Chương 12
12

Cuộc Cải Chánh Tại Pháp

Chương 12—Cuộc Cải chánh tại Pháp

Sau Sự Kháng Nghị tại Spires và Bản Tuyên Xưng Đức Tin tại Augsburg, là những biến cố đánh dấu sự đắc thắng của cuộc Cải chánh tại Đức, đã tiếp theo là những năm dài xung đột và tăm tối. Bị suy yếu bởi sự chia rẽ giữa những người ủng hộ, và bị tấn công bởi những kẻ thù hùng mạnh, đạo Tin Lành dường như sắp bị tiêu diệt hoàn toàn. Hằng ngàn người đã lấy huyết mình ấn chứng cho lời chứng của họ. Nội chiến bùng nổ; sự nghiệp Tin Lành bị phản bội bởi một trong những người lãnh đạo trung thành nhất; những nhà quý tộc cao thượng nhất trong số các vương hầu theo đạo cải chánh rơi vào tay hoàng đế và bị giải đi như tù binh từ thành này đến thành khác. Nhưng vào lúc dường như đắc thắng, hoàng đế lại bị đánh bại. Ông thấy con mồi bị giật khỏi tay mình, và cuối cùng ông buộc phải ban sự khoan dung cho những giáo lý mà cả đời ông đã tham vọng tiêu diệt. Ông đã đánh cược cả vương quốc, kho tàng, và chính sinh mạng mình vào việc dập tắt tà giáo. Nay ông thấy quân đội bị hao mòn trong trận mạc, ngân khố cạn kiệt, nhiều vương quốc của ông bị đe dọa bởi các cuộc nổi loạn, trong khi khắp mọi nơi đức tin mà ông đã cố công dập tắt vô ích lại đang lan rộng. Sạc-lơ V đã chiến đấu chống lại quyền năng toàn năng. Đức Chúa Trời đã phán: “Phải có sự sáng,” nhưng hoàng đế đã tìm cách giữ cho sự tối tăm không bị phá vỡ. Các mục đích của ông đều thất bại; và trong tuổi già đến sớm, kiệt sức bởi cuộc đấu tranh lâu dài, ông đã thoái vị và ẩn mình trong một tu viện. GC 211.1

Tại Thụy Sĩ, cũng như tại Đức, đã đến những ngày đen tối cho cuộc Cải chánh. Trong khi nhiều bang chấp nhận đức tin cải chánh, thì những bang khác lại mù quáng bám víu vào giáo lý của La-mã. Sự bắt bớ của họ đối với những người mong muốn tiếp nhận lẽ thật cuối cùng đã dẫn đến nội chiến. Zwingli và nhiều người đã hiệp một với ông trong công cuộc cải chánh đã ngã xuống nơi chiến trường đẫm máu Cappel. Oecolampadius, bị chế ngự bởi những tai họa khủng khiếp này, không lâu sau cũng qua đời. La-mã đắc thắng, và tại nhiều nơi dường như sắp giành lại tất cả những gì nàng đã mất. Nhưng Đấng mà các kế hoạch của Ngài có từ đời đời đã không bỏ rơi sự nghiệp hoặc dân sự của Ngài. Tay Ngài sẽ đem đến sự giải cứu cho họ. Tại các xứ khác, Ngài đã dấy lên những người lao động để đẩy mạnh công cuộc cải chánh. GC 211.2

Tại Pháp, trước khi danh Lu-thơ được nghe đến như một nhà Cải chánh, ngày mới đã bắt đầu ló dạng. Một trong những người đầu tiên bắt được ánh sáng là cụ Lefevre, một người có học vấn uyên thâm, một giáo sư tại Đại học Paris, và là một tín hữu Công Giáo chân thành và nhiệt thành. Trong những cuộc nghiên cứu của ông về văn chương cổ đại, sự chú ý của ông được hướng đến Kinh Thánh, và ông đã giới thiệu việc học Kinh Thánh cho các sinh viên của mình. GC 212.1

Lefevre là một người nhiệt tình tôn sùng các thánh đồ, và ông đã đảm nhận việc soạn thảo một bộ sử các thánh đồ và những người tử đạo như được thuật lại trong những truyền thuyết của hội thánh. Đây là một công trình đòi hỏi nhiều công sức; nhưng ông đã tiến được khá xa, thì nghĩ rằng ông có thể nhận được sự trợ giúp hữu ích từ Kinh Thánh, ông bắt đầu học Kinh Thánh với mục đích này. Tại đây quả thật ông tìm thấy các thánh đồ được bày tỏ, nhưng không phải những vị có trong danh sách của La-mã. Một luồng ánh sáng thiêng liêng tràn vào tâm trí ông. Kinh ngạc và ghê tởm, ông quay lưng khỏi công việc tự đặt cho mình và dâng mình cho Lời Đức Chúa Trời. Những lẽ thật quý báu mà ông tìm thấy tại đó, ông sớm bắt đầu giảng dạy. GC 212.2

Vào năm 1512, trước khi Lu-thơ hay Zwingli bắt đầu công cuộc cải chánh, Lefevre đã viết: “Chính Đức Chúa Trời ban cho chúng ta, bởi đức tin, sự công bình mà chỉ bởi ân điển mới xưng công bình cho đến sự sống đời đời."—Wylie, q. 13, ch. 1. Suy gẫm về những huyền nhiệm của sự cứu chuộc, ông đã thốt lên: “Ôi, sự vĩ đại khôn tả của cuộc trao đổi này,—Đấng Vô Tội bị kết án, và kẻ có tội được tha bổng; Đấng Ban Phước mang lấy sự rủa sả, và kẻ bị rủa sả được đem vào sự phước hạnh; Sự Sống chết đi, và kẻ chết được sống; Vinh Quang bị chìm trong tối tăm, và kẻ chỉ biết sự xấu hổ được mặc lấy vinh quang."—D’Aubigne, ấn bản Luân Đôn, q. 12, ch. 2. GC 212.3

Và trong khi giảng dạy rằng vinh quang của sự cứu rỗi chỉ thuộc về Đức Chúa Trời, ông cũng tuyên bố rằng bổn phận vâng lời thuộc về con người. “Nếu ngươi là một chi thể của hội thánh Đấng Christ,” ông nói, “thì ngươi là một chi thể của thân Ngài; nếu ngươi thuộc về thân Ngài, thì ngươi được đầy dẫy bản tánh thiêng liêng…. Ôi, nếu loài người có thể bước vào sự hiểu biết về đặc ân này, thì họ sẽ sống cách tinh sạch, trong sạch và thánh khiết biết bao, và khi so sánh với vinh quang trong họ,—vinh quang mà mắt xác thịt không thể thấy,—thì họ sẽ coi tất cả vinh quang của thế gian này là đáng khinh dể biết bao."— Sách đã dẫn, q. 12, ch. 2. GC 213.1

Có một số người trong số các sinh viên của Lefevre đã hết lòng lắng nghe những lời của ông, và là những người, lâu sau khi tiếng nói của thầy đã im lặng, vẫn tiếp tục rao truyền lẽ thật. Một trong số đó là William Farel. Là con của những cha mẹ tin kính, và được giáo dục để tiếp nhận giáo lý của hội thánh bằng một đức tin tuyệt đối, ông có thể, cùng với sứ đồ Phao-lô, tuyên bố về chính mình: Ví bằng họ muốn làm chứng về việc này, thì biết từ lâu ngày rồi, tôi là người Pha-ri-si, theo phe đó, rất là nghiêm hơn trong đạo chúng tôi.

(Công-vụ các Sứ-đồ 26:5)Là một tín đồ Công Giáo tận tụy, ông hừng hực nhiệt thành tiêu diệt tất cả những ai dám chống lại hội thánh. “Tôi sẽ nghiến răng như một con sói hung dữ,” sau này ông nói về giai đoạn này của đời mình, “khi nghe bất kỳ ai nói chống lại giáo hoàng."—Wylie, q. 13, ch. 2. Ông đã không mệt mỏi trong việc tôn sùng các thánh đồ, cùng với Lefevre đi vòng các nhà thờ ở Paris, thờ phượng tại các bàn thờ, và trang hoàng những thánh điện bằng những món quà. Nhưng những việc làm này không thể đem lại sự bình an cho linh hồn. Sự cáo trách về tội lỗi đã bám lấy ông, điều mà tất cả những việc đền tội ông đã thực hành đều không thể xua tan. Như lắng nghe một tiếng từ trời, ông nghe những lời của nhà Cải chánh: “Sự cứu rỗi là bởi ân điển.” “Đấng Vô Tội bị kết án, và kẻ phạm tội được tha bổng.” “Chỉ duy có thập tự giá của Đấng Christ mới mở được các cổng thiên đàng, và đóng lại các cổng âm phủ."— Sách đã dẫn, q. 13, ch. 2. GC 213.2

Farel vui mừng tiếp nhận lẽ thật. Bởi một sự hoán cải giống như của Phao-lô, ông quay lưng khỏi sự nô lệ của truyền thống để bước vào sự tự do của các con Đức Chúa Trời. “Thay vì tấm lòng giết người của một con sói dữ,” ông nói, ông trở lại “cách lặng lẽ như một con chiên hiền lành và vô hại, với tấm lòng hoàn toàn rút khỏi giáo hoàng, và dâng cho Đức Chúa Giê-su Christ."—D’Aubigne, q. 12, ch. 3. GC 214.1

Trong khi Lefevre tiếp tục truyền bá ánh sáng giữa các sinh viên của mình, thì Farel, vốn nhiệt thành trong sự nghiệp của Đấng Christ như ông đã từng nhiệt thành trong sự nghiệp của giáo hoàng, đã ra đi rao truyền lẽ thật nơi công cộng. Một chức sắc của hội thánh, giám mục thành Meaux, chẳng bao lâu sau đã hiệp một với họ. Những giáo sư khác có danh tiếng cao về tài năng và học vấn cũng gia nhập vào việc rao truyền tin lành, và tin lành đã thu phục được những người tin theo trong mọi tầng lớp, từ gia đình của những người thợ thủ công và nông dân đến cung điện của nhà vua. Em gái của Francis I, vị vua đang trị vì lúc bấy giờ, đã tiếp nhận đức tin cải chánh. Chính nhà vua, và hoàng thái hậu, trong một thời gian dường như đã có thiện cảm với đức tin ấy, và với những hy vọng cao, các nhà Cải chánh trông đợi đến lúc nước Pháp sẽ được chinh phục bởi tin lành. GC 214.2

Nhưng những hy vọng của họ đã không được thành tựu. Thử thách và bắt bớ đang chờ đợi các môn đồ của Đấng Christ. Tuy nhiên, điều này được che giấu cách thương xót khỏi mắt họ. Một thời kỳ bình an đã xen vào, để họ có thể được thêm sức mà đối diện với cơn bão tố; và cuộc Cải chánh đã tiến triển nhanh chóng. Giám mục thành Meaux đã lao khổ cách nhiệt thành trong giáo phận của chính mình để dạy dỗ cả hàng giáo phẩm lẫn dân chúng. Những thầy tế lễ dốt nát và vô luân bị loại bỏ, và, trong chừng mực có thể, được thay thế bởi những người có học vấn và lòng tin kính. Giám mục rất mong ước rằng dân của ông có thể tự mình tiếp cận Lời Đức Chúa Trời, và điều này chẳng bao lâu đã được thực hiện. Lefevre đảm nhận việc dịch Tân Ước; và đúng vào lúc Kinh Thánh tiếng Đức của Lu-thơ đang được xuất bản tại Wittenberg, thì bản Tân Ước tiếng Pháp được xuất bản tại Meaux. Giám mục không tiếc công sức hay chi phí để phổ biến nó trong các giáo xứ của mình, và chẳng bao lâu những nông dân tại Meaux đã có được Kinh Thánh trong tay. GC 214.3

Như những khách lữ hành sắp chết khát vui mừng đón nhận một suối nước sống, thì các linh hồn này cũng đã tiếp nhận sứ điệp từ trời như vậy. Những người lao động ngoài đồng, những người thợ thủ công trong xưởng, đã làm vui công việc hằng ngày của họ bằng cách nói về những lẽ thật quý báu của Kinh Thánh. Vào buổi tối, thay vì lui tới các quán rượu, họ tụ họp tại nhà của nhau để đọc Lời Đức Chúa Trời và hiệp nhau trong sự cầu nguyện và ngợi khen. Một sự thay đổi lớn chẳng bao lâu đã được tỏ ra trong những cộng đồng này. Dầu thuộc về tầng lớp thấp kém nhất, là những nông dân không học thức và lao động cực nhọc, thì quyền năng cải hóa, nâng cao của ân điển thiêng liêng đã được thấy trong đời sống họ. Khiêm nhường, yêu thương, và thánh khiết, họ đã đứng như những chứng nhân cho điều mà tin lành sẽ thực hiện cho những ai tiếp nhận nó cách chân thành. GC 215.1

Ánh sáng được nhen lên tại Meaux đã tỏa chiếu đến những nơi xa. Mỗi ngày số người trở lại đạo càng gia tăng. Cơn thạnh nộ của hàng giáo phẩm trong một thời gian bị nhà vua kiềm chế, vì vua khinh thường sự cố chấp hẹp hòi của các thầy tu; nhưng cuối cùng các nhà lãnh đạo giáo hoàng đã thắng thế. Giờ đây giàn hỏa thiêu đã được dựng lên. Vị giám mục thành Meaux, bị buộc phải chọn giữa lửa thiêu và sự chối bỏ đức tin, đã chọn con đường dễ dàng hơn; nhưng mặc dầu người lãnh đạo sa ngã, đoàn chiên của ông vẫn đứng vững. Nhiều người đã làm chứng cho lẽ thật giữa ngọn lửa. Bằng lòng can đảm và sự trung tín nơi giàn hỏa thiêu, những Cơ-đốc nhân khiêm nhường này đã nói với hàng ngàn người mà trong những ngày bình an chưa hề nghe lời chứng của họ. GC 215.2

Không chỉ những người khiêm nhường và nghèo khó mới dám làm chứng cho Đấng Christ giữa cảnh đau khổ và khinh bỉ. Trong những lâu đài và cung điện nguy nga cũng có những linh hồn cao quý coi trọng lẽ thật hơn của cải, địa vị hay cả mạng sống. Bộ áo giáp vương giả đã che giấu một tinh thần cao thượng và kiên định hơn chiếc áo bào và mũ tế của giám mục. Louis de Berquin xuất thân dòng dõi quý tộc. Là một hiệp sĩ dũng cảm và lịch thiệp, ông tận tụy với việc học hành, phong thái nhã nhặn, và đạo đức không chỗ trách được. Một tác giả viết: “Ông là một tín đồ trung thành của các giáo lý giáo hoàng, siêng năng tham dự các thánh lễ và nghe giảng; … và ông đã đội vương miện lên tất cả các đức tính khác của mình bằng cách ghê tởm đặc biệt đối với phong trào Lu-thơ.” Nhưng, giống như nhiều người khác, được sự quan phòng dẫn đến Kinh Thánh, ông đã sửng sốt khi tìm thấy trong đó, “không phải các giáo lý của La-mã, nhưng là các giáo lý của Lu-thơ.” — Wylie, q. 13, ch. 9. Từ đó ông đã hiến dâng trọn vẹn chính mình cho công cuộc tin lành. GC 215.3

“Người học thức nhất trong hàng quý tộc Pháp,” với thiên tài và tài hùng biện, lòng can đảm bất khuất và nhiệt huyết anh hùng, cùng ảnh hưởng của ông tại triều đình — vì ông được vua yêu mến — đã khiến nhiều người xem ông như một người được định sẵn để trở thành nhà Cải chánh của đất nước mình. Beza nói: “Berquin hẳn đã là một Lu-thơ thứ hai, nếu ông đã tìm được nơi Francis I một công tước tuyển đế thứ hai.” “Ông còn tệ hơn Lu-thơ,” những người theo giáo hoàng kêu lên. — Ibid., q. 13, ch. 9. Quả thật ông bị những người La-mã ở Pháp sợ hãi hơn. Họ đã tống ông vào ngục như một kẻ dị giáo, nhưng ông đã được nhà vua trả tự do. Trong nhiều năm cuộc đấu tranh tiếp diễn. Francis, dao động giữa La-mã và cuộc Cải chánh, lúc thì dung thứ lúc thì kiềm chế nhiệt huyết dữ dội của các thầy tu. Berquin bị các thẩm quyền giáo hoàng bắt giam ba lần, chỉ để được nhà vua thả ra, vì vua, vì khâm phục thiên tài và phẩm cách cao quý của ông, đã từ chối giao nộp ông cho lòng thù hận của hàng giáo phẩm. GC 216.1

Berquin đã nhiều lần được cảnh báo về mối nguy hiểm đang đe dọa ông tại Pháp, và được khuyên hãy noi theo bước chân của những người đã tìm được sự an toàn trong sự lưu vong tự nguyện. Erasmus nhút nhát và xu thời, người dù với tất cả sự rực rỡ của học vấn mình vẫn thiếu sự vĩ đại về mặt đạo đức đặt mạng sống và danh dự phụ thuộc vào lẽ thật, đã viết cho Berquin: “Hãy xin được phái đi làm đại sứ tại một nước nào đó; hãy đi và du hành ở nước Đức. Ngài biết Beda và những người như ông ta — ông ta là một con quái vật ngàn đầu, phun nọc độc về mọi phía. Kẻ thù của ngài có tên là quân đoàn. Dù chính nghĩa của ngài có tốt hơn chính nghĩa của Đức Chúa Giê-su Christ, họ cũng sẽ không để ngài yên cho đến khi đã hủy diệt ngài một cách thảm thương. Đừng quá tin cậy vào sự bảo vệ của nhà vua. Dù thế nào đi nữa, xin đừng làm tôi liên lụy với khoa thần học.” — Ibid., q. 13, ch. 9. GC 216.2

Nhưng khi các mối nguy càng dày đặc, nhiệt huyết của Berquin lại càng mạnh mẽ hơn. Thay vì chấp nhận lời khuyên khôn khéo và vị kỷ của Erasmus, ông quyết định thực hiện những biện pháp táo bạo hơn nữa. Ông không chỉ đứng lên bênh vực lẽ thật, mà còn tấn công sai lầm. Lời cáo buộc dị giáo mà những người La-mã đang tìm cách gán cho ông, ông sẽ gán ngược lại cho họ. Những người chống đối năng nổ và cay đắng nhất của ông là các tiến sĩ uyên bác và các thầy tu của khoa thần học tại Đại học Paris danh tiếng, một trong những thẩm quyền giáo hội cao nhất cả trong thành phố lẫn trên cả nước. Từ các tác phẩm của những tiến sĩ này, Berquin đã rút ra mười hai luận đề mà ông công khai tuyên bố là “trái với Kinh Thánh, và dị giáo;” và ông kêu gọi nhà vua làm quan tòa trong cuộc tranh luận này. GC 216.3

Nhà vua, không phản đối việc đem ra đối chiếu quyền lực và sự sắc sảo của hai bên địch thủ, và vui mừng có cơ hội hạ bệ lòng kiêu hãnh của những thầy tu ngạo mạn ấy, đã truyền cho những người La-mã phải bảo vệ chính nghĩa của mình bằng Kinh Thánh. Họ biết rất rõ rằng vũ khí này sẽ chẳng giúp được gì cho họ; tù đày, tra tấn và giàn hỏa thiêu là những vũ khí mà họ biết sử dụng thành thạo hơn. Giờ đây tình thế đã đảo ngược, và họ thấy mình sắp rơi vào chính cái hố mà họ đã hy vọng xô Berquin xuống. Trong sự kinh ngạc, họ nhìn quanh để tìm một lối thoát. GC 217.1

“Đúng vào lúc đó, một pho tượng Đức Trinh Nữ ở góc một đường phố đã bị cắt xén.” Trong thành phố đã có sự xôn xao lớn. Đoàn đoàn lớp lớp người kéo đến nơi ấy, với những lời than khóc và phẫn nộ. Nhà vua cũng xúc động sâu sắc. Đây là một lợi thế mà các thầy tu có thể tận dụng tốt, và họ đã nhanh chóng khai thác nó. “Đây là những trái của các giáo lý của Berquin,” họ kêu lên. “Mọi sự sắp bị lật đổ — tôn giáo, luật pháp, cả ngai vàng — bởi âm mưu Lu-thơ này.” — Ibid., q. 13, ch. 9. GC 217.2

Một lần nữa Berquin bị bắt giữ. Nhà vua đã rời khỏi Paris, và thế là các thầy tu được tự do làm theo ý mình. Nhà Cải chánh bị xét xử và bị kết án tử hình, và e rằng Francis có thể vẫn còn can thiệp để cứu ông, bản án đã được thi hành ngay trong ngày nó được tuyên đọc. Vào buổi trưa, Berquin bị dẫn đến pháp trường. Một đám đông khổng lồ tụ tập để chứng kiến sự việc, và có nhiều người với sự kinh ngạc và áy náy đã thấy rằng nạn nhân được chọn ra từ những gia đình quý tộc tốt nhất và dũng cảm nhất của nước Pháp. Sự kinh ngạc, phẫn nộ, khinh bỉ và lòng thù hận cay đắng làm tối sầm khuôn mặt của đám đông đang cuồn cuộn ấy; nhưng trên một khuôn mặt thì không có bóng tối nào. Tư tưởng của người tử đạo ở xa cảnh hỗn loạn ấy; ông chỉ ý thức được sự hiện diện của Chúa mình. GC 217.3

Chiếc xe bò thảm hại mà ông ngồi trên, những khuôn mặt cau có của những kẻ bắt bớ ông, cái chết khủng khiếp mà ông đang đi đến — ông không màng đến những điều đó; Đấng hằng sống, đã chết, và nay sống đời đời, và cầm chìa khóa của sự chết và âm phủ, đang ở bên ông. Gương mặt Berquin rạng rỡ ánh sáng và sự bình an của thiên đàng. Ông đã mặc áo quần đẹp đẽ, khoác “một chiếc áo choàng nhung, một áo chẽn bằng sa-tanh và gấm, cùng đôi vớ dài màu vàng.” — D’Aubigne, History of the Reformation in Europe in the Time of Calvin, q. 2, ch. 16. Ông sắp làm chứng cho đức tin của mình trước Vua của các vua và vũ trụ đang chứng kiến, và không một dấu hiệu tang tóc nào được phép phủ nhận niềm vui của ông. GC 218.1

Khi đoàn diễu hành chậm rãi tiến qua các đường phố đông đúc, dân chúng ngạc nhiên nhìn thấy sự bình an không gợn mây và sự đắc thắng vui mừng trong dáng vẻ và cử chỉ của ông. Họ nói: “Ông giống như một người ngồi trong đền thờ, suy gẫm về những điều thánh.” — Wylie, q. 13, ch. 9. GC 218.2

Tại giàn hỏa thiêu, Berquin cố nói vài lời với dân chúng; nhưng các thầy tu, sợ hệ quả, đã bắt đầu la hét, và binh lính khua vang vũ khí, và tiếng huyên náo của chúng đã át đi tiếng nói của người tử đạo. Thế là vào năm 1529 thẩm quyền văn học và giáo hội cao nhất của Paris văn hiến “đã nêu gương đê tiện cho quần chúng năm 1793 trong việc dập tắt trên đoạn đầu đài những lời thánh của người sắp chết.” — Ibid., q. 13, ch. 9. GC 218.3

Berquin bị siết cổ, và thi thể ông bị thiêu trong ngọn lửa. Tin ông qua đời đã khiến những người bạn của cuộc Cải chánh khắp nước Pháp đau buồn. Nhưng tấm gương của ông không bị mất đi. “Chúng tôi cũng sẵn sàng,” những người làm chứng cho lẽ thật nói, “sẵn sàng vui vẻ đón nhận cái chết, đặt mắt mình trên sự sống sẽ đến.” — D’Aubigne, History of the Reformation in Europe in the Time of Calvin, q. 2, ch. 16. GC 218.4

Trong cuộc bắt bớ tại Meaux, các giáo sư của đức tin cải chánh bị tước giấy phép giảng đạo, và họ phải ra đi đến những cánh đồng khác. Sau một thời gian, Lefevre tìm đường sang Đức. Farel trở về thành phố quê hương ông ở miền đông nước Pháp, để truyền bá ánh sáng tại chốn quê nhà thời thơ ấu. Tin tức về những gì đang xảy ra tại Meaux đã được loan đi, và lẽ thật mà ông giảng dạy với lòng sốt sắng không sợ hãi đã tìm được những người lắng nghe. Chẳng bao lâu, nhà cầm quyền nổi giận tìm cách bịt miệng ông, và ông bị trục xuất khỏi thành phố. Dầu không còn có thể làm việc công khai, ông vẫn đi qua các đồng bằng và làng mạc, giảng dạy trong các tư gia và trên những đồng cỏ hẻo lánh, tìm nơi trú ẩn trong các khu rừng và giữa những hang đá vốn là nơi lui tới của ông thuở thiếu thời. Đức Chúa Trời đang chuẩn bị ông cho những thử thách lớn hơn. “Những thập tự giá, những cuộc bắt bớ, và những mưu chước của Sa-tan mà tôi đã được báo trước, vẫn không thiếu,” ông nói; “chúng thậm chí còn nặng nề hơn nhiều so với sức tôi có thể chịu đựng; nhưng Đức Chúa Trời là Cha tôi; Ngài đã ban và sẽ luôn ban cho tôi sức mạnh mà tôi cần.” — D’Aubigne, History of the Reformation of the Sixteenth Century, b. 12, ch. 9. GC 219.1

Cũng như trong thời các sứ đồ, sự bắt bớ đã “giúp cho tin lành được lan ra.” Hỡi anh em, tôi muốn anh em biết rằng điều xảy đến cho tôi đã giúp thêm sự tấn tới cho đạo Tin lành,

(Phi-líp 1:12)Bị đuổi khỏi Paris và Meaux, “những kẻ đã bị tản lạc đi từ nơi nầy đến nơi khác, truyền giảng đạo tin lành.” Vậy, những kẻ đã bị tan lạc đi từ nơi này đến nơi khác, truyền giảng đạo Tin lành. (Công-vụ các Sứ-đồ 8:4) Và như vậy ánh sáng đã tìm đường đến nhiều tỉnh xa xôi của nước Pháp. GC 219.2

Đức Chúa Trời vẫn đang chuẩn bị những người làm việc để mở rộng công cuộc của Ngài. Trong một trường học tại Paris có một thanh niên trầm tư, điềm đạm, đã tỏ ra là một trí tuệ mạnh mẽ và sắc sảo, đáng chú ý không chỉ vì sự không chỗ trách được trong đời sống mà còn vì lòng nhiệt thành trí tuệ và sự tận tụy tôn giáo. Thiên tài và sự chuyên cần của ông sớm khiến ông trở thành niềm tự hào của trường, và người ta tin chắc rằng John Calvin sẽ trở thành một trong những người bênh vực tài năng nhất và đáng kính nhất của hội thánh. Nhưng một tia sáng thiêng liêng đã xuyên qua cả những bức tường của chủ nghĩa kinh viện và mê tín đang vây quanh Calvin. Ông nghe nói đến những giáo lý mới với một sự rùng mình, không hề nghi ngờ rằng những kẻ dị giáo đáng chịu ngọn lửa mà họ bị giao cho. Tuy nhiên, một cách vô tình, ông bị đưa đến đối diện với tà thuyết ấy và buộc phải thử nghiệm sức mạnh của thần học La-mã để chống lại sự giảng dạy Tin Lành. GC 219.3

Một người anh em họ của Calvin, đã gia nhập các nhà Cải chánh, đang ở Paris. Hai người bà con thường gặp nhau và cùng bàn luận những vấn đề đang làm náo động thế giới Cơ-đốc Giáo. “Chỉ có hai tôn giáo trong thế gian,” Olivetan, người Tin lành, nói. “Một loại tôn giáo là những tôn giáo do loài người bày ra, trong tất cả các tôn giáo ấy, con người tự cứu mình bằng các nghi lễ và việc lành; loại kia là tôn giáo duy nhất được mặc khải trong Kinh Thánh, dạy con người trông đợi sự cứu rỗi chỉ từ ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời.” GC 220.1

“Tôi sẽ không nghe theo những giáo lý mới của anh,” Calvin kêu lên; “anh tưởng tôi đã sống trong sự sai lầm suốt cuộc đời tôi sao?” — Wylie, b. 13, ch. 7. GC 220.2

Nhưng những tư tưởng đã được khơi dậy trong tâm trí ông mà ông không thể tùy ý xua đuổi được. Một mình trong phòng, ông suy ngẫm về lời của người anh em họ. Sự cáo trách về tội lỗi bám lấy ông; ông thấy mình, không có Đấng trung bảo, đứng trước một vị Quan án thánh khiết và công bình. Sự cầu thay của các thánh đồ, việc lành, các nghi lễ của hội thánh — tất cả đều bất lực để chuộc tội. Ông không thấy gì trước mắt ngoài sự tối tăm của nỗi tuyệt vọng đời đời. Các tiến sĩ của hội thánh đã cố gắng vô ích để xoa dịu nỗi khốn khổ của ông. Xưng tội, đền tội đã được áp dụng nhưng vô ích; chúng không thể hòa giải linh hồn với Đức Chúa Trời. GC 220.3

Trong khi vẫn còn vật lộn với những cuộc chiến vô ích ấy, một ngày kia tình cờ Calvin đến viếng thăm một trong các công trường, chứng kiến ở đó sự thiêu sống một kẻ bị coi là dị giáo. Ông đầy lòng kinh ngạc trước vẻ bình an đọng trên gương mặt người tử đạo. Giữa những cực hình của cái chết khủng khiếp ấy, và dưới sự kết án còn đáng sợ hơn của hội thánh, người ấy bày tỏ một đức tin và lòng can đảm mà chàng sinh viên trẻ đau đớn so sánh với sự tuyệt vọng và tối tăm của chính mình, dầu đang sống trong sự vâng phục nghiêm nhặt nhất đối với hội thánh. Ông biết rằng những kẻ bị gọi là dị giáo đặt đức tin của họ trên Kinh Thánh. Ông quyết định nghiên cứu Kinh Thánh, và tìm cho ra, nếu có thể, bí quyết của niềm vui họ có được. GC 220.4

Trong Kinh Thánh, ông đã tìm thấy Đấng Christ. “Ôi Cha,” ông kêu lên, “sự hy sinh của Ngài đã làm nguôi cơn thạnh nộ của Cha; huyết Ngài đã rửa sạch những ô uế của con; thập tự giá Ngài đã mang lấy sự rủa sả của con; sự chết của Ngài đã chuộc tội cho con. Chúng con đã tự bày ra cho mình nhiều điều dại dột vô ích, nhưng Cha đã đặt Lời Cha trước mặt con như một ngọn đuốc, và Cha đã đụng đến lòng con, để con có thể gớm ghét mọi công đức nào khác ngoài công đức của Đức Chúa Giê-su.” — Martyn, vol. 3, ch. 13. GC 221.1

Calvin đã được đào tạo để làm thầy tế lễ. Khi mới lên mười hai tuổi, ông đã được bổ nhiệm vào chức tuyên úy của một nhà thờ nhỏ, và đầu ông đã bị giám mục cạo theo giáo luật của hội thánh. Ông không nhận chức thánh, cũng không thi hành nhiệm vụ của một thầy tế lễ, nhưng ông trở thành một thành viên của hàng giáo phẩm, giữ chức danh của chức vụ ấy và nhận một khoản trợ cấp vì chức vụ đó. GC 221.2

Bấy giờ, cảm thấy mình không thể nào trở thành thầy tế lễ, ông tạm chuyển sang nghiên cứu luật học, nhưng cuối cùng từ bỏ ý định ấy và quyết tâm dâng cả đời mình cho tin lành. Nhưng ông ngần ngại trở thành một giáo sư công khai. Ông vốn rụt rè, và mang nặng ý thức về trách nhiệm nặng nề của địa vị ấy, và ông vẫn muốn dành thì giờ cho việc học. Tuy nhiên, những lời khẩn khoản tha thiết của bạn bè cuối cùng đã khiến ông đồng ý. “Thật là kỳ diệu,” ông nói, “rằng một người xuất thân thấp hèn như tôi lại được nâng lên địa vị cao trọng dường ấy.” — Wylie, b. 13, ch. 9. GC 221.3

Calvin lặng lẽ bước vào công việc của mình, và lời ông như sương sa xuống làm tươi mát đất. Ông đã rời Paris, và lúc bấy giờ đang ở trong một thị trấn miền tỉnh dưới sự che chở của công chúa Margaret, vốn yêu mến tin lành và mở rộng sự bảo hộ cho các môn đồ của nó. Calvin vẫn còn là một thanh niên, với phong thái dịu dàng, khiêm tốn. Công việc của ông bắt đầu với dân chúng tại nhà họ. Giữa những người trong gia đình, ông đọc Kinh Thánh và mở ra các lẽ thật của sự cứu rỗi. Những người đã nghe sứ điệp ấy đem tin lành đến cho người khác, và chẳng bao lâu, người giáo sư ấy đi xa khỏi thành phố đến các thị trấn và xóm làng lân cận. Ông tìm được lối vào cả lâu đài lẫn túp lều, và ông tiến bước, đặt nền móng cho các hội thánh sẽ sản sinh ra những chứng nhân can đảm cho lẽ thật. GC 221.4

Vài tháng sau, ông lại có mặt ở Paris. Có một sự xôn xao khác thường trong giới học giả và các bậc bác học. Việc nghiên cứu các cổ ngữ đã dẫn người ta đến với Kinh Thánh, và nhiều người dầu lòng chưa được chạm đến bởi các lẽ thật của Kinh Thánh vẫn hăng say bàn luận về chúng, thậm chí còn ra sức đánh đổ những người bênh vực Giáo hội La-mã. Calvin, dầu là một chiến sĩ có tài trong lĩnh vực tranh luận thần học, có một sứ mệnh cao cả hơn là sứ mệnh của những học giả ồn ào ấy. Tâm trí người ta đã được khuấy động, và bây giờ là lúc mở lẽ thật cho họ. Trong khi các giảng đường của các đại học đầy tiếng ầm ĩ của các cuộc tranh luận thần học, Calvin đi từ nhà nầy đến nhà khác, mở Kinh Thánh cho dân chúng, và nói với họ về Đấng Christ và sự đóng đinh của Ngài. GC 222.1

Trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, Paris sẽ nhận được một lời mời nữa để tiếp nhận tin lành. Lời kêu gọi của Lefevre và Farel đã bị khước từ, nhưng một lần nữa sứ điệp sẽ được mọi tầng lớp trong kinh đô lớn ấy nghe đến. Nhà vua, vì những lý do chính trị, vẫn chưa hoàn toàn đứng về phía La-mã chống lại cuộc Cải chánh. Margaret vẫn còn bám lấy hy vọng rằng Tin Lành sẽ thắng thế tại Pháp. Bà quyết rằng đức tin cải chánh phải được giảng tại Paris. Trong lúc vua vắng mặt, bà truyền cho một mục sư Tin lành giảng trong các nhà thờ của thành phố. Khi việc nầy bị các chức sắc giáo hoàng cấm đoán, công chúa bèn mở cửa cung điện. Một phòng được bố trí làm nhà nguyện, và có thông báo rằng mỗi ngày, vào một giờ nhất định, sẽ có một bài giảng, và dân chúng thuộc mọi cấp bậc và địa vị đều được mời đến dự. Đoàn dân tuôn đến dự lễ. Không chỉ nhà nguyện, mà cả các tiền sảnh và các phòng lớn đều chật ních. Mỗi ngày hàng ngàn người tập hợp — các nhà quý tộc, chính khách, luật sư, thương gia và thợ thủ công. Nhà vua, thay vì cấm các buổi nhóm, lại ra lệnh mở cửa hai nhà thờ tại Paris. Chưa bao giờ thành phố lại được Lời Đức Chúa Trời làm cho rúng động đến thế. Thần linh của sự sống từ thiên đàng dường như phà trên dân chúng. Sự tiết độ, thanh sạch, trật tự và siêng năng đang thay thế cho sự say sưa, dâm đãng, tranh cạnh và biếng nhác. GC 222.2

Nhưng hàng giáo phẩm không ngồi yên. Nhà vua vẫn từ chối can thiệp để ngăn chặn việc rao giảng, nên họ quay sang quần chúng. Không biện pháp nào bị bỏ qua để khơi dậy nỗi sợ hãi, định kiến và sự cuồng tín của đám đông dốt nát và mê tín. Mù quáng chịu khuất phục trước các giáo sư giả dối của mình, thành Pa-ri, giống như thành Giê-ru-sa-lem ngày xưa, đã không nhận biết thời kỳ thăm viếng của mình, cũng không biết những điều thuộc về sự bình an của mình. Trong hai năm, Lời Đức Chúa Trời được rao giảng tại thủ đô; nhưng, dẫu có nhiều người tiếp nhận tin lành, phần đông dân chúng đã chối bỏ nó. Vua Phơ-răng-xoa đã tỏ vẻ khoan dung, chẳng qua chỉ để phục vụ cho mục đích riêng của mình, và phe giáo hoàng đã thành công trong việc giành lại quyền thống trị. Một lần nữa, các nhà thờ bị đóng cửa, và giàn hỏa thiêu lại được dựng lên. GC 223.1

Calvin vẫn còn ở Pa-ri, tự chuẩn bị cho công việc tương lai bằng học tập, suy gẫm và cầu nguyện, đồng thời tiếp tục rao truyền ánh sáng. Tuy nhiên, cuối cùng, sự nghi ngờ đã đổ dồn vào ông. Các nhà cầm quyền quyết định đưa ông lên giàn hỏa. Tự cho mình được an toàn trong nơi ẩn náu, ông không nghĩ đến nguy hiểm, thì các bạn hữu vội vã chạy đến phòng ông báo tin rằng các viên chức đang trên đường đến bắt ông. Ngay lúc ấy, có tiếng gõ cửa lớn ở lối vào phía ngoài. Không còn một giây để mất. Một vài bạn hữu giữ chân các viên chức ở cửa, trong khi những người khác giúp nhà Cải chánh thoát xuống từ một cửa sổ, và ông nhanh chóng đi đến vùng ngoại ô thành phố. Tìm được nơi trú ẩn trong túp lều của một người thợ ủng hộ cuộc cải chánh, ông cải trang bằng y phục của chủ nhà, vác một cái cuốc lên vai, và bắt đầu cuộc hành trình. Đi về phía nam, ông lại tìm được nơi nương náu trong lãnh địa của bà Margaret. (Xem D’Aubigne, History of the Reformation in Europe in the Time of Calvin, q. 2, ch. 30.) GC 223.2

Tại đây, ông ở lại vài tháng, được an toàn dưới sự bảo vệ của những bạn hữu quyền thế, và tiếp tục việc nghiên cứu như trước. Nhưng lòng ông đặt nơi công cuộc truyền bá tin lành cho nước Pháp, và ông không thể ở yên lâu được. Ngay khi cơn bão đã hơi lắng xuống, ông tìm một cánh đồng lao động mới tại Poitiers, nơi có một trường đại học, và là nơi những quan điểm mới đã được đón nhận. Người ta thuộc mọi tầng lớp vui lòng lắng nghe tin lành. Không có sự rao giảng công khai, nhưng tại nhà của vị quan tòa trưởng, tại nơi ở của chính ông, và đôi khi trong một khu vườn công cộng, Calvin mở ra những lời của sự sống đời đời cho những ai muốn lắng nghe. Một thời gian sau, khi số người nghe gia tăng, người ta nghĩ rằng tụ họp bên ngoài thành phố sẽ an toàn hơn. Một hang động bên sườn một khe núi sâu và hẹp, nơi cây cối và những tảng đá nhô ra làm cho sự kín đáo càng thêm trọn vẹn, đã được chọn làm nơi nhóm họp. Từng nhóm nhỏ, rời thành phố theo các lối khác nhau, tìm đường đến đó. Tại nơi hẻo lánh này, Kinh Thánh được đọc lớn tiếng và được giải nghĩa. Tại đây, lễ Tiệc Thánh của Chúa đã được cử hành lần đầu tiên bởi những người Tin lành của nước Pháp. Từ hội thánh nhỏ bé này, nhiều nhà truyền giáo trung tín đã được sai đi. GC 224.1

Một lần nữa Calvin trở về Pa-ri. Ngay cả lúc ấy, ông vẫn không thể từ bỏ hy vọng rằng nước Pháp như một quốc gia sẽ tiếp nhận cuộc Cải chánh. Nhưng ông thấy hầu như mọi cánh cửa công tác đều đã đóng lại. Dạy tin lành tức là đi thẳng con đường đến giàn hỏa, và cuối cùng ông quyết định sang nước Đức. Ông vừa rời khỏi nước Pháp thì một cơn bão ập xuống trên những người Tin lành, mà nếu ông còn ở lại, chắc hẳn đã cuốn ông vào sự hủy diệt chung. GC 224.2

Các nhà Cải chánh người Pháp, nóng lòng muốn thấy quê hương mình theo kịp nước Đức và Thụy Sĩ, đã quyết định giáng một đòn táo bạo vào những mê tín của La-mã, đòn ấy phải đánh thức cả dân tộc. Theo đó, trong một đêm, các tờ cáo thị công kích lễ mi-sa đã được dán khắp nước Pháp. Thay vì thúc đẩy cuộc cải chánh, hành động nhiệt thành nhưng thiếu suy xét này đã đem đến sự hủy diệt, không chỉ cho những người cổ súy nó, mà còn cho các bạn hữu của đức tin cải chánh trên toàn nước Pháp. Nó đã cho phe La-mã điều mà họ hằng ao ước—một cái cớ để đòi hủy diệt hoàn toàn những kẻ dị giáo như là những kẻ quấy rối nguy hiểm đối với sự vững bền của ngai vàng và sự bình an của quốc gia. GC 224.3

Bởi một bàn tay bí mật nào đó—chẳng biết là của một bạn hữu thiếu thận trọng hay một kẻ thù xảo quyệt—một trong những tờ cáo thị đã được dán lên cánh cửa phòng riêng của nhà vua. Nhà vua kinh hoàng tột độ. Trong tờ giấy ấy, những mê tín từng nhận được sự tôn kính qua bao thời đại bị tấn công không nương tay. Và sự táo bạo chưa từng thấy khi đưa những lời lẽ rõ ràng và gây chấn động ấy vào trước mặt hoàng thượng đã khơi dậy cơn thịnh nộ của nhà vua. Trong cơn sững sờ, ông đứng một lúc, run rẩy và không nói nên lời. Rồi cơn phẫn nộ của ông tuôn ra trong những lời khủng khiếp: “Hãy bắt tất cả những ai bị nghi ngờ theo tà giáo Lu-thơ, không phân biệt một ai. Ta sẽ diệt hết bọn chúng.— Sách đã dẫn, q. 4, ch. 10. Quân bài đã được tung ra. Nhà vua đã quyết định hoàn toàn ngả về phía La-mã. GC 225.1

Các biện pháp lập tức được thực hiện để bắt giữ mọi người theo Lu-thơ tại Pa-ri. Một người thợ thủ công nghèo, tín đồ của đức tin cải chánh, vốn quen triệu tập các tín hữu đến các buổi nhóm bí mật, đã bị bắt và, với sự đe dọa sẽ bị thiêu ngay lập tức trên giàn hỏa, bị buộc phải dẫn viên sứ giả của giáo hoàng đến nhà của từng người Tin lành trong thành. Ông kinh hãi lùi bước trước lời đề nghị đê hèn ấy, nhưng cuối cùng nỗi sợ ngọn lửa đã thắng, và ông đồng ý trở thành kẻ phản bội các anh em mình. Đi trước là vị chủ tế, và xung quanh là một đoàn thầy tế lễ, người cầm lư hương, thầy tu và lính tráng, Morin, viên mật thám của hoàng gia, cùng với kẻ phản bội, chậm rãi và lặng lẽ đi qua các đường phố trong thành. Bề ngoài, cuộc biểu dương này là để tôn vinh “bí tích thánh”, một hành động chuộc lỗi cho sự sỉ nhục mà những người phản kháng đã gây ra cho lễ mi-sa. Nhưng ẩn bên dưới cảnh diễu hành đó là một mục đích chết chóc. Khi đến trước nhà một người theo Lu-thơ, kẻ phản bội ra hiệu, nhưng không thốt ra lời nào. Đoàn diễu hành dừng lại, nhà bị xông vào, gia đình bị lôi ra và xiềng xích, và đoàn người khủng khiếp ấy tiếp tục đi tìm những nạn nhân mới. Chúng “không chừa một nhà nào, lớn hay nhỏ, kể cả các trường của Đại học Pa-ri…. Morin làm cho cả thành phải run sợ…. Đó là một thời kỳ khủng bố.”— Sách đã dẫn, q. 4, ch. 10. GC 225.2

Các nạn nhân bị hành quyết bằng những cực hình tàn nhẫn, có lệnh đặc biệt rằng lửa phải được hạ thấp để kéo dài sự đau đớn của họ. Nhưng họ chết như những kẻ đắc thắng. Sự kiên định của họ không hề lay chuyển, sự bình an của họ không bị mây mù che phủ. Những kẻ bắt bớ họ, bất lực trong việc lay chuyển tấm lòng sắt đá của họ, cảm thấy chính mình đã bại trận. “Các giàn hành quyết được phân bố khắp các khu vực của Pa-ri, và các cuộc thiêu đốt được tiến hành liên tục hết ngày này sang ngày khác, với dụng ý lan truyền nỗi kinh hoàng về tà giáo qua việc rải đều các cuộc hành quyết. Tuy nhiên, cuối cùng, lợi thế vẫn thuộc về tin lành. Cả Pa-ri đã được thấy những quan điểm mới có thể tạo nên những con người như thế nào. Không có tòa giảng nào bằng chính giàn hỏa của những người tử đạo. Niềm vui thanh thản rạng rỡ trên gương mặt của những người này khi họ bước đi… đến nơi hành quyết, sự anh hùng của họ khi đứng giữa ngọn lửa cay đắng, sự tha thứ hiền hòa của họ đối với những điều tổn thương, đã biến đổi, trong không ít trường hợp, cơn giận thành lòng thương xót, hận thù thành yêu thương, và biện hộ bằng sự hùng biện không thể cưỡng lại được cho tin lành.”—Wylie, q. 13, ch. 20. GC 226.1

Các thầy tế lễ, quyết giữ cơn cuồng nộ của quần chúng ở đỉnh điểm, đã loan truyền những lời cáo buộc khủng khiếp nhất chống lại những người Tin lành. Họ bị buộc tội âm mưu tàn sát những người Công Giáo, lật đổ chính quyền, và ám sát nhà vua. Không một bóng bằng chứng nào có thể được đưa ra để chứng minh cho những lời buộc tội này. Tuy nhiên, những lời tiên đoán về sự dữ này sẽ có ngày ứng nghiệm; trong những hoàn cảnh hoàn toàn khác, và từ những nguyên nhân có tính chất trái ngược. Những sự tàn ác mà những người Công Giáo gây ra cho những người Tin lành vô tội đã tích lũy thành một gánh nặng báo ứng, và trong các thế kỷ về sau đã gây nên chính số phận mà họ đã tiên đoán sẽ giáng xuống trên nhà vua, chính phủ của ông, và thần dân của ông; nhưng điều đó được thực hiện bởi những kẻ vô thần và bởi chính phe giáo hoàng. Không phải sự thiết lập, mà là sự đàn áp Tin Lành, đã đem đến cho nước Pháp những tai họa khủng khiếp này, ba trăm năm sau. GC 226.2

Sự nghi ngờ, ngờ vực và kinh hoàng giờ đây đã lan tràn trong mọi tầng lớp xã hội. Giữa cơn hoảng loạn chung, người ta mới thấy sự dạy dỗ của Lu-thơ đã bám rễ sâu đến mức nào trong tâm trí của những người đứng đầu về học vấn, ảnh hưởng và phẩm hạnh cao quý. Những vị trí tín nhiệm và danh dự bỗng nhiên bị bỏ trống. Các nghệ nhân, thợ in, học giả, giáo sư đại học, tác giả, và ngay cả các triều thần đều biến mất. Hàng trăm người chạy trốn khỏi Paris, tự đày mình khỏi quê hương, trong nhiều trường hợp đó là dấu hiệu đầu tiên cho thấy họ ủng hộ đức tin cải chánh. Những người Công Giáo ngơ ngác nhìn quanh khi nghĩ đến những kẻ dị giáo chưa bị phát hiện vẫn được dung thứ giữa vòng họ. Cơn thịnh nộ của họ trút xuống vô số nạn nhân thấp kém hơn đang nằm trong tay họ. Các ngục tù chật ních, và chính bầu không khí dường như tối sầm lại vì khói của những giàn hỏa thiêu được đốt lên cho những người xưng nhận tin lành. GC 227.1

Francis I đã tự hào là người dẫn đầu trong phong trào lớn phục hưng học thuật đánh dấu đầu thế kỷ mười sáu. Ông vui thích quy tụ về triều đình mình các văn nhân từ mọi quốc gia. Lòng yêu chuộng học thuật và sự khinh bỉ của ông đối với sự ngu dốt và mê tín của các tu sĩ, ít nhất một phần, đã dẫn đến mức độ khoan dung được ban cho cuộc cải chánh. Nhưng, với nhiệt tâm nhổ tận gốc tà giáo, vị bảo trợ học thuật này đã ban hành một sắc lệnh tuyên bố bãi bỏ việc in ấn trên toàn nước Pháp! Francis I là một trong nhiều ví dụ được ghi lại cho thấy văn hóa trí thức không phải là sự bảo đảm chống lại sự bất khoan dung và bắt bớ tôn giáo. GC 227.2

Nước Pháp, bằng một nghi lễ long trọng và công khai, phải cam kết hoàn toàn vào việc tiêu diệt Tin Lành. Các thầy tế đòi hỏi rằng sự xúc phạm đến Thiên đàng cao cả trong việc lên án thánh lễ phải được chuộc bằng máu, và nhà vua, thay mặt cho dân chúng, phải công khai phê chuẩn công việc khủng khiếp đó. GC 227.3

Ngày 21 tháng 1 năm 1535 được ấn định cho nghi lễ kinh hoàng ấy. Những nỗi sợ hãi mê tín và lòng căm ghét cuồng tín của cả quốc gia đã được khơi dậy. Paris chật ních đám đông từ khắp vùng lân cận đổ về tràn ngập các đường phố. Ngày ấy được mở đầu bằng một đoàn diễu hành đồ sộ và oai nghiêm. “Những ngôi nhà dọc theo lộ trình được treo vải tang, và những bàn thờ được dựng lên ở từng quãng.” Trước mỗi cánh cửa là một ngọn đuốc thắp sáng để tôn kính “bí tích thánh.” Trước bình minh, đoàn diễu hành tập họp tại hoàng cung. “Trước tiên là các lá cờ và thánh giá của các giáo xứ; tiếp theo xuất hiện các công dân, đi thành hàng đôi, mang theo những ngọn đuốc.” Bốn dòng tu sĩ theo sau, mỗi dòng trong y phục đặc trưng của mình. Rồi đến một bộ sưu tập đồ sộ các thánh tích nổi tiếng. Sau đó là các giáo phẩm cao cấp cưỡi ngựa trong áo choàng tía và đỏ thắm cùng đồ trang sức ngọc ngà, một đội ngũ lộng lẫy và lấp lánh. GC 228.1

“Bánh thánh được giám mục Paris khiêng dưới một chiếc lọng nguy nga, … được bốn hoàng tử hoàng tộc nâng đỡ…. Sau bánh thánh là nhà vua bước đi…. Ngày hôm đó Francis I không đội vương miện, cũng không mặc triều phục.” Với “đầu trần, mắt cúi xuống đất, và tay cầm một ngọn nến thắp sáng,” vua nước Pháp xuất hiện “trong tư cách một kẻ ăn năn."—Sđd., q. 13, ch. 21. Tại mỗi bàn thờ, ông cúi mình xuống trong sự khiêm nhượng, không phải vì những tật xấu làm ô uế linh hồn ông, cũng không vì máu vô tội làm vấy bẩn đôi tay ông, mà vì tội lỗi chí tử của những thần dân ông dám lên án thánh lễ. Theo sau ông là hoàng hậu và các quan chức triều đình, cũng đi thành hàng đôi, mỗi người cầm một ngọn đuốc thắp sáng. GC 228.2

Như một phần của các nghi thức trong ngày, chính quân vương đã diễn văn trước các quan chức cao cấp của vương quốc tại đại sảnh của dinh giám mục. Với vẻ mặt đau buồn, ông xuất hiện trước mặt họ và bằng những lời hùng biện cảm động, than khóc “tội ác, sự phạm thượng, ngày buồn thảm và nhục nhã” đã đổ xuống quốc gia. Và ông kêu gọi mọi thần dân trung thành hãy góp phần vào việc nhổ tận gốc tà giáo độc hại đang đe dọa nước Pháp bị hủy diệt. “Thật như ta là vua của các ngươi,” ông nói, “nếu ta biết một chi thể nào của chính ta bị vấy bẩn hay nhiễm phải sự thối rữa đáng ghê tởm này, ta sẽ giao nó cho các ngươi chặt đi…. Và hơn nữa, nếu ta thấy một đứa con nào của ta bị ô uế bởi nó, ta cũng không tha…. Chính ta sẽ giao nộp nó, và sẽ hiến dâng nó cho Đức Chúa Trời.” Nước mắt nghẹn ngào lời nói của ông, và cả hội chúng đều khóc, đồng thanh kêu lên: “Chúng tôi sẽ sống và chết cho đạo Công Giáo!"—D’Aubigne, History of the Reformation in Europe in the Time of Calvin, q. 4, ch. 12. GC 228.3

Khủng khiếp thay sự tối tăm đã bao trùm quốc gia đã từ chối ánh sáng lẽ thật. Ân điển “đem sự cứu rỗi đến” đã hiện ra; nhưng nước Pháp, sau khi chứng kiến quyền năng và sự thánh khiết của ân điển ấy, sau khi hàng ngàn người đã được lôi cuốn bởi vẻ đẹp thiêng liêng của nó, sau khi các thành phố và làng mạc đã được chiếu sáng bởi ánh rạng ngời của nó, lại quay đi, chọn lấy bóng tối thay vì ánh sáng. Họ đã chối bỏ món quà thiên thượng khi nó được ban cho họ. Họ đã gọi điều ác là điều thiện, và điều thiện là điều ác, cho đến khi họ trở thành nạn nhân của sự tự lừa dối cố ý của chính mình. Giờ đây, dù họ có thể thật sự tin rằng mình đang phục vụ Đức Chúa Trời khi bắt bớ dân sự Ngài, nhưng sự chân thành của họ không làm cho họ vô tội. Ánh sáng đáng lẽ đã cứu họ khỏi sự lừa dối, khỏi việc làm vấy máu linh hồn mình, họ đã cố ý chối bỏ. GC 229.1

Một lời thề long trọng để nhổ tận gốc tà giáo đã được thực hiện trong đại thánh đường, nơi mà gần ba thế kỷ sau, Nữ thần Lý trí sẽ được một quốc gia đã quên mất Đức Chúa Trời hằng sống tôn lên ngai. Đoàn diễu hành lại tập họp, và các đại diện của nước Pháp lên đường để bắt đầu công việc mà họ đã thề thực hiện. “Ở những khoảng cách ngắn, các giàn thiêu đã được dựng lên, trên đó một số người Cơ-đốc Tin Lành sẽ bị thiêu sống, và người ta sắp đặt sao cho các bó củi được đốt lên vào lúc nhà vua đến gần, và đoàn diễu hành sẽ dừng lại để chứng kiến cuộc hành hình."—Wylie, q. 13, ch. 21. Những chi tiết về các cực hình mà những nhân chứng này của Đấng Christ phải chịu thì quá thảm thương để thuật lại; nhưng không hề có sự dao động nào nơi các nạn nhân. Khi bị thúc ép chối đạo, một người đã trả lời: “Tôi chỉ tin những gì mà các tiên tri và các sứ đồ ngày xưa đã rao giảng, và những gì mà cả đoàn các thánh đồ đã tin. Đức tin của tôi có một lòng tin cậy nơi Đức Chúa Trời sẽ chống lại mọi quyền lực của hỏa ngục."—D’Aubigne, History of the Reformation in Europe in the Time of Calvin, q. 4, ch. 12. GC 229.2

Hết lần này đến lần khác, đoàn diễu hành dừng lại tại các nơi hành hình. Khi đến điểm xuất phát tại hoàng cung, đám đông giải tán, và nhà vua cùng các giáo phẩm rút lui, rất hài lòng với những việc đã làm trong ngày và tự chúc mừng rằng công việc vừa khởi sự sẽ được tiếp tục cho đến khi tà giáo bị tiêu diệt hoàn toàn. GC 230.1

Tin lành bình an mà nước Pháp đã chối bỏ ắt sẽ bị nhổ tận gốc quá chắc chắn, và những hậu quả sẽ thật khủng khiếp. Ngày 21 tháng 1 năm 1793, đúng hai trăm năm mươi tám năm kể từ cái ngày mà nước Pháp đã hoàn toàn cam kết vào việc bắt bớ các nhà Cải chánh, một đoàn diễu hành khác, với mục đích hoàn toàn khác, đi qua các đường phố Paris. “Một lần nữa nhà vua là nhân vật chính; một lần nữa có náo loạn và la hét; một lần nữa nghe thấy tiếng kêu đòi thêm nạn nhân; một lần nữa có những giàn hành hình đen tối; và một lần nữa các cảnh tượng trong ngày kết thúc bằng những cuộc hành quyết ghê rợn; Louis XVI, vật lộn giáp lá cà với những cai ngục và đao phủ của mình, bị lôi đến khúc gỗ kê đầu, và bị giữ chặt ở đó bằng vũ lực cho đến khi lưỡi rìu đã bổ xuống, và cái đầu bị lìa của ông lăn trên giàn hành hình."—Wylie, q. 13, ch. 21. Nhà vua cũng không phải là nạn nhân duy nhất; gần cùng một chỗ ấy, hai ngàn tám trăm con người đã bỏ mạng dưới máy chém trong những ngày đẫm máu của Thời kỳ Khủng bố. GC 230.2

Cuộc Cải chánh đã trình bày cho thế giới một quyển Kinh Thánh mở ra, khai mở các giới luật của luật pháp Đức Chúa Trời và nhấn mạnh những đòi hỏi của nó đối với lương tâm dân chúng. Tình Yêu Vô Hạn đã mở ra cho loài người các quy chế và nguyên tắc của thiên đàng. Đức Chúa Trời đã phán: Vậy, các ngươi phải giữ làm theo các mạng lịnh và luật lệ này; vì ấy là sự khôn ngoan và sự thông sáng của các ngươi trước mặt các dân tộc; họ nghe nói về các luật lệ này, sẽ nói rằng: Dân này là một dân khôn ngoan và thông sáng không hai!

(Phục-truyền Luật-lệ Ký 4:6)Khi nước Pháp chối bỏ món quà của thiên đàng, bà đã gieo những hạt giống của sự hỗn loạn và hủy diệt; và sự tác động tất yếu của nhân và quả đã dẫn đến cuộc Cách mạng và Thời kỳ Khủng bố. GC 230.3

Từ lâu trước cuộc bắt bớ do các tờ yết thị gây ra, Farel táo bạo và nhiệt thành đã buộc phải chạy trốn khỏi quê hương mình. Ông đến Thụy Sĩ, và bằng công lao của mình, hỗ trợ công việc của Zwingli, ông đã giúp nghiêng cán cân về phía cuộc Cải chánh. Những năm sau của đời ông sẽ được dành ở đây, nhưng ông vẫn tiếp tục có ảnh hưởng quyết định đối với cuộc cải cách tại Pháp. Trong những năm đầu lưu đày, nỗ lực của ông đặc biệt hướng về việc truyền bá tin lành tại quê hương. Ông đã dành nhiều thời gian giảng dạy giữa vòng đồng bào mình gần biên giới, với sự cảnh giác không mệt mỏi, ông theo dõi cuộc chiến và trợ giúp bằng những lời khích lệ và khuyên bảo. Với sự hỗ trợ của những người lưu vong khác, các tác phẩm của các nhà Cải chánh Đức đã được dịch sang tiếng Pháp và, cùng với Kinh Thánh tiếng Pháp, được in với số lượng lớn. Các tác phẩm này được những người bán sách lưu động phân phối rộng rãi tại Pháp. Chúng được cung cấp cho những người bán sách với giá thấp, và như vậy lợi nhuận từ công việc giúp họ có thể tiếp tục. GC 231.1

Farel bắt đầu công việc tại Thụy Sĩ trong vai trò khiêm nhường của một thầy giáo. Đến một giáo xứ hẻo lánh, ông đã hiến thân cho việc dạy dỗ trẻ em. Ngoài các môn học thông thường, ông thận trọng giới thiệu các lẽ thật của Kinh Thánh, hy vọng qua các trẻ em sẽ đến được với cha mẹ chúng. Có một số người đã tin, nhưng các thầy tế lễ bước ra ngăn chặn công việc, và những người dân quê mê tín bị kích động chống lại. “Đó không thể là tin lành của Đấng Christ,” thầy tế lễ khẳng định, “vì việc giảng dạy nó không mang lại hòa bình mà là chiến tranh."—Wylie, quyển 14, chương 3. Giống như các môn đồ đầu tiên, khi bị bắt bớ ở thành này, ông trốn sang thành khác. Từ làng này sang làng khác, từ thành này sang thành khác, ông đi bộ, chịu đựng đói, lạnh và mệt mỏi, và khắp nơi tính mạng đều bị đe dọa. Ông giảng tại chợ, trong các nhà thờ, đôi khi trên các tòa giảng của các thánh đường. Đôi khi ông thấy nhà thờ vắng người nghe; có lúc bài giảng của ông bị ngắt bởi những tiếng la ó và nhạo báng; lại có lúc ông bị kéo mạnh ra khỏi tòa giảng. Hơn một lần ông bị đám đông xông vào đánh gần chết. Tuy vậy ông vẫn tiến tới. Dù thường bị đẩy lui, với sự kiên trì không mệt mỏi, ông trở lại tấn công; và, lần lượt, ông thấy các thị trấn và thành phố vốn là thành trì của giáo hoàng mở cổng đón nhận tin lành. Giáo xứ nhỏ nơi ông lao động đầu tiên chẳng bao lâu đã chấp nhận đức tin cải chánh. Các thành Morat và Neuchâtel cũng đã từ bỏ các nghi lễ La-mã và dỡ bỏ các hình tượng thờ hình tượng khỏi các nhà thờ của họ. GC 231.2

Farel đã từ lâu ao ước cắm ngọn cờ Tin Lành tại Geneva. Nếu thành này được chinh phục, nó sẽ là trung tâm cho cuộc Cải chánh ở Pháp, ở Thụy Sĩ và ở Ý. Với mục tiêu ấy trước mắt, ông đã tiếp tục công lao cho đến khi nhiều thị trấn và làng mạc xung quanh đã được chinh phục. Rồi cùng với một người bạn đồng hành duy nhất, ông bước vào Geneva. Nhưng ông chỉ được phép giảng hai bài. Các thầy tế lễ, sau khi cố gắng vô ích kết án ông trước các nhà chức trách dân sự, đã triệu ông đến trước một hội đồng giáo hội, đến đó họ giấu vũ khí dưới áo choàng, quyết lấy mạng sống ông. Bên ngoài phòng họp, một đám đông hung hãn, với gậy và gươm, tụ tập để chắc chắn giết chết ông nếu ông thoát khỏi hội đồng. Tuy nhiên, sự hiện diện của các quan chức và một lực lượng vũ trang đã cứu ông. Sáng sớm hôm sau, ông cùng người bạn đồng hành được đưa qua hồ đến một nơi an toàn. Nỗ lực đầu tiên của ông để truyền tin lành tại Geneva đã kết thúc như vậy. GC 232.1

Cho lần thử kế tiếp, một khí cụ khiêm nhường hơn đã được chọn—một thanh niên, khiêm nhường về diện mạo đến nỗi ngay cả những người được xưng là bạn của cuộc cải cách cũng đối đãi lạnh nhạt. Nhưng người như vậy có thể làm được gì nơi mà Farel đã bị từ chối? Làm sao một người ít can đảm và kinh nghiệm có thể chống lại cơn bão mà những người mạnh mẽ và can đảm nhất đã buộc phải chạy trốn? Người đáp lại rằng: Đây là lời của Đức Giê-hô-va phán cho Xô-rô-ba-bên, rằng: Ấy chẳng phải là bởi quyền thế, cũng chẳng phải là bởi năng lực, bèn là bởi Thần ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.

(Xa-cha-ri 4:6)BIBLE:1 Corinthians 1:27,25]] GC 232.2

Froment bắt đầu công việc với tư cách là một thầy giáo. Các lẽ thật ông dạy cho trẻ em ở trường được chúng lặp lại ở nhà. Chẳng bao lâu các bậc cha mẹ đến nghe Kinh Thánh được giải thích, cho đến khi phòng học đầy những người chăm chú lắng nghe. Kinh Tân Ước và các tờ rơi được phân phát rộng rãi, và chúng đến được với nhiều người vốn không dám công khai đến nghe các giáo lý mới. Sau một thời gian, người lao động này cũng buộc phải chạy trốn; nhưng các lẽ thật ông đã dạy đã bám rễ trong tâm trí người ta. Cuộc Cải chánh đã được gieo trồng, và tiếp tục củng cố và mở rộng. Các nhà truyền đạo trở lại, và qua công lao của họ, sự thờ phượng Tin Lành cuối cùng đã được thiết lập tại Geneva. GC 232.3

Thành phố đã tuyên bố theo cuộc Cải chánh khi Calvin, sau nhiều phen lưu lạc và thăng trầm, bước vào cổng thành. Trở về sau chuyến viếng thăm cuối cùng nơi sinh của mình, ông đang trên đường đến Basel, thì gặp phải đường trực tiếp bị quân đội của Charles V chiếm đóng, ông buộc phải đi con đường vòng qua Geneva. GC 233.1

Trong chuyến viếng thăm này, Farel đã nhận ra bàn tay của Đức Chúa Trời. Mặc dù Geneva đã chấp nhận đức tin cải chánh, nhưng một công việc lớn vẫn còn phải hoàn thành ở đây. Không phải cộng đồng mà là cá nhân được hoán cải về với Đức Chúa Trời; công việc tái sinh phải được thực hiện trong lòng và lương tâm bởi quyền năng của Đức Thánh Linh, không phải bởi các sắc lệnh của các hội đồng. Trong khi dân Geneva đã gạt bỏ uy quyền của La-mã, họ không sẵn sàng từ bỏ những tật xấu đã từng hưng thịnh dưới sự cai trị của bà. Việc thiết lập ở đây những nguyên tắc thuần khiết của tin lành và chuẩn bị cho dân này xứng đáng đảm nhiệm vị trí mà Đấng Quan Phòng dường như đang kêu gọi họ không phải là những nhiệm vụ nhẹ nhàng. GC 233.2

Farel tin chắc rằng ông đã tìm được ở Calvin một người có thể cùng mình liên kết trong công việc này. Nhân danh Đức Chúa Trời, ông long trọng khẩn cầu nhà truyền đạo trẻ tuổi hãy ở lại và lao động tại đây. Calvin hoảng sợ rút lui. Nhút nhát và yêu chuộng hòa bình, ông co rút khỏi việc tiếp xúc với tinh thần táo bạo, độc lập, và thậm chí dữ tợn của người Geneva. Sức khỏe yếu ớt, cùng với thói quen học hành chăm chỉ, khiến ông tìm kiếm sự ẩn dật. Tin rằng bằng ngòi bút mình ông có thể phục vụ tốt nhất cho sự nghiệp cải cách, ông mong muốn tìm một nơi yên tĩnh để nghiên cứu, và tại đó, qua báo chí, dạy dỗ và xây dựng các hội thánh. Nhưng lời khuyến cáo long trọng của Farel đến với ông như một tiếng gọi từ Thiên đàng, và ông không dám từ chối. Ông nói, đối với ông dường như “bàn tay của Đức Chúa Trời đưa xuống từ trời, nắm lấy ông, và cầm giữ ông không thể thay đổi nơi mà ông đang nôn nóng muốn rời khỏi."—D’Aubigne, Lịch sử cuộc Cải chánh tại Âu châu vào thời Calvin, quyển 9, chương 17. GC 233.3

Vào lúc này, những hiểm nguy to lớn vây quanh sự nghiệp Tin Lành. Những lời nguyền rủa của giáo hoàng giáng sấm xuống Geneva, và các quốc gia hùng mạnh đe dọa hủy diệt nó. Làm sao thành phố nhỏ bé này có thể chống lại hệ thống giáo phẩm quyền lực đã nhiều lần buộc các vua và hoàng đế phải khuất phục? Làm sao nó có thể đứng vững trước các đội quân của những kẻ chinh phục vĩ đại nhất thế giới? GC 234.1

Khắp thế giới Cơ-đốc Giáo, Tin Lành bị đe dọa bởi những kẻ thù đáng sợ. Những chiến thắng đầu tiên của cuộc Cải chánh đã qua, La-mã triệu tập những lực lượng mới, hy vọng hoàn tất sự hủy diệt nó. Vào lúc này, Dòng Tên được thành lập, đạo quân tàn nhẫn nhất, vô liêm sỉ nhất, và hùng mạnh nhất trong tất cả những kẻ bảo vệ giáo hoàng. Bị cắt đứt khỏi mọi ràng buộc thế gian và mối quan tâm của con người, chết đối với những đòi hỏi của tình cảm tự nhiên, lý trí và lương tâm hoàn toàn bị dập tắt, họ không biết quy tắc nào, mối ràng buộc nào, ngoài dòng của họ, và không có bổn phận nào ngoài việc mở rộng quyền lực của nó. (Xem Phụ lục.) Tin lành của Đấng Christ đã giúp những người tin theo đối diện với hiểm nguy và chịu đựng đau khổ, không nao núng bởi lạnh giá, đói khát, lao nhọc và nghèo khổ, để giữ vững ngọn cờ lẽ thật trước bàn tra tấn, ngục tối, và cọc hỏa thiêu. Để chống lại những lực lượng này, chủ nghĩa Dòng Tên đã truyền cảm hứng cho những người theo nó một sự cuồng tín giúp họ có thể chịu đựng những nguy hiểm tương tự, và để chống lại quyền năng của lẽ thật bằng mọi vũ khí lừa dối. Không có tội ác nào quá lớn để họ không phạm, không có sự lừa dối nào quá đê tiện để họ không thực hành, không có sự ngụy trang nào quá khó để họ không đảm nhận. Tuyên thệ sự nghèo khó và khiêm nhường vĩnh viễn, mục tiêu có tính toán của họ là chiếm đoạt sự giàu sang và quyền lực, tận tụy cho việc lật đổ Tin Lành, và tái thiết uy quyền tối thượng của giáo hoàng. GC 234.2

Khi xuất hiện với tư cách là thành viên của dòng tu mình, họ khoác lên chiếc áo thánh thiện, thăm viếng các nhà tù và bệnh viện, phục vụ những người bệnh tật và nghèo khó, tuyên xưng đã từ bỏ thế gian, và mang danh thánh của Đức Chúa Giê-su, Đấng đã đi khắp nơi làm việc lành. Nhưng dưới vẻ bề ngoài không chỗ chê trách ấy, thường ẩn giấu những mưu đồ tội ác và nham hiểm nhất. Một nguyên tắc nền tảng của dòng tu này là cứu cánh biện minh cho phương tiện. Theo quy tắc đó, nói dối, trộm cắp, khai man, ám sát, không những được tha thứ mà còn đáng khen ngợi, khi chúng phục vụ lợi ích của hội thánh. Dưới nhiều lớp ngụy trang, các tu sĩ Dòng Tên len lỏi vào các chức vụ trong chính quyền, leo lên làm cố vấn cho các vua chúa, và định hình chính sách của các quốc gia. Họ trở thành đầy tớ để làm gián điệp đối với chủ mình. Họ lập các trường đại học cho con trai của các hoàng tử và quý tộc, và các trường học cho dân thường; và con cái của các bậc phụ huynh Tin Lành bị lôi kéo vào việc tuân giữ các nghi lễ Công Giáo. Tất cả sự phô trương hào nhoáng bên ngoài của lối thờ phượng La-mã được đem ra để làm rối trí, làm lóa mắt và quyến rũ trí tưởng tượng, và như vậy sự tự do mà cha ông đã lao khổ và đổ máu để giành lấy đã bị con cháu phản bội. Các tu sĩ Dòng Tên nhanh chóng lan tràn khắp Âu châu, và bất cứ nơi nào họ đến, ở đó đều có sự phục hưng của Công Giáo. GC 235.1

Để ban cho họ quyền lực lớn hơn, một sắc chỉ đã được ban hành tái lập tòa án dị giáo. (Xem Phụ lục.) Mặc dầu có sự ghê tởm chung đối với nó, ngay cả ở các nước Công Giáo, tòa án khủng khiếp này lại được các nhà cai trị Công Giáo dựng lên lần nữa, và những hành động tàn bạo quá khủng khiếp không thể phơi bày dưới ánh sáng ban ngày lại được lặp lại trong các hầm ngục bí mật của nó. Tại nhiều quốc gia, hàng ngàn hàng vạn tinh hoa của dân tộc, những người trong sạch và cao quý nhất, trí thức và học cao nhất, những mục sư sùng đạo và tận tụy, những công dân cần cù và yêu nước, những học giả xuất chúng, những nghệ sĩ tài năng, những thợ thủ công khéo léo, đã bị giết hoặc buộc phải trốn sang các nước khác. GC 235.2

Đó là những phương tiện mà La-mã đã sử dụng để dập tắt ánh sáng của cuộc Cải chánh, để rút Kinh Thánh khỏi loài người, và để khôi phục sự ngu dốt và mê tín của thời kỳ Trung Cổ. Nhưng dưới phước lành của Đức Chúa Trời và công lao của những người cao quý mà Ngài đã dấy lên để kế tục Lu-thơ, đạo Tin Lành đã không bị lật đổ. Sức mạnh của nó không phải nhờ vào ân huệ hay vũ khí của các vua chúa. Những quốc gia nhỏ nhất, những dân tộc khiêm nhường và ít quyền thế nhất, đã trở thành những thành lũy của nó. Đó là Geneva nhỏ bé giữa những kẻ thù hùng mạnh đang âm mưu tiêu diệt mình; đó là Hòa Lan trên những dải cát bên bờ biển phương bắc, đang vật lộn chống lại sự chuyên chế của Tây Ban Nha, khi đó là vương quốc vĩ đại và giàu có nhất; đó là Thụy Điển lạnh lẽo, cằn cỗi, đã giành được những chiến thắng cho cuộc Cải chánh. GC 235.3

Trong gần ba mươi năm, Calvin đã lao động tại Geneva, trước tiên để thiết lập tại đó một hội thánh gắn bó với đạo đức của Kinh Thánh, và sau đó để thúc đẩy cuộc Cải chánh khắp Âu châu. Lộ trình của ông với tư cách là một nhà lãnh đạo công cộng không phải là không có khuyết điểm, các giáo lý của ông cũng không thoát khỏi sai lầm. Nhưng ông là công cụ để truyền bá những lẽ thật có tầm quan trọng đặc biệt trong thời đại của ông, để duy trì các nguyên tắc của đạo Tin Lành chống lại làn sóng Công Giáo đang nhanh chóng trở lại, và để thúc đẩy trong các hội thánh cải chánh sự đơn sơ và trong sạch của đời sống, thay cho sự kiêu ngạo và bại hoại được nuôi dưỡng dưới sự dạy dỗ của La-mã. GC 236.1

Từ Geneva, các ấn phẩm và giáo sư được phái ra để truyền bá các giáo lý cải chánh. Đến điểm này, những người bị bắt bớ từ mọi xứ đều tìm đến để được chỉ dẫn, khuyên bảo, và khích lệ. Thành phố của Calvin đã trở thành nơi nương náu cho các nhà Cải chánh bị săn đuổi khắp Tây Âu. Trốn chạy khỏi những cơn bão khủng khiếp kéo dài hằng thế kỷ, những người chạy trốn đã đến các cổng thành Geneva. Đói khát, bị thương, mất nhà cửa và thân nhân, họ đã được tiếp đón nồng hậu và chăm sóc ân cần; và khi tìm được một mái nhà tại đây, họ đã ban phước cho thành phố đã nhận họ làm con bằng tài năng, học thức, và lòng sùng kính của mình. Nhiều người tìm nơi trú ẩn tại đây đã trở về quê hương mình để chống lại sự chuyên chế của La-mã. John Knox, nhà Cải chánh dũng cảm người Tô Cách Lan, không ít người Thanh giáo Anh quốc, những người Tin lành Hòa Lan và Tây Ban Nha, và người Huguenot của Pháp đã mang từ Geneva ngọn đuốc lẽ thật để soi sáng bóng tối của quê hương họ. GC 236.2