Chương 1
01

Sự Hủy Diệt Thành Giê-ru-sa-lem

Chương 1—Sự Hủy Diệt Thành Giê-ru-sa-lem

“Ước gì, ít nữa là ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy. Vì sẽ có ngày xảy đến cho mầy, khi quân nghịch đào hố xung quanh mầy, vây mầy chặt bốn bề. Họ sẽ hủy hết thảy, mầy và con cái ở giữa mầy nữa. Không để cho mầy hòn đá này trên hòn đá kia, vì mầy không biết lúc mình đã được thăm viếng.” (Lu-ca 19:42-44) GC 17.1

Từ đỉnh núi Ô-li-ve, Đức Chúa Giê-su nhìn xuống thành Giê-ru-sa-lem. Quang cảnh trải ra trước mắt Ngài thật xinh đẹp và thanh bình. Đó là mùa lễ Vượt Qua, và từ khắp các xứ, con cháu Gia-cốp đã tụ họp về đây để cử hành đại lễ của dân tộc. Giữa những khu vườn, vườn nho, và các triền đồi xanh tươi rải rác những trại của người hành hương, mọc lên những ngọn đồi tầng bậc, những cung điện nguy nga, và những thành lũy đồ sộ của thủ đô Y-sơ-ra-ên. Con gái Si-ôn dường như trong sự kiêu hãnh của mình mà nói rằng: Ta ngồi như một nữ vương và sẽ chẳng thấy sự buồn rầu; lúc ấy nàng xinh đẹp, và tự nghĩ mình được an toàn trong ơn thiên thượng, như cách đây bao thế kỷ, khi người ca sĩ hoàng gia đã hát rằng: Núi Si-ôn đẹp đẽ nổi lên về phía bắc, là kinh đô của Vua cao cả, Và là sự vui vẻ của cả thế gian.

(Thi-thiên 48:2)Trong tầm mắt là những tòa nhà nguy nga của đền thờ. Những tia nắng chiều tà chiếu sáng sắc trắng như tuyết của những bức tường cẩm thạch và lấp lánh từ cổng vàng, tháp canh và chóp đỉnh. Nó đứng sừng sững “toàn hảo trong vẻ đẹp”, niềm tự hào của dân Do Thái. Có đứa con nào của Y-sơ-ra-ên có thể nhìn quang cảnh này mà không rung động vì vui mừng và thán phục! Nhưng tâm trí Đức Chúa Giê-su đang bận suy nghĩ những điều hoàn toàn khác. Khi Đức Chúa Giê-su gần đến thành, thấy thì khóc về thành, và phán rằng: (Lu-ca 19:41) Giữa tiếng hân hoan khắp nơi của sự khải hoàn, trong khi những nhành chà là được vẫy lên, trong khi những tiếng hô-sa-na vui mừng vang vọng trên các ngọn đồi, và hàng ngàn giọng nói tuyên xưng Ngài là vua, thì Đấng Cứu Chuộc của thế gian bị tràn ngập bởi một nỗi buồn đột ngột và mầu nhiệm. Ngài, là Con Đức Chúa Trời, là Đấng Được Hứa của Y-sơ-ra-ên, là Đấng mà quyền năng của Ngài đã chiến thắng sự chết và gọi các kẻ bị cầm tù ra khỏi mồ mả, lại tuôn lệ, không phải nước mắt của nỗi sầu thường tình, mà là nỗi thống khổ mãnh liệt, không thể kiềm nén được. GC 17.2

Ngài không khóc cho chính Ngài, dù Ngài biết rõ bước chân mình đang đi đến đâu. Trước mặt Ngài là vườn Ghết-sê-ma-nê, nơi cơn thống khổ sắp đến của Ngài. Cửa Chiên cũng ở trong tầm nhìn, qua đó trong nhiều thế kỷ, các sinh tế đã được dẫn đi, và sẽ mở ra cho Ngài khi Ngài bị “đem đi như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt”. Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng.

(Ê-sai 53:7)Không xa đó là đồi Gô-gô-tha, nơi đóng đinh. Trên con đường mà Đấng Christ sắp phải bước đi sẽ đổ xuống sự kinh hoàng của bóng tối lớn khi Ngài dâng linh hồn mình làm của lễ chuộc tội lỗi. Tuy nhiên, không phải việc suy ngẫm về những cảnh tượng này đã phủ bóng trên Ngài trong giờ phút hân hoan này. Không có điềm báo nào về nỗi thống khổ siêu phàm của chính Ngài làm u ám tâm hồn vô tư ấy. Ngài đã khóc cho hàng ngàn người Giê-ru-sa-lem bị đoán phạt—vì sự mù quáng và lòng không ăn năn của những kẻ mà Ngài đã đến để ban phước và cứu rỗi. GC 18.1

Lịch sử hơn một ngàn năm ân huệ đặc biệt và sự chăm sóc bảo hộ của Đức Chúa Trời, được biểu lộ đối với dân được chọn, đang mở ra trước mắt Đức Chúa Giê-su. Đó là núi Mô-ri-a, nơi người con trai của lời hứa, một nạn nhân không kháng cự, đã bị trói trên bàn thờ—hình bóng của sự dâng hiến Con Đức Chúa Trời. Tại đó, giao ước phước hạnh, lời hứa vinh quang về Đấng Mê-si, đã được xác nhận với tổ phụ của những kẻ có đức tin. [[BIBLE:Genesis 22:9,16-18]]. Tại đó, ngọn lửa của của lễ bay lên trời từ sân đạp lúa của Ọt-nan đã làm quay lưỡi gươm của thiên sứ hủy diệt ([[BIBLE:1 Chronicles 21]])—biểu tượng thích hợp cho sự hy sinh và sự trung bảo của Đấng Cứu Thế cho loài người tội lỗi. Giê-ru-sa-lem đã được Đức Chúa Trời tôn quý hơn hết thảy trên đất. Chúa đã “chọn Si-ôn”, Ngài đã “ước ao nó làm nơi ngự của Ngài”. Vì Đức Giê-hô-va đã chọn Si-ôn; Ngài ước Si-ôn làm nơi ở của Ngài;

(Thi-thiên 132:13)Tại đó, trong nhiều thời đại, các tiên tri thánh đã tuyên những sứ điệp cảnh cáo của mình. Tại đó các thầy tế lễ đã lắc những bình hương, và làn khói hương, cùng với lời cầu nguyện của những người thờ phượng, đã dâng lên trước mặt Đức Chúa Trời. Tại đó mỗi ngày huyết của các chiên con bị giết đã được dâng lên, chỉ về Chiên Con của Đức Chúa Trời. Tại đó Đức Giê-hô-va đã bày tỏ sự hiện diện của Ngài trong đám mây vinh quang trên nắp thi ân. Tại đó là nền của chiếc thang mầu nhiệm nối đất với trời (bèn chiêm bao thấy một cái thang bắc từ dưới đất, đầu đến tận trời, các thiên sứ của Đức Chúa Trời đi lên xuống trên thang đó. (Sáng-thế Ký 28:12) Ngài lại phán: Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, các ngươi sẽ thấy trời mở ra, và thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống trên Con người.” (Giăng 1:51) chiếc thang mà trên đó các thiên sứ của Đức Chúa Trời lên xuống, và mở ra cho thế gian con đường vào nơi chí thánh. Nếu dân Y-sơ-ra-ên như một dân tộc đã giữ gìn lòng trung thành của mình với Thiên đàng, thì Giê-ru-sa-lem đã đứng vững đời đời, là dân được chọn của Đức Chúa Trời. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Các ngươi hãy giữ, chớ khiêng gánh trong ngày sa-bát; chớ khiêng gánh vào cửa thành Giê-ru-sa-lem. Trong ngày sa-bát, đừng khiêng gánh ra khỏi nhà các ngươi, cũng đừng làm việc chi hết; nhưng hãy biệt riêng ngày sa-bát ra thánh, như ta đã phán dặn tổ phụ các ngươi. Nhưng mà, họ chẳng nghe, chẳng lắng tai; cứng cổ để chẳng nghe ta và chẳng chịu dạy. Đức Giê-hô-va phán: Nếu các ngươi chăm chỉ nghe ta, nếu các ngươi không khiêng gánh vào cửa thành ấy trong ngày sa-bát, nếu các ngươi biệt riêng ngày sa-bát ra thánh và không làm việc gì trong ngày đó, thì các vua và các quan trưởng ngồi trên ngai Đa-vít sẽ cỡi xe cỡi ngựa, cùng với các quan trưởng người Giu-đa, và dân cư Giê-ru-sa-lem do cửa thành ấy mà vào; và thành ấy sẽ còn đời đời. (Giê-rê-mi 17:21-25) Nhưng lịch sử của dân được ưu ái đó là một bản ghi chép về sự bội đạo và nổi loạn. Họ đã chống cự ân điển của Thiên đàng, lạm dụng các đặc quyền, và coi nhẹ các cơ hội của mình. GC 18.2

Mặc dù dân Y-sơ-ra-ên đã “nhạo báng các sứ giả của Đức Chúa Trời, khinh bỉ lời Ngài, và chế giễu các tiên tri Ngài” (nhưng chúng nhạo báng sứ giả của Đức Chúa Trời, khinh bỉ các lời phán Ngài, cười nhạo những tiên tri của Ngài, cho đến nỗi cơn thạnh nộ của Đức Giê-hô-va nổi lên cùng dân sự Ngài, chẳng còn phương chữa được.

(II Sử-ký 36:16)Ngài vẫn bày tỏ chính mình cho họ, là “Giê-hô-va Đức Chúa Trời, nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và chân thật” (Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6) bất chấp những sự chối bỏ lặp đi lặp lại, lòng thương xót của Ngài vẫn tiếp tục lời nài xin. Với tình yêu thương xót hơn cả một người cha dành cho đứa con mình chăm sóc, Đức Chúa Trời đã “sai các sứ giả đến cùng họ, dậy sớm mà sai đi; bởi vì Ngài thương xót dân Ngài và nơi ngự của Ngài”. Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ chúng, vì có lòng thương xót dân sự và đền của Ngài; nên hằng sai sứ giả đến cùng chúng; (II Sử-ký 36:15) Khi sự khuyên bảo, nài nỉ và quở trách đã không có kết quả, Ngài đã ban cho họ món quà tốt nhất của thiên đàng; thật vậy, Ngài đã đổ cả thiên đàng vào trong Món Quà duy nhất ấy. GC 19.1

Chính Con Đức Chúa Trời đã được sai đến để nài xin với thành phố không chịu ăn năn ấy. Chính Đấng Christ đã đem Y-sơ-ra-ên ra khỏi Ê-díp-tô như một cây nho tốt đẹp. Từ Ê-díp-tô Chúa đã dời sang một cây nho; Chúa đuổi các dân ra, rồi trồng cây ấy;

(Thi-thiên 80:8)Chính tay Ngài đã đuổi các dân ngoại ra trước nó. Ngài đã trồng nó “trên một gò đất phì nhiêu”. Sự chăm sóc bảo hộ của Ngài đã rào quanh nó. Các đầy tớ của Ngài đã được sai đến để nuôi dưỡng nó. Ngài kêu lên rằng: “Có điều gì nên làm cho vườn nho Ta mà Ta không làm cho nó chăng?” Ta sẽ hát cho bạn rất yêu dấu ta một bài ca của bạn yêu dấu ta về việc vườn nho người. Bạn rất yêu dấu ta có một vườn nho ở trên gò đất tốt. Người khai phá ra; cất bỏ những đá; trồng những gốc nho xinh tốt; dựng một cái tháp giữa vườn, và đào một nơi ép rượu. Vả, người mong rằng sẽ sanh trái nho; nhưng nó lại sanh trái nho hoang. Hỡi dân ở Giê-ru-sa-lem cùng người Giu-đa, vậy thì bây giờ ta xin các ngươi hãy đoán xét giữa ta với vườn nho ta. Có điều chi nên làm cho vườn nho ta mà ta không làm cho nó chăng? Cớ sao khi ta mong sanh trái nho, thì nó lại sanh trái nho hoang vậy? (Ê-sai 5:1-4) Dù khi Ngài trông mong nó sinh trái nho tốt, nó lại sinh trái nho hoang, tuy vậy với niềm hy vọng vẫn còn khao khát về sự sinh trái, Ngài đã đích thân đến với vườn nho của Ngài, hầu cho có thể cứu được nó khỏi sự hủy diệt. Ngài đào xới quanh gốc nho của Ngài; Ngài tỉa sửa và chăm sóc nó. Ngài không hề mệt mỏi trong những nỗ lực cứu cây nho do chính Ngài trồng. GC 19.2

Suốt ba năm, Chúa của sự sáng và vinh quang đã đi ra đi vào giữa dân sự của Ngài. Ngài “đi khắp nơi làm phước và chữa lành hết thảy những kẻ bị ma quỷ áp bức”, băng bó những tấm lòng tan vỡ, giải phóng những kẻ bị giam cầm, phục hồi thị lực cho người mù, làm cho kẻ què đi được và kẻ điếc nghe được, làm sạch người phung, làm cho kẻ chết sống lại, và rao giảng tin lành cho người nghèo. thể nào Đức Chúa Trời đã xức cho Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét bằng Đức Thánh Linh và quyền phép, rồi Ngài đi từ nơi nọ qua chỗ kia làm phước và chữa lành hết thảy những người bị ma quỉ ức hiếp; vì Đức Chúa Trời ở cùng Ngài.

(Công-vụ các Sứ-đồ 10:38)Thần của Chúa ngự trên ta; Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo;” (Lu-ca 4:18) Kẻ mù được thấy, kẻ què được đi, kẻ phung được sạch, kẻ điếc được nghe, kẻ chết được sống lại, kẻ khó khăn được nghe giảng tin lành.” (Ma-thi-ơ 11:5) Lời kêu gọi đầy ân điển được ngỏ cùng mọi tầng lớp như nhau: Hỡi những kẻ mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến cùng ta, ta sẽ cho các ngươi được yên nghỉ. (Ma-thi-ơ 11:28) GC 20.1

Dù bị lấy ác trả lành, và lấy ghét trả yêu “Chúng nó lấy dữ trả lành, Lấy ghét báo thương.”

(Thi-thiên 109:5)Ngài vẫn kiên trì theo đuổi sứ mạng thương xót của mình. Chưa bao giờ những người tìm kiếm ân điển của Ngài bị chối từ. Là một kẻ lữ hành không nhà, sự phỉ báng và cảnh nghèo khó là phần thường nhật của Ngài, Ngài đã sống để phục vụ các nhu cầu và làm nhẹ những khốn khổ của loài người, để nài xin họ nhận lấy món quà sự sống. Những làn sóng thương xót, bị đẩy lùi bởi những tấm lòng cứng cỏi đó, lại trở lại trong một thủy triều mạnh mẽ hơn của tình yêu thương xót không thể diễn tả. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên đã quay lưng lại với Bạn Hữu tốt nhất và là Đấng Giúp Đỡ duy nhất của mình. Những lời nài xin của tình yêu Ngài đã bị khinh bỉ, những lời khuyên bảo của Ngài bị từ chối, những lời cảnh cáo của Ngài bị chế nhạo. GC 20.2

Giờ phút của hy vọng và sự tha thứ đang nhanh chóng qua đi; chén thạnh nộ của Đức Chúa Trời đã bị trì hoãn lâu nay gần đầy tràn. Đám mây đã tích tụ qua các thời đại bội đạo và nổi loạn, giờ đây đen kịt với tai họa, sắp đổ xuống trên một dân tộc có tội; và Đấng duy nhất có thể cứu họ khỏi số phận đang đe dọa đã bị coi thường, bị lạm dụng, bị chối bỏ, và sắp bị đóng đinh. Khi Đấng Christ bị treo trên thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha, thì ngày của Y-sơ-ra-ên với tư cách một dân tộc được Đức Chúa Trời ưu ái và ban phước sẽ kết thúc. Sự mất mát của dù chỉ một linh hồn cũng là một tai họa vô cùng nặng hơn những lợi lộc và kho báu của cả thế gian; nhưng khi Đấng Christ nhìn xuống Giê-ru-sa-lem, số phận của cả một thành phố, cả một dân tộc, đã ở trước mặt Ngài—thành phố đó, dân tộc đó, đã từng là dân được chọn của Đức Chúa Trời, là kho báu đặc biệt của Ngài. GC 20.3

Các tiên tri đã từng than khóc về sự bội đạo của Y-sơ-ra-ên và những sự hoang tàn khủng khiếp mà tội lỗi của họ đã chuốc lấy. Giê-rê-mi ước ao mắt mình là một suối nước mắt, để có thể khóc ngày đêm cho những kẻ bị giết của con gái dân mình, cho bầy chiên của Chúa đã bị bắt làm phu tù. Ôi! Ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! Hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm.

(Giê-rê-mi 9:1)Nếu các ngươi chẳng nghe, linh hồn ta sẽ khóc thầm về sự kiêu ngạo các ngươi. Thật, mắt ta sẽ khóc nhiều, giọt lụy tuôn rơi, vì bầy của Đức Giê-hô-va bị bắt đi.” (Giê-rê-mi 13:17) Vậy thì, nỗi đau buồn của Đấng mà cái nhìn tiên tri bao trùm, không phải chỉ vài năm, mà là nhiều thời đại, lớn lao biết chừng nào! Ngài thấy thiên sứ hủy diệt với thanh gươm giơ lên chống lại thành đã từ lâu là nơi ngự của Đức Giê-hô-va. Từ đỉnh núi Ô-li-ve, chính nơi mà sau này Ti-tút và đạo quân của ông đã đóng, Ngài nhìn qua thung lũng về phía các sân thánh và các hành lang, và với đôi mắt nhòa lệ, Ngài thấy, trong viễn cảnh kinh khiếp, những bức tường thành bị vây bọc bởi các đạo binh ngoại bang. Ngài nghe tiếng bước chân của các đạo quân dàn trận cho chiến trận. Ngài nghe tiếng những người mẹ và trẻ thơ kêu xin bánh trong thành bị vây. Ngài thấy nhà thánh xinh đẹp của thành, các cung điện và các tháp của thành bị phó cho lửa thiêu, và nơi chúng đã từng đứng, chỉ còn là đống đổ nát đang âm ỉ cháy. GC 21.1

Nhìn xuống các thời đại, Ngài thấy dân giao ước bị tản lạc khắp mọi xứ, “như những xác tàu trên bờ biển hoang vắng.” Trong sự báo ứng tạm thời sắp giáng xuống con cái của thành, Ngài chỉ thấy ngụm đầu tiên từ chén thạnh nộ mà trong sự phán xét cuối cùng, thành ấy phải uống cạn đến tận cặn. Lòng trắc ẩn thiêng liêng, tình yêu thương tha thiết, đã thốt lên trong những lời thương tâm: “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp con cái ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!” Ôi, hỡi ngươi, một dân tộc được ưu đãi hơn mọi dân khác, ước chi ngươi đã biết thời kỳ ngươi được thăm viếng, và những điều thuộc về sự bình an của ngươi! Ta đã cầm giữ thiên sứ của sự công bình, Ta đã kêu gọi ngươi ăn năn, nhưng vô ích. Không chỉ những tôi tớ, những sứ giả, và những tiên tri mà ngươi đã từ chối và chối bỏ, mà là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, Đấng Cứu Chuộc của ngươi. Nếu ngươi bị hủy diệt, chỉ một mình ngươi phải chịu trách nhiệm. “Các ngươi không muốn đến cùng Ta để được sự sống.” Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!

(Ma-thi-ơ 23:37)Các ngươi không muốn đến cùng ta để được sự sống!” (Giăng 5:40) GC 21.2

Đấng Christ thấy nơi Giê-ru-sa-lem một biểu tượng của thế gian cứng lòng trong sự chẳng tin và phản loạn, đang vội vã đi đến gặp các sự phán xét báo ứng của Đức Chúa Trời. Những nỗi khốn khổ của một nhân loại sa ngã, đè nặng trên linh hồn Ngài, đã buộc phải bật ra từ môi Ngài tiếng kêu vô cùng cay đắng đó. Ngài thấy ghi chép của tội lỗi được vẽ ra trong sự khốn khổ, nước mắt, và máu của loài người; lòng Ngài cảm động với lòng thương xót vô hạn đối với những người bị hoạn nạn và đau khổ của trần gian; Ngài khao khát giải cứu tất cả họ. Nhưng ngay cả bàn tay Ngài cũng không thể xoay ngược dòng thác khốn khổ của loài người; ít người sẽ tìm kiếm Nguồn cứu giúp duy nhất của họ. Ngài sẵn lòng đổ linh hồn Ngài cho đến chết, để đem sự cứu rỗi đến trong tầm với của họ; nhưng ít người muốn đến cùng Ngài để được sự sống. GC 22.1

Đấng Uy nghi của thiên đàng trong nước mắt! Con của Đức Chúa Trời vô hạn bối rối trong tâm thần, cúi mình xuống trong thống khổ! Cảnh tượng ấy làm cho cả thiên đàng phải kinh ngạc. Cảnh tượng ấy bày tỏ cho chúng ta sự cực kỳ tội lỗi của tội lỗi; nó cho thấy nhiệm vụ khó khăn biết bao, ngay cả đối với Quyền Năng Vô Hạn, để cứu kẻ có tội khỏi hậu quả của việc phạm luật pháp Đức Chúa Trời. Đức Chúa Giê-su, nhìn xuống đến thế hệ cuối cùng, thấy thế gian bị vướng vào một sự lừa dối tương tự như sự lừa dối đã gây ra sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem. Tội lớn của người Do Thái là sự chối bỏ Đấng Christ; tội lớn của thế giới Cơ-đốc Giáo sẽ là sự chối bỏ luật pháp Đức Chúa Trời, nền tảng của sự cai trị của Ngài trên trời và dưới đất. Các huấn lệnh của Đức Giê-hô-va sẽ bị khinh dể và coi như không có. Hàng triệu người bị giam cầm trong tội lỗi, nô lệ của Sa-tan, bị định phải chịu sự chết thứ hai, sẽ từ chối lắng nghe những lời chân lý trong ngày thăm viếng của họ. Sự mù lòa khủng khiếp! Sự mê muội lạ lùng! GC 22.2

Hai ngày trước lễ Vượt Qua, khi Đấng Christ đã rời khỏi đền thờ lần cuối cùng, sau khi quở trách sự giả hình của các nhà cai trị Do Thái, Ngài lại đi ra với các môn đồ Ngài lên núi Ô-li-ve và ngồi với họ trên sườn đồi cỏ nhìn xuống thành. Một lần nữa Ngài nhìn chăm chú vào các bức tường, các tháp, và các cung điện của thành. Một lần nữa Ngài chiêm ngưỡng đền thờ trong vẻ lộng lẫy chói lọi của nó, một vương miện xinh đẹp đội trên núi thánh. GC 23.1

Một ngàn năm trước, tác giả Thi Thiên đã ngợi ca ân huệ của Đức Chúa Trời đối với Y-sơ-ra-ên qua việc làm cho nhà thánh của bà trở nên nơi ngự của Ngài: “Đền tạm Ngài ở tại Sa-lem, và nơi ở Ngài tại Si-ôn.” Ngài “chọn chi phái Giu-đa, là núi Si-ôn mà Ngài yêu mến. Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi cao.” Đền tạm Ngài ở Sa-lem, Và nơi ở Ngài tại Si-ôn.

(Thi-thiên 76:2)Bèn chọn chi phái Giu-đa, Là núi Si-ôn mà Ngài yêu mến. Ngài xây đền thánh Ngài giống như nơi rất cao, Khác nào trái đất mà Ngài đã sáng lập đời đời.” (Thi-thiên 78:68-69) Đền thờ thứ nhất đã được dựng lên trong thời kỳ thịnh vượng nhất của lịch sử Y-sơ-ra-ên. Những kho báu khổng lồ cho mục đích này đã được vua Đa-vít thâu góp, và các kế hoạch cho việc xây dựng đã được lập bởi sự soi dẫn thiêng liêng. [[BIBLE:1 Chronicles 28:12,19]]. Sa-lô-môn, vị vua khôn ngoan nhất của Y-sơ-ra-ên, đã hoàn thành công trình. Đền thờ này là công trình kiến trúc huy hoàng nhất mà thế gian đã từng thấy. Tuy nhiên, Chúa đã phán qua tiên tri A-ghê, về đền thờ thứ hai: “Vinh quang sau-rốt của nhà nầy sẽ lớn hơn vinh quang trước.” “Ta sẽ làm rúng động hết thảy các nước, và những sự ao-ước của các nước hầu đến; rồi ta sẽ làm cho vinh-quang đầy-dẫy nhà nầy, Đức Giê-hô-va vạn-quân phán vậy.” [[BIBLE:Haggai 2:9,7]]. GC 23.2

Sau khi đền thờ bị Nê-bu-cát-nết-sa phá hủy, đền thờ đã được xây lại khoảng năm trăm năm trước khi Đấng Christ giáng sinh, bởi một dân tộc từ một cuộc lưu đày suốt đời đã trở về một đất nước bị hoang tàn và gần như bỏ hoang. Lúc ấy giữa họ có những người già đã thấy vinh quang của đền thờ Sa-lô-môn, và họ đã khóc khi nền của công trình mới được đặt, vì nó phải kém cỏi hơn đền thờ trước quá nhiều. Cảm xúc thịnh hành được tiên tri mô tả một cách mạnh mẽ: “Trong các ngươi còn lại kẻ nào đã xem thấy vinh-quang khi trước của nhà nầy chăng? và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao? Nào chẳng phải ở mắt các ngươi như là hư-không sao?” Ai là kẻ còn sót lại ở trong các ngươi đã xem thấy vinh quang khi trước của nhà này? Và bây giờ các ngươi xem nó ra làm sao? Nó ở trước mắt các ngươi, há chẳng phải như là hư không sao?

(A-ghê 2:3)Nhiều thầy tế lễ, người Lê-vi, trưởng tộc, tức là những người già cả đã thấy đền thờ trước, bèn khóc tiếng lớn trong khi người ta xây nền của đền mới tại trước mặt mình. Cũng có nhiều người khác lại la tiếng lớn vui mừng hớn hở;” (E-xơ-ra 3:12) Bấy giờ lời hứa đã được ban cho rằng vinh quang của nhà sau-rốt này sẽ lớn hơn vinh quang của nhà trước. GC 23.3

Nhưng đền thờ thứ hai đã không bằng đền thờ thứ nhất về sự nguy nga; cũng chẳng được thánh hóa bởi những dấu hiệu hữu hình của sự hiện diện thiêng liêng thuộc về đền thờ thứ nhất. Không có sự bày tỏ của quyền năng siêu nhiên để đánh dấu sự dâng hiến của nó. Không có đám mây vinh quang nào được thấy đầy dẫy đền thánh mới dựng lên. Không có lửa từ trời xuống để thiêu của lễ trên bàn thờ của nó. Sự Shekinah không còn ngự giữa các chê-ru-bim trong nơi chí thánh nữa; hòm giao ước, nắp thi ân, và các bảng chứng ước không còn ở đó. Không có tiếng phán từ trời tuyên cho thầy tế lễ đang cầu hỏi biết ý muốn của Đức Giê-hô-va. GC 24.1

Trong nhiều thế kỷ, người Do Thái đã cố gắng vô ích để chỉ ra lời hứa của Đức Chúa Trời ban qua A-ghê đã được ứng nghiệm ở đâu; nhưng sự kiêu ngạo và chẳng tin đã làm mù tâm trí họ đối với ý nghĩa thực sự của lời tiên tri. Đền thờ thứ hai đã không được tôn trọng với đám mây vinh quang của Đức Giê-hô-va, nhưng với sự hiện diện sống động của Đấng mà trong Ngài có đầy dẫy sự đầy trọn của Đức Chúa Trời cách thể chất — Đấng là chính Đức Chúa Trời được tỏ ra trong xác thịt. “Sự ao ước của muôn dân” thật sự đã đến đền thờ của Ngài khi Người xứ Na-xa-rét dạy dỗ và chữa lành trong các sân thánh. Trong sự hiện diện của Đấng Christ, và chỉ trong điều này thôi, đền thờ thứ hai đã vượt trổi đền thờ thứ nhất về vinh quang. Nhưng Y-sơ-ra-ên đã ruồng bỏ Món Quà của thiên đàng được ban cho. Với vị Thầy khiêm nhường đã bước ra khỏi cổng vàng của đền thờ vào ngày đó, vinh quang đã rời khỏi đền thờ mãi mãi. Lời của Đấng Cứu Thế đã được ứng nghiệm rồi: “Nhà các ngươi sẽ bỏ hoang.” Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang!

(Ma-thi-ơ 23:38) GC 24.2

Các môn đồ đã tràn đầy sự kinh sợ và ngạc nhiên trước lời tiên báo của Đấng Christ về sự đổ sập của đền thờ, và họ mong muốn hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa của lời Ngài. Của cải, công lao, và kỹ năng kiến trúc trong hơn bốn mươi năm đã được chi phí rộng rãi để tôn thêm sự huy hoàng của đền thờ. Hê-rốt Đại Đế đã phung phí vào đó cả tài sản La-mã lẫn kho báu Do Thái, và ngay cả hoàng đế của thế giới cũng đã làm cho đền thờ thêm phong phú bằng những món quà của ông. Những khối đá cẩm thạch trắng đồ sộ, có kích thước gần như huyền thoại, được chuyển từ La-mã cho mục đích này, đã tạo nên một phần của cấu trúc; và các môn đồ đã chỉ cho Thầy mình chú ý đến những tảng đá này, mà rằng: “Thầy ơi, hãy xem đá và các nhà nầy là dường nào!” Đức Chúa Giê-su vừa ra khỏi đền thờ, có một người môn đồ thưa cùng Ngài rằng: Thưa thầy, hãy xem đá và các nhà này là dường nào!

(Mác 13:1) GC 24.3

Trước những lời nầy, Đức Chúa Giê-su đã đáp lại một cách trang trọng và gây kinh ngạc: “Ngài phán rằng: Các ngươi có thấy mọi điều đó chăng? Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đây sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn khác mà không bị đổ xuống.

(Ma-thi-ơ 24:2)Ma-thi-ơ 24:2. GC 25.1

Các môn đồ đã liên kết sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem với những biến cố về sự đích thân đến của Đấng Christ trong vinh quang trần thế để lên ngôi của một đế quốc hoàn vũ, để trừng phạt những người Do Thái không ăn năn, và để bẻ gãy ách của La-mã khỏi dân tộc. Chúa đã phán cùng họ rằng Ngài sẽ đến lần thứ hai. Vì vậy, khi nghe nói đến sự phán xét giáng trên Giê-ru-sa-lem, tâm trí họ liền quay về sự đến ấy; và khi họ quây quần bên Đấng Cứu Thế trên núi Ô-li-ve, họ hỏi rằng: “Ngài đương ngồi trên núi Ô-li-ve, môn đồ tới riêng cùng Ngài, và nói rằng: Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? Và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế.

(Ma-thi-ơ 24:3)Câu 3. GC 25.2

Tương lai đã được che khuất một cách nhân từ khỏi các môn đồ. Nếu lúc bấy giờ họ hiểu thấu hai sự kiện khủng khiếp — sự thương khó và cái chết của Đấng Cứu Chuộc, và sự hủy diệt của thành cùng đền thờ của họ — thì họ sẽ bị kinh hoàng đè bẹp. Đấng Christ đã trình bày trước mặt họ một phác thảo những biến cố nổi bật sẽ xảy ra trước khi thời gian kết thúc. Những lời Ngài phán lúc ấy chưa được hiểu trọn vẹn; nhưng ý nghĩa của chúng sẽ được tỏ bày khi dân sự Ngài cần đến sự giáo huấn chứa đựng trong đó. Lời tiên tri Ngài phán có ý nghĩa kép; trong khi báo trước sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, nó cũng tiên báo những nỗi kinh hoàng của ngày lớn cuối cùng. GC 25.3

Đức Chúa Giê-su đã tuyên bố cùng các môn đồ đang lắng nghe về những sự phán xét sẽ giáng trên dân Y-sơ-ra-ên bội đạo, và nhất là sự báo thù trừng phạt sẽ đến trên họ vì đã chối bỏ và đóng đinh Đấng Mê-si. Những dấu hiệu không thể nhầm lẫn sẽ đi trước đỉnh điểm khủng khiếp ấy. Giờ đáng sợ sẽ đến cách thình lình và nhanh chóng. Và Đấng Cứu Thế đã cảnh báo những người theo Ngài: “Khi các ngươi sẽ thấy sự gớm ghiếc tàn nát lập ra trong nơi thánh, mà đấng tiên tri Đa-ni-ên đã nói (ai đọc phải để ý), thì ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi;

(Ma-thi-ơ 24:15-16)Vả, khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến. Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành. (Lu-ca 21:20-21) Ma-thi-ơ 24:15, 16; Lu-ca 21:20, 21. Khi những ngọn cờ hiệu thờ hình tượng của người La-mã được dựng lên trên đất thánh, vốn trải rộng ra vài dặm bên ngoài các vách thành, thì những người theo Đấng Christ phải tìm sự an toàn bằng cách chạy trốn. Khi thấy dấu hiệu cảnh báo ấy, những ai muốn thoát thân phải không được chậm trễ. Khắp xứ Giu-đê, cũng như trong chính thành Giê-ru-sa-lem, hiệu lệnh chạy trốn phải được tuân theo tức khắc. Kẻ nào tình cờ đang ở trên mái nhà thì không được xuống vào nhà, dầu là để cứu lấy những của báu quý nhất của mình. Những ai đang làm việc ngoài đồng ruộng hoặc trong vườn nho không được mất thời giờ trở về lấy chiếc áo ngoài đã cởi bỏ trong khi làm lụng giữa cái nóng ban ngày. Họ không được chần chừ một giây phút nào, kẻo bị cuốn vào sự hủy diệt chung. GC 25.4

Dưới triều đại Hê-rốt, Giê-ru-sa-lem chẳng những đã được tô điểm cực kỳ lộng lẫy, mà còn nhờ việc dựng lên các tháp canh, thành lũy và pháo đài, bổ sung cho sức mạnh tự nhiên của vị trí nó, đã trở nên dường như không thể công phá được. Kẻ nào vào lúc ấy mà công khai tiên báo sự hủy diệt của nó, thì cũng giống như Nô-ê trong thời của ông, sẽ bị gọi là một kẻ báo động điên rồ. Nhưng Đấng Christ đã phán: “Trời đất sẽ qua, nhưng lời ta nói chẳng bao giờ qua đi.

(Ma-thi-ơ 24:35)Ma-thi-ơ 24:35. Vì cớ tội lỗi của nó, cơn thạnh nộ đã được tuyên bố chống lại Giê-ru-sa-lem, và sự vô tín ngoan cố của nó đã khiến số phận nó trở nên chắc chắn. GC 26.1

Chúa đã phán qua tiên tri Mi-chê rằng: “Hỡi các trưởng của nhà Gia-cốp, và các ngươi là kẻ cai trị nhà Y-sơ-ra-ên, hãy nghe điều này, các ngươi gớm sự chánh trực, và làm bại hoại sự bằng phẳng. Các ngươi lấy huyết xây thành Si-ôn, và lấy sự gian ác xây thành Giê-ru-sa-lem. Các quan trưởng xét đoán vì của hối lộ, các thầy tế lễ dạy dỗ vì tiền công, còn các kẻ tiên tri nói tiên tri vì bạc; rồi chúng nó nương cậy Đức Giê-hô-va mà rằng: Đức Giê-hô-va há chẳng ở giữa chúng ta sao? Tai vạ sẽ chẳng đến trên chúng ta!

(Mi-chê 3:9-11)Mi-chê 3:9-11. GC 26.2

Những lời ấy đã mô tả trung thực những cư dân hư hoại và tự cho mình là công bình của Giê-ru-sa-lem. Trong khi xưng rằng tuân giữ nghiêm ngặt các giới luật của luật pháp Đức Chúa Trời, họ lại vi phạm mọi nguyên tắc của nó. Họ ghét Đấng Christ vì sự trong sạch và thánh khiết của Ngài bày tỏ sự gian ác của họ; và họ buộc tội Ngài là nguyên nhân của mọi rắc rối đã đến trên họ do hậu quả tội lỗi của họ. Dầu họ biết Ngài là vô tội, họ đã tuyên bố rằng cái chết của Ngài là cần thiết cho sự an toàn của họ với tư cách một dân tộc. Các nhà lãnh đạo Do Thái nói: “Nếu chúng ta để cho người làm, thì thiên hạ tin người, rồi dân Rô-ma sẽ đến diệt nơi này và cả nước chúng ta nữa.

(Giăng 11:48)Giăng 11:48. Nếu Đấng Christ bị hy sinh, họ có thể một lần nữa trở thành một dân hùng mạnh, hiệp nhất. Họ đã lý luận như vậy, và họ đã đồng tình với quyết định của thầy tế lễ thượng phẩm của họ, rằng thà một người chết còn hơn cả dân tộc bị diệt vong. GC 27.1

Như vậy các nhà lãnh đạo Do Thái đã xây dựng “Si-ôn bằng huyết, và Giê-ru-sa-lem bằng sự gian ác.” Mi-chê 3:10. Và dầu vậy, trong khi họ giết Đấng Cứu Thế của mình vì Ngài đã quở trách tội lỗi họ, họ lại tự cho mình là công bình đến nỗi xem mình là dân được Đức Chúa Trời ưu đãi và trông đợi Chúa giải cứu họ khỏi kẻ thù. Vị tiên tri tiếp tục: “Vậy nên, vì cớ các ngươi, Si-ôn sẽ bị cày như ruộng; Giê-ru-sa-lem sẽ trở nên đống đổ nát, và núi của nhà sẽ trở nên như nơi cao trong rừng!

(Mi-chê 3:12)Câu 12. GC 27.2

Trong gần bốn mươi năm sau khi án phạt đối với Giê-ru-sa-lem đã được chính Đấng Christ tuyên bố, Chúa đã trì hoãn các sự phán xét của Ngài trên thành và trên dân tộc ấy. Sự nhịn nhục lâu dài của Đức Chúa Trời đối với những kẻ chối bỏ tin lành của Ngài và những kẻ giết Con Ngài thật diệu kỳ thay. Thí dụ về cây không trái đã tượng trưng cho cách Đức Chúa Trời đối xử với dân Do Thái. Mệnh lệnh đã ra rằng: “bèn nói cùng kẻ trồng nho rằng: Kìa đã ba năm nay ta đến hái trái nơi cây vả này mà không thấy: Hãy đốn nó đi; cớ sao nó choán đất vô ích?

(Lu-ca 13:7)Lu-ca 13:7) nhưng lòng thương xót của Chúa đã tha cho nó thêm một ít thời gian nữa. Giữa vòng người Do Thái vẫn còn nhiều người chưa biết đến tính cách và công việc của Đấng Christ. Và con cái đã không được hưởng những cơ hội hoặc không nhận được ánh sáng mà cha mẹ chúng đã khinh thường. Qua sự rao giảng của các sứ đồ và các cộng sự của họ, Đức Chúa Trời sẽ khiến ánh sáng chiếu rọi trên họ; họ sẽ được phép thấy cách mà lời tiên tri đã được ứng nghiệm, không chỉ trong sự giáng sinh và đời sống của Đấng Christ, mà còn trong sự chết và sự sống lại của Ngài. Con cái không bị lên án vì tội của cha mẹ; nhưng khi con cái, với sự hiểu biết về mọi ánh sáng đã được ban cho cha mẹ chúng, lại chối bỏ ánh sáng thêm nữa đã được ban cho chính mình, chúng trở nên dự phần vào tội lỗi của cha mẹ, và làm đầy lượng gian ác của mình. GC 27.3

Sự nhịn nhục lâu dài của Đức Chúa Trời đối với Giê-ru-sa-lem chỉ càng khiến người Do Thái thêm cứng lòng không ăn năn. Trong lòng thù hận và sự tàn ác của họ đối với các môn đồ của Đức Chúa Giê-su, họ đã chối bỏ lời đề nghị thương xót cuối cùng. Bấy giờ Đức Chúa Trời rút sự che chở của Ngài khỏi họ và cất quyền năng kiềm chế của Ngài khỏi Sa-tan cùng các thiên sứ của nó, và dân tộc ấy bị bỏ mặc cho sự kiểm soát của kẻ lãnh đạo mà nó đã chọn. Con cái của nó đã khinh thường ân điển của Đấng Christ, là ân điển đã có thể giúp chúng chế ngự các xung động gian ác của mình, và bây giờ những xung động ấy trở nên kẻ chinh phục. Sa-tan khơi dậy những dục vọng dữ dằn và đồi bại nhất của linh hồn. Người ta không còn lý luận nữa; họ đã vượt quá sự lý luận — bị điều khiển bởi xung động và cơn cuồng nộ mù quáng. Họ đã trở nên như Sa-tan trong sự tàn ác của mình. Trong gia đình và trong dân tộc, nơi các giai cấp cao nhất cũng như thấp nhất, đều có sự nghi ngờ, ganh tỵ, hận thù, tranh chấp, nổi loạn, giết chóc. Không nơi nào còn an toàn. Bạn bè và thân nhân phản bội lẫn nhau. Cha mẹ giết con cái, và con cái giết cha mẹ. Các nhà cai trị dân chúng không có quyền năng để cai trị chính mình. Những dục vọng không kiềm chế đã biến họ thành những kẻ bạo ngược. Người Do Thái đã chấp nhận lời chứng gian dối để kết án Con vô tội của Đức Chúa Trời. Giờ đây những lời buộc tội dối trá đã khiến chính mạng sống họ trở nên bấp bênh. Qua hành động của mình, họ đã nói từ lâu rằng: “Hãy lìa khỏi đường, bỏ khỏi lối, cất Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên khỏi mặt chúng tôi!

(Ê-sai 30:11)Ê-sai 30:11. Giờ đây điều họ ao ước đã được ban cho. Sự kính sợ Đức Chúa Trời không còn quấy rầy họ nữa. Sa-tan đã đứng đầu dân tộc ấy, và các quyền hành dân sự cùng tôn giáo cao nhất đều ở dưới quyền điều khiển của nó. GC 28.1

Những kẻ cầm đầu các phe đối nghịch có lúc liên kết với nhau để cướp bóc và tra tấn những nạn nhân khốn khổ, rồi lại quay sang tấn công lẫn nhau và tàn sát không thương xót. Ngay cả sự tôn nghiêm của đền thờ cũng không thể kiềm chế được sự hung bạo khủng khiếp của họ. Những người thờ phượng bị đánh ngã trước bàn thờ, và đền thánh bị ô uế bởi thi thể của những kẻ bị giết. Tuy nhiên, trong sự tự phụ mù quáng và phạm thượng, những kẻ chủ mưu của công việc địa ngục này đã công khai tuyên bố rằng họ không sợ Giê-ru-sa-lem sẽ bị hủy diệt, vì đó là thành của chính Đức Chúa Trời. Để củng cố quyền lực của mình vững chắc hơn, họ đã hối lộ các tiên tri giả để rao truyền, ngay cả khi các quân đoàn La-mã đang vây hãm đền thờ, rằng dân chúng phải chờ đợi sự giải cứu từ Đức Chúa Trời. Cho đến phút cuối, vô số người vẫn giữ chặt niềm tin rằng Đấng Chí Cao sẽ can thiệp để đánh bại kẻ thù của họ. Nhưng Y-sơ-ra-ên đã khước từ sự bảo vệ thiêng liêng, và giờ đây nàng không còn sự che chở nào. Hỡi Giê-ru-sa-lem bất hạnh! bị xâu xé bởi những cuộc tranh chấp nội bộ, máu của con cái nàng bị giết bởi tay nhau nhuộm đỏ các đường phố, trong khi những đạo quân ngoại bang đánh đổ các thành lũy và giết chết những chiến sĩ của nàng! GC 29.1

Tất cả những lời tiên đoán mà Đấng Christ đã phán về sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem đều được ứng nghiệm từng chữ một. Người Do Thái đã kinh nghiệm chân lý của những lời cảnh báo của Ngài: Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.

(Ma-thi-ơ 7:2) GC 29.2

Những dấu lạ và điềm kỳ xuất hiện, báo trước tai họa và sự diệt vong. Giữa đêm khuya, một luồng ánh sáng khác thường chiếu trên đền thờ và bàn thờ. Trên các đám mây lúc hoàng hôn hiện lên hình ảnh những cỗ xe ngựa và những chiến binh đang tập hợp ra trận. Các thầy tế lễ phục vụ ban đêm trong đền thánh bị kinh hãi bởi những âm thanh bí ẩn; đất rung chuyển, và người ta nghe thấy vô số tiếng kêu: “Chúng ta hãy rời khỏi nơi đây.” Cổng lớn phía đông, nặng đến nỗi hai mươi người mới đóng nổi, được giữ chặt bằng những thanh sắt khổng lồ gắn sâu vào nền đá vững chắc, đã tự mở vào lúc nửa đêm, không do tác nhân hữu hình nào.—Milman, The History of the Jews, quyển 13. GC 29.3

Suốt bảy năm, một người đã đi lên đi xuống các đường phố Giê-ru-sa-lem, rao báo những tai họa sắp giáng xuống thành. Ngày và đêm, ông ta ngân nga khúc ai ca cuồng loạn: “Một tiếng từ phương đông! một tiếng từ phương tây! một tiếng từ bốn phương gió! một tiếng nghịch cùng Giê-ru-sa-lem và nghịch cùng đền thờ! một tiếng nghịch cùng các chàng rể và các cô dâu! một tiếng nghịch cùng toàn dân!"—Như trên. Con người kỳ lạ này bị bỏ tù và đánh đòn, nhưng không một lời than vãn nào thoát khỏi môi ông. Trước sự lăng mạ và ngược đãi, ông chỉ đáp: “Khốn thay, khốn thay cho Giê-ru-sa-lem!” “khốn thay, khốn thay cho dân cư trong thành!” Tiếng kêu cảnh báo của ông không ngừng cho đến khi ông bị giết trong cuộc vây hãm mà chính ông đã tiên báo. GC 30.1

Không một Cơ-đốc nhân nào bị tiêu diệt trong cuộc hủy diệt Giê-ru-sa-lem. Đấng Christ đã cảnh báo các môn đồ Ngài, và tất cả những ai tin lời Ngài đều trông chờ dấu hiệu đã hứa. Đức Chúa Giê-su phán: Vả, khi các ngươi sẽ thấy quân lính vây thành Giê-ru-sa-lem, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến. Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài, ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành.

(Lu-ca 21:20-21)Sau khi quân La-mã dưới quyền Cestius bao vây thành, họ bất ngờ từ bỏ cuộc vây hãm khi mọi sự dường như thuận lợi cho một cuộc tấn công ngay lập tức. Những người bị vây hãm, tuyệt vọng vì không thể kháng cự thành công, đang sắp sửa đầu hàng thì vị tướng La-mã rút quân mà không có lý do rõ ràng nào. Nhưng sự quan phòng đầy thương xót của Đức Chúa Trời đang điều khiển các sự kiện vì lợi ích của dân Ngài. Dấu hiệu đã hứa được ban cho những người Cơ-đốc đang trông đợi, và giờ đây một cơ hội được dành cho tất cả những ai muốn vâng theo lời cảnh báo của Đấng Cứu Thế. Các sự kiện được sắp đặt sao cho cả người Do Thái lẫn người La-mã đều không thể ngăn trở cuộc trốn chạy của những người Cơ-đốc. Khi Cestius rút lui, người Do Thái từ Giê-ru-sa-lem đổ ra đuổi theo đoàn quân đang rút của ông; và khi cả hai lực lượng giao tranh quyết liệt, những người Cơ-đốc có cơ hội rời khỏi thành. Vào lúc đó, vùng nông thôn cũng đã được dọn sạch khỏi kẻ thù có thể chặn đường họ. Vào thời điểm cuộc vây hãm, người Do Thái tập trung tại Giê-ru-sa-lem để giữ Lễ Lều Tạm, và nhờ đó những người Cơ-đốc khắp xứ đều có thể trốn thoát mà không bị quấy nhiễu. Không chần chừ, họ chạy trốn đến một nơi an toàn—thành Pella, trong xứ Perea, bên kia sông Giô-đanh. GC 30.2

Lực lượng Do Thái, đuổi theo Cestius và đạo quân của ông, đã đánh vào hậu quân của họ dữ dội đến nỗi đe dọa tiêu diệt toàn bộ. Quân La-mã phải rất vất vả mới thực hiện được cuộc rút lui. Người Do Thái thoát gần như không tổn thất, mang theo chiến lợi phẩm trở về Giê-ru-sa-lem trong chiến thắng. Thế nhưng thành công bề ngoài này chỉ mang đến cho họ điều xấu. Nó đã khơi dậy trong họ tinh thần kháng cự ngoan cố đối với quân La-mã, tinh thần này nhanh chóng giáng tai họa khôn tả xuống thành đã bị định phận diệt vong. GC 31.1

Khủng khiếp thay những tai họa giáng xuống Giê-ru-sa-lem khi Titus tái khởi cuộc vây hãm. Thành bị vây vào lúc lễ Vượt Qua, khi hàng triệu người Do Thái tụ họp trong các bức tường của thành. Kho lương thực của họ, nếu được bảo quản cẩn thận, đủ cung cấp cho dân cư nhiều năm, đã bị phá hủy trước đó do sự ghen tị và báo thù của các phe tranh chấp, và giờ đây tất cả những sự khủng khiếp của nạn đói được trải nghiệm. Một đấu lúa mì được bán với giá một ta-lâng. Những cơn đói dữ dội đến nỗi người ta phải gặm da của dây thắt lưng, giày dép và vỏ bọc khiên của mình. Đông đảo người dân lẻn ra ngoài vào ban đêm để hái những cây hoang mọc bên ngoài tường thành, dù nhiều người bị bắt và bị hành quyết bằng những hình thức tra tấn tàn nhẫn, và thường những ai trở về an toàn lại bị cướp đi những gì họ đã mót được với hiểm nguy đến thế. Những hình thức tra tấn vô nhân đạo nhất đã được những kẻ cầm quyền thi hành, nhằm ép buộc những người dân đói khát phải nộp ra phần lương thực ít ỏi cuối cùng mà họ có thể đã giấu. Và những sự tàn ác này thường được thực hiện bởi những kẻ bản thân được ăn uống no đủ, chỉ muốn tích trữ lương thực cho tương lai. GC 31.2

Hàng ngàn người chết vì đói và dịch bệnh. Tình cảm tự nhiên dường như đã bị hủy diệt. Chồng cướp của vợ, vợ cướp của chồng. Người ta thấy con cái giật thức ăn từ miệng cha mẹ già. Câu hỏi của tiên tri: “Đàn bà há dễ quên con mình cho bú sao?” đã nhận được câu trả lời bên trong các bức tường của thành đã bị định phận diệt vong kia: Đàn bà há dễ quên con mình cho bú, không thương đến con trai ruột mình sao? Dầu đàn bà quên con mình, ta cũng chẳng quên ngươi.

(Ê-sai 49:15)Chính tay người đàn bà vẫn có lòng thương xót, nấu chín con cái mình, Dùng làm đồ ăn cho mình giữa khi con gái dân ta bị phá hại.” (Ca-thương 4:10) Một lần nữa lời tiên tri cảnh báo được ban ra mười bốn thế kỷ trước đã được ứng nghiệm: - Trong lúc ngươi bị quân nghịch vây tại các thành mình, làm cho cùng đường túng thế, người nữ nào non nớt và mảnh khảnh hơn hết trong các ngươi, vì sự yểu điệu hay là sự sắc sảo mình, vốn không đặt bàn chân xuống đất, sẽ nhìn giận chồng rất yêu của mình, con trai và con gái mình, bởi cớ nhau bọc ra từ trong bụng, và những con cái mình sanh đẻ; vì trong cơn thiếu thốn mọi điều, nàng sẽ ăn nhẹm chúng nó. (Phục-truyền Luật-lệ Ký 28:56-57) GC 32.1

Các thủ lĩnh La-mã cố gắng gieo rắc nỗi kinh hoàng cho người Do Thái và bằng cách đó buộc họ đầu hàng. Những tù nhân kháng cự khi bị bắt đều bị đánh đòn, tra tấn, và đóng đinh trước tường thành. Hàng trăm người mỗi ngày bị xử tử theo cách này, và công việc kinh khủng đó tiếp diễn cho đến khi, dọc theo thung lũng Giô-sa-phát và tại đồi Gô-gô-tha, những cây thập tự được dựng lên với số lượng lớn đến nỗi hầu như không còn chỗ để đi lại giữa chúng. Thật khủng khiếp thay, lời nguyền rủa ghê gớm đã được thốt ra trước tòa án của Phi-lát: Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!

(Ma-thi-ơ 27:25) GC 32.2

Ti-tút sẵn lòng muốn chấm dứt cảnh tượng kinh hoàng này, và như vậy cứu Giê-ru-sa-lem khỏi án phạt trọn vẹn. Ông đầy kinh hãi khi nhìn thấy những xác chết nằm chất đống trong các thung lũng. Như người bị mê hoặc, ông đứng trên đỉnh núi Ô-li-ve nhìn xuống ngôi đền thờ nguy nga và ra lệnh không được chạm vào một hòn đá nào của nó. Trước khi tìm cách chiếm đoạt thành lũy này, ông tha thiết kêu gọi các lãnh đạo Do Thái đừng buộc ông phải làm ô uế nơi thánh bằng máu. Nếu họ chịu đi ra và giao chiến ở bất cứ nơi nào khác, thì không một người La-mã nào sẽ xâm phạm sự tôn nghiêm của đền thờ. Chính Josephus, trong một lời khẩn khoản hùng hồn nhất, đã van nài họ đầu hàng, để cứu chính mình, thành của mình và nơi thờ phượng của mình. Nhưng lời của ông bị đáp lại bằng những lời nguyền rủa cay đắng. Những mũi tên được phóng về phía ông, người trung gian cuối cùng của loài người, khi ông đứng khẩn cầu họ. Người Do Thái đã chối bỏ những lời khẩn cầu của Con Đức Chúa Trời, và bây giờ lời khuyên lơn và nài xin chỉ làm cho họ càng quyết tâm chống cự đến cùng. Mọi nỗ lực của Ti-tút để cứu đền thờ đều vô ích; Đấng lớn hơn ông đã tuyên phán rằng không một hòn đá nào sẽ còn chồng trên hòn đá khác. GC 32.3

Sự cứng đầu mù quáng của các lãnh đạo Do Thái, và những tội ác ghê tởm đã phạm trong thành bị vây hãm, đã khơi dậy sự kinh tởm và phẫn nộ nơi người La-mã, và cuối cùng Ti-tút quyết định tấn công chiếm đền thờ. Tuy nhiên, ông quyết định rằng nếu có thể thì đền thờ phải được giữ khỏi sự hủy diệt. Nhưng các mệnh lệnh của ông đã không được tuân theo. Sau khi ông đã lui về lều của mình vào ban đêm, những người Do Thái từ đền thờ xông ra, tấn công các quân lính bên ngoài. Trong cuộc giao tranh, một binh sĩ đã ném một ngọn đuốc lửa qua một lỗ hổng trong hành lang, và ngay lập tức các căn phòng lót gỗ bá hương quanh ngôi nhà thánh bốc cháy. Ti-tút vội vã chạy đến nơi, theo sau là các tướng lĩnh và binh đoàn của ông, và ra lệnh cho các quân lính dập tắt ngọn lửa. Lời của ông không được ai nghe theo. Trong cơn cuồng nộ, các quân lính ném những que lửa cháy vào các phòng kế cận đền thờ, rồi dùng gươm chém giết rất nhiều người đã tìm nơi ẩn náu ở đó. Máu chảy xuống các bậc thang đền thờ như nước. Hàng ngàn hàng vạn người Do Thái bị giết chết. Vượt trên tiếng huyên náo của trận chiến, có những giọng hô lớn: “Ichabod!"—vinh quang đã lìa khỏi. GC 33.1

“Ti-tút thấy không thể kiềm chế được cơn thịnh nộ của quân lính; ông cùng các sĩ quan bước vào và quan sát bên trong công trình thiêng liêng. Sự lộng lẫy khiến họ kinh ngạc; và vì ngọn lửa chưa lan đến nơi thánh, ông đã cố gắng lần cuối để cứu nó, và lao ra ngoài, lại khuyên các binh sĩ ngăn chặn đám cháy. Viên bách phu trưởng Liberalis cố dùng cây gậy chức vụ của mình để buộc họ vâng lời; nhưng ngay cả sự kính trọng đối với hoàng đế cũng nhường chỗ cho lòng thù hận dữ dội đối với người Do Thái, cho sự kích động điên cuồng của trận chiến, và cho hy vọng cướp bóc không thể thỏa mãn. Các binh sĩ thấy mọi thứ xung quanh mình rực rỡ ánh vàng, sáng chói lóa trong ánh lửa dữ dội; họ cho rằng những kho báu không thể tính được đang được cất giữ trong đền thánh. Một binh sĩ, không bị ai để ý, đã thọc một ngọn đuốc cháy vào giữa các bản lề cửa: cả tòa nhà bốc cháy trong nháy mắt. Khói và lửa mù mịt buộc các sĩ quan phải rút lui, và tòa kiến trúc cao quý bị bỏ mặc cho số phận của nó. GC 33.2

“Đó là một cảnh tượng khủng khiếp đối với người La-mã—thì đối với người Do Thái còn hơn thế nào? Toàn bộ đỉnh đồi thống trị thành phố cháy rực như một núi lửa. Hết tòa nhà này đến tòa nhà khác đổ sập xuống với tiếng động kinh hoàng, và bị nuốt chửng trong vực lửa. Các mái nhà bằng gỗ bá hương như những tấm lửa; các chóp nhọn dát vàng sáng lên như những mũi đinh ánh sáng đỏ; các tháp cổng bốc lên những cột lửa và khói cao. Các đồi lân cận được chiếu sáng; và những nhóm người đen tối được thấy đang dõi theo trong nỗi âu lo khủng khiếp tiến trình của sự hủy diệt: các bức tường và các độ cao của thành phía trên đầy ắp những khuôn mặt, có người tái nhợt trong cơn thống khổ tuyệt vọng, có người nhìn trừng trừng với mối thù không thể báo được. Tiếng hét của quân lính La-mã khi họ chạy tới chạy lui, và tiếng rên la của những kẻ nổi loạn đang chết trong lửa, hòa lẫn với tiếng gầm của đám cháy và tiếng sập đổ như sấm của các đà gỗ. Các ngọn núi vang vọng đáp lại hoặc đem trở lại tiếng thét của đám người trên các độ cao; dọc theo các bức tường vang lên tiếng la và than khóc; những người đang hấp hối vì đói đã gắng sức còn lại để thốt lên tiếng kêu đau đớn và hoang tàn. GC 34.1

“Cuộc tàn sát bên trong còn khủng khiếp hơn cảnh tượng từ bên ngoài. Đàn ông và đàn bà, già và trẻ, quân nổi loạn và các thầy tế lễ, những kẻ chiến đấu và những kẻ xin thương xót, đều bị chém ngã trong cuộc tàn sát không phân biệt. Số người bị giết vượt quá số kẻ giết. Các binh đoàn phải trèo qua những đống xác chết để tiếp tục công việc tiêu diệt."—Milman, Lịch Sử Người Do Thái, quyển 16. GC 35.1

Sau khi đền thờ bị hủy diệt, toàn thành sớm rơi vào tay người La-mã. Các lãnh đạo Do Thái đã bỏ rơi những ngọn tháp bất khả xâm phạm của họ, và Ti-tút thấy chúng hoang vắng. Ông nhìn chúng với sự kinh ngạc, và tuyên bố rằng Đức Chúa Trời đã giao chúng vào tay ông; vì không máy móc nào, dù mạnh đến đâu, có thể thắng được những thành lũy đồ sộ đó. Cả thành và đền thờ đều bị san bằng tận nền móng, và mảnh đất nơi ngôi nhà thánh từng đứng đã bị “cày như ruộng”. Mi-chê ở Mô-rê-sết, là người nói tiên tri về đời Ê-xê-chia, vua Giu-đa, có nói cùng cả dân Giu-đa rằng: Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Si-ôn sẽ bị cày như ruộng, Giê-ru-sa-lem sẽ trở nên gò đống, núi của nhà trở nên như các nơi cao của rừng.

(Giê-rê-mi 26:18)Trong cuộc vây hãm và cuộc tàn sát theo sau, hơn một triệu người đã thiệt mạng; những người sống sót bị bắt đi làm phu tù, bị bán làm nô lệ, bị kéo về La-mã để tô điểm cho cuộc khải hoàn của kẻ chinh phục, bị ném cho dã thú trong các đấu trường, hoặc bị tản lạc như những kẻ lang thang không nhà trên khắp đất. GC 35.2

Người Do Thái đã tự rèn lấy xiềng xích cho mình; họ đã tự đổ đầy cho mình chén thạnh nộ. Trong sự hủy diệt hoàn toàn giáng trên họ như một dân tộc, và trong mọi tai họa theo họ trong sự tản lạc, họ chỉ gặt hái mùa mà chính tay họ đã gieo. Tiên tri phán: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, ngươi đã tự hủy diệt mình”; “vì ngươi đã vấp ngã bởi tội lỗi mình.” Hỡi Y-sơ-ra-ên, sự bại hoại của ngươi, ấy là tại ngươi dấy loạn nghịch cùng ta, tức là Đấng giúp ngươi.

(Ô-sê 13:9)Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trở lại cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, vì ấy là tại tội lỗi ngươi làm cho ngươi sa ngã.” (Ô-sê 14:1) Những khổ đau của họ thường được trình bày như một hình phạt giáng trên họ bởi mệnh lệnh trực tiếp của Đức Chúa Trời. Chính như vậy mà kẻ lừa dối lớn tìm cách che giấu công việc của mình. Bởi sự cứng cỏi chối bỏ tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời, người Do Thái đã làm cho sự bảo vệ của Đức Chúa Trời bị rút đi khỏi họ, và Sa-tan được phép cai trị họ theo ý muốn nó. Những sự tàn ác ghê tởm đã diễn ra trong cuộc hủy diệt Giê-ru-sa-lem là minh chứng cho quyền lực báo thù của Sa-tan trên những người đầu phục dưới quyền kiểm soát của nó. GC 35.3

Chúng ta không thể biết mình mắc nợ Đấng Christ bao nhiêu vì sự bình an và sự che chở mà chúng ta đang hưởng. Chính quyền năng kiềm chế của Đức Chúa Trời ngăn cản loài người khỏi hoàn toàn rơi vào quyền kiểm soát của Sa-tan. Những kẻ bất tuân và vô ơn có lý do lớn để biết ơn về lòng thương xót và sự nhịn nhục của Đức Chúa Trời trong việc kiềm chế quyền lực tàn ác, hiểm độc của kẻ ác. Nhưng khi loài người vượt quá giới hạn của sự nhịn nhục thiêng liêng, thì sự kiềm chế đó được cất đi. Đức Chúa Trời không đứng trước tội nhân như một đao phủ thi hành bản án chống lại sự vi phạm; nhưng Ngài để những kẻ chối bỏ lòng thương xót của Ngài cho chính mình, để gặt hái điều mình đã gieo. Mỗi tia sáng bị chối bỏ, mỗi lời cảnh cáo bị khinh dể hoặc bỏ qua, mỗi dục vọng được chiều theo, mỗi sự vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, là một hạt giống gieo xuống, và nó sẽ đem lại mùa gặt chắc chắn của nó. Đức Thánh Linh, khi bị kiên trì chống cự, cuối cùng sẽ rút khỏi tội nhân, và rồi không còn quyền năng nào để kiểm soát những dục vọng xấu xa của linh hồn, và không còn sự bảo vệ nào khỏi ác ý và thù hận của Sa-tan. Sự hủy diệt Giê-ru-sa-lem là một lời cảnh cáo kinh khủng và trang nghiêm cho tất cả những ai đang đùa giỡn với các lời hứa ân điển thiêng liêng và chống cự lại những lời khẩn nài của lòng thương xót thiêng liêng. Chưa bao giờ có chứng cớ nào quyết định hơn về sự ghét tội lỗi của Đức Chúa Trời và về hình phạt chắc chắn sẽ giáng trên kẻ có tội. GC 36.1

Lời tiên tri của Đấng Cứu Thế về sự đoán phạt giáng trên thành Giê-ru-sa-lem sẽ còn có một sự ứng nghiệm khác, mà sự hoang tàn khủng khiếp ấy chỉ là một bóng mờ. Trong số phận của thành được chọn, chúng ta có thể thấy trước số phận của một thế giới đã khước từ lòng thương xót của Đức Chúa Trời và chà đạp luật pháp Ngài. U ám thay những ghi chép về sự khốn khổ của loài người mà trái đất đã chứng kiến qua bao thế kỷ dài tội ác. Lòng người phát bệnh, và tâm trí trở nên mệt mỏi khi suy gẫm đến điều đó. Khủng khiếp thay hậu quả của việc chối bỏ thẩm quyền của Thiên đàng. Nhưng một cảnh còn u ám hơn được bày tỏ trong những khải thị về tương lai. Những ghi chép của quá khứ — chuỗi dài những biến loạn, xung đột và cách mạng, “mọi giày dép của kẻ đánh giặc… với tiếng ồn ào, và áo xống vấy máu” (Vì có một con trẻ sanh cho chúng ta, tức là một con trai ban cho chúng ta; quyền cai trị sẽ nấy trên vai Ngài. Ngài sẽ được xưng là Đấng Lạ lùng, là Đấng Mưu luận, là Đức Chúa Trời Quyền năng, là Cha Đời đời, là Chúa Bình an.

(Ê-sai 9:5)có là gì khi so với những nỗi kinh hoàng của ngày mà Thánh Linh kiềm chế của Đức Chúa Trời sẽ hoàn toàn rút khỏi kẻ ác, không còn ngăn giữ sự bùng nổ của dục vọng con người và cơn thịnh nộ của Sa-tan nữa! Lúc ấy thế giới sẽ thấy, như chưa từng thấy trước đây, hậu quả của sự cai trị của Sa-tan. GC 36.2

Nhưng trong ngày đó, cũng như trong thời kỳ Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, dân sự của Đức Chúa Trời sẽ được giải cứu, tức là mọi người có tên được ghi trong sổ những người sống. Phàm những kẻ còn lại ở Si-ôn, những kẻ sót lại ở Giê-ru-sa-lem, tức là những kẻ ở Giê-ru-sa-lem được chép vào sổ người sống, thì sẽ được xưng là thánh;

(Ê-sai 4:3)Đấng Christ đã tuyên phán rằng Ngài sẽ tái lâm để quy tụ những người trung tín của Ngài về với chính Ngài: “Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời này cho đến tận phương kia. (Ma-thi-ơ 24:30-31) Bấy giờ những kẻ không vâng phục tin lành sẽ bị tiêu diệt bởi hơi thở từ miệng Ngài và bị hủy diệt bởi sự chói sáng của sự tái lâm Ngài. Bấy giờ kẻ nghịch cùng luật pháp kia sẽ hiện ra, Đức Chúa Giê-su sẽ dùng hơi miệng Ngài mà hủy diệt nó, và trừ bỏ nó bởi sự chói sáng của sự Ngài đến. (II Tê-sa-lô-ni-ca 2:8) Giống như dân Y-sơ-ra-ên thời xưa, kẻ ác tự hủy diệt chính mình; chúng ngã xuống bởi gian ác mình. Bằng một đời sống tội lỗi, chúng đã đặt mình ra khỏi sự hòa hợp với Đức Chúa Trời, bản tính chúng đã bị sa đọa bởi điều ác đến nỗi sự hiển lộ vinh quang Ngài đối với chúng là một ngọn lửa thiêu đốt. GC 37.1

Loài người hãy coi chừng kẻo bỏ qua bài học được truyền đạt cho họ qua lời Đấng Christ. Như Ngài đã cảnh báo các môn đồ về sự hủy diệt của Giê-ru-sa-lem, ban cho họ một dấu hiệu về sự đổ nát sắp đến, để họ có thể thoát khỏi; cũng vậy, Ngài đã cảnh báo thế gian về ngày hủy diệt cuối cùng và đã ban cho họ những dấu hiệu về sự đến gần của nó, để ai muốn đều có thể trốn khỏi cơn thịnh nộ hầu đến. Đức Chúa Giê-su tuyên phán: “Sẽ có các điềm lạ trong mặt trời, mặt trăng, cùng các ngôi sao; còn dưới đất, dân các nước sầu não rối loạn vì biển nổi tiếng om sòm và sóng đào.

(Lu-ca 21:25)Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động. (Ma-thi-ơ 24:29) Trong những ngày ấy, sau kỳ tai nạn, mặt trời sẽ tối tăm, mặt trăng chẳng chiếu sáng nữa, các ngôi sao sẽ tự trên trời rớt xuống, và thế lực các từng trời sẽ rúng động. Bấy giờ người ta sẽ thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự đến trên đám mây;” (Mác 13:24-26) Tôi nhìn xem, khi Chiên Con mở ấn thứ sáu, thì có một cơn động đất lớn; mặt trời bèn trở nên tối tăm như túi lông đen, cả mặt trăng trở nên như huyết. Các vì sao trên trời sa xuống đất, như những trái xanh của một cây vả bị cơn gió lớn lung lay rụng xuống. Trời bị dời đi như quyển sách cuốn tròn, và hết thảy các núi các đảo bị quăng ra khỏi chỗ mình; các vua ở trên đất, các quan lớn, các tướng quân, các kẻ giàu, các kẻ quyền thế, các kẻ tôi mọi, các người tự chủ đều ẩn mình trong hang hố cùng hòn đá lớn trên núi, chúng nói với núi và đá lớn rằng: Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?” (Khải-huyền 6:12-17) Những ai thấy các điềm báo trước sự tái lâm của Ngài phải “biết rằng đã gần, đến nỗi ngay cửa rồi”. Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đương ở trước cửa. (Ma-thi-ơ 24:33) Vậy, hãy tỉnh thức”, đó là lời khuyên răn của Ngài. Vậy, các ngươi hãy thức canh, vì không biết chủ nhà về lúc nào, hoặc chiều tối, nửa đêm, lúc gà gáy, hay là sớm mai, (Mác 13:35) Những kẻ nghe theo lời cảnh báo sẽ không bị bỏ lại trong bóng tối, để ngày ấy bắt chợt họ cách bất ngờ. Nhưng đối với những kẻ không chịu tỉnh thức, “ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm”. vì chính anh em biết rõ lắm rằng ngày của Chúa sẽ đến như kẻ trộm trong ban đêm vậy. Khi người ta sẽ nói rằng: Bình hòa và yên ổn, thì tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu. Nhưng, hỡi anh em, anh em chẳng phải ở nơi tối tăm, nên nỗi ngày đó đến thình lình cho anh em như kẻ trộm. Anh em đều là con của sự sáng và con của ban ngày. Chúng ta không phải thuộc về ban đêm, cũng không phải thuộc về sự mờ tối. (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:2-5) GC 37.2

Thế gian ngày nay chẳng sẵn lòng tin sứ điệp cho thời kỳ này hơn là người Do Thái đã sẵn lòng tiếp nhận lời cảnh báo của Đấng Cứu Thế về Giê-ru-sa-lem. Ngày của Đức Chúa Trời, dầu đến lúc nào, cũng sẽ đến cách bất ngờ đối với kẻ không tin kính. Khi đời sống cứ trôi qua theo vòng quay không đổi; khi loài người mải mê trong lạc thú, trong công việc, trong buôn bán, trong việc làm giàu; khi các lãnh đạo tôn giáo đang tôn vinh sự tiến bộ và khai sáng của thế gian, và dân chúng bị ru ngủ trong một sự an toàn giả tạo — thì, như kẻ trộm lúc nửa đêm lẻn vào nhà không canh giữ, sự hủy diệt bất ngờ cũng sẽ giáng trên kẻ vô tâm và không tin kính như vậy, “và chúng sẽ không thoát khỏi được”. Khi người ta sẽ nói rằng: Bình hòa và yên ổn, thì tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu.

(I Tê-sa-lô-ni-ca 5:3) GC 38.1