải, ‘đối với loài người điều đó là không thể;’ nhưng chúng ta thấy một lời hứa của Đức Chúa Trời ban cho chúng ta tình yêu thương ấy, và khiến chúng ta khiêm nhường, nhu mì, và thánh khiết: chúng ta nắm lấy tin lành này, nắm lấy tin vui này; việc ấy được làm thành cho chúng ta tùy theo đức tin chúng ta; và ‘sự công bình của luật pháp được ứng nghiệm trong chúng ta,’ bởi đức tin trong Đức Chúa Giê-su…. GC 263.1

“Trong hàng ngũ cao nhất của những kẻ thù của tin lành của Đấng Christ,” Wesley nói, “là những kẻ công khai và rõ ràng ‘xét đoán chính luật pháp,’ và ‘nói xấu luật pháp;’ là những kẻ dạy người ta phá vỡ (giải tán, tháo bỏ, cởi bỏ sự ràng buộc của) không chỉ một, dầu là nhỏ nhất hay lớn nhất, mà tất cả các điều răn cùng một lúc…. Điều kỳ lạ nhất trong tất cả những hoàn cảnh đi kèm với sự lừa dối mạnh mẽ này, ấy là những kẻ bị giao nộp cho nó thật sự tin rằng chúng tôn vinh Đấng Christ bằng cách lật đổ luật pháp của Ngài, và rằng chúng làm cao cả chức vụ của Ngài trong khi chúng phá hủy giáo lý của Ngài! Phải, chúng tôn vinh Ngài y như Giu-đa đã làm khi nói, ‘Lạy Thầy, chào Thầy, rồi hôn Ngài.’ Và Ngài có thể nói cách chính đáng với mỗi một kẻ trong chúng rằng, ‘Ngươi lấy cái hôn để phản Con Người sao?’ Đó chẳng gì khác hơn là phản Ngài bằng một cái hôn, khi nói đến huyết Ngài mà lại cất đi mão triều của Ngài; khi coi nhẹ bất cứ phần nào của luật pháp Ngài, dưới cái cớ là nâng cao tin lành của Ngài. Thật ra, không ai có thể thoát khỏi lời buộc tội này, tức là kẻ giảng đức tin theo cách nào mà hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp có khuynh hướng gạt bỏ bất cứ nhánh nào của sự vâng lời: kẻ giảng Đấng Christ theo cách hủy bỏ, hay làm suy yếu bằng bất cứ cách nào, dầu là điều răn nhỏ nhất của Đức Chúa Trời.”— Sách đã dẫn . GC 263.2

Đối với những kẻ khăng khăng rằng “việc giảng tin lành đáp ứng mọi mục đích của luật pháp,” Wesley đáp lại: “Điều này chúng tôi hoàn toàn phủ nhận. Nó không đáp ứng được mục đích thứ nhất của luật pháp, ấy là làm cho loài người nhận biết tội lỗi, đánh thức những kẻ vẫn còn ngủ mê trên bờ vực của địa ngục.” Sứ đồ Phao-lô tuyên bố rằng “bởi luật pháp mà người ta biết tội lỗi;” “và cho đến khi con người bị cáo trách về tội lỗi, thì người ấy sẽ không thật sự cảm thấy mình cần đến huyết chuộc tội của Đấng Christ…. ‘Kẻ nào mạnh khỏe,’ như chính Chúa chúng ta nhận xét, ‘không cần thầy thuốc đâu, song là kẻ có bệnh.’ Do đó, thật là vô lý khi đưa một thầy thuốc đến cho những kẻ mạnh khỏe, hoặc ít nhất là tự tưởng mình như vậy. Trước hết, anh phải làm cho họ nhận biết rằng họ đang bệnh; nếu không họ sẽ không cảm ơn anh về công lao của anh đâu. Cũng vô lý không kém khi đem Đấng Christ đến cho những kẻ có tấm lòng nguyên vẹn, chưa từng bao giờ bị tan vỡ.”— Sách đã dẫn., bài giảng số 35. GC 264.1

Như vậy, trong khi rao giảng tin lành về ân điển của Đức Chúa Trời, Wesley, giống như Thầy của mình, đã tìm cách “tôn cao luật pháp và làm cho nó được vinh hiển.” Ông đã trung tín hoàn thành công việc mà Đức Chúa Trời đã giao phó, và vinh hiển thay những kết quả mà ông được phép chứng kiến. Vào cuối cuộc đời dài hơn tám mươi năm của ông—với hơn nửa thế kỷ dành cho chức vụ lưu hành—số người công khai theo ông đã lên đến hơn nửa triệu linh hồn. Nhưng số đông những người nhờ công lao của ông đã được nâng lên khỏi sự đổ nát và suy đồi của tội lỗi để đạt đến một đời sống cao thượng và thanh sạch hơn, cùng với số người nhờ sự giảng dạy của ông đã đạt đến một kinh nghiệm sâu nhiệm và phong phú hơn, sẽ không bao giờ được biết đến cho đến khi toàn thể gia đình của những người được cứu chuộc được tập hợp vào nước Đức Chúa Trời. Cuộc đời ông trình bày một bài học vô giá cho mỗi Cơ-đốc nhân. Ước gì đức tin và sự khiêm nhường, lòng nhiệt thành không mệt mỏi, sự hy sinh bản thân và lòng tận hiến của người đầy tớ này của Đấng Christ được phản chiếu trong các hội thánh ngày nay! GC 264.2