Chương 5
05

John Wycliffe

Chương 5—John Wycliffe

Trước cuộc Cải chánh, đôi khi chỉ có rất ít bản Kinh Thánh tồn tại, nhưng Đức Chúa Trời đã không để cho Lời Ngài bị tiêu hủy hoàn toàn. Các lẽ thật của Lời ấy không bị chôn giấu mãi mãi. Ngài có thể dễ dàng tháo xiềng cho những lời ban sự sống như Ngài đã từng mở cửa ngục và tháo then sắt để giải phóng các tôi tớ Ngài. Tại các quốc gia khác nhau ở châu Âu, có những người đã được Thánh Linh Đức Chúa Trời cảm động để tìm kiếm lẽ thật như tìm kho báu giấu kín. Được quan phòng hướng dẫn đến với Kinh Thánh, họ nghiên cứu các trang sách thánh với lòng nhiệt thành mãnh liệt. Họ sẵn lòng tiếp nhận ánh sáng bất kể phải trả giá nào. Dầu không nhìn thấy mọi sự cách rõ ràng, họ đã được ban cho khả năng nhận biết nhiều lẽ thật bị chôn vùi lâu ngày. Như những sứ giả được Thiên đàng sai đến, họ ra đi, bẻ gãy xiềng xích của sự sai lầm và mê tín, kêu gọi những người từ lâu bị nô lệ hãy đứng dậy và xác quyết sự tự do của mình. GC 79.1

Ngoại trừ trong vòng người Waldenses, Lời Đức Chúa Trời trong nhiều thế kỷ đã bị khóa kín trong các ngôn ngữ chỉ người có học mới biết; nhưng thời điểm đã đến để Kinh Thánh được dịch ra và trao cho dân chúng ở các xứ khác nhau bằng tiếng mẹ đẻ của họ. Thế giới đã đi qua nửa đêm. Những giờ tăm tối đang dần trôi qua, và tại nhiều xứ đã xuất hiện những dấu hiệu của bình minh đang đến. GC 79.2

Vào thế kỷ mười bốn, tại nước Anh đã xuất hiện “ngôi sao mai của cuộc Cải chánh”. John Wycliffe là người tiên phong của cuộc cải cách, không chỉ cho nước Anh mà cho toàn thể cộng đồng Cơ-đốc Giáo. Lời phản kháng lớn lao chống lại La-mã mà ông được phép cất lên sẽ không bao giờ bị dập tắt. Lời phản kháng ấy đã mở ra cuộc đấu tranh dẫn đến sự giải phóng cho các cá nhân, các hội thánh và các quốc gia. (Xem Phụ lục.) GC 80.1

Wycliffe được hưởng một nền giáo dục rộng rãi, và đối với ông, sự kính sợ Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan. Tại đại học, ông nổi tiếng nhờ lòng sùng kính nhiệt thành cũng như nhờ tài năng xuất chúng và nền học vấn vững chắc. Trong lòng khao khát tri thức, ông đã tìm hiểu mọi ngành học vấn. Ông được đào tạo trong triết học kinh viện, trong giáo luật của hội thánh, và trong luật dân sự, đặc biệt là luật của chính đất nước mình. Giá trị của sự rèn luyện thuở ban đầu này đã được thể hiện rõ trong công việc về sau của ông. Sự am hiểu tường tận nền triết học tư biện đương thời đã giúp ông phơi bày những sai lầm của nó; và nhờ sự nghiên cứu luật pháp quốc gia và giáo hội, ông đã được chuẩn bị để tham gia vào cuộc đấu tranh lớn lao cho tự do dân sự và tự do tôn giáo. Trong khi có thể sử dụng những vũ khí rút ra từ Lời Đức Chúa Trời, ông cũng đã đạt được sự rèn luyện trí tuệ của trường học, và ông thông hiểu chiến thuật của các học giả kinh viện. Sức mạnh của thiên tài, cùng sự rộng rãi và thấu đáo của tri thức nơi ông đã khiến cả bạn lẫn thù đều phải kính nể. Những người theo ông vui mừng thấy người dẫn đầu của họ đứng vào hàng đầu trong số những tư tưởng kiệt xuất của quốc gia; còn kẻ thù của ông thì không thể khinh miệt sự nghiệp cải cách bằng cách vạch ra sự dốt nát hay yếu kém của người ủng hộ nó. GC 80.2

Khi còn đang học đại học, Wycliffe đã bắt đầu nghiên cứu Kinh Thánh. Vào thời ấy, khi Kinh Thánh chỉ tồn tại trong các ngôn ngữ cổ, các học giả mới có thể tìm đường đến với nguồn suối lẽ thật vốn đóng kín đối với tầng lớp không có học. Như vậy, con đường đã được dọn sẵn cho công việc tương lai của Wycliffe với tư cách một nhà Cải chánh. Những người có học đã nghiên cứu Lời Đức Chúa Trời và đã tìm thấy lẽ thật lớn lao về ân điển nhưng không của Ngài được bày tỏ ở đó. Trong sự giảng dạy của mình, họ đã truyền bá tri thức về lẽ thật này, và đã dẫn dắt nhiều người khác quay về với các lời phán hằng sống. GC 80.3

Khi sự chú ý của Wycliffe được hướng đến Kinh Thánh, ông đã bắt đầu khảo cứu với cùng một sự thấu đáo từng giúp ông làm chủ nền học vấn của trường học. Trước đây, ông đã cảm thấy một sự thiếu thốn to lớn mà cả những nghiên cứu kinh viện lẫn sự giảng dạy của hội thánh đều không thể làm thỏa nguyện. Trong Lời Đức Chúa Trời, ông đã tìm thấy điều mà trước đây ông tìm kiếm vô ích. Tại đây, ông thấy chương trình cứu rỗi được bày tỏ và Đấng Christ được trình bày là Đấng cầu thay duy nhất cho loài người. Ông đã hiến mình cho sự phục vụ Đấng Christ và quyết tâm công bố những lẽ thật mình đã khám phá. GC 81.1

Giống như các nhà Cải chánh về sau, Wycliffe, khi bắt đầu công việc của mình, đã không lường trước được nó sẽ đưa ông đến đâu. Ông không cố ý đặt mình đối nghịch với La-mã. Nhưng lòng tận tụy với lẽ thật tất yếu đưa ông vào xung đột với sự giả dối. Càng nhận rõ những sai lầm của giáo hoàng, ông càng tha thiết trình bày sự dạy dỗ của Kinh Thánh. Ông thấy La-mã đã bỏ Lời Đức Chúa Trời để theo truyền thống loài người; ông đã can đảm tố cáo hàng giáo phẩm đã lưu đày Kinh Thánh, và đòi hỏi Kinh Thánh phải được trả lại cho dân chúng và thẩm quyền của Kinh Thánh phải được tái lập trong hội thánh. Ông là một giáo sư có tài và nhiệt thành, một nhà giảng đạo hùng hồn, và đời sống hằng ngày của ông là một minh chứng cho những lẽ thật ông rao giảng. Tri thức về Kinh Thánh, sức mạnh của lý luận, sự trong sạch của đời sống, cùng lòng can đảm và liêm chính không lay chuyển đã giành cho ông lòng tôn trọng và tin cậy của mọi người. Nhiều người trong dân chúng đã trở nên bất mãn với đức tin trước kia của họ khi họ thấy sự gian ác thịnh hành trong Giáo hội La-mã, và họ đã đón nhận với niềm vui không che giấu những lẽ thật mà Wycliffe đem lại; nhưng các nhà lãnh đạo giáo hoàng thì đầy giận dữ khi thấy nhà Cải chánh này đang có ảnh hưởng lớn hơn ảnh hưởng của chính họ. GC 81.2

Wycliffe là người nhạy bén trong việc phát hiện sai lầm, và ông đã mạnh dạn công kích nhiều sự lạm dụng được thẩm quyền của La-mã dung túng. Trong khi giữ chức giáo sĩ cho nhà vua, ông đã đứng lên cách can đảm chống lại việc nộp cống mà giáo hoàng đòi hỏi nơi quân vương nước Anh, và chứng tỏ rằng sự tự xưng thẩm quyền của giáo hoàng trên các nhà cai trị thế tục là trái với cả lý trí lẫn mặc khải. Những đòi hỏi của giáo hoàng đã khơi dậy sự phẫn nộ lớn lao, và sự giảng dạy của Wycliffe đã gây ảnh hưởng trên các tâm trí lãnh đạo của quốc gia. Nhà vua và các quan lại đã hiệp lại từ chối tuyên bố về thẩm quyền thế tục của giáo hoàng và từ chối nộp cống. Như vậy, một đòn hữu hiệu đã giáng vào quyền tối thượng của giáo hoàng tại nước Anh. GC 82.1

Một tệ nạn khác mà nhà Cải chánh đã chiến đấu lâu dài và kiên quyết là chế độ các dòng tu khất sĩ. Các tu sĩ này tràn lan khắp nước Anh, phủ bóng tàn úa lên sự vĩ đại và thịnh vượng của quốc gia. Công nghiệp, giáo dục, đạo đức, tất cả đều cảm nhận ảnh hưởng héo mòn ấy. Đời sống lười biếng và ăn xin của tu sĩ không chỉ là gánh nặng lớn trên tài nguyên của dân chúng, mà còn khiến lao động hữu ích bị khinh rẻ. Thanh niên bị hư hỏng và bại hoại. Bởi ảnh hưởng của các tu sĩ, nhiều người bị lôi cuốn vào tu viện để dấn thân vào đời sống tu trì, và không những không có sự đồng thuận của cha mẹ, mà còn không hề cho cha mẹ hay biết và trái với lệnh cấm của cha mẹ. Một trong những giáo phụ đầu tiên của Giáo hội La-mã, khi đề cao những đòi hỏi của đời sống tu trì trên bổn phận và tình hiếu thảo, đã tuyên bố: “Dẫu cha ngươi nằm trước cửa nhà ngươi mà khóc lóc than van, và mẹ ngươi phô bày thân thể đã sanh ngươi cùng bầu vú đã nuôi ngươi, thì ngươi hãy giẫm lên họ mà tiến thẳng đến Đấng Christ.” Bởi “sự vô nhân tính quái gở” này, như Luther về sau đã gọi, “mang dáng dấp của chó sói và bạo chúa hơn là của Cơ-đốc nhân và con người”, mà lòng con cái đã bị tôi luyện để chống lại cha mẹ mình.—Barnas Sears, The Life of Luther, trang 70, 69. Như vậy, các nhà lãnh đạo giáo hoàng, giống như người Pha-ri-si thuở xưa, đã lấy truyền thống của mình mà làm cho điều răn của Đức Chúa Trời ra vô hiệu. Như vậy, nhiều mái ấm đã trở nên tiêu điều và cha mẹ bị cướp mất sự đồng hành của con trai con gái mình. GC 82.2

Ngay cả các sinh viên đại học cũng bị lừa dối bởi những trình bày sai lạc của các tu sĩ và bị thuyết phục gia nhập các dòng tu. Về sau, nhiều người ăn năn bước đi ấy, khi thấy mình đã làm hỏng đời sống của chính mình và đem lại sầu khổ cho cha mẹ; nhưng một khi đã sa vào bẫy, thì không thể nào thoát ra được. Nhiều bậc cha mẹ, vì sợ ảnh hưởng của các tu sĩ, đã từ chối cho con trai mình đi học tại các trường đại học. Số lượng sinh viên theo học tại các trung tâm học thuật lớn đã sút giảm rõ rệt. Các trường suy kiệt, và sự dốt nát thịnh hành. GC 83.1

Giáo hoàng đã ban cho các tu sĩ này quyền nghe xưng tội và ban sự tha thứ. Điều này đã trở thành nguồn gốc của tội ác lớn. Quyết tâm gia tăng lợi lộc, các thầy dòng sẵn sàng ban sự xá tội đến nỗi những kẻ phạm tội đủ mọi hạng đều tìm đến họ, và kết quả là các thói xấu tồi tệ nhất đã gia tăng nhanh chóng. Những người bệnh tật và nghèo khó bị bỏ mặc trong đau khổ, trong khi những món quà lẽ ra phải giúp đỡ nhu cầu của họ thì lại rơi vào tay các tu sĩ, những người dùng sự đe dọa để đòi của bố thí từ dân chúng, tố cáo sự bất kính của những ai không chịu dâng lễ vật cho các dòng tu của họ. Dù tuyên xưng sự nghèo khó, tài sản của các thầy dòng lại không ngừng gia tăng, và những tòa nhà tráng lệ cùng bàn tiệc xa hoa của họ càng làm lộ rõ sự nghèo đói đang gia tăng của quốc gia. Và trong khi họ dành thời gian sống trong xa hoa và khoái lạc, họ đã sai đi thay thế mình những người dốt nát, chỉ có thể kể lại những câu chuyện kỳ lạ, những truyền thuyết và những lời đùa cợt để làm vui lòng dân chúng và khiến họ càng trở thành nạn nhân bị lừa gạt hoàn toàn của các tu sĩ. Tuy nhiên, các thầy dòng vẫn tiếp tục nắm giữ quyền lực trên đám đông mê tín và dẫn dắt họ tin rằng tất cả bổn phận tôn giáo đều bao gồm trong việc công nhận quyền tối thượng của giáo hoàng, tôn thờ các thánh đồ, và dâng quà cho các tu sĩ, và rằng điều đó là đủ để bảo đảm cho họ một chỗ trên thiên đàng. GC 83.2

Những người có học thức và lòng mộ đạo đã ra sức cải cách các dòng tu này nhưng đều vô ích; còn Wycliffe, với cái nhìn sáng suốt hơn, đã đánh thẳng vào gốc rễ của sự dữ, tuyên bố rằng chính hệ thống ấy là sai lầm và phải bị bãi bỏ. Sự bàn luận và tìm tòi đã được khơi dậy. Khi các tu sĩ đi khắp xứ, bán những giấy xá tội của giáo hoàng, nhiều người đã bắt đầu nghi ngờ về khả năng mua sự tha thứ bằng tiền bạc, và họ tự hỏi liệu họ có nên tìm kiếm sự tha thứ từ Đức Chúa Trời thay vì từ giáo hoàng La-mã. (Xem ghi chú Phụ lục cho trang 59.) Không ít người đã kinh hoàng trước lòng tham của các thầy dòng, mà lòng tham ấy dường như không bao giờ được thỏa mãn. Họ nói: “Các tu sĩ và các thầy tế lễ của La-mã đang gặm nhấm chúng ta như một khối ung thư. Đức Chúa Trời phải giải cứu chúng ta, nếu không dân chúng sẽ diệt vong."—D’Aubigne, b. 17, ch. 7. Để che đậy lòng tham của mình, những tu sĩ khất thực này tuyên bố rằng họ đang noi theo gương của Đấng Cứu Thế, khẳng định rằng Đức Chúa Giê-su và các môn đồ Ngài đã được nuôi dưỡng bởi của bố thí của dân chúng. Lời tuyên bố này đã gây tổn hại cho chính nghĩa của họ, vì nó đã dẫn nhiều người đến với Kinh Thánh để tự mình học biết lẽ thật—một kết quả mà La-mã ít mong muốn nhất trong tất cả mọi kết quả. Tâm trí của con người đã được hướng đến Nguồn Chân Lý, điều mà La-mã đang tìm cách che giấu. GC 84.1

Wycliffe bắt đầu viết và xuất bản những tập sách nhỏ chống lại các thầy dòng, tuy nhiên, không phải với mục đích tranh luận với họ cho bằng để kêu gọi tâm trí dân chúng hướng về những lời dạy của Kinh Thánh và Tác Giả của Kinh Thánh. Ông tuyên bố rằng quyền tha thứ hay quyền dứt phép thông công mà giáo hoàng có cũng chẳng nhiều hơn quyền của các thầy tế lễ thông thường, và không ai có thể thật sự bị dứt phép thông công trừ khi trước đó người ấy đã tự chuốc lấy sự lên án của Đức Chúa Trời trên chính mình. Không có cách nào hữu hiệu hơn mà ông có thể dùng để lật đổ cái công trình khổng lồ của sự thống trị thuộc linh và thuộc thể mà giáo hoàng đã dựng nên và trong đó linh hồn và thân thể của hàng triệu người bị giam cầm. GC 84.2

Một lần nữa, Wycliffe được gọi đến để bảo vệ quyền lợi của vương quốc Anh trước sự xâm lấn của La-mã; và được bổ nhiệm làm đại sứ hoàng gia, ông đã trải qua hai năm ở Hà Lan, thảo luận với các ủy viên của giáo hoàng. Tại đây, ông đã được tiếp xúc với các chức sắc giáo hội đến từ Pháp, Ý và Tây Ban Nha, và ông đã có cơ hội nhìn vào hậu trường và biết được nhiều điều mà nếu ông ở lại Anh thì những điều ấy vẫn sẽ bị che giấu đối với ông. Ông đã học được nhiều điều sẽ làm cho công việc về sau của ông thêm sắc bén. Trong những đại diện từ triều đình giáo hoàng này, ông đã nhận ra bản chất thật và những mục tiêu của hệ thống phẩm trật. Ông trở về Anh để lặp lại những lời giảng dạy trước đây của mình một cách cởi mở hơn và với lòng nhiệt thành lớn hơn, tuyên bố rằng lòng tham lam, sự kiêu ngạo và sự lừa dối là những thần tượng của La-mã. GC 84.3

Trong một tập sách nhỏ của ông, khi nói về giáo hoàng và những kẻ thâu thuế của ông ta, ông đã viết: “Chúng rút ra khỏi đất nước chúng ta phương tiện sinh sống của người nghèo, và mỗi năm hàng ngàn đồng mác tiền của vua, vì các phép bí tích và những điều thuộc linh, đó là dị giáo đáng nguyền rủa của tội buôn thần bán thánh, và khiến cho toàn thể Cơ-đốc Giáo đồng tình và duy trì dị giáo này. Và chắc chắn rằng dù vương quốc chúng ta có một ngọn núi vàng khổng lồ, và không ai khác lấy đi ngoài kẻ thâu thuế của thầy tế lễ kiêu ngạo và thuộc về thế gian này, thì theo thời gian ngọn núi ấy cũng phải tiêu tan; vì hắn liên tục lấy tiền ra khỏi đất nước chúng ta, và chẳng gửi lại gì ngoài sự rủa sả của Đức Chúa Trời vì tội buôn thần bán thánh của hắn."—John Lewis, History of the Life and Sufferings of J. Wiclif, page 37. GC 85.1

Ngay sau khi trở về Anh, Wycliffe đã được vua bổ nhiệm làm cha xứ tại Lutterworth. Đây là sự bảo đảm rằng ít nhất là nhà vua đã không phật lòng trước sự nói thẳng của ông. Ảnh hưởng của Wycliffe đã được cảm nhận trong việc định hình hành động của triều đình, cũng như trong việc uốn nắn niềm tin của quốc gia. GC 85.2

Chẳng bao lâu sau, những tiếng sấm của giáo hoàng đã giáng xuống trên ông. Ba trát lệnh đã được gửi đến nước Anh—gửi cho trường đại học, cho nhà vua, và cho các giám mục—tất cả đều truyền lệnh phải có những biện pháp quyết liệt và tức thời để bịt miệng vị giáo sư dị giáo này. (Augustus Neander, General History of the Christian Religion and Church, period 6, sec. 2, pt. 1, par. 8. Cũng xem Phụ lục.) Tuy nhiên, trước khi các trát lệnh đến nơi, các giám mục, trong sự nhiệt thành của mình, đã triệu tập Wycliffe đến trước mặt họ để xét xử. Nhưng hai trong số những vị hoàng thân quyền lực nhất của vương quốc đã cùng đi với ông đến tòa án; và dân chúng đã vây quanh tòa nhà rồi xông vào, đã đe dọa các quan tòa đến nỗi cuộc xét xử phải tạm đình chỉ lúc ấy, và ông được phép ra về bình an. Ít lâu sau, Edward III, vị vua mà lúc về già các giám mục đang tìm cách gây ảnh hưởng để chống lại nhà Cải chánh, đã qua đời, và người bảo trợ trước đây của Wycliffe trở thành nhiếp chánh vương của vương quốc. GC 85.3

Nhưng sự xuất hiện của các trát lệnh giáo hoàng đã đặt trên toàn nước Anh một mệnh lệnh nghiêm ngặt về việc bắt giữ và giam cầm kẻ dị giáo. Những biện pháp này chỉ thẳng đến cột thiêu. Dường như chắc chắn rằng Wycliffe sẽ sớm trở thành con mồi cho sự báo thù của La-mã. Nhưng Đấng đã phán với một người thuở xưa rằng: Sau các việc đó, trong sự hiện thấy có lời Đức Giê-hô-va phán cùng Áp-ram rằng: Hỡi Áp-ram! ngươi chớ sợ chi; ta đây là một cái thuẫn đỡ cho ngươi; phần thưởng của ngươi sẽ rất lớn.

(Sáng-thế Ký 15:1)lại một lần nữa giơ tay Ngài ra để bảo vệ tôi tớ Ngài. Sự chết đã đến, không phải đến với nhà Cải chánh, mà đến với vị giáo hoàng đã ra sắc lệnh hủy diệt ông. Gregory XI qua đời, và các giáo phẩm đã nhóm lại để xét xử Wycliffe đều tan rã. GC 86.1

Sự quan phòng của Đức Chúa Trời còn tiếp tục điều khiển các sự kiện để tạo cơ hội cho cuộc Cải chánh phát triển. Sau cái chết của Gregory là cuộc bầu cử hai giáo hoàng đối nghịch nhau. Hai quyền lực xung đột, mỗi bên đều tự nhận là không thể sai lầm, giờ đây đều đòi hỏi sự vâng phục. (Xem ghi chú Phụ lục cho trang 50.) Mỗi bên đều kêu gọi tín hữu trung thành giúp đỡ mình trong việc gây chiến với bên kia, buộc phải tuân theo yêu cầu của mình bằng những lời nguyền rủa khủng khiếp chống lại kẻ thù, và những lời hứa ban thưởng trên thiên đàng cho những người ủng hộ. Sự kiện này đã làm suy yếu nghiêm trọng quyền lực của giáo hoàng. Các phe đối nghịch đã phải lo đối phó với nhau nên không còn thời gian cho việc khác, và Wycliffe trong một thời gian đã được yên nghỉ. Những lời nguyền rủa và tố cáo lẫn nhau đã bay qua bay lại giữa giáo hoàng này với giáo hoàng kia, và máu đã tuôn đổ như thác để ủng hộ các tuyên bố xung đột của họ. Tội ác và sự tai tiếng đã tràn ngập hội thánh. Trong khi đó, nhà Cải chánh, trong sự ẩn dật yên tĩnh tại giáo xứ Lutterworth của mình, đã chuyên tâm làm việc để hướng con người từ những giáo hoàng đang tranh chấp đến Đức Chúa Giê-su, Chúa Bình An. GC 86.2

Cuộc ly giáo, với tất cả sự xung đột và thối nát mà nó gây ra, đã chuẩn bị đường cho cuộc Cải chánh bằng cách cho phép dân chúng thấy được giáo hoàng thực sự là gì. Trong một tập sách nhỏ ông đã xuất bản, On the Schism of the Popes, Wycliffe đã kêu gọi dân chúng hãy xem xét xem hai thầy tế lễ này có đang nói thật hay không khi họ lên án lẫn nhau là kẻ địch lại Đấng Christ. Ông nói: “Đức Chúa Trời không còn chịu đựng cho kẻ ác cai trị trong chỉ một thầy tế lễ như vậy nữa, nhưng… đã tạo ra sự chia rẽ giữa hai người, để nhân danh Đấng Christ, loài người có thể dễ dàng hơn mà đánh bại cả hai."—R. Vaughan, Life and Opinions of John de Wycliffe, vol. 2, p. 6. GC 86.3

Wycliffe, giống như Thầy của mình, đã rao giảng tin lành cho người nghèo. Không thỏa lòng với việc truyền bá ánh sáng trong những mái nhà khiêm nhường tại giáo xứ Lutterworth của mình, ông quyết tâm rằng ánh sáng ấy phải được đem đến mọi miền của nước Anh. Để hoàn thành điều này, ông đã tổ chức một đoàn những người rao giảng, những con người mộc mạc, tin kính, yêu chân lý và không mong muốn gì hơn là truyền bá nó. Những người này đi khắp mọi nơi, giảng dạy nơi chợ búa, trên đường phố của các thành phố lớn, và trong những con đường quê. Họ tìm đến những người già cả, đau ốm và nghèo khổ, và mở ra cho họ tin mừng về ân điển của Đức Chúa Trời. GC 87.1

Là giáo sư thần học tại Oxford, Wycliffe rao giảng Lời Đức Chúa Trời trong các giảng đường của trường đại học. Ông trình bày chân lý cho các sinh viên dưới sự giảng dạy của mình một cách trung thành đến nỗi ông được ban cho danh hiệu “tiến sĩ tin lành.” Nhưng công trình vĩ đại nhất trong đời ông là việc dịch Kinh Thánh sang tiếng Anh. Trong một tác phẩm, Về Chân Lý và Ý Nghĩa của Kinh Thánh, ông bày tỏ ý định dịch Kinh Thánh, để mỗi người tại nước Anh có thể đọc, bằng tiếng mẹ đẻ của mình, những công việc kỳ diệu của Đức Chúa Trời. GC 87.2

Nhưng đột nhiên công việc của ông bị ngừng lại. Dù chưa đến sáu mươi tuổi, nhưng sự lao nhọc không ngừng, học tập và những cuộc tấn công của kẻ thù đã làm hao mòn sức lực và khiến ông già trước tuổi. Ông bị mắc một cơn bệnh nguy hiểm. Tin tức này đem lại niềm vui lớn cho các tu sĩ. Bây giờ họ nghĩ rằng ông sẽ ăn năn cay đắng về điều ác ông đã gây cho hội thánh, và họ vội vã đến phòng ông để lắng nghe lời thú tội. Những người đại diện từ bốn dòng tu, cùng với bốn viên chức dân sự, tụ họp quanh người được cho là sắp chết. “Ngươi đã có cái chết trên môi,” họ nói; “hãy xúc động bởi những lỗi lầm của ngươi, và hãy rút lại trước mặt chúng ta tất cả những gì ngươi đã nói làm tổn hại đến chúng ta.” Nhà Cải chánh lặng lẽ lắng nghe; rồi ông bảo người hầu nâng ông dậy trên giường, và, nhìn chằm chằm vào họ khi họ đứng chờ đợi lời rút lại, ông nói, bằng giọng vững vàng, mạnh mẽ đã từng khiến họ run sợ: “Ta sẽ không chết, nhưng sẽ sống; và sẽ tuyên bố lại những việc làm gian ác của các tu sĩ."—D’Aubigne, b. 17, ch. 7. Kinh ngạc và bối rối, các tu sĩ vội vã rời khỏi phòng. GC 87.3

Lời của Wycliffe đã được ứng nghiệm. Ông sống để đặt vào tay đồng bào của mình thứ vũ khí mạnh mẽ nhất chống lại La-mã—để trao cho họ Kinh Thánh, công cụ được Thiên đàng chỉ định để giải phóng, soi sáng, và truyền tin lành cho dân chúng. Có nhiều và lớn những chướng ngại phải vượt qua trong việc hoàn thành công trình này. Wycliffe bị đè nặng bởi những yếu đuối; ông biết rằng chỉ còn lại vài năm để lao động; ông thấy sự chống đối mà ông phải đối mặt; nhưng, được khích lệ bởi những lời hứa của Lời Đức Chúa Trời, ông tiến lên không hề nao núng. Trong sự tràn đầy sinh lực của các năng lực trí tuệ, giàu kinh nghiệm, ông đã được gìn giữ và chuẩn bị bởi sự quan phòng đặc biệt của Đức Chúa Trời cho công việc này, công trình vĩ đại nhất của ông. Trong khi toàn thể Cơ-đốc Giáo đầy biến động, nhà Cải chánh trong giáo xứ Lutterworth của mình, không để ý đến cơn bão đang hoành hành bên ngoài, đã chuyên tâm vào nhiệm vụ mà ông đã chọn. GC 88.1

Cuối cùng công việc đã hoàn thành—bản dịch Kinh Thánh đầu tiên sang tiếng Anh từng được thực hiện. Lời Đức Chúa Trời đã được mở ra cho nước Anh. Nhà Cải chánh giờ đây không còn sợ ngục tù hay giàn thiêu. Ông đã đặt vào tay người dân Anh một ngọn đèn sẽ không bao giờ bị dập tắt. Khi ban Kinh Thánh cho đồng bào của mình, ông đã làm được nhiều hơn để phá vỡ xiềng xích của sự ngu dốt và tật xấu, làm được nhiều hơn để giải phóng và nâng cao đất nước của mình, hơn bất cứ điều gì đã từng đạt được bởi những chiến thắng rực rỡ nhất trên các chiến trường. GC 88.2

Do nghệ thuật in ấn lúc đó vẫn chưa được biết đến, nên chỉ bằng sức lao động chậm chạp và mệt nhọc mà các bản sao của Kinh Thánh mới có thể được nhân lên. Sự quan tâm để có được quyển sách lớn đến nỗi nhiều người sẵn lòng tham gia vào công việc chép lại, nhưng các người chép khó mà đáp ứng nổi nhu cầu. Một số người mua giàu có hơn muốn có toàn bộ Kinh Thánh. Những người khác chỉ mua một phần. Trong nhiều trường hợp, vài gia đình hợp lại để mua một bản. Như vậy, Kinh Thánh của Wycliffe sớm tìm được đường vào nhà của dân chúng. GC 88.3

Lời kêu gọi đến lý trí con người đã khuấy động họ khỏi sự phục tùng thụ động đối với các giáo điều của giáo hoàng. Wycliffe bây giờ dạy những giáo lý đặc trưng của Tin Lành—sự cứu rỗi qua đức tin nơi Đấng Christ, và sự không sai lầm duy nhất của Kinh Thánh. Những người rao giảng mà ông đã sai đi lưu hành Kinh Thánh, cùng với các tác phẩm của nhà Cải chánh, với thành công đến nỗi đức tin mới được chấp nhận bởi gần một nửa dân chúng nước Anh. GC 89.1

Sự xuất hiện của Kinh Thánh đã đem lại sự kinh hoàng cho các nhà lãnh đạo hội thánh. Bây giờ họ phải đối phó với một tác nhân mạnh mẽ hơn Wycliffe—một tác nhân mà vũ khí của họ khó lòng đương đầu. Vào thời điểm đó không có luật nào ở nước Anh cấm Kinh Thánh, vì nó chưa bao giờ được xuất bản trước đây bằng ngôn ngữ của dân chúng. Những luật như vậy sau này được ban hành và thi hành nghiêm khắc. Trong khi đó, bất chấp những nỗ lực của các thầy tế lễ, vẫn có một thời gian có cơ hội để lưu hành Lời Đức Chúa Trời. GC 89.2

Một lần nữa các nhà lãnh đạo giáo hoàng âm mưu làm im tiếng nói của nhà Cải chánh. Ông lần lượt bị triệu tập ra ba tòa án để xét xử, nhưng không có kết quả. Đầu tiên, một hội đồng giám mục tuyên bố các tác phẩm của ông là tà giáo, và, lôi kéo vị vua trẻ, Richard II, về phía họ, họ đã đạt được một sắc lệnh hoàng gia đưa vào tù tất cả những ai ủng hộ các giáo lý bị kết án. GC 89.3

Wycliffe kháng cáo từ hội đồng lên Quốc hội; ông không sợ hãi tố cáo hệ thống phẩm trật giáo hội trước hội đồng quốc gia và đòi hỏi cải cách những lạm dụng to lớn mà hội thánh đã dung túng. Với sức thuyết phục, ông mô tả sự chiếm đoạt và sự tha hóa của tòa thánh. Kẻ thù của ông bị bối rối. Bạn bè và những người ủng hộ Wycliffe đã bị buộc phải nhường bước, và người ta tin tưởng mong đợi rằng chính nhà Cải chánh, trong tuổi già, cô đơn và không bạn bè, sẽ cúi đầu trước quyền lực liên minh của ngai vàng và mũ giám mục. Nhưng thay vào đó, những người theo giáo hoàng thấy chính mình bị đánh bại. Quốc hội, được khuấy động bởi những lời kêu gọi sôi nổi của Wycliffe, đã bãi bỏ sắc lệnh bắt bớ, và nhà Cải chánh lại được tự do. GC 89.4

Lần thứ ba ông bị đưa ra xét xử, và bây giờ trước tòa án giáo hội cao nhất trong vương quốc. Ở đây sẽ không có sự khoan hồng nào dành cho tà giáo. Ở đây cuối cùng La-mã sẽ chiến thắng, và công việc của nhà Cải chánh sẽ bị chặn đứng. Những người theo giáo hoàng nghĩ vậy. Nếu họ có thể hoàn thành mục đích của mình, Wycliffe sẽ bị buộc phải từ bỏ các giáo lý của mình, hoặc sẽ rời tòa án chỉ để đi đến ngọn lửa. GC 90.1

Nhưng Wycliffe đã không rút lại; ông sẽ không giả vờ. Ông không sợ hãi giữ vững các giáo huấn của mình và bác bỏ những lời cáo buộc của những kẻ bắt bớ ông. Quên đi bản thân, địa vị của mình, và hoàn cảnh, ông triệu tập những người nghe ra trước tòa án thiêng liêng, và cân đo những ngụy biện và dối trá của họ trên cán cân của chân lý đời đời. Quyền năng của Đức Thánh Linh được cảm nhận trong phòng hội đồng. Một sự linh ứng từ Đức Chúa Trời ngự trên những người nghe. Họ dường như không có sức rời khỏi chỗ đó. Như những mũi tên từ ống tên của Chúa, lời của nhà Cải chánh xuyên thấu lòng họ. Lời cáo buộc tà giáo mà họ đã đem lại chống lại ông, ông với sức thuyết phục ném trở lại chính họ. Ông hỏi, tại sao họ dám phổ biến những sai lầm của mình? Vì lợi lộc, để biến ân điển của Đức Chúa Trời thành hàng hóa sao? GC 90.2

“Các ngươi nghĩ rằng,” cuối cùng ông nói, “các ngươi đang chống lại ai? Một ông già bên bờ huyệt mộ sao? Không! Với Chân Lý—Chân Lý mạnh hơn các ngươi, và sẽ chiến thắng các ngươi."—Wylie, b. 2, ch. 13. Nói như vậy, ông rút khỏi hội đồng, và không một kẻ thù nào cố ngăn cản ông. GC 90.3

Công việc của Wycliffe gần như đã xong; lá cờ chân lý mà ông đã mang bấy lâu sắp rơi khỏi tay ông; nhưng một lần nữa ông sẽ làm chứng cho tin lành. Chân lý sẽ được rao báo ngay từ chính thành lũy của vương quốc sai lầm. Wycliffe bị triệu tập để xét xử trước tòa án giáo hoàng tại La-mã, nơi đã nhiều lần đổ máu các thánh đồ. Ông không mù quáng trước mối nguy hiểm đang đe dọa mình, tuy nhiên ông hẳn sẽ vâng theo lệnh triệu tập nếu không phải một cơn bại liệt đã khiến ông không thể thực hiện chuyến hành trình. Nhưng mặc dù tiếng nói của ông không thể được nghe thấy tại La-mã, ông có thể nói qua thư, và đây là điều ông quyết tâm làm. Từ giáo xứ của mình, nhà Cải chánh viết cho giáo hoàng một bức thư, với giọng điệu kính trọng và tinh thần Cơ-đốc, nhưng là một sự quở trách sắc bén đối với sự phô trương và kiêu ngạo của tòa thánh. GC 90.4

“Thật, tôi vui mừng,” ông nói, “được mở ra và tuyên bố cho mọi người đức tin mà tôi đang giữ, và đặc biệt là cho giám mục thành La-mã: vì tôi cho rằng đức tin ấy là đúng đắn và chân thật, ngài sẽ sẵn lòng xác nhận đức tin của tôi, hoặc nếu có sai lạc, ngài sẽ sửa lại. GC 91.1

“Trước hết, tôi cho rằng tin lành của Đấng Christ là toàn bộ luật pháp của Đức Chúa Trời…. Tôi xem giám mục thành La-mã, vì ngài là đại diện của Đấng Christ trên đất, có bổn phận hơn hết mọi người khác, đối với luật pháp của tin lành ấy. Vì sự cao trọng nơi các môn đồ của Đấng Christ không nằm ở phẩm giá hay danh dự thế gian, mà ở sự noi theo Đấng Christ cách sát sao và chính xác trong đời sống và cách cư xử của Ngài…. Đấng Christ, trong thời gian Ngài hành trình tại đây, là một người rất nghèo khó, đã từ bỏ và gạt đi mọi quyền thế và danh dự thế gian…. GC 91.2

“Không một tín hữu trung thành nào nên noi theo chính giáo hoàng hoặc bất kỳ thánh nhân nào, ngoại trừ trong những điểm mà người ấy đã noi theo Đức Chúa Giê-su Christ; vì Phi-e-rơ và các con trai của Xê-bê-đê, do ham muốn danh dự thế gian, trái với việc noi theo dấu chân của Đấng Christ, đã phạm lỗi, và vì vậy trong những sai lầm đó họ không đáng được noi theo…. GC 91.3

“Giáo hoàng phải giao lại cho quyền thế tục mọi quyền cai trị và thống trị thuộc về đời này, và do đó phải thúc đẩy và khuyến khích cách hữu hiệu toàn thể hàng giáo phẩm của mình; vì Đấng Christ đã làm như vậy, và đặc biệt là qua các sứ đồ của Ngài. Vì vậy, nếu tôi có sai lầm trong bất kỳ điểm nào trong số này, tôi sẽ hết sức khiêm nhường thuận phục sự sửa dạy, kể cả bằng cái chết, nếu cần thiết; và nếu tôi có thể lao động theo ý muốn hay ước nguyện của mình bằng chính thân mình, tôi chắc chắn sẽ đến trình diện trước giám mục thành La-mã; nhưng Chúa đã viếng thăm tôi cách khác hẳn, và đã dạy tôi phải vâng lời Đức Chúa Trời hơn là vâng lời loài người.” GC 91.4

Khi kết thúc, ông nói: “Chúng ta hãy cầu nguyện với Đức Chúa Trời chúng ta, xin Ngài khơi dậy giáo hoàng Urban VI của chúng ta, như ngài đã khởi sự, hầu cho ngài cùng hàng giáo phẩm của mình có thể noi theo Đức Chúa Giê-su Christ trong đời sống và cách cư xử; và hầu cho họ có thể dạy dỗ dân chúng cách hữu hiệu, và dân chúng cũng vậy, có thể trung tín noi theo họ trong cùng một điều đó.”—John Foxe, Acts and Monuments, quyển 3, trang 49, 50. GC 92.1

Như vậy, Wycliffe đã trình bày trước giáo hoàng và các hồng y của ông sự nhu mì và khiêm nhường của Đấng Christ, phô bày không những trước chính họ mà còn trước toàn thể Cơ-đốc Giáo sự tương phản giữa họ và Chủ mà họ xưng mình là đại diện. GC 92.2

Wycliffe hoàn toàn biết rằng mạng sống mình sẽ là giá phải trả cho sự trung tín của ông. Vua, giáo hoàng, và các giám mục đã hiệp lại để hủy diệt ông, và dường như chắc chắn rằng chỉ trong vài tháng nữa thôi ông sẽ bị đưa lên giàn thiêu. Nhưng lòng can đảm của ông không hề lay chuyển. “Sao các ông lại nói đến việc tìm kiếm mão triều tử đạo ở nơi xa?” ông nói. “Hãy rao giảng tin lành của Đấng Christ cho các giám mục kiêu ngạo, thì sự tử đạo sẽ không chẳng đến với các ông đâu. Sao vậy! Tôi phải sống mà im lặng ư? … Không bao giờ! Hãy để đòn giáng xuống, tôi đang chờ đợi nó.”—D’Aubigne, q. 17, ch. 8. GC 92.3

Nhưng sự quan phòng của Đức Chúa Trời vẫn che chở tôi tớ Ngài. Người đã suốt cả một đời đứng vững cách dạn dĩ để bênh vực lẽ thật, trong hiểm nguy hằng ngày về mạng sống, không phải sẽ ngã xuống làm nạn nhân của lòng thù ghét từ những kẻ chống nghịch lẽ thật. Wycliffe chưa bao giờ tìm cách tự che chắn cho mình, nhưng Chúa đã là đấng bảo vệ ông; và giờ đây, khi kẻ thù của ông tưởng chắc đã nắm được con mồi, bàn tay Đức Chúa Trời đã đem ông ra khỏi tầm với của chúng. Tại nhà thờ của ông ở Lutterworth, khi ông sắp ban lễ tiệc thánh, ông đã ngã xuống, bị đột quỵ bại liệt, và chỉ trong một thời gian ngắn đã trút hơi thở cuối cùng. GC 92.4

Đức Chúa Trời đã chỉ định công việc cho Wycliffe. Ngài đã đặt lời lẽ thật trong miệng ông, và Ngài đã lập một sự canh giữ quanh ông hầu cho lời ấy có thể đến với dân chúng. Mạng sống ông được bảo vệ, và công lao ông được kéo dài, cho đến khi một nền móng được đặt cho công cuộc vĩ đại của cuộc Cải chánh. GC 92.5

Wycliffe xuất thân từ sự tối tăm mờ mịt của thời kỳ Trung Cổ. Không có ai đi trước ông mà từ công việc của họ ông có thể dựng nên hệ thống cải cách của mình. Được dấy lên giống như Giăng Báp-tít để hoàn thành một sứ mạng đặc biệt, ông là sứ giả của một thời đại mới. Tuy nhiên, trong hệ thống lẽ thật mà ông trình bày có một sự thống nhất và trọn vẹn mà các nhà Cải chánh đến sau ông không vượt qua được, và có những người thậm chí không đạt đến, dù một trăm năm sau. Nền móng đã được đặt rộng rãi và sâu sắc đến nỗi, khung sườn đã vững chắc và chân thật đến nỗi, không cần phải được dựng lại bởi những người đến sau ông. GC 93.1

Phong trào vĩ đại mà Wycliffe đã khởi xướng, nhằm giải phóng lương tâm và trí tuệ, và phóng thích các dân tộc đã quá lâu bị trói buộc vào cỗ xe khải hoàn của La-mã, đã có nguồn suối nơi Kinh Thánh. Đây là nguồn của dòng sông phước lành ấy, vốn, như nước sự sống, đã chảy xuống qua các thời đại kể từ thế kỷ thứ mười bốn. Wycliffe đã tiếp nhận Kinh Thánh với đức tin tuyệt đối như là sự mặc khải được Đức Chúa Trời soi dẫn về ý muốn của Ngài, một khuôn mẫu đầy đủ cho đức tin và thực hành. Ông đã được dạy dỗ để xem Giáo hội La-mã như là thẩm quyền thần thượng, bất khả sai lầm, và để tiếp nhận với lòng tôn kính không nghi vấn những giáo huấn và tập tục đã được thiết lập trong cả ngàn năm; nhưng ông đã quay lưng lại với tất cả những điều này để lắng nghe lời thánh của Đức Chúa Trời. Đây là thẩm quyền mà ông thúc giục dân chúng nhìn nhận. Thay vì hội thánh phát ngôn qua giáo hoàng, ông tuyên bố thẩm quyền chân thật duy nhất là tiếng phán của Đức Chúa Trời qua lời Ngài. Và ông không chỉ dạy rằng Kinh Thánh là sự mặc khải trọn vẹn về ý muốn Đức Chúa Trời, mà còn rằng Đức Thánh Linh là đấng giải nghĩa duy nhất của Kinh Thánh, và rằng mỗi người, qua việc nghiên cứu các giáo huấn của Kinh Thánh, phải tự mình học biết bổn phận của mình. Như vậy ông đã xoay tâm trí loài người khỏi giáo hoàng và Giáo hội La-mã hướng về lời Đức Chúa Trời. GC 93.2

Wycliffe là một trong những nhà Cải chánh vĩ đại nhất. Về bề rộng của trí tuệ, về sự sáng tỏ trong tư tưởng, về sự vững vàng để giữ vững lẽ thật, và về lòng dạn dĩ để bênh vực lẽ thật, ông chỉ được một vài người đến sau sánh kịp. Đời sống trong sạch, sự siêng năng không mỏi mệt trong học tập và lao động, sự chính trực không thể mua chuộc, và tình yêu thương cùng lòng trung tín giống Đấng Christ trong chức vụ của mình, đã đặc trưng cho vị đầu tiên trong số các nhà Cải chánh. Và điều đó bất chấp sự tối tăm trí tuệ và sự bại hoại đạo đức của thời đại mà từ đó ông xuất hiện. GC 94.1

Tâm tính của Wycliffe là một chứng cớ về quyền năng giáo hóa và biến đổi của Kinh Thánh. Chính Kinh Thánh đã làm cho ông trở nên con người như thế. Sự nỗ lực để nắm bắt những lẽ thật vĩ đại của sự mặc khải ban sự tươi mới và mạnh mẽ cho tất cả các khả năng. Nó mở mang trí óc, làm sắc bén các nhận thức, và làm chín chắn sự phán đoán. Sự nghiên cứu Kinh Thánh sẽ làm cao quý mọi tư tưởng, cảm xúc và khát vọng, như không một sự nghiên cứu nào khác có thể làm được. Nó ban sự vững vàng của mục đích, sự nhẫn nại, lòng can đảm, và sự kiên cường; nó tinh luyện tâm tính và thánh hóa linh hồn. Một sự nghiên cứu Kinh Thánh nhiệt thành, tôn kính, đem tâm trí của người học tiếp xúc trực tiếp với tâm trí vô hạn, sẽ ban cho thế gian những con người có trí tuệ mạnh mẽ và năng động hơn, cũng như có nguyên tắc cao quý hơn, hơn bất kỳ sự đào tạo giỏi giang nhất nào mà triết học của loài người có thể cung cấp. “Sự bày giãi lời Chúa,” tác giả Thi-thiên nói, “soi sáng cho, ban sự thông hiểu cho người thật thà.” Sự bày giãi lời Chúa, soi sáng cho, Ban sự thông hiểu cho người thật thà.

(Thi-thiên 119:130) GC 94.2

Các giáo lý mà Wycliffe đã dạy vẫn tiếp tục lan rộng trong một thời gian; những người theo ông, được biết đến với tên Wycliffites và Lollards, không chỉ đi khắp nước Anh, mà còn tản ra đến các xứ khác, đem theo sự hiểu biết về tin lành. Giờ đây khi vị lãnh đạo của họ đã bị cất đi, các nhà truyền đạo càng lao động với lòng sốt sắng lớn hơn trước, và vô số người đổ xô đến lắng nghe các giáo huấn của họ. Một số trong hàng quý tộc, và cả vợ của vua, cũng nằm trong số những người trở lại đạo. Ở nhiều nơi đã có một cuộc cải cách rõ rệt trong cách cư xử của dân chúng, và các biểu tượng thờ hình tượng của Công Giáo La-mã đã bị dỡ bỏ khỏi các nhà thờ. Nhưng chẳng bao lâu cơn bão tố bắt bớ không thương xót ập đến trên những người đã dám nhận Kinh Thánh làm kim chỉ nam của mình. Các quân vương nước Anh, háo hức củng cố quyền lực của mình bằng cách tranh thủ sự ủng hộ của La-mã, đã không ngần ngại hy sinh các nhà Cải chánh. Lần đầu tiên trong lịch sử nước Anh, giàn thiêu đã được tuyên án cho các môn đồ của tin lành. Hết người tử đạo này đến người tử đạo khác. Những người bênh vực lẽ thật, bị cấm đoán và tra tấn, chỉ có thể dâng tiếng kêu van của mình vào tai Chúa Vạn Quân. Bị săn đuổi như kẻ thù của hội thánh và kẻ phản bội vương quốc, họ vẫn tiếp tục rao giảng ở những nơi kín đáo, tìm nơi trú ẩn tốt nhất có thể trong những ngôi nhà khiêm nhường của người nghèo, và thường phải ẩn náu cả trong hang hốc và hầm đá. GC 94.3

Mặc cho cơn cuồng nộ của sự bắt bớ, một lời phản kháng điềm tĩnh, sùng kính, tha thiết và nhẫn nại chống lại sự bại hoại đang thịnh hành của đức tin tôn giáo vẫn tiếp tục được cất lên trong nhiều thế kỷ. Những người Cơ-đốc thời kỳ đầu ấy chỉ có sự hiểu biết một phần về lẽ thật, nhưng họ đã học biết yêu mến và vâng theo Lời Đức Chúa Trời, và họ nhẫn nại chịu khổ vì Lời ấy. Giống như các môn đồ trong thời các sứ đồ, nhiều người đã hy sinh của cải thế gian của mình vì cớ Đấng Christ. Những ai được phép ở lại trong nhà mình đã vui lòng che chở cho các anh em bị lưu đày, và khi chính họ cũng bị đuổi đi, họ hớn hở chấp nhận số phận của kẻ bị ruồng bỏ. Quả thật, có hàng ngàn người, khiếp sợ trước cơn cuồng nộ của những kẻ bắt bớ, đã mua lấy sự tự do bằng cách hy sinh đức tin mình, và bước ra khỏi ngục tù, mặc áo của kẻ ăn năn, để công bố sự chối bỏ lòng tin. Nhưng số người — trong đó có cả những người thuộc dòng dõi quý tộc cũng như những kẻ hèn mọn và khiêm nhường — đã làm chứng không sợ hãi cho lẽ thật trong các ngục tối, trong các “tháp Lollard”, và giữa sự tra tấn và lửa thiêu, vui mừng vì được kể là xứng đáng để biết “sự thông công trong sự thương khó của Ngài,” không phải là nhỏ. GC 95.1

Những người theo giáo hoàng đã không thể thực hiện ý muốn của họ đối với Wycliffe khi ông còn sống, và lòng căm thù của họ không thể được thỏa mãn trong khi thân xác ông yên nghỉ trong mồ. Theo sắc lệnh của Công đồng Constance, hơn bốn mươi năm sau khi ông qua đời, xương cốt ông bị quật lên và thiêu đốt công khai, rồi tro bị ném xuống một con suối gần đó. “Con suối này,” một tác giả cổ đã nói, “đã đưa tro của ông vào sông Avon, sông Avon vào sông Severn, sông Severn vào các vùng biển hẹp, rồi vào đại dương bao la. Và như vậy, tro của Wycliffe là biểu tượng của học thuyết ông, mà nay đã lan tràn khắp thế giới."—T. Fuller, Church History of Britain, q. 4, đoạn 2, tiết 54. Kẻ thù của ông chẳng hề nhận ra ý nghĩa của hành động độc ác ấy. GC 95.2

Chính nhờ các tác phẩm của Wycliffe mà John Huss, người Bohemia, đã được dẫn dắt để từ bỏ nhiều sai lầm của Giáo hội La-mã và bắt tay vào công cuộc cải chánh. Như vậy, tại hai quốc gia cách xa nhau ấy, hạt giống lẽ thật đã được gieo. Từ Bohemia, công việc lan rộng sang các xứ khác. Tâm trí con người được hướng về Lời Đức Chúa Trời đã bị lãng quên từ lâu. Một bàn tay thiêng liêng đang dọn đường cho cuộc Cải chánh Vĩ đại. GC 96.1