Nhà Cải Chánh Thụy Sĩ
Chương 9—Nhà Cải chánh Thụy Sĩ
Trong việc lựa chọn những công cụ để cải cách hội thánh, người ta thấy cùng một kế hoạch thiêng liêng như trong việc thiết lập hội thánh. Vị Thầy thiên thượng đã bỏ qua những người vĩ đại của thế gian, những người có chức tước và giàu có, vốn quen được ca tụng và tôn kính như những người lãnh đạo dân chúng. Họ quá kiêu ngạo và tự tin vào sự ưu việt mà họ tự hào đến nỗi không thể được uốn nắn để cảm thông với đồng loại và trở thành những người cùng cộng tác với Người Na-xa-rét khiêm nhường. Lời kêu gọi được gửi đến những người đánh cá lam lũ, ít học ở Ga-li-lê: Ngài phán cùng hai người rằng: Các ngươi hãy theo ta, ta sẽ cho các ngươi nên tay đánh lưới người.
(Ma-thi-ơ 4:19)Những môn đồ này khiêm nhường và dễ dạy. Họ càng ít bị ảnh hưởng bởi sự giảng dạy sai lạc của thời đại mình, thì Đấng Christ càng có thể dạy dỗ và huấn luyện họ thành công để phục vụ Ngài. Trong những ngày của cuộc Đại Cải chánh cũng vậy. Các nhà Cải chánh hàng đầu là những người xuất thân khiêm hạ — những người thoát khỏi nhất trong thời đại mình sự kiêu hãnh về giai cấp và khỏi ảnh hưởng của thói cuồng tín và mưu toan của hàng giáo phẩm. Kế hoạch của Đức Chúa Trời là sử dụng những công cụ khiêm nhường để thực hiện những kết quả lớn lao. Khi đó vinh hiển sẽ không thuộc về con người, mà thuộc về Đấng hành động qua họ để họ muốn và làm theo ý tốt của chính Ngài. GC 171.1
Vài tuần sau khi Lu-thơ chào đời trong một túp lều của người thợ mỏ ở Sa-xơ, Ulric Zwingli sinh ra trong một căn nhà tranh của người chăn bò giữa dãy Alps. Hoàn cảnh thời thơ ấu và sự giáo dục ban đầu của Zwingli đã chuẩn bị ông cho sứ mệnh tương lai. Được nuôi dưỡng giữa những khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, xinh đẹp và trang nghiêm đáng kinh sợ, tâm trí ông đã sớm được khắc sâu ý thức về sự vĩ đại, quyền năng và uy nghiêm của Đức Chúa Trời. Lịch sử về những hành động dũng cảm đã được thực hiện trên những ngọn núi quê hương đã nhen lên những khát vọng của tuổi trẻ nơi ông. Và bên cạnh người bà đạo đức của mình, ông lắng nghe những câu chuyện Kinh Thánh quý báu mà bà đã chắt lọc được giữa các truyền thuyết và truyền thống của hội thánh. Với niềm say mê háo hức, ông nghe về những việc làm lớn lao của các tổ phụ và các tiên tri, về những người chăn chiên canh giữ bầy mình trên các đồi Pa-le-tin, nơi các thiên sứ trò chuyện với họ, về Hài Nhi tại Bết-lê-hem và Người ở Gô-gô-tha. GC 171.2
Giống như John Luther, cha của Zwingli mong muốn con trai mình được giáo dục, và cậu bé đã sớm được gửi khỏi thung lũng quê hương. Trí tuệ của cậu phát triển nhanh chóng, và chẳng bao lâu vấn đề trở thành tìm đâu ra những người thầy đủ năng lực để dạy dỗ cậu. Năm mười ba tuổi, cậu đến Bern, thành phố khi đó sở hữu ngôi trường danh tiếng nhất Thụy Sĩ. Tuy nhiên, tại đây đã nảy sinh một mối nguy hiểm đe dọa làm tàn lụi triển vọng của cuộc đời cậu. Các thầy tu đã ra sức nỗ lực quyết liệt để dụ dỗ cậu vào tu viện. Các thầy tu dòng Đa-minh và dòng Phan-xi-cô cạnh tranh nhau để giành sự ưu ái của quần chúng. Họ cố gắng đạt được điều này qua sự trang hoàng lộng lẫy các nhà thờ của mình, sự phô trương của các nghi lễ, và sức hấp dẫn của các thánh tích trứ danh và các hình tượng được cho là có phép lạ. GC 172.1
Các thầy tu dòng Đa-minh ở Bern nhận thấy rằng nếu có thể chiếm được chàng học giả trẻ tài năng này, họ sẽ đạt được cả lợi lộc lẫn vinh dự. Tuổi còn rất trẻ, tài năng bẩm sinh làm diễn giả và nhà văn, cùng thiên tư về âm nhạc và thi ca của cậu, sẽ hiệu quả hơn tất cả sự phô trương và hào nhoáng của họ trong việc thu hút dân chúng đến các buổi lễ và tăng doanh thu cho dòng tu của họ. Bằng sự lừa dối và tâng bốc, họ cố gắng dụ Zwingli bước vào tu viện của mình. Lu-thơ, khi còn là học sinh, đã chôn mình trong một phòng giam tu viện, và lẽ ra đã bị mất đi đối với thế gian nếu sự quan phòng của Đức Chúa Trời không giải thoát ông. Zwingli không phải đối mặt với cùng mối nguy đó. Nhờ sự quan phòng, cha ông đã nhận được tin về ý đồ của các thầy tu. Ông không có ý định cho phép con trai mình đi theo cuộc sống nhàn rỗi và vô giá trị của các thầy tu. Ông thấy rằng sự hữu ích tương lai của con đang bị đe dọa, và đã chỉ thị cho con trở về nhà ngay lập tức. GC 172.2
Mệnh lệnh được vâng theo; nhưng chàng trai không thể hài lòng lâu dài trong thung lũng quê hương, và chẳng bao lâu ông tiếp tục việc học, sau một thời gian thì đến Basel. Chính tại đây Zwingli lần đầu tiên được nghe tin lành về ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời. Wittembach, một thầy dạy các ngôn ngữ cổ, trong khi nghiên cứu tiếng Hy Lạp và Hê-bơ-rơ, đã được dẫn đến Kinh Thánh, và nhờ đó những tia sáng thiêng liêng đã chiếu vào tâm trí những học trò được ông dạy dỗ. Ông tuyên bố rằng có một chân lý cổ xưa hơn, và giá trị vô hạn hơn, so với những lý thuyết mà các học giả kinh viện và triết gia giảng dạy. Chân lý cổ xưa này là cái chết của Đấng Christ là giá chuộc duy nhất cho tội nhân. Đối với Zwingli, những lời này như tia sáng đầu tiên báo hiệu bình minh. GC 173.1
Zwingli chẳng bao lâu được gọi rời Basel để bắt đầu công việc cả đời. Cánh đồng lao động đầu tiên của ông là một giáo xứ trên dãy Alps, không xa thung lũng quê hương. Sau khi được phong làm thầy tế lễ, ông “đã hiến trọn tâm hồn mình cho việc tìm kiếm chân lý thiêng liêng; vì ông biết rõ,” như lời một nhà Cải chánh đồng thời nói, “người được giao phó bầy chiên của Đấng Christ phải biết bao nhiêu."—Wylie, b. 8, ch. 5. Ông càng tra xem Kinh Thánh, sự tương phản giữa các lẽ thật của Kinh Thánh và các tà thuyết của La-mã càng hiện ra rõ ràng. Ông thuận phục Kinh Thánh như Lời Đức Chúa Trời, quy tắc duy nhất đầy đủ và không thể sai lầm. Ông thấy rằng Kinh Thánh phải là người giải thích chính mình. Ông không dám cố gắng giải thích Kinh Thánh để ủng hộ một lý thuyết hay giáo lý đã được định sẵn, mà coi đó là bổn phận của mình để học biết sự dạy dỗ trực tiếp và hiển nhiên của nó. Ông tìm cách tận dụng mọi sự trợ giúp để có được sự hiểu biết đầy đủ và chính xác về ý nghĩa của Kinh Thánh, và ông cầu xin sự trợ giúp của Đức Thánh Linh, Đấng mà ông tuyên bố sẽ tỏ Kinh Thánh cho tất cả những ai tìm kiếm trong sự chân thành và với sự cầu nguyện. GC 173.2
“Kinh Thánh,” Zwingli nói, “đến từ Đức Chúa Trời, không phải từ con người, và chính Đức Chúa Trời là Đấng soi sáng sẽ ban cho ngươi hiểu rằng lời ấy đến từ Đức Chúa Trời. Lời Đức Chúa Trời… không thể sai được; nó sáng tỏ, nó tự dạy dỗ, nó tự bộc lộ, nó chiếu sáng linh hồn với mọi sự cứu rỗi và ân điển, an ủi linh hồn trong Đức Chúa Trời, hạ mình nó xuống, đến nỗi nó mất đi và thậm chí từ bỏ chính mình, và ôm lấy Đức Chúa Trời.” Chính Zwingli đã chứng thực được lẽ thật của những lời này. Nói về kinh nghiệm của ông vào thời gian đó, về sau ông viết: “Khi… tôi bắt đầu dâng hiến trọn vẹn bản thân cho Kinh Thánh, triết học và thần học (kinh viện) luôn gợi lên những tranh cãi trong tôi. Cuối cùng tôi đi đến chỗ nghĩ rằng, ‘Ngươi phải để tất cả những điều đó qua một bên, và học ý nghĩa của Đức Chúa Trời thuần khiết từ Lời đơn sơ của chính Ngài.’ Rồi tôi bắt đầu cầu xin Đức Chúa Trời ban ánh sáng của Ngài, và Kinh Thánh bắt đầu trở nên dễ hiểu hơn đối với tôi rất nhiều."— Sđd., b. 8, ch. 6. GC 174.1
Giáo lý mà Zwingli giảng dạy không phải được nhận từ Lu-thơ. Đó là giáo lý của Đấng Christ. “Nếu Lu-thơ giảng về Đấng Christ,” nhà Cải chánh Thụy Sĩ nói, “ông ấy đang làm điều tôi đang làm. Những người ông ấy đem đến với Đấng Christ đông hơn những người tôi đã dẫn đến. Nhưng điều đó không quan trọng. Tôi sẽ không mang danh nào khác ngoài danh của Đấng Christ, là Đấng mà tôi là chiến sĩ của Ngài, và chỉ một mình Ngài là Thủ lãnh của tôi. Chưa bao giờ có một lời nào được tôi viết cho Lu-thơ, cũng chưa có lời nào Lu-thơ viết cho tôi. Và tại sao?… Để có thể cho thấy Thần của Đức Chúa Trời hiệp nhất với chính mình biết bao, vì cả hai chúng tôi, không hề thông đồng, đều giảng dạy giáo lý của Đấng Christ với sự đồng nhất như vậy."—D’Aubigne, b. 8, ch. 9. GC 174.2
Năm 1516 Zwingli được mời trở thành một nhà giảng đạo tại tu viện ở Einsiedeln. Tại đây ông sẽ có cái nhìn gần hơn về những sự bại hoại của La-mã và sẽ gây ảnh hưởng như một nhà Cải chánh mà sẽ được cảm nhận vượt xa dãy Alps quê hương. Trong số những điểm thu hút chính của Einsiedeln là một hình tượng Đức Trinh Nữ được cho là có quyền năng làm phép lạ. Phía trên cổng tu viện có dòng chữ, “Ở đây có thể nhận được sự tha thứ toàn diện tội lỗi."— Sđd., b. 8, ch. 5. Các khách hành hương quanh năm đổ về đền thờ Đức Trinh Nữ; nhưng vào đại lễ hàng năm kỷ niệm việc thánh hiến nó, đoàn người đông đảo đến từ mọi miền Thụy Sĩ, và thậm chí từ Pháp và Đức. Zwingli, hết sức đau buồn trước cảnh tượng ấy, đã nắm lấy cơ hội để công bố sự tự do qua tin lành cho những nô lệ của mê tín này. GC 174.3
“Đừng tưởng,” ông nói, “rằng Đức Chúa Trời ngự trong đền thờ nầy nhiều hơn trong bất cứ nơi nào khác của cõi tạo vật. Dầu các ngươi cư ngụ ở xứ nào, Đức Chúa Trời vẫn ở xung quanh các ngươi, và nghe các ngươi…. Những việc làm vô ích, những cuộc hành hương nhọc nhằn, những của lễ, những ảnh tượng, sự cầu khẩn Nữ Đồng Trinh hay các thánh đồ, có thể bảo đảm cho các ngươi ân điển của Đức Chúa Trời chăng?… Vô số lời lẽ mà chúng ta dùng để diễn đạt lời cầu nguyện của mình có ích gì? Chiếc mũ trùm bóng loáng, cái đầu cạo nhẵn, chiếc áo dài lê thê, hay đôi hài thêu vàng có hiệu lực gì?… Đức Chúa Trời nhìn xem tấm lòng, mà lòng chúng ta thì cách xa Ngài.” “Đấng Christ,” ông nói, “là Đấng đã một lần dâng mình trên thập tự giá, là của lễ và sinh tế đã làm thỏa mãn cho tội lỗi của những kẻ tin đến đời đời.”— Sách đã dẫn, quyển 8, chương 5. GC 175.1
Đối với nhiều người nghe, những lời dạy nầy thật không được hoan nghênh. Thật là một nỗi thất vọng cay đắng khi họ được cho biết rằng cuộc hành trình nhọc nhằn của họ đã trở nên vô ích. Sự tha thứ được ban cho cách nhưng không qua Đấng Christ, họ không thể hiểu được. Họ đã hài lòng với con đường cũ lên thiên đàng mà Giáo hội La-mã đã vạch ra cho họ. Họ ngần ngại trước sự rắc rối của việc tìm kiếm điều gì tốt hơn. Giao phó sự cứu rỗi của mình cho các thầy tế lễ và giáo hoàng thì dễ hơn là tìm kiếm sự trong sạch của tấm lòng. GC 175.2
Nhưng một nhóm khác đã vui mừng tiếp nhận tin mừng về sự cứu chuộc qua Đấng Christ. Những nghi lễ mà Giáo hội La-mã bắt buộc đã không đem lại sự bình an cho linh hồn, và bởi đức tin họ đã tiếp nhận huyết của Đấng Cứu Thế làm của lễ chuộc tội cho mình. Họ trở về nhà để tỏ cho người khác ánh sáng quý báu mà họ đã nhận được. Lẽ thật nhờ đó được truyền từ thôn nầy đến thôn khác, từ thị trấn nầy đến thị trấn khác, và số người hành hương đến đền thờ Nữ Đồng Trinh giảm đi rất nhiều. Các của dâng giảm sút, và do đó tiền lương của Zwingli, vốn được lấy từ đó, cũng giảm đi. Nhưng điều nầy chỉ đem lại niềm vui cho ông khi ông thấy rằng quyền lực của sự cuồng tín và mê tín đang bị phá đổ. GC 175.3
Các nhà cầm quyền của hội thánh không phải không thấy công việc mà Zwingli đang thực hiện; nhưng hiện tại họ kiềm chế không can thiệp. Vẫn hy vọng thu phục ông về phía mình, họ cố gắng lôi kéo ông bằng những lời tâng bốc; và trong khi đó lẽ thật ngày càng bám rễ trong lòng dân chúng. GC 176.1
Công lao của Zwingli tại Einsiedeln đã chuẩn bị ông cho một cánh đồng rộng lớn hơn, và ông sắp bước vào đó. Sau ba năm tại đây, ông được gọi đến chức vụ giảng đạo tại nhà thờ chính tòa ở Zurich. Đây lúc ấy là thị trấn quan trọng nhất của Liên bang Thụy Sĩ, và ảnh hưởng tại đây sẽ được cảm thấy rộng khắp. Tuy nhiên, những vị giáo phẩm đã mời ông đến Zurich lại mong muốn ngăn chặn mọi sự đổi mới, và do đó họ tiến hành chỉ dẫn ông về bổn phận của ông. GC 176.2
“Ngài sẽ dốc hết sức,” họ nói, “để thu góp lợi tức của giáo hạt, không bỏ sót chút nào. Ngài sẽ khuyên nhủ các tín đồ, cả trên tòa giảng lẫn trong tòa giải tội, nộp đủ tất cả thuế thập phân và các khoản phải trả, và bày tỏ lòng yêu mến đối với hội thánh bằng những của dâng. Ngài sẽ siêng năng gia tăng lợi tức phát sinh từ những người bệnh, từ các lễ mi-sa, và nói chung từ mọi nghi thức của giáo hội.” “Còn về việc cử hành các bí tích, việc giảng đạo, và việc chăm sóc bầy chiên,” các vị giáo phẩm hướng dẫn nói thêm, “đây cũng là bổn phận của vị tuyên úy. Nhưng đối với các việc nầy, ngài có thể thuê người thay thế, đặc biệt là trong việc giảng đạo. Ngài chỉ nên cử hành bí tích cho những nhân vật có danh phận, và chỉ khi được yêu cầu; ngài bị cấm làm điều đó mà không phân biệt người.”— Sách đã dẫn, quyển 8, chương 6. GC 176.3
Zwingli im lặng lắng nghe lời ủy thác nầy, và đáp lại, sau khi bày tỏ lòng biết ơn về vinh dự được gọi đến chức vụ quan trọng nầy, ông tiếp tục giải thích đường lối mà ông dự định theo đuổi. “Cuộc đời của Đấng Christ,” ông nói, “đã bị giấu kín khỏi dân chúng quá lâu. Tôi sẽ giảng trọn sách Tin Lành Ma-thi-ơ,… chỉ rút ra từ nguồn mạch của Kinh Thánh, thăm dò chiều sâu của Kinh Thánh, so sánh đoạn nầy với đoạn khác, và tìm kiếm sự hiểu biết bằng lời cầu nguyện sốt sắng và không ngừng. Chính vì vinh hiển của Đức Chúa Trời, vì sự ngợi khen Con Một Ngài, vì sự cứu rỗi thực sự của các linh hồn, và vì sự gây dựng họ trong đức tin chân thật, mà tôi sẽ dâng hiến chức vụ của mình.”— Sách đã dẫn, quyển 8, chương 6. Mặc dầu một số giáo phẩm không tán thành kế hoạch của ông, và cố gắng khuyên can ông, Zwingli vẫn kiên định. Ông tuyên bố rằng ông sắp giới thiệu không phải một phương pháp mới, mà là phương pháp cũ đã được hội thánh sử dụng trong những thời kỳ trước và tinh khiết hơn. GC 176.4
Đã có một sự quan tâm được khơi dậy đối với những lẽ thật mà ông giảng dạy; và dân chúng kéo đến đông đảo để nghe ông giảng. Nhiều người đã lâu không còn đến dự nhóm cũng có mặt trong số những người nghe ông. Ông bắt đầu chức vụ của mình bằng cách mở các sách Tin Lành ra và đọc cùng giải thích cho người nghe câu chuyện được soi dẫn về cuộc đời, sự dạy dỗ, và sự chết của Đấng Christ. Tại đây, cũng như ở Einsiedeln, ông trình bày Lời Đức Chúa Trời là thẩm quyền không sai lầm duy nhất và sự chết của Đấng Christ là của lễ trọn vẹn duy nhất. “Chính đến với Đấng Christ,” ông nói, “mà tôi mong muốn dẫn các ngươi—đến với Đấng Christ, là nguồn cứu rỗi thật.”— Sách đã dẫn, quyển 8, chương 6. Quanh nhà giảng đạo, dân chúng thuộc mọi tầng lớp tụ họp lại, từ chính khách và học giả cho đến người thợ thủ công và nông dân. Với sự chăm chú sâu sắc, họ lắng nghe lời ông. Ông không chỉ rao truyền sự ban cho của một sự cứu rỗi nhưng không, mà còn không sợ hãi quở trách những điều xấu xa và sự thối nát của thời đại. Nhiều người trở về từ nhà thờ lớn mà ngợi khen Đức Chúa Trời. “Người nầy,” họ nói, “là một nhà giảng đạo của lẽ thật. Ông sẽ là Môi-se của chúng ta, để dẫn chúng ta ra khỏi bóng tối Ê-díp-tô nầy.”— Sách đã dẫn, quyển 8, chương 6. GC 177.1
Nhưng mặc dầu lúc đầu công lao của ông được tiếp nhận với lòng nhiệt thành lớn lao, sau một thời gian thì sự chống đối nổi lên. Các thầy tu tự đặt mình vào việc cản trở công việc của ông và lên án những sự dạy dỗ của ông. Nhiều người công kích ông bằng những lời chế giễu và nhạo báng; những kẻ khác dùng đến sự hỗn xược và những lời đe dọa. Nhưng Zwingli nhịn nhục chịu đựng tất cả, nói rằng: “Nếu chúng ta muốn đem kẻ gian ác về với Đức Chúa Giê-su, chúng ta phải nhắm mắt trước nhiều điều.”— Sách đã dẫn, quyển 8, chương 6. GC 177.2
Vào khoảng thời gian nầy, một phương tiện mới đến để thúc đẩy công cuộc cải chánh. Một người tên là Lucian được phái đến Zurich với một số tác phẩm của Lu-thơ, bởi một người bạn của đức tin đã cải chánh tại Basel, người đã đề nghị rằng việc bán những quyển sách nầy có thể là một phương tiện mạnh mẽ để rải ánh sáng. “Hãy xác minh,” ông viết cho Zwingli, “xem người nầy có đủ sự khôn ngoan và khéo léo hay không; nếu có, hãy để ông ta mang từ thành nầy sang thành khác, từ thị trấn nầy đến thị trấn khác, từ làng nầy sang làng khác, và ngay cả từ nhà nầy đến nhà khác, giữa vòng người Thụy Sĩ, các tác phẩm của Lu-thơ, và đặc biệt là bản giải nghĩa Lời Cầu Nguyện Của Chúa của ông được viết cho giới bình dân. Càng được biết đến nhiều, chúng sẽ càng tìm được nhiều người mua.”— Sách đã dẫn, quyển 8, chương 6. Nhờ đó ánh sáng tìm được lối vào. GC 178.1
Vào lúc Đức Chúa Trời đang chuẩn bị phá tan xiềng xích của sự ngu muội và mê tín, thì đó chính là lúc Sa-tan hoạt động với quyền lực lớn nhất để bao phủ loài người trong bóng tối và siết chặt xiềng xích của họ hơn nữa. Khi có những người ở các xứ khác nhau đang đứng lên để trình bày cho dân chúng sự tha thứ và xưng công bình qua huyết của Đấng Christ, Giáo hội La-mã cũng tiến hành với nghị lực mới để mở thị trường của mình khắp Cơ-đốc Giáo, ban sự tha tội để lấy tiền. GC 178.2
Mỗi tội lỗi đều có giá của nó, và người ta được cấp giấy phép tự do phạm tội miễn là kho bạc của hội thánh được giữ đầy. Như vậy hai phong trào cùng tiến tới,—một đem đến sự tha tội để lấy tiền, còn phong trào kia đem đến sự tha tội qua Đấng Christ,—Giáo hội La-mã cấp phép cho tội lỗi và biến nó thành nguồn thu của mình; các nhà Cải chánh lên án tội lỗi và chỉ về Đấng Christ là của lễ chuộc tội và Đấng giải cứu. GC 178.3
Ở Đức, việc bán bùa xá tội đã được giao cho các tu sĩ dòng Đa Minh và được tiến hành bởi Tetzel khét tiếng. Ở Thụy Sĩ, việc buôn bán nầy được đặt vào tay các tu sĩ dòng Phan Sinh, dưới sự điều khiển của Samson, một thầy tu người Ý. Samson đã từng phục vụ đắc lực cho hội thánh, đã thu được những khoản tiền khổng lồ từ Đức và Thụy Sĩ để làm đầy kho bạc của giáo hoàng. Bấy giờ ông đi khắp Thụy Sĩ, thu hút những đám đông lớn, tước đoạt của những người nông dân nghèo khổ những đồng tiền ít ỏi của họ, và đòi những của dâng quý giá từ giới giàu có. Nhưng ảnh hưởng của cuộc cải chánh đã tự biểu lộ trong việc hạn chế, dầu không thể chặn đứng, việc buôn bán nầy. Zwingli còn đang ở Einsiedeln khi Samson, không lâu sau khi vào Thụy Sĩ, đến một thị trấn lân cận với hàng hóa của mình. Khi được báo tin về sứ mạng của Samson, nhà Cải chánh liền lên đường chống lại ông ta. Hai người không gặp nhau, nhưng Zwingli đã thành công trong việc vạch trần những sự giả dối của thầy tu đó đến nỗi ông ta buộc phải rời đi nơi khác. GC 178.4
Tại Zurich, Zwingli đã giảng dạy cách sốt sắng chống lại những kẻ buôn bán bùa xá tội; và khi Samson đến gần nơi ấy, ông đã gặp một sứ giả từ hội đồng với lời thông báo rằng ông phải đi thẳng qua. Cuối cùng, ông cũng vào được bằng mưu mẹo, nhưng đã bị đuổi đi mà không bán được một tấm bùa xá tội nào, và không lâu sau đó ông đã rời khỏi Thụy Sĩ. GC 179.1
Một động lực mạnh mẽ đã được ban cho công cuộc cải chánh qua sự xuất hiện của bệnh dịch hạch, hay còn gọi là Đại Tử Thần, đã quét qua Thụy Sĩ vào năm 1519. Khi con người phải đối diện trực tiếp với kẻ hủy diệt, nhiều người đã được dẫn đến chỗ cảm nhận được những tấm bùa xá tội mà họ vừa mới mua gần đây là vô ích và vô giá trị biết bao; và họ khao khát một nền tảng chắc chắn hơn cho đức tin của mình. Zwingli tại Zurich cũng đã ngã bệnh; ông lâm bệnh nặng đến nỗi mọi hy vọng về sự bình phục của ông đều bị từ bỏ, và tin đồn lan rộng rằng ông đã chết. Trong giờ phút thử thách ấy, niềm hy vọng và lòng can đảm của ông vẫn không lay chuyển. Ông nhìn trong đức tin đến thập tự giá nơi đồi Gô-gô-tha, tin cậy vào của lễ chuộc tội đầy đủ hoàn toàn. Khi ông từ cửa tử thần trở về, ấy là để giảng tin lành với lòng nhiệt thành lớn hơn bao giờ hết; và lời nói của ông đã tạo nên một quyền năng khác thường. Dân chúng hân hoan chào đón vị mục sư yêu dấu của mình, được trả lại cho họ từ bờ vực của mồ mả. Chính họ cũng vừa mới trở về từ việc chăm sóc người bệnh và người hấp hối, và họ cảm nhận, hơn bao giờ hết, giá trị của tin lành. GC 179.2
Zwingli đã đạt đến một sự hiểu biết rõ ràng hơn về các lẽ thật của tin lành, và đã kinh nghiệm đầy đủ hơn nơi chính mình quyền năng đổi mới của nó. Sự sa ngã của con người và chương trình cứu chuộc là những chủ đề mà ông đã tập trung giảng dạy. “Trong A-đam,” ông nói, “tất cả chúng ta đều đã chết, chìm đắm trong sự hư nát và sự đoán phạt."—Wylie, b. 8, ch. 9. “Đấng Christ … đã mua cho chúng ta một sự cứu chuộc không bao giờ chấm dứt…. Sự thương khó của Ngài là … một của lễ đời đời, và có hiệu lực vĩnh viễn để chữa lành; nó làm thỏa mãn sự công bình của Đức Chúa Trời mãi mãi thay cho tất cả những ai nương cậy nơi nó bằng đức tin vững vàng và không lay chuyển.” Tuy nhiên, ông cũng dạy rõ ràng rằng con người, vì cớ ân điển của Đấng Christ, không được tự do tiếp tục sống trong tội lỗi. “Ở đâu có đức tin nơi Đức Chúa Trời, thì ở đó có Đức Chúa Trời; và ở đâu Đức Chúa Trời ngự, thì ở đó có một lòng sốt sắng thúc giục và đẩy con người đến các việc lành."—D’Aubigne, b. 8, ch. 9. GC 180.1
Sự quan tâm đến việc giảng dạy của Zwingli lớn đến nỗi nhà thờ lớn chật ních những đám đông đến nghe ông. Từng chút một, khi họ có thể tiếp nhận, ông đã mở ra lẽ thật cho những người nghe mình. Ông đã cẩn thận không giới thiệu, lúc ban đầu, những điểm có thể làm họ sững sờ và tạo ra thành kiến. Công việc của ông là chinh phục tấm lòng họ đến với những lời dạy của Đấng Christ, làm mềm họ bằng tình yêu thương của Ngài, và đặt trước mặt họ tấm gương của Ngài; và khi họ tiếp nhận các nguyên tắc của tin lành, thì những niềm tin và thực hành mê tín của họ chắc chắn sẽ bị lật đổ. GC 180.2
Từng bước một, cuộc Cải chánh đã tiến triển tại Zurich. Trong sự báo động, các kẻ thù của nó đã nổi dậy chống đối mạnh mẽ. Một năm trước đó, vị thầy tu ở Wittenberg đã thốt lên tiếng “Không” của mình đối với giáo hoàng và hoàng đế tại Worms, và giờ đây mọi sự dường như chỉ ra một sự chống đối tương tự đối với các tuyên bố của giáo hoàng tại Zurich. Các cuộc tấn công lặp đi lặp lại đã giáng xuống Zwingli. Trong các bang thuộc giáo hoàng, từng lúc một, các môn đồ của tin lành bị đưa lên giàn hỏa thiêu, nhưng như vậy vẫn chưa đủ; kẻ giảng dạy tà giáo phải bị bịt miệng. Do đó, giám mục của Constance đã phái ba đại biểu đến Hội đồng Zurich, buộc tội Zwingli đã dạy dân chúng vi phạm luật lệ của hội thánh, do đó gây nguy hiểm cho hòa bình và trật tự tốt đẹp của xã hội. Nếu quyền lực của hội thánh bị gạt qua một bên, ông ta lập luận, thì sự vô chính phủ phổ quát sẽ là hậu quả. Zwingli đáp rằng ông đã giảng tin lành tại Zurich trong bốn năm, “nơi yên tĩnh và thanh bình hơn bất kỳ thành phố nào khác trong liên bang.” “Vậy thì chẳng phải,” ông nói, “Cơ-đốc Giáo là sự bảo đảm tốt nhất cho an ninh chung hay sao?"—Wylie, b. 8, ch. 11. GC 180.3
Các đại biểu đã khuyên các ủy viên hội đồng hãy tiếp tục ở trong hội thánh, ngoài đó, họ tuyên bố, không có sự cứu rỗi. Zwingli đáp lại: “Đừng để lời buộc tội này làm các ngài dao động. Nền tảng của hội thánh là cùng một Vầng Đá, cùng một Đấng Christ, Đấng đã đặt cho Phi-e-rơ danh của ông bởi vì ông đã xưng nhận Ngài cách trung tín. Trong mọi dân tộc, bất cứ ai hết lòng tin nơi Đức Chúa Giê-su đều được Đức Chúa Trời tiếp nhận. Ở đây, thật vậy, chính là hội thánh, ngoài đó không một ai có thể được cứu."—D’Aubigne, London ed., b. 8, ch. 11. Kết quả của cuộc hội đàm này là một trong các đại biểu của giám mục đã tiếp nhận đức tin cải chánh. GC 181.1
Hội đồng đã từ chối hành động chống lại Zwingli, và La-mã đã chuẩn bị cho một cuộc tấn công mới. Vị Cải chánh gia, khi được báo về các âm mưu của kẻ thù, đã thốt lên: “Hãy để chúng đến; tôi sợ chúng như vách đá cheo leo sợ những ngọn sóng gầm thét dưới chân nó."—Wylie, b. 8, ch. 11. Những nỗ lực của giới giáo sĩ chỉ càng làm cho chính nghĩa mà họ muốn lật đổ tiến triển hơn. Lẽ thật tiếp tục lan rộng. Tại Đức, những người theo lẽ thật, vốn đã ngã lòng vì sự biến mất của Lu-thơ, đã lấy lại can đảm khi họ thấy sự tiến triển của tin lành tại Thụy Sĩ. GC 181.2
Khi cuộc Cải chánh được vững lập tại Zurich, những bông trái của nó được thấy đầy đủ hơn trong việc dẹp bỏ tật xấu và thúc đẩy trật tự và sự hòa thuận. “Sự bình an đã ngự trị trong thành phố chúng tôi,” Zwingli viết; “không còn cãi vã, không còn giả hình, không còn ganh tị, không còn tranh chấp. Sự hiệp một như vậy có thể đến từ đâu, nếu không phải từ Chúa, và từ đạo lý của chúng tôi, đạo lý đầy dẫy chúng tôi bằng những bông trái của sự bình an và tin kính?"— Ibid., b. 8, ch. 15. GC 181.3
Những thắng lợi mà cuộc Cải chánh giành được đã khuấy động những người Công Giáo La-mã đến những nỗ lực quyết tâm hơn nữa để lật đổ nó. Thấy sự bắt bớ đã đạt được ít ỏi đến thế nào trong việc đàn áp công việc của Lu-thơ tại Đức, họ quyết định đối phó với cuộc cải chánh bằng chính vũ khí của nó. Họ sẽ tổ chức một cuộc tranh luận với Zwingli, và vì tự tay sắp đặt mọi việc, họ sẽ bảo đảm chiến thắng bằng cách chính họ chọn, không những nơi diễn ra trận đấu, mà cả các quan tòa sẽ phân xử giữa các bên tranh luận. Và một khi họ đã đưa được Zwingli vào quyền lực của mình, họ sẽ cẩn thận để ông không thể trốn thoát. Khi lãnh tụ đã bị bịt miệng, phong trào có thể nhanh chóng bị đè bẹp. Tuy nhiên, mục đích này đã được che giấu cẩn thận. GC 181.4
Cuộc tranh luận được chỉ định tổ chức tại Baden; nhưng Zwingli đã không có mặt. Hội đồng Zurich, vì nghi ngờ các mưu đồ của phe giáo hoàng, và được cảnh báo bởi những giàn hỏa đang cháy trong các bang thuộc giáo hoàng dành cho những người xưng nhận tin lành, đã cấm vị mục sư của mình tự đặt mình vào mối nguy hiểm này. Tại Zurich, ông sẵn sàng đối mặt với tất cả những kẻ theo phe La-mã có thể phái đến; nhưng đi đến Baden, nơi mà máu của những người tử đạo vì lẽ thật vừa mới đổ ra, chính là đi đến cái chết chắc chắn. Oecolampadius và Haller đã được chọn để đại diện cho các nhà Cải chánh, trong khi Tiến sĩ Eck nổi tiếng, được hỗ trợ bởi một đoàn đông đảo các tiến sĩ và giám chức uyên bác, là nhà vô địch của La-mã. GC 182.1
Dù Zwingli không có mặt tại cuộc hội nghị, nhưng ảnh hưởng của ông vẫn được cảm nhận. Các thư ký đều được phe giáo hoàng lựa chọn, và những người khác bị cấm ghi chép, nếu vi phạm sẽ bị tử hình. Tuy vậy, mỗi ngày Zwingli vẫn nhận được một bản tường thuật trung thực về những gì đã được nói tại Baden. Một sinh viên tham dự cuộc tranh luận đã ghi lại mỗi tối các lập luận được trình bày trong ngày. Hai sinh viên khác nhận nhiệm vụ chuyển các tờ giấy này, cùng với các bức thư hằng ngày của Oecolampadius, đến cho Zwingli tại Zurich. Vị Cải chánh gia đã trả lời, đưa ra lời khuyên và gợi ý. Các bức thư của ông được viết vào ban đêm, và các sinh viên mang chúng trở lại Baden vào buổi sáng. Để qua mặt sự canh phòng nghiêm ngặt của lính gác tại các cổng thành phố, những sứ giả này đội trên đầu những giỏ gia cầm, và họ được phép đi qua mà không bị ngăn trở. GC 182.2
Như vậy Zwingli đã duy trì trận chiến với các đối thủ ranh mãnh của mình. “Ông đã lao động nhiều hơn,” Myconius nói, “bằng những suy tư, những đêm không ngủ, và lời khuyên mà ông gửi đến Baden, hơn là ông sẽ làm được nếu tự mình tranh luận giữa vòng kẻ thù."—D’Aubigne, b. 11, ch. 13. GC 183.1
Những người Công Giáo La-mã, hân hoan với sự đắc thắng mà họ mong đợi, đã đến Baden trong những chiếc áo lễ sang trọng nhất và lấp lánh châu báu. Họ sống xa hoa, bàn ăn của họ đầy dẫy những món cao lương mỹ vị đắt đỏ nhất và những loại rượu thượng hạng. Gánh nặng của các bổn phận giáo hội của họ được giảm nhẹ bằng sự vui chơi và yến tiệc. Trái ngược rõ rệt là các nhà Cải chánh, những người bị dân chúng xem như chẳng khá hơn một đoàn người ăn mày, và bữa ăn đạm bạc của họ chỉ giữ họ ngồi ở bàn trong thời gian ngắn. Chủ nhà trọ của Oecolampadius, nhân dịp quan sát ông trong phòng, đã thấy ông luôn bận rộn nghiên cứu hoặc cầu nguyện, và vô cùng kinh ngạc, đã báo cáo rằng kẻ tà giáo này ít nhất “rất tin kính.” GC 183.2
Tại hội nghị, “Eck kiêu ngạo bước lên một bục giảng được trang hoàng lộng lẫy, trong khi Oecolampadius khiêm nhường, ăn mặc giản dị, buộc phải ngồi đối diện với đối thủ của mình trên một chiếc ghế đẩu chạm trổ thô sơ.” — Sđd., q. 11, ch. 13. Giọng nói vang dội và sự tự tin vô hạn của Eck không bao giờ thất bại. Lòng nhiệt thành của ông được kích thích bởi hy vọng về vàng cũng như danh tiếng; vì người bảo vệ đức tin sẽ được tưởng thưởng bằng một khoản thù lao hậu hĩnh. Khi những lập luận tốt hơn không còn, ông viện đến những lời lăng mạ, và thậm chí cả những lời thề thốt. GC 183.3
Oecolampadius, khiêm tốn và không tự tin vào chính mình, đã ngần ngại trước cuộc tranh luận, và ông bước vào nó với lời tuyên bố trang trọng: “Tôi không công nhận một tiêu chuẩn phán xét nào khác ngoài lời Đức Chúa Trời.” — Sđd., q. 11, ch. 13. Dù cử chỉ nhẹ nhàng và lịch thiệp, ông đã chứng tỏ mình là người có năng lực và kiên định. Trong khi những người theo La-mã, theo thói quen của họ, viện dẫn thẩm quyền từ các tập tục của hội thánh, nhà Cải chánh vẫn kiên trì bám vào Kinh Thánh. “Tập tục,” ông nói, “không có hiệu lực tại Thụy Sĩ của chúng ta, trừ khi nó phù hợp với hiến pháp; giờ đây, trong các vấn đề về đức tin, Kinh Thánh là hiến pháp của chúng ta.” — Sđd., q. 11, ch. 13. GC 183.4
Sự tương phản giữa hai người tranh luận không phải là không có tác dụng. Lập luận điềm tĩnh, rõ ràng của nhà Cải chánh, được trình bày một cách nhẹ nhàng và khiêm tốn, đã thu hút những tâm trí quay lưng ghê tởm trước những khẳng định khoác lác và ồn ào của Eck. GC 184.1
Cuộc tranh luận kéo dài mười tám ngày. Khi kết thúc, những người theo giáo hoàng với lòng tự tin lớn đã tuyên bố chiến thắng. Phần lớn các đại biểu đứng về phía La-mã, và Nghị hội tuyên bố các nhà Cải chánh bị đánh bại và tuyên bố rằng họ, cùng với Zwingli, thủ lĩnh của họ, bị khai trừ khỏi hội thánh. Nhưng những kết quả của hội nghị đã cho thấy lợi thế nghiêng về phía nào. Cuộc tranh đấu đã tạo ra một động lực mạnh mẽ cho sự nghiệp Tin Lành, và không lâu sau đó, các thành phố quan trọng là Bern và Basel đã tuyên bố ủng hộ cuộc Cải chánh. GC 184.2