Sự Phản Kháng Của Các Hoàng Tử
Chương 11—Lời Kháng Nghị Của Các Vương Hầu
Một trong những lời chứng cao quý nhất từng được công bố cho cuộc Cải chánh là Lời Kháng Nghị do các vương hầu Cơ-đốc nước Đức đưa ra tại Nghị Hội Spires năm 1529. Lòng can đảm, đức tin, và sự kiên định của những người của Đức Chúa Trời ấy đã giành được cho các thế hệ kế tiếp quyền tự do tư tưởng và tự do lương tâm. Lời Kháng Nghị của họ đã đặt cho hội thánh cải chánh cái tên Tin Lành (Protestant); các nguyên tắc của lời kháng nghị ấy là “chính cốt lõi của đạo Tin Lành.”—D’Aubigne, q. 13, ch. 6. GC 197.1
Một ngày tối tăm và đầy đe dọa đã đến cho cuộc Cải chánh. Bất chấp Sắc lệnh Worms, tuyên bố Lu-thơ là kẻ ngoài vòng pháp luật và cấm việc giảng dạy hoặc tin theo các giáo lý của ông, cho đến lúc ấy sự khoan dung tôn giáo vẫn còn thịnh hành trong đế quốc. Sự quan phòng của Đức Chúa Trời đã kiềm chế các thế lực chống lại lẽ thật. Charles V quyết tâm nghiền nát cuộc Cải chánh, nhưng mỗi lần ông giơ tay ra đánh, ông lại bị buộc phải chuyển hướng đòn đánh. Hết lần này đến lần khác, sự hủy diệt ngay lập tức đối với tất cả những ai dám chống lại La-mã dường như không thể tránh khỏi; nhưng vào giây phút quyết định, quân đội Thổ Nhĩ Kỳ đã xuất hiện ở biên giới phía đông, hoặc vua nước Pháp, hay thậm chí chính giáo hoàng, vì ganh tị với sự lớn mạnh ngày càng tăng của hoàng đế, đã gây chiến với ông; và như vậy, giữa sự tranh đấu và hỗn loạn của các quốc gia, cuộc Cải chánh đã được để yên để củng cố và mở rộng. GC 197.2
Tuy nhiên, cuối cùng các quân vương theo giáo hoàng đã dẹp bỏ những mối bất hòa của họ, để có thể cùng nhau chống lại các nhà Cải chánh. Nghị Hội Spires năm 1526 đã ban cho mỗi tiểu bang quyền tự do hoàn toàn về các vấn đề tôn giáo cho đến khi một hội nghị tổng quát được triệu tập; nhưng vừa khi những hiểm họa đã bảo đảm cho sự nhượng bộ này qua đi, thì hoàng đế đã triệu tập một nghị hội thứ hai tại Spires năm 1529 nhằm mục đích nghiền nát tà giáo. Các vương hầu phải được thuyết phục, bằng biện pháp hòa bình nếu có thể, để đứng về phía chống lại cuộc Cải chánh; nhưng nếu những biện pháp này thất bại, Charles đã sẵn sàng dùng đến gươm giáo. GC 197.3
Phe giáo hoàng vui mừng hớn hở. Họ xuất hiện tại Spires với số lượng đông đảo, và công khai bày tỏ sự thù địch đối với các nhà Cải chánh và tất cả những người ủng hộ họ. Melanchthon nói: “Chúng tôi là sự ghê tởm và rác rưởi của thế gian; nhưng Đấng Christ sẽ đoái xem dân nghèo khó của Ngài, và sẽ gìn giữ họ.”— Sđd., q. 13, ch. 5. Các vương hầu theo tin lành tham dự Nghị Hội thậm chí bị cấm không cho giảng tin lành trong nhà mình. Nhưng dân chúng Spires khao khát Lời Đức Chúa Trời, và, bất chấp lệnh cấm, hàng ngàn người đã đổ đến các buổi nhóm được tổ chức tại nhà nguyện của tuyển hầu xứ Saxony. GC 198.1
Điều này đã đẩy nhanh cuộc khủng hoảng. Một thông điệp của hoàng đế đã loan báo cho Nghị Hội rằng vì nghị quyết ban cho quyền tự do lương tâm đã gây ra nhiều sự rối loạn lớn, nên hoàng đế yêu cầu nghị quyết ấy phải bị hủy bỏ. Hành động độc đoán này đã khơi dậy sự phẫn nộ và báo động nơi những người Cơ-đốc theo tin lành. Có người nói: “Đấng Christ một lần nữa đã rơi vào tay Cai-phe và Phi-lát.” Những người theo La-mã trở nên hung bạo hơn. Một kẻ cuồng tín theo giáo hoàng đã tuyên bố: “Người Thổ Nhĩ Kỳ còn tốt hơn những người theo Lu-thơ; vì người Thổ giữ các ngày kiêng ăn, còn người theo Lu-thơ vi phạm chúng. Nếu chúng ta phải chọn giữa Kinh Thánh của Đức Chúa Trời và những sai lầm cũ kỹ của giáo hội, chúng ta nên loại bỏ cái trước.” Melanchthon nói: “Mỗi ngày, giữa nghị hội đầy đủ, Faber ném một hòn đá mới vào chúng tôi những người giảng tin lành.”— Sđd., q. 13, ch. 5. GC 198.2
Sự khoan dung tôn giáo đã được thiết lập một cách hợp pháp, và các tiểu bang theo tin lành quyết tâm chống lại sự xâm phạm các quyền của họ. Lu-thơ, vì vẫn còn bị cấm chỉ bởi Sắc lệnh Worms, không được phép có mặt tại Spires; nhưng vị trí của ông được các đồng lao của ông và các vương hầu mà Đức Chúa Trời đã dấy lên để bảo vệ công việc của Ngài trong cơn nguy cấp này thay thế. Frederick cao quý xứ Saxony, vị bảo trợ trước đây của Lu-thơ, đã qua đời; nhưng Công tước John, em trai và là người kế vị của ông, đã vui mừng đón nhận cuộc Cải chánh, và tuy là một người yêu hòa bình, ông cũng thể hiện sức lực và lòng can đảm lớn lao trong mọi vấn đề liên quan đến quyền lợi của đức tin. GC 198.3
Các thầy tế lễ đòi hỏi các tiểu bang đã chấp nhận cuộc Cải chánh phải hoàn toàn phục tùng quyền tài phán của La-mã. Ngược lại, các nhà Cải chánh đòi hỏi quyền tự do đã được ban cho trước đó. Họ không thể đồng ý để La-mã một lần nữa đặt dưới sự kiểm soát của mình những tiểu bang đã với niềm vui lớn lao tiếp nhận Lời Đức Chúa Trời. GC 199.1
Như một sự thỏa hiệp, cuối cùng có đề nghị rằng ở những nơi cuộc Cải chánh chưa được thiết lập, Sắc lệnh Worms phải được thi hành nghiêm ngặt; và “ở những nơi dân chúng đã đi chệch khỏi đó, và ở những nơi họ không thể tuân theo nó mà không có nguy cơ nổi loạn, thì ít nhất họ không được thực hiện cuộc cải chánh mới nào, họ không được đụng chạm đến bất kỳ điểm tranh cãi nào, họ không được chống đối việc cử hành thánh lễ, họ không được cho phép bất kỳ người Công Giáo La-mã nào theo đạo Lu-thơ.”— Sđd., q. 13, ch. 5. Biện pháp này được Nghị Hội thông qua, làm hài lòng lớn lao các thầy tế lễ và giáo phẩm theo giáo hoàng. GC 199.2
Nếu sắc lệnh này được thi hành, “cuộc Cải chánh sẽ không thể được mở rộng… đến nơi nó chưa được biết đến, cũng không thể được thiết lập trên những nền tảng vững chắc… ở nơi nó đã hiện hữu.”— Sđd., q. 13, ch. 5. Quyền tự do ngôn luận sẽ bị cấm đoán. Không có sự hoán cải nào sẽ được cho phép. Và đối với những hạn chế và ngăn cấm này, các bạn hữu của cuộc Cải chánh được yêu cầu phải lập tức tuân phục. Những hy vọng của thế gian dường như sắp bị dập tắt. “Việc tái lập hệ thống phẩm trật của La-mã… chắc chắn sẽ đem trở lại những sự lạm dụng xưa kia;” và một cơ hội sẽ sẵn sàng được tìm ra để “hoàn tất sự hủy diệt một công việc đã bị lay động dữ dội” bởi sự cuồng tín và bất hòa.— Sđd., q. 13, ch. 5. GC 199.3
Khi phe theo tin lành họp nhau để bàn bạc, người này nhìn người kia trong sự kinh hoàng ngơ ngác. Từ người này đến người khác câu hỏi được truyền đi: “Phải làm gì đây?” Những vấn đề trọng đại cho thế gian đang bị đe dọa. “Các thủ lãnh của cuộc Cải chánh có nên phục tùng và chấp nhận sắc lệnh ấy không? Vào giây phút khủng hoảng này, quả thật là một giây phút kinh khủng, các nhà Cải chánh dễ dàng biết bao có thể tự biện luận để đi vào một con đường sai lầm! Họ có thể tìm ra biết bao cái cớ có vẻ hợp lý và những lý do chính đáng để phục tùng! Các vương hầu theo Lu-thơ đã được bảo đảm quyền tự do thi hành tôn giáo của mình. Cùng ân huệ ấy được ban cho tất cả những thần dân của họ, là những người, trước khi biện pháp này được thông qua, đã tiếp nhận các quan điểm cải chánh. Chẳng phải điều này là đủ để làm họ hài lòng sao? Phục tùng sẽ tránh được biết bao hiểm nguy! Chống đối sẽ đẩy họ vào những nguy cơ và xung đột chưa biết nào! Ai biết được tương lai có thể đem đến những cơ hội gì? Chúng ta hãy đón nhận hòa bình; chúng ta hãy nắm lấy nhành ô-liu mà La-mã chìa ra, và hàn gắn những vết thương của nước Đức. Với những lý luận như thế các nhà Cải chánh có thể đã biện minh cho việc lựa chọn một con đường mà chắc chắn trong một thời gian không lâu sẽ dẫn đến sự sụp đổ của chính nghĩa của họ. GC 199.4
“May thay, họ đã nhìn vào nguyên tắc mà sự sắp xếp này được đặt trên đó, và họ đã hành động trong đức tin. Nguyên tắc đó là gì? Đó là quyền của La-mã để cưỡng ép lương tâm và cấm đoán sự tự do tìm hiểu. Nhưng chẳng phải chính họ và các thần dân Tin Lành của họ sẽ được hưởng quyền tự do tôn giáo sao? Đúng vậy, nhưng như một đặc ân được đặc biệt quy định trong sự sắp xếp, chứ không phải như một quyền. Đối với tất cả những gì ở ngoài sự sắp xếp đó, nguyên tắc lớn về thẩm quyền sẽ ngự trị; lương tâm bị gạt ra ngoài vòng xét xử; La-mã là quan xét không thể sai lầm, và phải được vâng phục. Việc chấp nhận sự sắp xếp được đề nghị hẳn đã là một sự thừa nhận trên thực tế rằng quyền tự do tôn giáo phải được giới hạn trong xứ Saxony cải chánh; và đối với tất cả phần còn lại của Cơ-đốc Giáo, sự tự do tìm hiểu và việc tuyên xưng đức tin cải chánh là những tội ác, và phải bị trừng phạt bằng ngục tù và giàn thiêu. Họ có thể đồng ý khoanh vùng quyền tự do tôn giáo không? Để cho người ta tuyên bố rằng cuộc Cải chánh đã chinh phục được người cải đạo cuối cùng của mình? Đã khuất phục được tấc đất cuối cùng của mình? Và rằng bất cứ nơi nào La-mã đang nắm quyền vào giờ này, thì ở đó sự thống trị của nó phải được kéo dài mãi mãi? Các nhà Cải chánh có thể biện bạch rằng họ vô can với huyết của hàng trăm, hàng ngàn người, là những kẻ, do hậu quả của sự sắp xếp này, sẽ phải hiến dâng mạng sống mình trên những vùng đất theo giáo hoàng không? Làm như vậy hẳn là phản bội, trong giờ phút tối quan trọng ấy, chính nghĩa của tin lành và những quyền tự do của Cơ-đốc Giáo.”—Wylie, q. 9, ch. 15. Họ thà “hy sinh mọi sự, kể cả các tiểu bang, vương miện, và tính mạng của họ.”—D’Aubigne, q. 13, ch. 5. GC 200.1
“Chúng ta hãy bác bỏ sắc lệnh này,” các vương hầu nói. “Trong những vấn đề thuộc lương tâm, đa số không có quyền hành gì.” Các đại biểu tuyên bố: “Chính nhờ sắc lệnh năm 1526 mà đế quốc được hưởng sự bình an: việc bãi bỏ nó sẽ khiến nước Đức đầy dẫy những xáo trộn và chia rẽ. Nghị Hội không có thẩm quyền làm gì hơn là gìn giữ sự tự do tôn giáo cho đến khi công đồng nhóm họp.”— Ibid., b. 13, ch. 5. Bảo vệ quyền tự do lương tâm là bổn phận của nhà nước, và đây là giới hạn thẩm quyền của nó trong các vấn đề tôn giáo. Mỗi chính quyền thế tục nào tìm cách điều chỉnh hoặc áp đặt các nghi thức tôn giáo bằng quyền lực dân sự đều đang hy sinh chính nguyên tắc mà người Cơ-đốc nhân theo tin lành đã đấu tranh một cách cao quý. GC 201.1
Những người theo giáo hoàng quyết tâm dẹp bỏ điều mà họ gọi là “sự cố chấp táo bạo.” Họ bắt đầu bằng cách cố gây chia rẽ giữa những người ủng hộ cuộc Cải chánh và đe dọa tất cả những ai chưa công khai đứng về phía cuộc Cải chánh. Các đại diện của những thành phố tự do cuối cùng bị triệu đến trước Nghị Hội và buộc phải tuyên bố xem họ có chấp thuận các điều khoản của đề nghị hay không. Họ cầu xin trì hoãn, nhưng vô ích. Khi bị đem ra thử, gần một nửa số họ đứng về phía các nhà Cải chánh. Những người từ chối hy sinh quyền tự do lương tâm và quyền phán đoán cá nhân như vậy biết rõ rằng lập trường của họ sẽ khiến họ bị chỉ trích, lên án và bắt bớ trong tương lai. Một trong các đại biểu nói: “Chúng ta hoặc phải chối bỏ Lời Đức Chúa Trời, hoặc—bị thiêu sống.”— Ibid., b. 13, ch. 5. GC 201.2
Vua Ferdinand, đại diện của hoàng đế tại Nghị Hội, thấy rằng sắc lệnh sẽ gây ra sự chia rẽ nghiêm trọng trừ khi các vương hầu có thể được thuyết phục chấp nhận và ủng hộ nó. Vì vậy ông đã thử đến nghệ thuật thuyết phục, biết rõ rằng dùng vũ lực với những người như thế chỉ làm họ càng kiên quyết hơn. Ông “nài xin các vương hầu chấp nhận sắc lệnh, cam đoan với họ rằng hoàng đế sẽ hết sức hài lòng với họ.” Nhưng những người trung thành này nhìn nhận một thẩm quyền cao hơn thẩm quyền của các nhà cai trị trần gian, và họ bình tĩnh trả lời: “Chúng tôi sẽ vâng lời hoàng đế trong mọi điều góp phần gìn giữ sự hòa bình và sự tôn vinh Đức Chúa Trời.”— Ibid., b. 13, ch. 5. GC 201.3
Trước Nghị Hội, cuối cùng nhà vua tuyên bố với vị tuyển hầu và các bạn hữu của ông rằng sắc lệnh “sắp được soạn thảo dưới hình thức một sắc lệnh của hoàng đế,” và rằng “con đường duy nhất còn lại cho họ là tuân phục đa số.” Nói như vậy xong, ông rút khỏi hội nghị, không cho các nhà Cải chánh cơ hội nào để bàn luận hay đáp lời. “Họ đã vô ích phái một phái đoàn nài xin nhà vua trở lại.” Trước những lời phản kháng của họ, ông chỉ đáp: “Đây là việc đã định; chỉ còn lại sự tuân phục mà thôi.”— Ibid., b. 13, ch. 5. GC 202.1
Phe hoàng đế tin chắc rằng các vương hầu Cơ-đốc sẽ bám chặt vào Kinh Thánh như cao hơn các giáo lý và đòi hỏi của loài người; và họ biết rằng nơi nào nguyên tắc này được chấp nhận, thì giáo hoàng cuối cùng sẽ bị lật đổ. Nhưng, giống như hàng ngàn người kể từ thời của họ, chỉ nhìn vào “những điều thấy được,” họ tự tâng bốc mình rằng chính nghĩa của hoàng đế và giáo hoàng thì mạnh, còn chính nghĩa của các nhà Cải chánh thì yếu. Nếu các nhà Cải chánh chỉ dựa vào sự trợ giúp của loài người mà thôi, họ đã bất lực như những người theo giáo hoàng tưởng. Nhưng dù yếu về số lượng, và bất đồng với La-mã, họ vẫn có sức mạnh của mình. Họ kháng nghị “từ báo cáo của Nghị Hội lên Lời Đức Chúa Trời, và từ hoàng đế Charles lên Đức Chúa Giê-su, Vua của các vua và Chúa của các chúa.”— Ibid., b. 13, ch. 6. GC 202.2
Vì Ferdinand đã từ chối để ý đến những niềm tin theo lương tâm của họ, các vương hầu quyết định không bận tâm đến sự vắng mặt của ông, mà đưa bản Kháng Nghị của mình ra trước hội đồng quốc gia ngay lập tức. Vì vậy một bản tuyên ngôn trọng thể đã được soạn thảo và trình lên Nghị Hội: GC 202.3
“Bằng văn bản này, chúng tôi kháng nghị, trước mặt Đức Chúa Trời, Đấng Tạo Hóa, Đấng Bảo Tồn, Đấng Cứu Chuộc và Đấng Cứu Thế duy nhất của chúng tôi, và là Đấng một ngày kia sẽ là Quan Án của chúng tôi, cũng như trước mặt mọi người và mọi loài thọ tạo, rằng chúng tôi, thay cho chính mình và cho dân của chúng tôi, không đồng ý cũng không tuân theo dưới bất cứ hình thức nào đối với sắc lệnh được đề nghị, trong bất cứ điều gì trái với Đức Chúa Trời, trái với Lời thánh của Ngài, trái với lương tâm ngay thẳng của chúng tôi, trái với sự cứu rỗi linh hồn chúng tôi.” GC 202.4
“Sao! Chúng tôi phê chuẩn sắc lệnh này ư! Chúng tôi xác nhận rằng khi Đức Chúa Trời Toàn Năng gọi một người đến với sự hiểu biết của Ngài, thì người ấy lại không thể nhận được sự hiểu biết về Đức Chúa Trời sao!” “Không có giáo lý nào chắc chắn ngoài giáo lý phù hợp với Lời Đức Chúa Trời…. Chúa cấm việc dạy bất cứ giáo lý nào khác…. Kinh Thánh phải được giải nghĩa bằng những đoạn văn khác rõ ràng hơn; … Quyển Sách Thánh này, trong mọi điều cần thiết cho Cơ-đốc nhân, thì dễ hiểu, và có khả năng xua tan bóng tối. Chúng tôi quyết định, nhờ ân điển của Đức Chúa Trời, giữ vững sự rao giảng thuần khiết và duy nhất về Lời duy nhất của Ngài, như đã được chứa đựng trong các sách Kinh Thánh của Cựu Ước và Tân Ước, không thêm vào đó điều gì có thể trái với nó. Lời này là lẽ thật duy nhất; nó là quy tắc chắc chắn của mọi giáo lý và mọi đời sống, và không bao giờ có thể làm chúng ta thất vọng hay lừa dối chúng ta. Ai xây dựng trên nền tảng này sẽ đứng vững trước mọi thế lực của âm phủ, trong khi mọi sự hư không của loài người dựng lên chống lại nó sẽ ngã xuống trước mặt Đức Chúa Trời.” GC 203.1
“Vì lý do đó chúng tôi chối bỏ cái ách đặt trên chúng tôi.” “Đồng thời chúng tôi trông mong rằng hoàng thượng sẽ đối xử với chúng tôi như một vương hầu Cơ-đốc yêu mến Đức Chúa Trời trên hết mọi điều; và chúng tôi bày tỏ sự sẵn sàng bày tỏ đối với ngài, cũng như đối với các vị lãnh chúa nhân từ, tất cả tình cảm và sự vâng phục là bổn phận chính đáng và hợp pháp của chúng tôi.”— Ibid., b. 13, ch. 6. GC 203.2
Nghị Hội đã chịu một ấn tượng sâu sắc. Đa số bàng hoàng và lo sợ trước sự dạn dĩ của những người kháng nghị. Tương lai đối với họ dường như đầy bão tố và bấp bênh. Sự bất hòa, xung đột và đổ máu dường như không thể tránh khỏi. Nhưng các nhà Cải chánh, được bảo đảm về sự công chính của chính nghĩa mình, và nương cậy vào cánh tay của Đấng Toàn Năng, đã “đầy dũng khí và kiên định.” GC 203.3
“Những nguyên tắc chứa đựng trong bản Kháng Nghị nổi tiếng này … tạo nên chính bản chất của đạo Tin Lành. Vậy bản Kháng Nghị này chống lại hai sự lạm dụng của con người trong các vấn đề đức tin: thứ nhất là sự xâm phạm của quan chức dân sự, và thứ hai là quyền lực độc đoán của hội thánh. Thay cho những sự lạm dụng này, đạo Tin Lành đặt quyền năng của lương tâm trên quan chức dân sự, và thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời trên hội thánh hữu hình. Trước hết, nó chối bỏ quyền lực dân sự trong những vấn đề thuộc về Đức Chúa Trời, và cùng với các tiên tri và các sứ đồ nói rằng, ‘Chúng ta phải vâng lời Đức Chúa Trời hơn là loài người.’ Trước vương miện của Charles V, nó giương cao vương miện của Đức Chúa Giê-su. Nhưng nó còn đi xa hơn: nó đặt ra nguyên tắc rằng mọi sự dạy dỗ của loài người phải phục tùng lời phán của Đức Chúa Trời.”— Ibid., b. 13, ch. 6. Hơn nữa, những người kháng nghị đã khẳng định quyền của họ được tự do bày tỏ niềm tin của mình về lẽ thật. Họ không chỉ tin và vâng phục, nhưng dạy dỗ điều mà Lời Đức Chúa Trời trình bày, và họ chối bỏ quyền của thầy tế lễ hay quan chức can thiệp vào. Bản Kháng Nghị Spires là một chứng cớ trọng thể chống lại sự bất khoan dung tôn giáo, và là một sự khẳng định quyền của mọi người được thờ phượng Đức Chúa Trời theo sự chỉ dẫn của lương tâm riêng mình. GC 203.4
Bản tuyên ngôn đã được đưa ra. Nó được ghi vào ký ức của hàng ngàn người và được ghi lại trong các sách của thiên đàng, nơi không một nỗ lực nào của loài người có thể xóa bỏ được. Toàn thể nước Đức theo tin lành đã chấp nhận bản Kháng Nghị như sự bày tỏ đức tin của mình. Khắp nơi người ta nhìn thấy trong bản tuyên ngôn này lời hứa về một kỷ nguyên mới và tốt đẹp hơn. Một trong các vương hầu nói với những người Tin lành ở Spires: “Nguyện Đấng Toàn Năng, là Đấng đã ban cho quý vị ân điển để tuyên xưng một cách mạnh mẽ, tự do, và không sợ hãi, gìn giữ quý vị trong sự kiên định Cơ-đốc đó cho đến ngày đời đời.”— Ibid., b. 13, ch. 6. GC 204.1
Nếu cuộc Cải chánh, sau khi đạt được một mức độ thành công nào đó, đã đồng ý thỏa hiệp để giành được ân huệ của thế gian, thì hẳn nó đã không trung thành với Đức Chúa Trời và với chính mình, và như vậy hẳn đã tự chuốc lấy sự hủy diệt. Kinh nghiệm của các nhà Cải chánh cao quý này chứa đựng một bài học cho mọi thời đại kế tiếp. Cách thức Sa-tan chống lại Đức Chúa Trời và lời Ngài vẫn không thay đổi; nó vẫn chống đối việc lấy Kinh Thánh làm kim chỉ nam cho đời sống, y như trong thế kỷ mười sáu. Trong thời đại chúng ta, có một sự xa rời lớn khỏi các giáo lý và mệnh lệnh của họ, và cần phải quay trở lại với nguyên tắc Tin Lành vĩ đại—Kinh Thánh, và chỉ một mình Kinh Thánh, làm quy tắc của đức tin và bổn phận. Sa-tan vẫn đang hoạt động qua mọi phương tiện mà nó có thể kiểm soát để tiêu diệt sự tự do tôn giáo. Quyền lực của kẻ địch lại Đấng Christ mà những người kháng nghị tại Spires đã chối bỏ thì nay đang với sức mạnh được phục hồi, tìm cách tái lập quyền thống trị đã mất của mình. Cũng một sự gắn bó không lay chuyển với lời Đức Chúa Trời đã được biểu lộ trong cơn khủng hoảng ấy của cuộc Cải chánh là niềm hy vọng duy nhất cho sự cải cách ngày nay. GC 204.2
Đã xuất hiện những dấu hiệu nguy hiểm cho những người Tin lành; cũng có những dấu hiệu cho thấy tay Đức Chúa Trời đang giơ ra để bảo vệ những người trung tín. Chính vào khoảng thời gian này mà “Melanchthon vội vàng dẫn bạn mình là Simon Grynaeus qua các đường phố của Spires hướng về sông Rhine, thúc giục ông phải qua sông. Người sau ngạc nhiên trước sự vội vã như vậy. ‘Một ông lão với vẻ trang nghiêm và nghiêm trọng, nhưng tôi không quen biết,’ Melanchthon nói, ‘đã hiện ra trước mặt tôi và nói: Chỉ trong một phút nữa các viên chức tư pháp sẽ được Ferdinand phái đến để bắt giữ Grynaeus.’” GC 205.1
Ban ngày hôm đó, Grynaeus đã phẫn nộ trước một bài giảng của Faber, một tiến sĩ giáo hoàng hàng đầu; và khi kết thúc, ông đã phản đối ông ta vì bênh vực “một số sai lầm đáng ghê tởm.” “Faber che giấu cơn giận của mình, nhưng ngay sau đó đã đến gặp nhà vua, từ đó ông ta đã nhận được một lệnh chống lại vị giáo sư quấy rầy đến từ Heidelberg. Melanchthon không nghi ngờ gì rằng Đức Chúa Trời đã cứu bạn mình bằng cách sai một trong các thiên sứ thánh của Ngài đến báo trước cho ông. GC 205.2
“Bất động trên bờ sông Rhine, ông chờ đợi cho đến khi dòng nước của con sông ấy đã giải cứu Grynaeus khỏi những kẻ bắt bớ ông. ‘Cuối cùng,’ Melanchthon kêu lên khi trông thấy ông ở bờ bên kia, ‘cuối cùng ông đã thoát khỏi hàm răng tàn bạo của những kẻ khát máu vô tội.’ Khi trở về nhà, Melanchthon được báo cho biết rằng các viên chức đi tìm Grynaeus đã lục soát nhà ông từ trên xuống dưới."— Ibid., b. 13, ch. 6. GC 205.3
Cuộc Cải chánh sắp được đưa ra nổi bật hơn trước mặt những người quyền thế của thế gian. Các hoàng thân tin lành đã bị Vua Ferdinand từ chối không cho trình bày; nhưng họ sắp được ban cho cơ hội để trình bày duyên cớ của mình trước sự hiện diện của hoàng đế và các chức sắc hội thánh và nhà nước đã tập họp. Để dẹp yên những mối bất hòa đang quấy rối đế quốc, Charles V, vào năm sau cuộc Kháng nghị tại Spires, đã triệu tập một hội nghị tại Augsburg, tại đó ông tuyên bố ý định sẽ đích thân chủ tọa. Các nhà lãnh đạo Tin lành được triệu đến đó. GC 205.4
Những mối nguy hiểm lớn đe dọa cuộc Cải chánh; nhưng những người ủng hộ nó vẫn phó thác duyên cớ mình cho Đức Chúa Trời, và hứa nguyện sẽ vững vàng với tin lành. Tuyển hầu xứ Saxony được các cố vấn khuyên không nên xuất hiện tại Hội nghị. Họ nói, hoàng đế đòi các hoàng thân phải có mặt để lôi kéo họ vào cạm bẫy. “Chẳng phải là liều lĩnh mọi sự khi đi và tự nhốt mình trong những bức tường của một thành phố cùng với một kẻ thù hùng mạnh sao?” Nhưng những người khác cao thượng tuyên bố: “Chỉ cần các hoàng thân cư xử với lòng can đảm, thì duyên cớ của Đức Chúa Trời được cứu vớt.” “Đức Chúa Trời là thành tín; Ngài sẽ không bỏ rơi chúng ta,” Lu-thơ nói.— Ibid., b. 14, ch. 2. Vị tuyển hầu lên đường cùng với đoàn tùy tùng, đi về Augsburg. Mọi người đều biết rõ những mối nguy hiểm đang đe dọa ông, và nhiều người tiến bước với vẻ mặt ảm đạm và tấm lòng bối rối. Nhưng Lu-thơ, người đã đi theo họ đến tận Coburg, đã làm sống lại đức tin đang suy sụp của họ bằng cách hát bài thánh ca được viết trên chuyến đi đó, “Đức Chúa Trời chúng ta là tháp kiên cố.” Nhiều nỗi lo âu đã bị xua tan, nhiều tấm lòng nặng nề đã được nhẹ nhõm, khi nghe những giai điệu đầy cảm hứng này. GC 206.1
Các hoàng thân cải chánh đã quyết định soạn một bản tuyên bố về quan điểm của mình theo hình thức có hệ thống, với bằng chứng từ Kinh Thánh, để trình bày trước Hội nghị; và công việc chuẩn bị bản ấy được giao phó cho Lu-thơ, Melanchthon và các cộng sự của họ. Bản Tuyên xưng này được những người Tin lành chấp nhận như một sự trình bày đức tin của mình, và họ tập họp lại để ký tên vào văn kiện quan trọng này. Đó là một thời điểm trang nghiêm và đầy thử thách. Các nhà Cải chánh lo lắng rằng duyên cớ của họ không bị lẫn lộn với những vấn đề chính trị; họ cảm thấy rằng cuộc Cải chánh không nên thực thi ảnh hưởng nào khác ngoài ảnh hưởng phát xuất từ lời Đức Chúa Trời. Khi các hoàng thân Cơ-đốc bước lên để ký vào bản Tuyên xưng, Melanchthon đã can thiệp và nói: “Đây là việc của các nhà thần học và các mục sư phải đề xuất những điều này; chúng ta hãy dành thẩm quyền của những người quyền thế của thế gian cho các vấn đề khác.” “Đức Chúa Trời cấm,” John xứ Saxony đáp, “rằng ngài lại loại trừ tôi. Tôi đã quyết định làm điều phải, không bận tâm đến vương miện của tôi. Tôi ao ước xưng nhận Chúa. Chiếc mũ tuyển hầu và áo lông chồn ermine của tôi không quý giá với tôi bằng thập tự giá của Đức Chúa Giê-su.” Nói như vậy xong, ông viết tên mình xuống. Một hoàng thân khác nói khi cầm bút: “Nếu sự vinh hiển của Chúa tôi là Đức Chúa Giê-su đòi hỏi, tôi sẵn sàng… để lại của cải và mạng sống mình đằng sau.” “Tôi thà từ bỏ thần dân và lãnh địa của mình, thà rời khỏi quê hương tổ phụ với cây gậy trong tay,” ông tiếp tục, “còn hơn là chấp nhận bất kỳ giáo lý nào khác ngoài giáo lý được chứa đựng trong bản Tuyên xưng này."— Ibid., b. 14, ch. 6. Đó là đức tin và sự gan dạ của những người của Đức Chúa Trời. GC 206.2
Thời điểm được ấn định để xuất hiện trước hoàng đế đã đến. Charles V, ngồi trên ngai, xung quanh là các tuyển hầu và các hoàng thân, đã tiếp kiến các nhà Cải chánh Tin lành. Bản tuyên xưng đức tin của họ đã được đọc lên. Trong hội nghị trọng thể ấy, các lẽ thật của tin lành đã được trình bày rõ ràng, và các sai lầm của giáo hội giáo hoàng đã được chỉ ra. Ngày ấy đã được gọi một cách chí lý là “ngày vĩ đại nhất của cuộc Cải chánh, và là một trong những ngày vinh hiển nhất trong lịch sử Cơ-đốc Giáo và của loài người."— Ibid., b. 14, ch. 7. GC 207.1
Chỉ mới vài năm trôi qua kể từ khi vị tu sĩ xứ Wittenberg đứng một mình tại Worms trước hội đồng quốc gia. Nay thay vào chỗ của ông là những hoàng thân cao quý nhất và quyền thế nhất của đế quốc. Lu-thơ đã bị cấm xuất hiện tại Augsburg, nhưng ông đã có mặt qua lời nói và lời cầu nguyện của mình. “Tôi vô cùng vui mừng,” ông viết, “rằng tôi đã sống đến giờ này, trong giờ phút mà Đấng Christ đã được công khai tôn cao bởi những người xưng nhận lừng danh như vậy, và trong một hội nghị vinh hiển đến thế."— Ibid., b. 14, ch. 7. Như vậy đã được ứng nghiệm điều Kinh Thánh phán: Cũng sẽ nói về chứng cớ Chúa trước mặt các vua, Không phải mắc cỡ chút nào.
(Thi-thiên 119:46) GC 207.2
Trong thời của Phao-lô, tin lành mà vì cớ đó ông bị cầm tù đã được đưa ra trước mặt các hoàng thân và các quý tộc của kinh thành đế quốc. Vậy trong dịp này, điều mà hoàng đế đã cấm rao giảng từ bục giảng đã được công bố từ cung điện; điều mà nhiều người xem là không đáng ngay cả cho kẻ tôi tớ nghe đã được các chủ nhân và lãnh chúa của đế quốc lắng nghe trong sự kinh ngạc. Các vua và những bậc vĩ nhân là thính giả, các hoàng thân đội vương miện là các nhà giảng đạo, và bài giảng là lẽ thật vương giả của Đức Chúa Trời. “Kể từ thời các sứ đồ,” một tác giả nói, “chưa bao giờ có một công việc vĩ đại hơn hay một lời tuyên xưng tráng lệ hơn."—D’Aubigne, b. 14, ch. 7. GC 208.1
“Tất cả những gì những người theo Lu-thơ đã nói đều là sự thật; chúng ta không thể phủ nhận điều đó,” một giám mục giáo hoàng tuyên bố. “Ngài có thể bác bỏ bằng những lý lẽ vững chắc bản Tuyên xưng mà vị tuyển hầu và các đồng minh của ông đưa ra chăng?” một người khác hỏi Tiến sĩ Eck. “Bằng các trước tác của các sứ đồ và các tiên tri—thì không!” là câu trả lời; “nhưng bằng các trước tác của các Giáo phụ và của các hội đồng—thì có!” “Tôi hiểu,” người chất vấn đáp. “Theo ông, những người theo Lu-thơ đứng trong Kinh Thánh, còn chúng ta đứng bên ngoài."— Ibid., b. 14, ch. 8. GC 208.2
Một số hoàng thân của nước Đức đã được chinh phục theo đức tin cải chánh. Chính hoàng đế đã tuyên bố rằng các điều khoản của Tin Lành chẳng qua là lẽ thật. Bản Tuyên xưng đã được dịch ra nhiều thứ tiếng và lưu hành khắp châu Âu, và nó đã được hàng triệu người trong các thế hệ kế tiếp chấp nhận như sự trình bày đức tin của mình. GC 208.3
Các đầy tớ trung thành của Đức Chúa Trời không phải đang lao nhọc một mình. Trong khi các chủ quyền, các thế lực và các thần dữ ở các miền trên trời liên kết chống lại họ, thì Chúa không lìa bỏ dân sự Ngài. Nếu mắt họ được mở ra, họ sẽ thấy bằng chứng rõ ràng về sự hiện diện và trợ giúp thiêng liêng, như đã được ban cho một vị tiên tri thời xưa. Khi đầy tớ của Ê-li-sê chỉ cho chủ mình thấy đạo quân thù nghịch đang vây quanh họ và cắt đứt mọi đường thoát, vị tiên tri đã cầu nguyện: Đoạn, Ê-li-sê cầu nguyện mà rằng: Đức Giê-hô-va ôi, xin mở mắt kẻ tôi tớ tôi, để nó thấy được. Đức Giê-hô-va mở mắt người ra, thì người thấy núi đầy những ngựa và xe bằng lửa ở xung quanh Ê-li-sê.
(II Các Vua 6:17)Và kìa, núi đầy những xe và ngựa bằng lửa, là đạo quân thiên đàng được sai đến để bảo vệ người của Đức Chúa Trời. Cũng vậy, các thiên sứ đã canh giữ những người làm việc trong công cuộc Cải chánh. GC 208.4
Một trong những nguyên tắc mà Lu-thơ kiên quyết giữ vững nhất là không được nhờ cậy đến quyền lực thế tục để hỗ trợ cuộc Cải chánh, và không được dùng đến vũ khí để bảo vệ nó. Ông vui mừng vì tin lành đã được các vương hầu trong đế quốc công nhận; nhưng khi họ đề nghị liên kết trong một liên minh phòng thủ, ông tuyên bố rằng “giáo lý của tin lành chỉ nên được bảo vệ bởi một mình Đức Chúa Trời mà thôi…. Con người càng ít can dự vào công việc ấy, thì sự can thiệp của Đức Chúa Trời vì nó càng nổi bật. Theo quan điểm của ông, tất cả những biện pháp đề phòng khôn khéo được đề xuất đều bắt nguồn từ sự sợ hãi không xứng đáng và sự nghi ngờ tội lỗi.”—D’Aubigne, London ed., b. 10, ch. 14. GC 209.1
Khi những kẻ thù mạnh mẽ liên kết nhau để lật đổ đức tin đã được cải chánh, và hàng ngàn lưỡi gươm dường như sắp được rút ra chống lại nó, Lu-thơ đã viết: “Sa-tan đang tuôn đổ cơn thịnh nộ của nó; những giáo chủ bất kính đang âm mưu; và chúng ta bị đe dọa bởi chiến tranh. Hãy khuyên giục dân sự tranh chiến cách dũng cảm trước ngôi của Chúa, bằng đức tin và sự cầu nguyện, để kẻ thù của chúng ta, bị chinh phục bởi Thánh Linh của Đức Chúa Trời, buộc phải cầu hòa. Điều chúng ta cần nhất, công việc chính của chúng ta, là cầu nguyện; hãy để dân sự biết rằng họ hiện đang bị phơi bày trước lưỡi gươm và cơn thịnh nộ của Sa-tan, và hãy để họ cầu nguyện.”—D’Aubigne, b. 10, ch. 14. GC 209.2
Sau này, khi đề cập đến liên minh mà các vương hầu đã cải chánh dự định thành lập, Lu-thơ tuyên bố rằng vũ khí duy nhất được sử dụng trong cuộc chiến này phải là “gươm của Thánh Linh.” Ông viết thư cho tuyển hầu xứ Sa-xơ: “Theo lương tâm chúng tôi, chúng tôi không thể chấp thuận liên minh được đề xuất. Chúng tôi thà chết mười lần còn hơn thấy chính nghĩa tin lành của chúng tôi làm đổ ra dù chỉ một giọt máu. Phần của chúng tôi là phải giống như những chiên con bị đem đi làm thịt. Thập tự giá của Đấng Christ phải được mang lấy. Xin điện hạ đừng sợ hãi. Chúng ta sẽ làm được nhiều điều hơn bằng lời cầu nguyện của mình hơn tất cả kẻ thù của chúng ta bằng những lời khoe khoang của chúng. Chỉ xin đừng để tay của ngài bị vấy bẩn bởi huyết của anh em mình. Nếu hoàng đế đòi chúng tôi phải bị giao nộp cho các tòa án của ông, chúng tôi sẵn sàng ra trình diện. Điện hạ không thể bảo vệ đức tin của chúng tôi: mỗi người phải tin bằng chính sự liều lĩnh và nguy hiểm của mình.”—Ibid., b. 14, ch. 1. GC 209.3
Từ nơi kín nhiệm của sự cầu nguyện đã phát ra quyền năng làm rúng động thế giới trong cuộc Đại Cải chánh. Tại đó, với sự bình tĩnh thánh khiết, các đầy tớ của Chúa đã đặt chân mình trên vầng đá của những lời hứa của Ngài. Trong cuộc tranh đấu tại Augsburg, Lu-thơ “không trải qua một ngày nào mà không dành ít nhất ba giờ để cầu nguyện, và đó là những giờ được chọn từ những giờ thuận lợi nhất cho việc nghiên cứu.” Trong sự riêng tư của căn phòng mình, người ta đã nghe ông đổ linh hồn mình ra trước Đức Chúa Trời bằng những lời “đầy sự tôn thờ, kính sợ và hy vọng, như khi một người nói chuyện với một người bạn.” Ông nói: “Con biết Ngài là Cha chúng con và là Đức Chúa Trời của chúng con, và Ngài sẽ làm tản lạc những kẻ bắt bớ con cái Ngài; vì chính Ngài cũng đang bị lâm nguy cùng với chúng con. Tất cả việc này là của Ngài, và chỉ bởi sự thúc giục của Ngài mà chúng con mới nhúng tay vào. Vậy, lạy Cha, xin bảo vệ chúng con!”—Ibid., b. 14, ch. 6. GC 210.1
Gởi cho Melanchthon, là người đang bị đè nặng bởi gánh lo âu và sợ hãi, ông viết: “Ân điển và bình an trong Đấng Christ—trong Đấng Christ, tôi nói, chớ không phải trong thế gian. A-men. Tôi ghét với sự căm ghét tột độ những lo lắng thái quá đang thiêu đốt anh. Nếu chính nghĩa là bất công, hãy từ bỏ nó; nếu chính nghĩa là công bình, tại sao chúng ta lại phải nghi ngờ những lời hứa của Đấng truyền cho chúng ta ngủ không sợ hãi? … Đấng Christ sẽ không thiếu sót đối với công việc của sự công bình và lẽ thật. Ngài hằng sống, Ngài cai trị; vậy thì, chúng ta có thể sợ gì?”—Ibid., b. 14, ch. 6. GC 210.2
Đức Chúa Trời quả đã lắng nghe tiếng kêu của các đầy tớ Ngài. Ngài đã ban cho các vương hầu và các mục sư ân điển và lòng can đảm để giữ vững lẽ thật chống lại những kẻ cai trị của sự tối tăm thế gian này. Chúa phán: Vì trong Kinh thánh có chép rằng: Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; Ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ.
(I Phi-e-rơ 2:6)Các nhà Cải chánh Tin Lành đã xây dựng trên Đấng Christ, và các cửa âm phủ không thể thắng được họ. GC 210.3