Chương 4
04

Người Waldenses

Chương 4—Nhóm Waldenses

Giữa bóng tối bao phủ trái đất trong suốt thời kỳ dài giáo hoàng nắm quyền tối thượng, ánh sáng lẽ thật không thể bị dập tắt hoàn toàn. Trong mọi thời đại đều có những chứng nhân cho Đức Chúa Trời—những người ấp ủ đức tin nơi Đấng Christ là Đấng trung bảo duy nhất giữa Đức Chúa Trời và loài người, xem Kinh Thánh là khuôn phép duy nhất cho đời sống, và thánh hóa ngày Sa-bát chân thật. Hậu thế sẽ không bao giờ biết được thế giới nợ những con người này nhiều đến dường nào. Họ bị gán cho danh tà giáo, động cơ của họ bị nghi ngờ, nhân cách của họ bị phỉ báng, trước tác của họ bị cấm đoán, bóp méo, hoặc cắt xén. Tuy vậy, họ vẫn đứng vững, và từ đời này qua đời khác, họ gìn giữ đức tin trong sự tinh khiết, như một di sản thiêng liêng để lại cho các thế hệ mai sau. GC 61.1

Lịch sử của dân sự Đức Chúa Trời trong suốt những thời kỳ tối tăm tiếp theo sau khi La-mã nắm quyền tối thượng được ghi chép trên thiên đàng, nhưng họ có rất ít chỗ trong các sử liệu của loài người. Người ta hầu như không tìm thấy dấu vết nào về sự hiện hữu của họ, ngoại trừ trong những lời buộc tội của những kẻ bắt bớ họ. Chính sách của La-mã là xóa sạch mọi dấu vết của sự bất đồng đối với các giáo lý hoặc sắc lệnh của nó. Bất cứ điều gì bị xem là tà giáo, dù là người hay trước tác, La-mã đều tìm cách hủy diệt. Những biểu hiện của sự nghi ngờ, hay những câu hỏi về thẩm quyền của các tín điều giáo hoàng, cũng đủ để đánh đổi mạng sống của kẻ giàu hay người nghèo, người cao sang hay thấp hèn. La-mã cũng cố gắng tiêu hủy mọi ghi chép về sự tàn ác của mình đối với những người bất đồng chính kiến. Các hội nghị giáo hoàng ra sắc lệnh rằng các sách vở và trước tác chứa đựng những ghi chép như vậy phải bị ném vào lửa. Trước khi có ngành in, sách rất ít và ở dạng không thuận tiện cho việc bảo quản; vì vậy, có rất ít điều ngăn cản những người La-mã thực hiện mục đích của họ. GC 61.2

Không một hội thánh nào nằm trong phạm vi quyền tài phán của La-mã được để yên lâu dài trong sự hưởng thụ tự do lương tâm. Giáo hoàng vừa đạt được quyền lực, liền dang tay ra đè bẹp tất cả những ai từ chối thừa nhận quyền cai trị của mình, và hết hội thánh này đến hội thánh khác phải quy phục dưới ách thống trị của giáo hoàng. GC 62.1

Tại Đại Anh, Cơ-đốc Giáo nguyên thủy đã bén rễ rất sớm. Tin lành mà người Anh tiếp nhận trong những thế kỷ đầu tiên khi ấy chưa bị ô nhiễm bởi sự bội đạo của La-mã. Sự bắt bớ từ các hoàng đế ngoại giáo, lan tới cả những bờ biển xa xôi này, là món quà duy nhất mà các hội thánh đầu tiên của Anh nhận được từ La-mã. Nhiều người Cơ-đốc, chạy trốn khỏi sự bắt bớ tại Anh, đã tìm được nơi nương náu ở Scotland; từ đó, lẽ thật được đem sang Ireland, và tại tất cả các xứ này, lẽ thật đã được đón nhận với lòng vui mừng. GC 62.2

Khi người Saxon xâm lược nước Anh, ngoại giáo lại chiếm ưu thế. Những kẻ chinh phục khinh bỉ không chịu học hỏi từ nô lệ của mình, và những người Cơ-đốc bị buộc phải rút lui vào các vùng núi và những cánh đồng hoang vu. Tuy vậy, ánh sáng tuy bị che giấu một thời gian, vẫn tiếp tục cháy sáng. Tại Scotland, một thế kỷ sau, ánh sáng ấy tỏa rạng với một sự chói lói lan đến các xứ xa xôi. Từ Ireland, Columba tin kính cùng các bạn đồng công đã đến, tụ họp các tín hữu tản mác trên đảo Iona hẻo lánh, biến nơi này thành trung tâm công việc truyền giáo của họ. Trong số các nhà truyền giảng tin lành này có một người giữ ngày Sa-bát của Kinh Thánh, và nhờ đó lẽ thật này đã được giới thiệu cho dân chúng. Một ngôi trường được thành lập tại Iona, từ đó các giáo sĩ được sai đi, không chỉ đến Scotland và Anh, mà còn đến Đức, Thụy Sĩ, và thậm chí cả Ý. GC 62.3

Nhưng La-mã đã để mắt đến nước Anh, và quyết tâm đem nó vào dưới quyền tối thượng của mình. Vào thế kỷ thứ sáu, các giáo sĩ của La-mã bắt tay vào việc cải đạo những người Saxon ngoại giáo. Họ được những kẻ man di kiêu ngạo tiếp đón cách thuận lợi, và đã dụ dỗ được hàng ngàn người tuyên xưng đức tin La-mã. Khi công việc tiến triển, các nhà lãnh đạo giáo hoàng và những người cải đạo của họ đã chạm trán với những người Cơ-đốc nguyên thủy. Một sự tương phản rõ rệt hiện ra. Những người sau giản dị, khiêm nhường, và theo Kinh Thánh về tính cách, giáo lý và cách cư xử, trong khi những người trước biểu lộ sự mê tín, sự phô trương và kiêu căng của giáo hoàng. Sứ giả của La-mã đòi hỏi các hội thánh Cơ-đốc này phải thừa nhận quyền tối thượng của vị giáo hoàng tối cao. Người Anh đáp lại cách khiêm tốn rằng họ mong muốn yêu thương mọi người, nhưng giáo hoàng không có quyền tối thượng trong hội thánh, và họ chỉ có thể dành cho ông sự quy phục mà mọi môn đồ của Đấng Christ xứng đáng nhận được. Nhiều nỗ lực lặp đi lặp lại nhằm bảo đảm lòng trung thành của họ đối với La-mã; nhưng những người Cơ-đốc khiêm nhường này, ngỡ ngàng trước sự kiêu ngạo được các sứ giả của La-mã biểu lộ, đã kiên định đáp rằng họ không biết một chủ nào khác ngoài Đấng Christ. Khi ấy, tinh thần thật của giáo hoàng đã được tỏ lộ. Nhà lãnh đạo La-mã nói: “Nếu các ngươi không tiếp nhận các anh em đem lại hòa bình cho các ngươi, các ngươi sẽ nhận lấy những kẻ thù đem chiến tranh đến cho các ngươi. Nếu các ngươi không hợp với chúng tôi trong việc chỉ cho người Saxon con đường sự sống, các ngươi sẽ nhận lãnh từ họ đòn chí tử.”—J. H. Merle D’Aubigne, History of the Reformation of the Sixteenth Century, b. 17, ch. 2. Đây không phải là những lời đe dọa hão huyền. Chiến tranh, mưu mô và lừa dối đã được sử dụng để chống lại các chứng nhân cho đức tin theo Kinh Thánh này, cho đến khi các hội thánh của nước Anh bị hủy diệt, hoặc bị buộc phải quy phục thẩm quyền của giáo hoàng. GC 62.4

Tại những xứ nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của La-mã, trong nhiều thế kỷ đã tồn tại những cộng đồng Cơ-đốc nhân gần như hoàn toàn thoát khỏi sự bại hoại của giáo hoàng. Họ bị bao quanh bởi ngoại giáo, và qua dòng thời gian, cũng bị ảnh hưởng bởi những sai lầm của ngoại giáo; nhưng họ vẫn tiếp tục xem Kinh Thánh là khuôn phép duy nhất của đức tin và trung thành với nhiều lẽ thật của Kinh Thánh. Những người Cơ-đốc này tin vào tính trường tồn của luật pháp Đức Chúa Trời và giữ ngày Sa-bát theo điều răn thứ tư. Những hội thánh giữ đức tin và nếp sống này đã tồn tại ở Trung Phi và giữa những người Armenia ở châu Á. GC 63.1

Nhưng trong số những người chống lại sự lấn lướt của quyền lực giáo hoàng, nhóm Waldenses đứng hàng đầu. Ngay tại chính vùng đất mà giáo hoàng đã đặt ngôi của mình, ở đó sự giả dối và bại hoại của nó đã bị chống cự cách kiên định nhất. Trong nhiều thế kỷ, các hội thánh ở Piedmont duy trì sự độc lập của mình; nhưng cuối cùng đến lúc La-mã đòi họ phải quy phục. Sau những cuộc đấu tranh vô ích chống lại ách bạo ngược của nó, các nhà lãnh đạo của những hội thánh này miễn cưỡng thừa nhận quyền tối thượng của thế lực mà toàn thể thế giới dường như đều tôn kính. Tuy nhiên, có một số người đã từ chối đầu hàng thẩm quyền của giáo hoàng hay giám mục. Họ quyết tâm duy trì lòng trung thành của mình đối với Đức Chúa Trời và gìn giữ sự tinh khiết và giản dị của đức tin mình. Một sự chia tách đã xảy ra. Những người trung thành với đức tin cổ xưa nay rút lui; một số rời bỏ dãy Alps quê hương, giương cao ngọn cờ lẽ thật ở những xứ xa lạ; những người khác lui vào các thung lũng hẻo lánh và các vách đá kiên cố trong núi, và tại đó họ gìn giữ sự tự do thờ phượng Đức Chúa Trời. GC 64.1

Đức tin mà các Cơ-đốc nhân Waldenses đã nắm giữ và giảng dạy suốt nhiều thế kỷ hoàn toàn tương phản với các giáo lý sai lạc phát xuất từ La-mã. Niềm tin tôn giáo của họ được xây dựng trên lời thành văn của Đức Chúa Trời, hệ thống chân thật của Cơ-đốc Giáo. Nhưng những người nông dân khiêm nhường ấy, trong nơi ẩn náu tăm tối của mình, bị cách ly khỏi thế giới, và phải lao động mỗi ngày giữa đàn chiên và vườn nho của mình, đã không tự mình đạt đến lẽ thật đối nghịch với các tín điều và tà thuyết của hội thánh bội đạo. Đức tin của họ không phải là một đức tin mới được tiếp nhận. Niềm tin tôn giáo của họ là di sản thừa hưởng từ tổ phụ họ. Họ tranh đấu cho đức tin của hội thánh thời các sứ đồ,—“đức tin đã truyền cho các thánh đồ một lần đủ rồi.” [[BIBLE:Jude 3]]. “Hội thánh trong đồng vắng,” chứ không phải hệ thống phẩm trật kiêu ngạo ngự trên kinh đô lớn của thế giới, mới là hội thánh chân thật của Đấng Christ, là người gìn giữ kho báu lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã ủy thác cho dân Ngài để trao lại cho thế giới. GC 64.2

Trong số những nguyên nhân chính dẫn đến sự chia tách giữa hội thánh chân thật và La-mã là lòng ghét của La-mã đối với ngày Sa-bát của Kinh Thánh. Như lời tiên tri đã báo trước, quyền lực giáo hoàng đã quăng lẽ thật xuống đất. Luật pháp Đức Chúa Trời bị chà đạp trong bụi đất, trong khi truyền thống và phong tục của loài người lại được tôn cao. Các hội thánh dưới quyền cai trị của giáo hoàng đã sớm bị buộc phải tôn kính Chủ nhật như một ngày thánh. Giữa sự sai lầm và mê tín thịnh hành, nhiều người, ngay cả trong vòng dân sự chân thật của Đức Chúa Trời, đã trở nên hoang mang đến nỗi trong khi vẫn giữ ngày Sa-bát, họ cũng kiêng lao động trong ngày Chủ nhật. Nhưng điều đó không làm thỏa lòng các nhà lãnh đạo giáo hoàng. Họ đòi hỏi không chỉ Chủ nhật phải được thánh hóa, mà ngày Sa-bát phải bị khinh phạm; và họ lên án bằng những lời lẽ mạnh mẽ nhất những ai dám tôn kính ngày Sa-bát. Chỉ bằng cách chạy trốn khỏi quyền lực của La-mã, người ta mới có thể vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời trong bình an. (Xem Phụ lục.) GC 65.1

Những người Waldenses là một trong những dân tộc đầu tiên ở châu Âu có được bản dịch Kinh Thánh. (Xin xem Phụ Lục.) Hàng trăm năm trước cuộc Cải chánh, họ đã sở hữu Kinh Thánh dưới dạng bản chép tay bằng tiếng mẹ đẻ của mình. Họ có được lẽ thật tinh tuyền, và điều này khiến họ trở thành đối tượng đặc biệt của sự căm ghét và bắt bớ. Họ tuyên bố rằng Giáo hội La-mã chính là Ba-by-lôn bội đạo trong sách Khải Huyền, và với nguy cơ mất mạng, họ đã đứng lên chống lại những sự băng hoại của giáo hội ấy. Trong khi, dưới áp lực của sự bắt bớ kéo dài, một số người đã thỏa hiệp đức tin của mình, dần dần từ bỏ những nguyên tắc đặc trưng, thì những người khác lại giữ vững lẽ thật. Qua những thời đại tối tăm và bội đạo, vẫn có những người Waldenses phủ nhận quyền tối thượng của La-mã, chối bỏ sự thờ hình tượng xem đó là hành vi thờ thần tượng, và giữ ngày Sa-bát chân chính. Dưới những cơn bão tố dữ dội nhất của sự chống đối, họ vẫn giữ vững đức tin. Dù bị ngọn giáo của người Savoy đâm xuyên, và bị thiêu đốt bởi bó củi của La-mã, họ vẫn đứng vững không nao núng vì Lời Đức Chúa Trời và vinh hiển của Ngài. GC 65.2

Đằng sau những thành lũy cao vút của núi non — vốn là nơi ẩn náu của những người bị bắt bớ và áp bức qua mọi thời đại — những người Waldenses đã tìm thấy chỗ trú ẩn. Tại đây, ánh sáng của lẽ thật được giữ cho cháy sáng giữa bóng tối của thời kỳ Trung Cổ. Tại đây, trong suốt một ngàn năm, những chứng nhân cho lẽ thật đã duy trì đức tin cổ xưa. GC 65.3

Đức Chúa Trời đã sắm sẵn cho dân Ngài một đền thánh với vẻ hùng vĩ đáng kinh ngạc, xứng hợp với những lẽ thật trọng đại đã được giao phó cho họ. Đối với những người lưu đày trung tín ấy, núi non là biểu tượng của sự công bình không hề thay đổi của Đức Giê-hô-va. Họ chỉ cho con cái mình những đỉnh cao sừng sững bên trên với vẻ uy nghi bất biến, và nói với chúng về Đấng mà nơi Ngài chẳng có sự thay đổi, cũng chẳng có bóng của sự biến cải, Đấng mà lời phán của Ngài bền vững như những ngọn đồi đời đời. Đức Chúa Trời đã lập vững những ngọn núi và làm cho chúng được mạnh mẽ; chẳng có cánh tay nào ngoài cánh tay của Quyền Năng Vô Hạn có thể dời chúng khỏi chỗ của chúng. Cũng cách ấy, Ngài đã lập luật pháp của Ngài, là nền tảng của sự trị vì của Ngài trên trời và dưới đất. Cánh tay của con người có thể với tới đồng loại và hủy diệt mạng sống họ; nhưng cánh tay ấy cũng có thể nhổ những ngọn núi khỏi nền của chúng và ném xuống biển dễ dàng như việc thay đổi một điều răn của luật pháp Đức Giê-hô-va, hoặc xóa bỏ một lời hứa của Ngài dành cho những ai làm theo ý muốn Ngài. Trong sự trung thành với luật pháp Ngài, các tôi tớ của Đức Chúa Trời phải vững vàng như những ngọn đồi bất biến. GC 66.1

Những ngọn núi bao quanh các thung lũng thấp của họ là chứng nhân không ngừng về quyền năng sáng tạo của Đức Chúa Trời, và là sự bảo đảm không hề phai lạt về sự chăm sóc giữ gìn của Ngài. Những người hành hương ấy đã học biết yêu mến những biểu tượng lặng lẽ của sự hiện diện của Đức Giê-hô-va. Họ không hề than van vì những gian khổ trong số phận của mình; họ chẳng bao giờ cô đơn giữa chốn núi non tịch mịch. Họ tạ ơn Đức Chúa Trời vì Ngài đã sắm sẵn cho họ một nơi nương náu khỏi cơn thạnh nộ và sự tàn bạo của loài người. Họ vui mừng trong sự tự do được thờ phượng trước mặt Ngài. Nhiều khi bị kẻ thù truy đuổi, sức mạnh của những ngọn đồi đã chứng tỏ là một sự bảo vệ chắc chắn. Từ nhiều vách đá cao ngất, họ ca ngợi Đức Chúa Trời, và các đạo quân của La-mã không thể làm câm lặng những bài ca tạ ơn của họ. GC 66.2

Lòng kính tin của những môn đồ theo Đấng Christ này thật thuần khiết, giản dị, và nồng nhiệt. Những nguyên tắc của lẽ thật được họ xem trọng hơn nhà cửa và đất đai, bạn hữu, họ hàng, thậm chí hơn cả mạng sống mình. Họ đã hết lòng tìm cách khắc ghi những nguyên tắc này vào tấm lòng của giới trẻ. Từ thuở thơ ấu, các thiếu nhi đã được dạy dỗ Kinh Thánh và được dạy phải xem trọng một cách thiêng liêng những đòi hỏi của luật pháp Đức Chúa Trời. Các bản Kinh Thánh rất hiếm; vì vậy, những lời quý báu ấy được học thuộc lòng. Nhiều người có thể đọc thuộc lòng những phần lớn của cả Cựu Ước và Tân Ước. Những tư tưởng về Đức Chúa Trời được liên kết cả với cảnh sắc hùng vĩ của thiên nhiên lẫn với những phước lành khiêm nhường của đời sống thường ngày. Các con trẻ học biết nhìn lên Đức Chúa Trời với lòng biết ơn, xem Ngài là Đấng ban cho mọi ân huệ và mọi sự an ủi. GC 67.1

Cha mẹ, dù hiền dịu và yêu thương, nhưng yêu con mình cách khôn ngoan quá nên không để chúng quen với sự nuông chiều bản thân. Trước mắt chúng là một đời sống đầy thử thách và gian khổ, có lẽ là cái chết của một người tử đạo. Chúng được giáo dục từ thuở ấu thơ để chịu đựng sự khó nhọc, để phục tùng sự kiểm soát, nhưng cũng biết tự suy nghĩ và hành động cho chính mình. Rất sớm, chúng được dạy phải gánh vác trách nhiệm, phải cẩn trọng trong lời nói, và hiểu được sự khôn ngoan của sự im lặng. Một lời thiếu thận trọng thốt ra trước tai kẻ thù có thể gây nguy hiểm không chỉ cho tính mạng của người nói, mà cho cả tính mạng của hàng trăm anh em mình; vì như bầy sói săn mồi, kẻ thù của lẽ thật đã truy đuổi những ai dám đòi hỏi quyền tự do tín ngưỡng. GC 67.2

Những người Waldenses đã hy sinh sự thịnh vượng thế gian vì cớ lẽ thật, và với lòng kiên nhẫn bền bỉ, họ lao động để kiếm miếng ăn. Mỗi mảnh đất có thể canh tác giữa núi non đều được chăm chút cẩn thận; những thung lũng và những sườn đồi ít màu mỡ hơn cũng được làm cho sinh hoa lợi. Sự tiết kiệm và tự chế nghiêm ngặt là một phần của nền giáo dục mà con cái họ nhận được như di sản duy nhất. Chúng được dạy rằng Đức Chúa Trời đã thiết kế đời sống như một sự rèn luyện, và rằng những nhu cầu của chúng chỉ có thể được đáp ứng bởi sức lao động của chính mình, bởi sự dự liệu, chăm sóc và đức tin. Quá trình ấy thật nhọc nhằn và mệt mỏi, nhưng lại lành mạnh, đúng là điều con người cần trong trạng thái sa ngã của mình, là trường học mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn để huấn luyện và phát triển con người. Trong khi thanh thiếu niên được rèn luyện quen với lao khổ và gian nan, việc trau dồi trí tuệ cũng không bị xao lãng. Chúng được dạy rằng tất cả mọi năng lực của mình đều thuộc về Đức Chúa Trời, và tất cả đều phải được cải thiện và phát triển để phục vụ Ngài. GC 67.3

Các hội thánh Vaudois, trong sự tinh khiết và giản dị của mình, giống như hội thánh thời các sứ đồ. Khước từ quyền tối thượng của giáo hoàng và các giáo phẩm, họ xem Kinh Thánh là thẩm quyền tối cao và không sai lầm duy nhất. Các mục sư của họ, không giống như các thầy tế lễ kiêu ngạo của La-mã, đã noi gương Chủ mình, Đấng “đã đến không phải để người ta hầu việc mình, mà để hầu việc người ta.” Họ chăn dắt bầy chiên của Đức Chúa Trời, dẫn đưa chúng đến những đồng cỏ xanh tươi và những suối nước hằng sống của Lời thánh của Ngài. Cách xa những công trình của sự huênh hoang và kiêu hãnh của loài người, dân chúng nhóm lại, không phải trong những nhà thờ tráng lệ hay những thánh đường vĩ đại, mà dưới bóng của núi non, trong các thung lũng dãy Alps, hoặc trong thời nguy hiểm, trong một thành trì bằng đá, để lắng nghe những lời lẽ thật từ các tôi tớ của Đấng Christ. Các mục sư không chỉ rao giảng tin lành, mà còn thăm viếng kẻ bệnh, dạy giáo lý cho trẻ em, khuyên bảo kẻ sai lạc, và lao khó để giải quyết những tranh chấp và gây dựng sự hòa thuận và tình yêu thương huynh đệ. Trong thời bình, họ được nuôi sống bằng của dâng tự nguyện của dân chúng; nhưng, giống như Phao-lô người làm trại, mỗi người đều học một nghề hay một chuyên môn nào đó để, nếu cần, có thể tự lo cho mình. GC 68.1

Từ các mục sư của mình, giới trẻ nhận được sự dạy dỗ. Trong khi chú trọng đến những ngành học tổng quát, Kinh Thánh được xem là môn học chính yếu. Các sách Tin lành Ma-thi-ơ và Giăng được học thuộc lòng, cùng với nhiều thư tín. Họ cũng bận rộn với việc chép lại Kinh Thánh. Một số bản chép tay chứa toàn bộ Kinh Thánh, số khác chỉ những đoạn trích ngắn, kèm theo một số lời giải thích đơn giản về văn bản do những người có khả năng giải nghĩa Kinh Thánh thêm vào. Nhờ đó, những kho báu của lẽ thật vốn bị che giấu quá lâu bởi những kẻ tìm cách tự tôn mình lên trên Đức Chúa Trời đã được đem ra ánh sáng. GC 68.2

Bằng sự lao động kiên nhẫn, không mệt mỏi, đôi khi trong những hang sâu tối tăm của lòng đất, dưới ánh đuốc, Kinh Thánh đã được chép ra, từng câu một, từng chương một. Công việc cứ tiếp tục như thế, ý chỉ được mặc khải của Đức Chúa Trời tỏa sáng như vàng ròng; công việc ấy sáng hơn, rõ hơn, và mạnh mẽ hơn nhiều nhờ những thử thách đã phải chịu đựng vì cớ nó — điều mà chỉ những ai tham gia trong công việc ấy mới có thể thấu hiểu. Các thiên sứ từ trời đã vây quanh những người lao động trung tín này. GC 69.1

Sa-tan đã xúi giục các thầy tế lễ và các giám mục của giáo hoàng chôn vùi lời chân lý dưới đống rác rưởi của sai lầm, tà giáo và mê tín; nhưng bằng một cách hết sức kỳ diệu, Lời ấy đã được gìn giữ nguyên vẹn không bị hư hoại qua suốt mọi thời đại tăm tối. Lời ấy không mang dấu ấn của loài người, mà mang dấu ấn của Đức Chúa Trời. Loài người đã không ngừng nỗ lực để làm lu mờ ý nghĩa giản dị, rõ ràng của Kinh Thánh, và khiến Kinh Thánh mâu thuẫn với chính lời chứng của mình; nhưng giống như chiếc hòm trên mặt biển cuồn cuộn sóng, Lời Đức Chúa Trời vượt qua những cơn bão đe dọa hủy diệt nó. Như mỏ có những mạch vàng và bạc phong phú ẩn giấu dưới lòng đất, khiến ai muốn khám phá kho báu quý giá của nó đều phải đào xới, thì Kinh Thánh cũng có những kho báu chân lý chỉ được tỏ ra cho người tìm kiếm nghiêm túc, khiêm nhường và cầu nguyện. Đức Chúa Trời đã dự định Kinh Thánh là cuốn sách bài học cho toàn thể nhân loại, từ thời thơ ấu, thanh niên, đến trưởng thành, và sẽ được nghiên cứu suốt mọi thời đại. Ngài đã ban Lời Ngài cho loài người như một sự mặc khải về chính Ngài. Mỗi chân lý mới được khám phá là một sự bày tỏ mới về tính cách của Tác Giả Kinh Thánh. Sự nghiên cứu Kinh Thánh là phương tiện được Đức Chúa Trời ấn định để đưa con người đến mối liên hệ gần gũi hơn với Đấng Tạo Hóa của họ và để ban cho họ một sự hiểu biết rõ ràng hơn về ý muốn của Ngài. Đó là phương tiện giao thông giữa Đức Chúa Trời và con người. GC 69.2

Trong khi người Waldenses xem sự kính sợ Chúa là khởi đầu của sự khôn ngoan, họ không mù quáng trước tầm quan trọng của việc tiếp xúc với thế giới, hiểu biết về con người và đời sống tích cực, trong việc mở mang trí óc và làm sắc bén các nhận thức. Từ các trường học của họ trên núi, một số thanh niên được gửi đến các cơ sở học vấn trong các thành phố của Pháp hoặc Ý, nơi có một lĩnh vực rộng lớn hơn để học tập, suy tư và quan sát so với dãy Alps quê hương của họ. Những thanh niên được gửi đi như vậy phải đối mặt với cám dỗ, họ chứng kiến tội ác, họ gặp phải những tay sai xảo quyệt của Sa-tan, là những kẻ ép buộc họ tiếp nhận những tà giáo tinh vi nhất và những sự lừa dối nguy hiểm nhất. Nhưng sự giáo dục của họ từ thời thơ ấu đã có tính cách chuẩn bị họ cho tất cả những điều này. GC 69.3

Trong các trường mà họ đến, họ không được tâm sự với bất kỳ ai. Y phục của họ được chuẩn bị sao cho có thể che giấu kho báu lớn nhất của họ—những bản chép tay quý báu của Kinh Thánh. Đây là thành quả của nhiều tháng và nhiều năm lao nhọc, mà họ mang theo mình, và mỗi khi có thể làm được mà không gây nghi ngờ, họ thận trọng đặt một phần vào tay của những người có tấm lòng dường như sẵn sàng tiếp nhận chân lý. Từ đầu gối mẹ của họ, thanh niên Waldenses đã được huấn luyện với mục đích này; họ hiểu công việc của mình và thực hiện cách trung tín. Những người trở lại với đức tin chân chính đã được thu về trong các cơ sở học vấn này, và thường thấy các nguyên lý của đức tin ấy thấm nhuần toàn bộ ngôi trường; tuy nhiên các nhà lãnh đạo giáo hoàng, dù đã điều tra kỹ lưỡng nhất, cũng không thể truy tìm được nguồn gốc của cái gọi là tà giáo đang làm hư hoại ấy. GC 70.1

Tinh thần của Đấng Christ là tinh thần truyền giáo. Thôi thúc đầu tiên của tấm lòng được đổi mới là đưa những người khác cũng đến với Đấng Cứu Thế. Đó là tinh thần của những Cơ-đốc nhân Vaudois. Họ cảm thấy Đức Chúa Trời đòi hỏi nơi họ nhiều hơn là chỉ bảo tồn chân lý trong sự tinh khiết trong các hội thánh của chính họ; rằng một trách nhiệm nghiêm trọng đặt trên họ là phải để cho ánh sáng của mình chiếu rạng đến những người đang ở trong bóng tối; bằng quyền năng mạnh mẽ của Lời Đức Chúa Trời, họ tìm cách phá vỡ sự nô lệ mà La-mã đã áp đặt. Các mục sư Vaudois được huấn luyện như những nhà truyền giáo, mỗi người mong muốn bước vào chức vụ đều phải trước hết có kinh nghiệm làm nhà truyền giảng tin lành. Mỗi người phải phục vụ ba năm ở một cánh đồng truyền giáo nào đó trước khi đảm nhận một hội thánh tại quê nhà. Sự phục vụ này, ngay từ đầu đòi hỏi sự từ bỏ bản thân và hy sinh, là một sự chuẩn bị thích hợp cho đời sống mục sư trong những thời kỳ thử thách linh hồn con người. Những thanh niên nhận lễ tấn phong vào chức vụ thánh thấy trước mắt mình, không phải viễn cảnh giàu sang và vinh hiển trần gian, mà một đời sống lao nhọc và nguy hiểm, và có thể là số phận của một người tử đạo. Các nhà truyền giáo ra đi từng hai người một, như Đức Chúa Giê-su đã sai các môn đồ Ngài đi. Với mỗi thanh niên, thường có một người đứng tuổi và từng trải đi kèm, thanh niên ở dưới sự hướng dẫn của người đồng hành của mình, là người chịu trách nhiệm về việc huấn luyện anh, và anh được đòi hỏi phải vâng theo sự chỉ dạy của người ấy. Những người đồng lao này không luôn luôn ở bên nhau, nhưng thường gặp nhau để cầu nguyện và bàn bạc, nhờ đó mà củng cố lẫn nhau trong đức tin. GC 70.2

Nếu để lộ mục đích của sứ mạng sẽ bảo đảm cho sự thất bại của nó; do đó họ cẩn thận che giấu bản chất thật của mình. Mỗi mục sư đều có kiến thức về một nghề thủ công hoặc một nghề nghiệp nào đó, và các nhà truyền giáo thực hiện công việc của mình dưới vỏ bọc của một nghề nghiệp thế tục. Thông thường họ chọn nghề thương buôn hoặc bán rong. “Họ mang theo tơ lụa, đồ trang sức và các vật phẩm khác, vào thời đó không dễ mua được trừ khi đến những thương trường xa xôi; và họ được đón tiếp như những nhà buôn ở những nơi mà họ sẽ bị xua đuổi nếu là nhà truyền giáo."—Wylie, q. 1, ch. 7. Suốt thời gian đó, lòng họ hướng lên Đức Chúa Trời để cầu xin sự khôn ngoan để trình bày một kho báu quý hơn vàng hoặc đá quý. Họ bí mật mang theo mình những bản sao Kinh Thánh, toàn bộ hoặc một phần; và mỗi khi có cơ hội, họ hướng sự chú ý của khách hàng đến những bản chép tay ấy. Thường thì một mối quan tâm muốn đọc Lời Đức Chúa Trời được khơi dậy như vậy, và một phần nào đó được vui lòng để lại cho những người mong muốn nhận được. GC 71.1

Công việc của những nhà truyền giáo này bắt đầu ở các đồng bằng và thung lũng dưới chân những ngọn núi của họ, nhưng nó đã lan xa vượt khỏi những giới hạn này. Chân trần và trong y phục thô ráp nhuốm bụi đường như của Thầy mình, họ đi qua những thành phố lớn và xâm nhập vào những vùng đất xa xôi. Khắp nơi họ gieo rắc hạt giống quý báu. Các hội thánh mọc lên trên đường đi của họ, và huyết của những người tử đạo làm chứng cho chân lý. Ngày của Đức Chúa Trời sẽ tỏ ra một mùa gặt linh hồn phong phú được thu góp nhờ công lao của những người trung tín này. Che giấu và thầm lặng, Lời Đức Chúa Trời đang tiến bước qua Cơ-đốc Giáo và gặp được sự đón nhận vui mừng trong nhà và trong tấm lòng của con người. GC 71.2

Đối với người Waldenses, Kinh Thánh không chỉ là một bản ký thuật về những cuộc giao tiếp của Đức Chúa Trời với con người trong quá khứ, và sự mặc khải về những trách nhiệm và bổn phận của hiện tại, mà còn là sự bày tỏ những mối nguy hiểm và vinh quang của tương lai. Họ tin rằng sự tận cùng của muôn vật không còn xa, và khi họ nghiên cứu Kinh Thánh với sự cầu nguyện và nước mắt, họ càng được cảm động sâu sắc hơn với những lời phán quý báu của Kinh Thánh và với bổn phận của mình là phải tỏ ra cho người khác biết các chân lý cứu rỗi của nó. Họ thấy kế hoạch cứu rỗi được bày tỏ rõ ràng trong các trang sách thánh, và họ tìm được sự an ủi, hy vọng và bình an trong việc tin vào Đức Chúa Giê-su. Khi ánh sáng soi sáng sự hiểu biết của họ và làm vui mừng tấm lòng họ, họ khao khát chiếu những tia sáng ấy trên những người đang ở trong bóng tối của sai lầm giáo hoàng. GC 72.1

Họ thấy rằng dưới sự dẫn dắt của giáo hoàng và thầy tế lễ, vô số người đang cố gắng một cách vô ích để được tha thứ bằng cách hành hạ thân thể mình vì tội lỗi của linh hồn mình. Được dạy phải trông cậy vào việc lành của mình để được cứu, họ luôn nhìn vào chính mình, tâm trí họ đắm chìm trong tình trạng tội lỗi của mình, thấy mình đang phải chịu cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, hành hạ linh hồn và thân thể, nhưng không tìm được sự nhẹ nhõm nào. Như vậy, những linh hồn có lương tâm bị trói buộc bởi các giáo lý của La-mã. Hàng ngàn người từ bỏ bạn bè và bà con, và dành trọn đời mình trong những buồng tu viện. Bằng những kỳ kiêng ăn lặp đi lặp lại và những trận đánh đập tàn nhẫn, bằng những canh thức lúc nửa đêm, bằng việc nằm sấp hàng giờ dài mệt mỏi trên những phiến đá lạnh lẽo, ẩm ướt của chỗ ở u ám của mình, bằng những cuộc hành hương dài, bằng sự đền tội nhục nhã và sự tra tấn khủng khiếp, hàng ngàn người đã tìm kiếm cách vô ích để đạt được sự bình an lương tâm. Bị đè nặng bởi ý thức về tội lỗi, và bị ám ảnh bởi sự sợ hãi cơn thạnh nộ báo thù của Đức Chúa Trời, nhiều người đã chịu đựng như vậy, cho đến khi thể chất kiệt quệ sụp đổ, và không một tia sáng hay hy vọng nào, họ chìm vào mồ mả. GC 72.2

Người Waldenses khao khát bẻ bánh sự sống cho những linh hồn đang đói khát này, mở ra cho họ những sứ điệp bình an trong những lời hứa của Đức Chúa Trời, và chỉ cho họ đến với Đấng Christ là hy vọng cứu rỗi duy nhất của họ. Họ cho rằng giáo lý rằng việc lành có thể chuộc cho sự vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời là dựa trên sự giả dối. Sự dựa dẫm vào công trạng loài người ngăn chặn cái nhìn về tình yêu vô hạn của Đấng Christ. Đức Chúa Giê-su đã chết làm của lễ hy sinh cho loài người bởi vì dòng dõi sa ngã không thể làm gì để làm đẹp lòng Đức Chúa Trời. Công trạng của Đấng Cứu Thế bị đóng đinh và đã sống lại là nền tảng của đức tin Cơ-đốc nhân. Sự lệ thuộc của linh hồn vào Đấng Christ là thật, và mối liên hệ của nó với Ngài phải chặt chẽ, như của một chi thể với thân thể, hay của một nhánh với cây nho. GC 73.1

Sự dạy dỗ của các giáo hoàng và các thầy tế lễ đã khiến loài người nhìn xem tánh cách của Đức Chúa Trời, và ngay cả của Đấng Christ, như là nghiêm khắc, u ám và đáng sợ. Đấng Cứu Thế bị mô tả như là hoàn toàn không có lòng thương cảm đối với con người trong tình trạng sa ngã của mình, đến nỗi cần phải cầu khẩn sự trung bảo của các thầy tế lễ và các thánh đồ. Những người có tâm trí được soi sáng bởi Lời Đức Chúa Trời khao khát chỉ cho những linh hồn này đến với Đức Chúa Giê-su là Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót và yêu thương của họ, đang đứng với đôi tay dang rộng, mời gọi tất cả đến cùng Ngài với gánh nặng tội lỗi, nỗi lo âu và sự mệt mỏi của mình. Họ khao khát dẹp bỏ những chướng ngại mà Sa-tan đã chất đống để loài người không thể nhìn thấy những lời hứa, và đến thẳng với Đức Chúa Trời, xưng tội mình và nhận được sự tha thứ cùng bình an. GC 73.2

Người truyền giáo Waldensian đã hăng hái bày tỏ cho tâm trí đang tìm kiếm những lẽ thật quý báu của tin lành. Cách thận trọng, ông đem ra những phần Kinh Thánh đã được chép cẩn thận. Niềm vui lớn nhất của ông là đem lại hy vọng cho linh hồn có lương tâm, bị tội lỗi đánh gục, là người chỉ có thể thấy một Đức Chúa Trời báo thù, đang chờ đợi để thi hành sự công bình. Với đôi môi run rẩy và nước mắt tuôn trào, ông thường quỳ gối mở ra cho anh em mình những lời hứa quý báu bày tỏ hy vọng duy nhất của tội nhân. Như vậy ánh sáng của lẽ thật đã thấm nhập vào nhiều tâm trí tối tăm, cuốn đi đám mây u ám, cho đến khi Mặt Trời Công Bình chiếu vào tấm lòng với sự chữa lành trong các tia sáng của Ngài. Thường xảy ra rằng một phần Kinh Thánh được đọc đi đọc lại, người nghe ao ước được nghe lặp lại, như thể muốn bảo đảm với chính mình rằng mình đã nghe đúng. Đặc biệt là sự lặp lại những lời này được khao khát: Nhưng, nếu chúng ta đi trong sự sáng cũng như chính mình Ngài ở trong sự sáng, thì chúng ta giao thông cùng nhau; và huyết của Đức Chúa Giê-su, Con Ngài, làm sạch mọi tội chúng ta.

(I Giăng 1:7)Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy, hầu cho hễ ai tin đến Ngài đều được sự sống đời đời. (Giăng 3:14-15) GC 73.3

Nhiều người đã được mở mắt về những tuyên bố của La-mã. Họ thấy sự trung bảo của loài người hay thiên sứ thay cho tội nhân là vô ích biết bao. Khi ánh sáng thật rạng soi trong tâm trí họ, họ vui mừng kêu lên: “Đấng Christ là thầy tế lễ của tôi; huyết Ngài là sinh tế của tôi; bàn thờ Ngài là tòa giải tội của tôi.” Họ hoàn toàn phó thác mình trên công lao của Đức Chúa Giê-su, lặp lại những lời: Vả, không có đức tin, thì chẳng hề có thế nào ở cho đẹp ý Ngài; vì kẻ đến gần Đức Chúa Trời phải tin rằng có Đức Chúa Trời, và Ngài là Đấng hay thưởng cho kẻ tìm kiếm Ngài.

(Hê-bơ-rơ 11:6)Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu. (Công-vụ các Sứ-đồ 4:12) GC 74.1

Sự bảo đảm về tình yêu thương của Đấng Cứu Thế dường như quá lớn để một số linh hồn tội nghiệp bị sóng gió vùi dập này có thể nhận thức được. Sự giải thoát mà nó mang lại thật lớn lao, một dòng ánh sáng được đổ xuống trên họ, đến nỗi họ dường như được đưa lên thiên đàng. Tay họ được đặt tin cậy trong tay của Đấng Christ; chân họ được đứng vững trên Vầng Đá Muôn Đời. Mọi nỗi sợ hãi về sự chết đều tan biến. Giờ đây họ có thể ao ước ngục tù và giàn hỏa nếu qua đó họ có thể tôn vinh danh Đấng Cứu Chuộc của mình. GC 74.2

Trong những nơi kín đáo, Lời Đức Chúa Trời được đem ra và đọc như vậy, có khi cho một linh hồn đơn độc, có khi cho một nhóm nhỏ đang khao khát ánh sáng và lẽ thật. Thường cả đêm được dùng theo cách này. Sự kinh ngạc và thán phục của những người nghe lớn đến nỗi sứ giả của lòng thương xót không hiếm khi phải ngừng đọc cho đến khi sự hiểu biết có thể nắm bắt được tin mừng cứu rỗi. Thường những lời như thế này được thốt ra: “Đức Chúa Trời có thật sẽ chấp nhận lễ vật của tôi không? Ngài có mỉm cười với tôi không? Ngài có tha thứ cho tôi không?” Câu trả lời được đọc: Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ.

(Ma-thi-ơ 11:28) GC 74.3

Đức tin nắm lấy lời hứa, và lời đáp lại vui mừng được nghe: “Không còn những cuộc hành hương dài nữa; không còn những cuộc đi lại đau đớn đến các thánh địa nữa. Tôi có thể đến với Đức Chúa Giê-su ngay khi tôi đang ở trong tội lỗi và không thánh khiết, và Ngài sẽ không khinh chê lời cầu nguyện ăn năn. ‘Tội con đã được tha.’ Tội tôi, chính tội tôi, có thể được tha!” GC 75.1

Một làn sóng vui mừng thánh khiết tràn ngập tấm lòng, và danh Đức Chúa Giê-su được tôn cao bởi lời ngợi khen và cảm tạ. Những linh hồn hạnh phúc ấy trở về nhà để truyền ánh sáng, để thuật lại cho người khác, theo khả năng mình, kinh nghiệm mới của mình; rằng họ đã tìm thấy Đường thật và sống. Có một quyền năng lạ lùng và trang nghiêm trong những lời của Kinh Thánh nói thẳng vào tấm lòng của những người đang khao khát lẽ thật. Đó là tiếng phán của Đức Chúa Trời, và nó mang lại sự xác tín cho những người nghe. GC 75.2

Sứ giả của lẽ thật tiếp tục con đường của mình; nhưng vẻ khiêm nhường, sự chân thành, lòng sốt sắng và nhiệt thành sâu sắc của ông là đề tài bàn tán thường xuyên. Trong nhiều trường hợp, những người nghe ông đã không hỏi ông đến từ đâu hay đi đâu. Họ đã quá choáng ngợp, ban đầu vì kinh ngạc, và sau đó vì biết ơn và vui mừng, đến nỗi họ không nghĩ đến việc hỏi ông. Khi họ nài ép ông đi cùng đến nhà họ, ông đáp rằng ông phải đi thăm chiên lạc của bầy. Ông có thể là một thiên sứ từ thiên đàng chăng? họ tự hỏi. GC 75.3

Trong nhiều trường hợp, sứ giả của lẽ thật không còn được thấy nữa. Ông đã lên đường đến những vùng đất khác, hoặc ông đang hao mòn cuộc đời trong một ngục tối vô danh nào đó, hoặc có lẽ xương cốt ông đang phai trắng tại nơi ông đã làm chứng cho lẽ thật. Nhưng những lời ông để lại không thể bị hủy diệt. Chúng đang làm công việc của mình trong lòng người ta; những kết quả phước hạnh sẽ chỉ được biết đến trọn vẹn trong ngày phán xét. GC 75.4

Các nhà truyền giáo Waldensian đang xâm lấn vương quốc của Sa-tan, và các quyền lực của bóng tối thức dậy để canh giữ nghiêm ngặt hơn. Mỗi nỗ lực nhằm phát triển lẽ thật đều bị vua của điều ác theo dõi, và nó khuấy động nỗi sợ hãi của các tay sai của nó. Các lãnh đạo giáo hoàng thấy một dấu hiệu nguy hiểm cho sự nghiệp của họ từ công việc của những người lữ hành khiêm nhường này. Nếu ánh sáng của lẽ thật được phép chiếu mà không bị cản trở, nó sẽ quét sạch những đám mây nặng nề của sự sai lạc bao phủ dân chúng. Nó sẽ hướng tâm trí loài người đến một mình Đức Chúa Trời và cuối cùng sẽ phá hủy quyền tối cao của La-mã. GC 76.1

Chính sự tồn tại của dân tộc này, giữ đức tin của hội thánh cổ xưa, là một lời chứng không ngừng về sự bội đạo của La-mã, và vì thế khuấy động sự căm ghét và bắt bớ cay đắng nhất. Việc họ từ chối giao nộp Kinh Thánh cũng là một sự xúc phạm mà La-mã không thể dung thứ. Bà quyết định xóa họ khỏi mặt đất. Bấy giờ bắt đầu những cuộc thánh chiến khủng khiếp nhất chống lại dân sự Đức Chúa Trời trong những quê hương trên núi của họ. Các quan tra xét được phái theo dấu vết họ, và cảnh A-bên vô tội ngã xuống trước Ca-in sát nhân thường được lặp lại. GC 76.2

Hết lần này đến lần khác, những vùng đất phì nhiêu của họ bị tàn phá, nhà cửa và nguyện đường của họ bị quét sạch, đến nỗi nơi từng là những cánh đồng tươi tốt và nhà cửa của một dân tộc vô tội, cần cù, chỉ còn lại một sa mạc. Như con thú dữ trở nên điên cuồng hơn khi nếm mùi máu, cơn thạnh nộ của những người theo giáo hoàng cũng bị đốt cháy dữ dội hơn bởi những đau khổ của các nạn nhân. Nhiều nhân chứng cho đức tin thuần khiết này đã bị săn đuổi qua các núi và bị truy lùng trong các thung lũng nơi họ ẩn náu, bị vây quanh bởi những khu rừng rậm và những mỏm đá khổng lồ. GC 76.3

Không có lời cáo buộc nào có thể đưa ra chống lại tư cách đạo đức của tầng lớp bị cấm đoán này. Ngay cả kẻ thù của họ cũng tuyên bố rằng họ là một dân tộc hiếu hòa, yên tĩnh, sùng đạo. Tội lớn nhất của họ là họ không chịu thờ phượng Đức Chúa Trời theo ý muốn của giáo hoàng. Vì tội này mà mọi sự sỉ nhục, lăng mạ, và tra tấn mà người ta hay ma quỷ có thể nghĩ ra đều đổ trên họ. GC 76.4

Khi La-mã một lần kia quyết định tiêu diệt giáo phái mà họ căm ghét, một sắc chỉ được giáo hoàng ban ra, kết án họ là tà giáo và giao nộp họ cho sự tàn sát. (Xem Phụ Lục.) Họ không bị buộc tội lười biếng, bất lương, hay rối loạn; nhưng được tuyên bố rằng họ có vẻ ngoài sùng đạo và thánh khiết đã quyến dụ “chiên của bầy thật.” Vì thế giáo hoàng truyền rằng “giáo phái độc ác và đáng ghê tởm của những kẻ xấu xa ấy,” nếu họ “từ chối chối bỏ đức tin mình, phải bị nghiền nát như những con rắn độc."—Wylie, b. 16, ch. 1. Vị thế lực kiêu ngạo này có mong gặp lại những lời đó không? Ông có biết rằng chúng được ghi lại trong sách vở trên trời, để đối chất với ông trong ngày phán xét không? Vua sẽ trả lời rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, hễ các ngươi đã làm việc đó cho một người trong những người rất hèn mọn này của anh em ta, ấy là đã làm cho chính mình ta vậy.

(Ma-thi-ơ 25:40) GC 77.1

Sắc chỉ này kêu gọi tất cả các thành viên của hội thánh tham gia cuộc thập tự chinh chống lại những kẻ dị giáo. Để khuyến khích họ tham gia vào công việc tàn ác này, sắc chỉ “tha thứ mọi hình phạt và kỷ luật của giáo hội, dù chung hay riêng; giải thoát tất cả những ai tham gia thập tự chinh khỏi bất kỳ lời thề nào họ đã lập; hợp pháp hóa quyền sở hữu của họ đối với bất kỳ tài sản nào họ đã chiếm đoạt bất hợp pháp; và hứa tha thứ mọi tội lỗi cho những ai giết bất kỳ kẻ dị giáo nào. Sắc chỉ hủy bỏ mọi hợp đồng lập ra có lợi cho người Vaudois, ra lệnh cho những người hầu của họ phải bỏ họ, cấm mọi người trợ giúp họ bằng bất cứ cách nào, và cho phép mọi người chiếm đoạt tài sản của họ.”—Wylie, b. 16, ch. 1. Văn kiện này tỏ rõ cái tinh thần chủ đạo đằng sau hậu trường. Đó là tiếng gầm thét của con rồng, chứ không phải tiếng phán của Đấng Christ, mà người ta nghe thấy trong đó. GC 77.2

Các nhà lãnh đạo giáo hoàng không chịu làm cho tánh nết mình phù hợp với tiêu chuẩn cao cả của luật pháp Đức Chúa Trời, nhưng họ dựng nên một tiêu chuẩn theo ý mình, và quyết tâm ép buộc mọi người phải tuân theo tiêu chuẩn ấy vì Giáo hội La-mã muốn như vậy. Những thảm kịch khủng khiếp nhất đã diễn ra. Các thầy tế lễ và các giáo hoàng đồi bại và phạm thượng đang làm công việc mà Sa-tan giao phó cho họ. Lòng thương xót không có chỗ trong bản tính của họ. Cũng chính tinh thần đã đóng đinh Đấng Christ và giết các sứ đồ, cũng chính tinh thần đã xúi giục tên Nero khát máu chống lại những người trung tín trong thời của hắn, nay đang hoạt động để trừ khử khỏi mặt đất những người được Đức Chúa Trời yêu dấu. GC 77.3

Những cuộc bắt bớ giáng xuống trên dân tộc kính sợ Đức Chúa Trời này trong nhiều thế kỷ đã được họ chịu đựng với một lòng kiên nhẫn và bền bỉ làm vinh hiển Đấng Cứu Chuộc của họ. Bất chấp những cuộc thập tự chinh chống lại họ, và sự tàn sát vô nhân đạo mà họ phải chịu, họ vẫn tiếp tục sai phái các giáo sĩ của mình đi ra để gieo rắc lẽ thật quý báu. Họ bị săn đuổi cho đến chết; nhưng huyết của họ đã tưới hạt giống được gieo ra, và hạt giống ấy đã không thất bại trong việc kết quả. Như vậy, những người Waldenses đã làm chứng cho Đức Chúa Trời hằng bao thế kỷ trước khi Luther ra đời. Bị tản mác khắp nhiều xứ, họ đã gieo những hạt giống của cuộc Cải chánh khởi đầu vào thời Wycliffe, phát triển rộng lớn và sâu xa vào thời Luther, và sẽ được tiếp tục tiến hành cho đến tận thế bởi những người cũng sẵn lòng chịu đựng mọi sự vì “Lời Đức Chúa Trời, và vì lời chứng của Đức Chúa Giê-su Christ.” Tôi là Giăng, là anh em và bạn của các anh em về hoạn nạn, về nước, về sự nhịn nhục trong Đức Chúa Giê-su, tôi đã ở trong đảo gọi là Bát-mô, vì cớ lời Đức Chúa Trời và chứng của Đức Chúa Giê-su.

(Khải-huyền 1:9) GC 78.1