Chương 28
28

Phần Thưởng Của Ân Điển

Chương này dựa trên

“Nầy, có một người đến hỏi Ngài rằng: Thưa thầy, tôi phải làm việc lành chi cho được sự sống đời đời? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Sao ngươi hỏi ta về việc lành? Chỉ có một Đấng lành mà thôi. Nếu ngươi muốn vào sự sống, thì phải giữ các điều răn. Người hỏi: Những điều răn gì? Đức Chúa Giê-su phán rằng: Những điều này: Đừng giết người; đừng phạm tội tà dâm; đừng ăn trộm cắp; đừng làm chứng dối; Hãy thảo kính cha mẹ; và: Hãy yêu kẻ lân cận như mình. Người trẻ đó thưa rằng: Tôi đã giữ đủ các điều này; còn thiếu chi cho tôi nữa? Đức Chúa Giê-su phán rằng: Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi bán hết gia tài mà bố thí cho kẻ nghèo nàn, thì ngươi sẽ có của quí ở trên trời; rồi hãy đến mà theo ta. Nhưng khi người trẻ nghe xong lời này, thì đi, bộ buồn bực; vì chàng có của cải nhiều lắm. Đức Chúa Giê-su bèn phán cùng môn đồ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, người giàu vào nước thiên đàng là khó lắm. Ta lại nói cùng các ngươi, lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn một người giàu vào nước Đức Chúa Trời. Môn đồ nghe lời ấy, thì lấy làm lạ lắm mà nói rằng: Vậy thì ai được rỗi? Đức Chúa Giê-su ngó môn đồ mà phán rằng: Điều đó loài người không thể làm được, song Đức Chúa Trời làm mọi việc đều được. Phi-e-rơ bèn thưa rằng: Nầy, chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo thầy; vậy thì chúng tôi sẽ được chi? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con người sẽ ngự trên ngôi vinh hiển của Ngài, thì các ngươi là kẻ đã theo ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên. Hễ ai vì danh ta mà bỏ anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, nhà cửa, thì người ấy sẽ lãnh bội phần hơn, và được hưởng sự sống đời đời. Song có nhiều kẻ ở đầu sẽ nên rốt, và nhiều kẻ ở rốt sẽ nên đầu.” (Ma-thi-ơ 19:16-30)

“Vả, nước thiên đàng giống như người chủ nhà kia, tảng sáng đi ra, để mướn người làm công cho vườn nho mình. Khi người chủ đã định giá với người làm công, mỗi ngày một đơ-ni-ê, thì sai họ vào vườn nho mình. Ước chừng giờ thứ ba, người chủ lại ra, thấy những kẻ khác rảnh việc đứng trong chợ, thì nói cùng họ rằng: Các ngươi hãy đi vào vườn nho ta, và ta sẽ trả tiền công phải cho. Họ liền đi. Ước chừng giờ thứ sáu và giờ thứ chín, người chủ lại ra, cũng làm như vậy. Ước chừng giờ thứ mười một, chủ ra, lại thấy những kẻ khác đứng trong chợ, thì hỏi rằng: Sao các ngươi đứng đây cả ngày không làm gì hết? Họ trả lời rằng: Vì không ai mướn chúng tôi. Người chủ nói với họ rằng: Các ngươi cũng hãy đi vào vườn nho ta. Đến tối, chủ vườn nho nói với người giữ việc rằng: Hãy gọi những người làm công mà trả tiền công cho họ, khởi từ người rốt cho đến người đầu. Những người làm công mướn từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người được một đơ-ni-ê. Rồi tới phiên những người đầu đến, tưởng lãnh được nhiều hơn; song họ cũng lãnh mỗi người một đơ-ni-ê. Khi lãnh rồi, lằm bằm cùng chủ nhà, mà rằng: Những người rốt ấy chỉ làm một giờ, mà chủ đãi cũng như chúng tôi, là kẻ đã chịu mệt nhọc cả ngày và dan nắng. Song chủ trả lời cho một người trong bọn rằng: Bạn ơi, ta không xử tệ với ngươi đâu; ngươi há chẳng đã định với ta một đơ-ni-ê sao? Hãy lấy của ngươi mà đi đi; ta muốn trả cho kẻ rốt này bằng như đã trả cho ngươi vậy. Ta há không có phép dùng của cải ta theo ý muốn ta sao? Hay là ngươi thấy ta ở tử tế mà lấy mắt ganh sao? Đó, những kẻ rốt sẽ nên đầu và kẻ đầu sẽ nên rốt là như vậy.” (Ma-thi-ơ 20:1-16)

“Ngài đang ra đi, có một người chạy lại, quì trước mặt Ngài, mà hỏi rằng: Thưa thầy nhân lành, tôi phải làm chi cho được hưởng sự sống đời đời? Đức Chúa Giê-su phán rằng: Sao ngươi gọi ta là nhân lành? Chỉ có một Đấng nhân lành, là Đức Chúa Trời. Ngươi biết các điều răn: Đừng phạm tội tà dâm; đừng giết người; đừng trộm cướp; đừng làm chứng dối; đừng làm gian; hãy hiếu kính cha mẹ. Người thưa rằng: Lạy thầy, tôi đã giữ mọi điều đó từ khi còn nhỏ. Đức Chúa Giê-su ngó người mà yêu, nên phán rằng: Ngươi còn thiếu một điều. Hãy đi, bán hết gia tài mình, bố thí cho kẻ nghèo khổ, chắc sẽ được của báu ở trên trời, rồi hãy đến mà theo ta. Song nét mặt người này rầu rĩ về lời đó, đi ra rất buồn bã, vì có nhiều của lắm. Bấy giờ Đức Chúa Giê-su ngó xung quanh mình, mà phán cùng môn đồ rằng: Kẻ giàu vào nước Đức Chúa Trời khó là dường nào! Môn đồ lấy mấy lời đó làm lạ. Nhưng Đức Chúa Giê-su lại phán rằng: Hỡi các con, những kẻ cậy sự giàu có vào nước Đức Chúa Trời khó là dường nào! Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Đức Chúa Trời. Môn đồ lại càng lấy làm lạ, nói cùng nhau rằng: Vậy thì ai được cứu? Đức Chúa Giê-su ngó môn đồ mà rằng: Sự đó loài người không thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời thì chẳng thế; vì Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả. Phi-e-rơ liền thưa cùng Ngài rằng: Nầy, chúng tôi đã bỏ hết mà đi theo thầy. Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chẳng một người nào vì ta và Tin lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng lãnh được đương bây giờ, trong đời này, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau. Nhưng có nhiều kẻ đầu sẽ nên rốt; có kẻ rốt sẽ nên đầu.” (Mác 10:17-31)

“Bấy giờ có một quan hỏi Đức Chúa Giê-su rằng: Thưa thầy nhân lành, tôi phải làm gì cho được hưởng sự sống đời đời? Đức Chúa Giê-su phán rằng: Sao ngươi gọi ta là nhân lành? Chỉ có một Đấng nhân lành, là Đức Chúa Trời. Ngươi đã biết các điều răn này: Ngươi chớ phạm tội tà dâm; chớ giết người; chớ trộm cướp; chớ nói chứng dối; hãy hiếu kính cha mẹ. Người ấy thưa rằng: Tôi đã giữ các điều ấy từ thuở nhỏ. Đức Chúa Giê-su nghe vậy, bèn phán rằng: Còn thiếu cho ngươi một điều; hãy bán hết gia tài mình, phân phát cho kẻ nghèo, thì ngươi sẽ có của cải ở trên trời; bấy giờ hãy đến mà theo ta. Nhưng người ấy nghe mấy lời thì trở nên buồn rầu, vì giàu có lắm. Đức Chúa Giê-su thấy người buồn rầu, bèn phán rằng: Kẻ giàu vào nước Đức Chúa Trời là khó biết dường nào! Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Đức Chúa Trời! Những người nghe điều đó, nói rằng: Vậy thì ai được cứu? Ngài đáp rằng: Sự chi người ta không làm được, thì Đức Chúa Trời làm được. Phi-e-rơ bèn thưa rằng: Nầy, chúng tôi đã bỏ sự mình có mà theo thầy. Đức Chúa Giê-su phán rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, người nào vì cớ nước Đức Chúa Trời mà bỏ nhà cửa, cha mẹ, anh em, vợ con, thì trong đời này được lãnh nhiều hơn, và đời sau được sự sống đời đời.” (Lu-ca 18:18-30)

Lẽ thật về ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời đã gần như bị người Do Thái quên lãng. Các ra-bi dạy rằng ân huệ của Đức Chúa Trời phải được kiếm lấy. Họ hy vọng đạt được phần thưởng của người công bình bằng công việc riêng của mình. Do đó sự thờ phượng của họ bị thúc đẩy bởi một tinh thần vụ lợi, đòi hỏi. Ngay cả các môn đồ của Đấng Christ cũng không hoàn toàn thoát khỏi tinh thần này, và Đấng Cứu Thế đã tìm mọi cơ hội để chỉ cho họ thấy sai lầm của mình. Ngay trước khi Ngài phán ra ví dụ về những người làm công, đã xảy ra một sự việc mở đường cho Ngài trình bày các nguyên tắc đúng đắn. COL 390.1

Khi Ngài đang đi trên đường, một thanh niên giàu có, làm quan, chạy đến với Ngài, quỳ xuống và cung kính chào Ngài. Người nói: “Thưa Thầy nhân lành, tôi phải làm việc lành chi cho được sự sống đời đời?” COL 390.2

Người thanh niên ấy chỉ xưng Đấng Christ là một ra-bi đáng kính, chứ không nhận biết Ngài là Con Đức Chúa Trời. Đấng Cứu Thế phán: “Sao ngươi gọi ta là nhân lành? Chỉ có một Đấng nhân lành, là Đức Chúa Trời.” Trên căn cứ nào ngươi gọi Ta là nhân lành? Đức Chúa Trời là Đấng nhân lành duy nhất. Nếu ngươi nhận biết Ta là như vậy, thì ngươi phải tiếp nhận Ta là Con và đại diện của Ngài. COL 390.3

Ngài nói thêm: “Nếu ngươi muốn vào sự sống, thì phải giữ các điều răn.” Tánh phẩm của Đức Chúa Trời được bày tỏ trong luật pháp Ngài; và để ngươi được hòa hợp với Đức Chúa Trời, các nguyên tắc trong luật pháp Ngài phải là nguồn mạch của mọi hành động của ngươi. COL 391.1

Đấng Christ không làm giảm bớt những đòi hỏi của luật pháp. Bằng ngôn ngữ rõ ràng, không thể nhầm lẫn, Ngài trình bày sự vâng giữ luật pháp là điều kiện cho sự sống đời đời — cùng một điều kiện đã được đòi hỏi nơi A-đam trước khi người sa ngã. Chúa không trông đợi nơi linh hồn ngày nay ít hơn điều Ngài đã trông đợi nơi loài người trong Vườn Địa Đàng, đó là sự vâng lời trọn vẹn, sự công bình không tì vết. Đòi hỏi theo giao ước ân điển cũng rộng lớn như đòi hỏi đã được đặt ra tại Ê-đen — sự hòa hợp với luật pháp của Đức Chúa Trời, là luật thánh khiết, công bình và tốt lành. COL 391.2

Đối với lời phán “Hãy giữ các điều răn,” chàng trai trẻ đáp: “Những điều răn nào?” Người nghĩ rằng Chúa ám chỉ một số mệnh lệnh nghi lễ, nhưng Đấng Christ đang nói về luật pháp được ban ra từ núi Si-nai. Ngài đã nhắc đến vài điều răn trong bảng thứ hai của Mười Điều Răn, rồi tóm tắt tất cả trong mệnh lệnh: “Ngươi hãy yêu kẻ lân cận như mình.” COL 391.3

Chàng trai trẻ trả lời không do dự: “Mọi điều đó tôi đã giữ đủ từ thuở nhỏ; còn thiếu chi cho tôi nữa?” Quan niệm của người về luật pháp chỉ là bên ngoài và hời hợt. Xét theo tiêu chuẩn loài người, người đã gìn giữ một tánh phẩm không tì vết. Ở mức độ lớn, đời sống bên ngoài của người đã không có tội; người thực sự nghĩ rằng sự vâng lời của mình không có khuyết điểm nào. Tuy nhiên, người có một nỗi sợ thầm kín rằng mọi sự không được đúng giữa linh hồn mình với Đức Chúa Trời. Điều này đã khơi lên câu hỏi: “Còn thiếu chi cho tôi nữa?” COL 391.4

Đấng Christ phán: “Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi bán hết gia tài mà bố thí cho kẻ nghèo nàn, thì ngươi sẽ có của quí ở trên trời; rồi hãy đến mà theo ta. Nhưng khi người trẻ nghe xong lời nầy, thì đi, bộ buồn bực; vì chàng có của cải nhiều lắm.” COL 391.5

Kẻ yêu mến chính mình là kẻ phạm luật pháp. Đức Chúa Giê-su muốn bày tỏ điều này cho chàng trai trẻ, và Ngài đã ban cho người một sự thử thách sẽ làm lộ ra sự ích kỷ trong lòng người. Ngài đã chỉ cho người thấy vết thương trong tánh phẩm của mình. Chàng trai trẻ không muốn được soi sáng thêm. Người đã nuôi dưỡng một thần tượng trong linh hồn; thế gian là thần của người. Người xưng rằng mình đã giữ các điều răn, nhưng người thiếu nguyên tắc vốn là tinh thần và sự sống của tất cả các điều răn ấy. Người không sở hữu lòng yêu thương chân thật đối với Đức Chúa Trời hay con người. Sự thiếu hụt này là thiếu hụt tất cả những gì làm cho người đủ tư cách bước vào nước thiên đàng. Trong tình yêu bản thân và sự lợi lộc thế gian, người không hòa hợp với các nguyên tắc của thiên đàng. COL 392.1

Khi chàng trai trẻ làm quan này đến với Đức Chúa Giê-su, sự chân thành và nhiệt thành của người đã chiếm được lòng Đấng Cứu Thế. Ngài “nhìn người mà yêu.” Trong chàng trai trẻ này, Ngài đã nhìn thấy một người có thể phục vụ như một người rao giảng sự công bình. Ngài sẵn sàng tiếp nhận chàng thanh niên tài ba và cao quý này cũng như Ngài đã tiếp nhận những người đánh cá nghèo theo Ngài. Nếu chàng trai trẻ dâng hiến khả năng của mình cho công việc cứu linh hồn, người có thể đã trở thành một người thợ siêng năng và thành công cho Đấng Christ. COL 392.2

Nhưng trước hết người phải chấp nhận các điều kiện để làm môn đồ. Người phải dâng hiến chính mình trọn vẹn cho Đức Chúa Trời. Theo tiếng gọi của Đấng Cứu Thế, Giăng, Phi-e-rơ, Ma-thi-ơ và các bạn đồng hành của họ “bỏ hết thảy, đứng dậy đi theo Ngài.”

“Lê-vi bỏ hết mọi sự, đứng dậy đi theo Ngài.” (Lu-ca 5:28)

Cùng một sự dâng hiến đó đã được đòi hỏi nơi chàng trai trẻ làm quan này. Và trong điều này Đấng Christ không đòi hỏi một sự hy sinh lớn hơn sự hy sinh mà chính Ngài đã thực hiện. “Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu.”

“Vì anh em biết ơn của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta, Ngài vốn giàu, vì anh em mà tự làm nên nghèo, hầu cho bởi sự nghèo của Ngài, anh em được nên giàu.” (II Cô-rinh-tô 8:9)

Chàng trai trẻ chỉ cần theo nơi Đấng Christ dẫn đường. COL 393.1

Đấng Christ nhìn chàng trai trẻ và khao khát linh hồn của người. Ngài khao khát sai phái người ra đi như một sứ giả mang phước hạnh cho loài người. Thay cho những gì Ngài kêu gọi người từ bỏ, Đấng Christ ban cho người đặc quyền được đồng hành với chính Ngài. “Hãy theo Ta,” Ngài phán. Đặc quyền này đã được Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng xem là niềm vui. Chính chàng trai trẻ cũng nhìn Đấng Christ với lòng ngưỡng mộ. Lòng người đã bị thu hút về phía Đấng Cứu Thế. Nhưng người không sẵn sàng chấp nhận nguyên tắc hy sinh bản thân của Đấng Cứu Thế. Người chọn sự giàu có của mình trên Đức Chúa Giê-su. Người muốn sự sống đời đời, nhưng không chịu tiếp nhận vào linh hồn tình yêu bất vị kỷ vốn là sự sống duy nhất, và với tấm lòng buồn bực, người đã quay lưng rời khỏi Đấng Christ. COL 393.2

Khi chàng trai trẻ quay đi, Đức Chúa Giê-su phán cùng các môn đồ Ngài: “Kẻ giàu vào nước Đức Chúa Trời là khó biết bao!” Những lời này làm các môn đồ kinh ngạc. Họ đã được dạy phải xem người giàu là những người được thiên đàng ưu ái; chính họ cũng hy vọng nhận được quyền lực và của cải thế gian trong vương quốc của Đấng Mê-si; nếu người giàu không thể bước vào vương quốc, thì còn hy vọng nào cho phần còn lại của loài người? COL 393.3

“Nhưng Đức Chúa Giê-su lại phán rằng: Hỡi các con, những kẻ cậy sự giàu có vào nước Đức Chúa Trời khó là dường nào! Lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu vào nước Đức Chúa Trời. Môn đồ lại càng lấy làm lạ.” Giờ đây họ nhận ra rằng chính họ cũng được bao gồm trong lời cảnh báo nghiêm trọng. Dưới ánh sáng lời của Đấng Cứu Thế, sự khao khát thầm kín của chính họ về quyền lực và của cải đã được phơi bày. Với nỗi lo ngại cho chính mình, họ kêu lên: “Vậy thì ai được cứu?” COL 394.1

“Đức Chúa Giê-su ngó môn đồ mà rằng: Sự đó loài người không thể làm được, nhưng Đức Chúa Trời thì chẳng thế; vì Đức Chúa Trời làm mọi sự được cả.” COL 394.2

Một người giàu, với tư cách là người giàu, không thể bước vào thiên đàng. Sự giàu có của người không ban cho người quyền nào trên cơ nghiệp của các thánh đồ trong sự sáng. Chỉ nhờ ân điển vô điều kiện của Đấng Christ mà bất cứ ai cũng có thể tìm được lối vào thành của Đức Chúa Trời. COL 394.3

Đối với người giàu cũng như đối với người nghèo, lời của Đức Thánh Linh được phán dạy: “Anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao?… vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi.”

“Anh em há chẳng biết rằng thân thể mình là đền thờ của Đức Thánh Linh đang ngự trong anh em, là Đấng mà anh em đã nhận bởi Đức Chúa Trời, và anh em chẳng phải thuộc về chính mình sao? Vì chưng anh em đã được chuộc bằng giá cao rồi. Vậy, hãy lấy thân thể mình làm sáng danh Đức Chúa Trời.” (I Cô-rinh-tô 6:19,20)

Khi con người tin điều này, tài sản của họ sẽ được coi là một sự ký thác, để được sử dụng theo sự chỉ dẫn của Đức Chúa Trời, cho sự cứu rỗi kẻ hư mất, và sự an ủi kẻ đau khổ và kẻ nghèo. Với loài người điều này là không thể, vì tấm lòng bám víu vào kho tàng trần thế của mình. Linh hồn bị trói buộc phục vụ ma-môn thì điếc trước tiếng kêu cầu của nhu cầu con người. Nhưng với Đức Chúa Trời thì mọi sự đều có thể. Khi chiêm ngưỡng tình yêu vô song của Đấng Christ, tấm lòng ích kỷ sẽ được tan chảy và khuất phục. Người giàu sẽ được dẫn dắt, như Sau-lơ người Pha-ri-si, để nói: “Nhưng vì cớ Đấng Christ, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy. Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Jêsus Christ là quí hơn hết.”

“Nhưng vì cớ Đấng Cơ-đốc, tôi đã coi sự lời cho tôi như là sự lỗ vậy. Tôi cũng coi hết thảy mọi sự như là sự lỗ, vì sự nhận biết Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là quí hơn hết, Ngài là Chúa tôi, và tôi vì Ngài mà liều bỏ mọi điều lợi đó. Thật, tôi xem những điều đó như rơm rác, hầu cho được Đấng Cơ-đốc” (Phi-líp 3:7,8)

Bấy giờ họ sẽ không coi bất cứ điều gì là của riêng mình. Họ sẽ vui mừng coi mình là những người quản lý ân điển nhiều thể của Đức Chúa Trời, và vì cớ Ngài, là đầy tớ của mọi người. COL 394.4

Phi-e-rơ là người đầu tiên hồi phục khỏi sự cáo trách thầm kín do lời của Đấng Cứu Thế tạo ra. Ông nghĩ với sự thỏa mãn về những gì ông và anh em mình đã từ bỏ vì Đấng Christ. “Nầy,” ông nói, “chúng tôi đã bỏ mọi sự mà theo thầy.” Nhớ lại lời hứa có điều kiện đã ban cho chàng trai trẻ làm quan: “Ngươi sẽ có của quí ở trên trời,” bây giờ ông hỏi ông và các bạn đồng hành sẽ nhận được gì như phần thưởng cho sự hy sinh của họ. COL 395.1

Câu trả lời của Đấng Cứu Thế làm rúng động tâm hồn những người đánh cá xứ Ga-li-lê ấy. Nó vẽ ra những vinh dự làm thỏa mãn những ước mơ cao nhất của họ:

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, đến kỳ muôn vật đổi mới, là khi Con người sẽ ngự trên ngôi vinh hiển của Ngài, thì các ngươi là kẻ đã theo ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi, mà xét đoán mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên.” (Ma-thi-ơ 19:28)

Và Ngài còn thêm,

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chẳng một người nào vì ta và Tin lành từ bỏ nhà cửa, anh em, chị em, cha mẹ, con cái, đất ruộng, mà chẳng lãnh được đương bây giờ, trong đời này, trăm lần hơn về những nhà cửa, anh em, chị em, mẹ con, đất ruộng, với sự bắt bớ, và sự sống đời đời trong đời sau.” (Mác 10:29-30) COL 395.2

Nhưng câu hỏi của Phi-e-rơ, “Vậy thì chúng tôi sẽ được chi?” đã bộc lộ một tinh thần mà nếu không được sửa đổi thì sẽ khiến các môn đồ không xứng đáng là sứ giả của Đấng Christ; vì đó là tinh thần của một kẻ làm thuê. Dù đã được lôi cuốn bởi tình yêu thương của Đức Chúa Giê-su, các môn đồ vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi tinh thần Pha-ri-si. Họ vẫn làm việc với ý nghĩ xứng đáng được thưởng tương xứng với công lao của mình. Họ nuôi dưỡng tinh thần tự tôn và tự mãn, rồi so sánh với nhau. Khi một người trong số họ thất bại ở điểm nào, những người khác lại có cảm giác hơn kẻ ấy. COL 396.1

Để các môn đồ không đánh mất những nguyên tắc của tin lành, Đấng Christ kể cho họ nghe một ngụ ngôn minh họa cách Đức Chúa Trời đối xử với các đầy tớ của Ngài, và tinh thần mà Ngài muốn họ phục vụ Ngài. COL 396.2

Ngài phán:

“Vả, nước thiên đàng giống như người chủ nhà kia, tảng sáng đi ra, để mướn người làm công cho vườn nho mình.” (Ma-thi-ơ 20:1)

Theo tục lệ, những người đi tìm việc làm thường chờ đợi tại chợ, và các chủ cũng đến đó để tìm người làm công. Người chủ nhà trong ngụ ngôn được mô tả là đã ra đi vào những giờ khác nhau để thuê công nhân. Những người được thuê vào giờ sớm nhất đồng ý làm việc với một số tiền nhất định; còn những người được thuê muộn hơn thì để cho chủ nhà tùy ý định tiền công. COL 396.3

“Đến tối, chủ vườn nho nói với người giữ việc rằng: Hãy gọi những người làm công mà trả tiền công cho họ, khởi từ người rốt cho đến người đầu. Những người làm công mướn từ giờ thứ mười một đến, lãnh mỗi người được một đơ-ni-ê. Rồi tới phiên những người đầu đến, tưởng lãnh được nhiều hơn; song họ cũng lãnh mỗi người một đơ-ni-ê.” (Ma-thi-ơ 20:8-10) COL 396.4

Cách chủ nhà đối xử với những người làm trong vườn nho của mình tiêu biểu cho cách Đức Chúa Trời đối xử với gia đình loài người. Điều đó trái với phong tục phổ biến giữa con người. Trong công việc của thế gian, tiền công được trả theo công việc đã hoàn thành. Người làm công chỉ trông mong nhận được những gì mình đã kiếm được. Nhưng trong ngụ ngôn, Đấng Christ đã minh họa các nguyên tắc của nước Ngài—một nước không thuộc về thế gian này. Ngài không bị chi phối bởi bất kỳ tiêu chuẩn nào của loài người. Chúa phán:

“Đức Giê-hô-va phán: Ý tưởng ta chẳng phải ý tưởng các ngươi, đường lối các ngươi chẳng phải đường lối ta. Vì các từng trời cao hơn đất bao nhiêu, thì đường lối ta cao hơn đường lối các ngươi, ý tưởng ta cao hơn ý tưởng các ngươi cũng bấy nhiêu.” (Ê-sai 55:8-9) COL 396.5

Trong ngụ ngôn, những người làm đầu tiên đồng ý làm việc với một số tiền đã định, và họ nhận đúng số tiền đã thỏa thuận, không hơn. Còn những người được thuê sau thì tin vào lời hứa của chủ: “Hễ phải lẽ, ta sẽ trả cho các ngươi.” Họ bày tỏ lòng tin cậy nơi chủ bằng cách không hề hỏi han gì về tiền công. Họ tin cậy vào sự công bình và lẽ phải của chủ. Họ được thưởng không phải theo mức độ lao động của họ, mà theo lòng hào phóng trong ý muốn của chủ. COL 397.1

Đức Chúa Trời cũng muốn chúng ta tin cậy nơi Đấng xưng công bình cho kẻ có tội như vậy. Phần thưởng của Ngài được ban không theo công đức của chúng ta mà theo mục đích của chính Ngài,

“theo ý định đời đời của Ngài đã làm xong trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, Chúa chúng ta,” (Ê-phê-sô 3:11)

“không phải cứu vì việc công bình chúng ta đã làm, nhưng cứ theo lòng thương xót Ngài, bởi sự rửa về sự lại sanh và sự đổi mới của Đức Thánh Linh” (Tít 3:5)

Và đối với những ai tin cậy Ngài, Ngài sẽ làm

“Vả, Đức Chúa Trời, bởi quyền lực cảm động trong chúng ta, có thể làm trổi hơn vô cùng mọi việc chúng ta cầu xin hoặc suy tưởng,” (Ê-phê-sô 3:20) COL 397.2

Không phải khối lượng công việc đã làm hay những kết quả hữu hình của nó, mà chính là tinh thần trong khi làm việc mới khiến công việc trở nên có giá trị với Đức Chúa Trời. Những người vào vườn nho vào giờ thứ mười một biết ơn vì có cơ hội được làm việc. Lòng họ đầy biết ơn đối với người đã chấp nhận họ; và khi vào cuối ngày chủ nhà trả cho họ tiền công cả ngày, họ vô cùng kinh ngạc. Họ biết mình đã không làm đủ để xứng đáng với số tiền ấy. Và lòng tử tế bày tỏ trên nét mặt của chủ làm họ tràn đầy vui mừng. Họ không bao giờ quên lòng nhân từ của chủ nhà hay phần thưởng hào phóng mà họ đã nhận. Tội nhân cũng vậy, khi biết mình không xứng đáng, đã bước vào vườn nho của Chủ vào giờ thứ mười một. Thời gian phục vụ của người dường như quá ngắn, người cảm thấy mình không đáng được thưởng; nhưng người tràn đầy niềm vui vì Đức Chúa Trời đã chấp nhận mình dù chỉ vậy. Người làm việc với tinh thần khiêm nhường, tin cậy, biết ơn về đặc ân được cộng tác với Đấng Christ. Đức Chúa Trời vui lòng tôn vinh tinh thần này. COL 397.3

Chúa muốn chúng ta nghỉ yên trong Ngài mà không đặt câu hỏi về phần thưởng của mình. Khi Đấng Christ ngự trong lòng, ý tưởng về phần thưởng không phải là điều cốt yếu. Đó không phải là động cơ thúc đẩy sự phục vụ của chúng ta. Thật vậy, theo một nghĩa phụ thuộc, chúng ta nên lưu ý đến sự đền đáp của phần thưởng. Đức Chúa Trời muốn chúng ta trân trọng những phước lành Ngài đã hứa. Nhưng Ngài không muốn chúng ta hăm hở tìm kiếm phần thưởng hay cảm thấy rằng đối với mỗi bổn phận chúng ta phải nhận được sự đền đáp. Chúng ta không nên lo lắng để đạt được phần thưởng cho bằng lo làm điều phải lẽ, bất kể mọi lợi ích. Tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời và đối với đồng loại phải là động cơ của chúng ta. COL 398.1

Ngụ ngôn này không bào chữa cho những kẻ nghe tiếng gọi đầu tiên đi làm việc nhưng lại chểnh mảng không vào vườn nho của Chúa. Khi chủ nhà đi ra chợ vào giờ thứ mười một và thấy những người không có việc làm, ông hỏi: “Sao các ngươi đứng đây cả ngày không làm gì hết?” Câu trả lời là: “Vì không ai mướn chúng tôi.” Không một ai trong số những người được kêu gọi muộn hơn trong ngày đã có mặt ở đó vào buổi sáng. Họ không từ chối lời kêu gọi. Những ai từ chối rồi sau đó ăn năn thì hãy ăn năn là tốt; nhưng không an toàn khi đùa giỡn với lời kêu gọi thương xót đầu tiên. COL 399.1

Khi những người làm công trong vườn nho nhận được “mỗi người một đơ-ni-ê,” những người đã bắt đầu làm việc từ sớm trong ngày cảm thấy bị xúc phạm. Họ lý luận rằng, chẳng phải họ đã làm việc suốt mười hai giờ sao? Và chẳng phải là đúng khi họ được nhận nhiều hơn những người chỉ làm có một giờ vào khoảng thời gian mát mẻ của ngày sao? Họ nói: “Những người rốt ấy chỉ làm một giờ, mà chủ đãi cũng như chúng tôi, là kẻ đã chịu mệt nhọc cả ngày và dang nắng.” COL 399.2

Chủ nhà trả lời một người trong bọn họ: “Bạn ơi, ta không xử tệ với ngươi đâu; ngươi há chẳng đã định với ta một đơ-ni-ê sao? Hãy lấy của ngươi mà đi đi; ta muốn trả cho kẻ rốt này bằng như đã trả cho ngươi vậy. Ta há không có phép dùng của cải ta theo ý muốn ta sao? Hay là ngươi thấy ta ở tử tế mà lấy mắt ganh chăng? COL 399.3

“Đó, những kẻ rốt sẽ nên đầu và kẻ đầu sẽ nên rốt là như vậy; vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn.” COL 399.4

Những người làm công đầu tiên trong ngụ ngôn tượng trưng cho những kẻ, vì việc phục vụ của mình, đòi hỏi được ưu tiên hơn người khác. Họ bắt tay vào công việc với tinh thần tự mãn, và không đem vào công việc đó tinh thần tự chối mình và hy sinh. Họ có thể đã tuyên xưng phục vụ Đức Chúa Trời suốt đời mình; họ có thể đã đi đầu trong việc chịu đựng gian khổ, thiếu thốn và thử thách, vì thế họ nghĩ mình xứng đáng nhận phần thưởng lớn. Họ nghĩ về phần thưởng hơn là về đặc ân được làm tôi tớ của Đấng Christ. Theo quan điểm của họ, công lao và sự hy sinh của họ khiến họ xứng đáng được tôn trọng hơn người khác, và bởi vì lời đòi hỏi này không được thừa nhận, nên họ cảm thấy bị xúc phạm. Nếu họ đem vào công việc mình một tinh thần yêu thương, tin cậy, thì họ sẽ tiếp tục đứng đầu; nhưng tính tình hay phàn nàn, than vãn của họ không giống với Đấng Christ, và chứng tỏ họ là những kẻ không đáng tin cậy. Nó bộc lộ ước muốn tự tiến thân của họ, sự thiếu tin cậy nơi Đức Chúa Trời, cùng tinh thần ghen tị, hậm hực của họ đối với anh em mình. Lòng nhân từ và rộng lượng của Chúa đối với họ chỉ là cơ hội để càu nhàu. Như vậy họ cho thấy rằng không có sự kết nối nào giữa linh hồn họ và Đức Chúa Trời. Họ không biết niềm vui được cộng tác với Đấng Chủ Thợ. COL 399.5

Không có gì xúc phạm Đức Chúa Trời hơn tinh thần hẹp hòi, chỉ lo cho mình này. Ngài không thể làm việc với bất kỳ ai biểu lộ những đặc tính đó. Họ vô cảm trước sự vận hành của Thánh Linh Ngài. COL 400.1

Người Do Thái đã được gọi vào vườn nho của Chúa trước tiên, và vì lý do đó họ trở nên kiêu ngạo và tự cho mình là công bình. Họ xem những năm dài phục vụ của mình là điều khiến họ xứng đáng được nhận phần thưởng lớn hơn những người khác. Không có gì khiến họ tức giận hơn là ý tưởng rằng dân ngoại sẽ được thu nhận vào hưởng những đặc quyền ngang bằng với họ trong những việc thuộc về Đức Chúa Trời. COL 400.2

Đấng Christ đã cảnh báo các môn đồ, là những người đã được gọi theo Ngài trước tiên, kẻo điều ác ấy cũng được ấp ủ trong số họ. Ngài thấy rằng sự yếu đuối, điều rủa sả của hội thánh, sẽ là tinh thần tự cho mình là công bình. Loài người sẽ nghĩ rằng họ có thể làm điều gì đó để kiếm được một chỗ trong nước thiên đàng. Họ sẽ tưởng rằng khi họ đã tiến bộ đến một mức nhất định, Chúa sẽ đến giúp đỡ họ. Như vậy sẽ có nhiều bản ngã và ít Đức Chúa Giê-su. Nhiều người đã tiến bộ một chút sẽ kiêu căng và nghĩ mình hơn người khác. Họ sẽ khao khát được tâng bốc, và ghen tị nếu không được xem là quan trọng nhất. Đấng Christ tìm cách bảo vệ các môn đồ Ngài khỏi mối nguy hiểm này. COL 400.3

Mọi sự khoe khoang về công đức nơi bản thân chúng ta đều không đúng chỗ.

“Đức Giê-hô-va phán như vầy: Người khôn chớ khoe sự khôn mình; người mạnh chớ khoe sự mạnh mình; người giàu chớ khoe sự giàu mình; Nhưng kẻ nào khoe, hãy khoe về trí khôn mình biết ta là Đức Giê-hô-va, là Đấng làm ra sự thương xót, chánh trực, và công bình trên đất; vì ta ưa thích những sự ấy, Đức Giê-hô-va phán vậy.” (Giê-rê-mi 9:23-24) COL 401.1

Phần thưởng không phải do việc làm, kẻo có người nào khoe mình; nhưng tất cả đều do ân điển.

“Vậy, chúng ta sẽ nói Áp-ra-ham, tổ phụ chúng ta, theo xác thịt đã được ích gì? Thật thế, nếu Áp-ra-ham đã được xưng công bình bởi việc làm, thì có cớ khoe mình; nhưng trước mặt Đức Chúa Trời không có như vậy. Vì Kinh thánh có dạy chi? Áp-ra-ham tin Đức Chúa Trời, và điều đó kể là công bình cho người. Vả, đối với kẻ nào làm việc, thì tiền công không kể là ơn, nhưng kể như là nợ, còn kẻ chẳng làm việc chi hết, nhưng tin Đấng xưng người có tội là công bình, thì đức tin của kẻ ấy kể là công bình cho mình.” (Rô-ma 4:1-5)

Vì vậy, không ai có cớ gì để khoe mình hơn người khác hoặc ganh ghét người khác. Không ai được đặc quyền hơn ai, và cũng không ai có thể đòi phần thưởng như một quyền lợi. COL 401.2

Người đầu tiên và người sau cùng đều sẽ cùng nhau chia sẻ phần thưởng lớn lao và đời đời, và người đầu tiên phải vui mừng tiếp đón người sau cùng. Người nào ganh tị phần thưởng của người khác là quên rằng chính mình được cứu chỉ bởi ân điển mà thôi. Thí dụ về những người làm công quở trách mọi sự ghen tị và nghi ngờ. Tình yêu thương vui mừng trong lẽ thật và không đặt ra những sự so sánh đầy ghen tị. Người có tình yêu thương chỉ so sánh sự đáng mến của Đấng Christ với phẩm hạnh bất toàn của chính mình. COL 402.1

Thí dụ này là một lời cảnh báo cho tất cả những người làm công, dù họ đã phục vụ bao lâu, dù công việc của họ có dồi dào đến đâu, rằng nếu không có tình yêu thương đối với anh em mình, nếu không có sự khiêm nhường trước Đức Chúa Trời, họ chẳng là gì cả. Không có tôn giáo nào trong việc tôn mình lên ngai. Người nào lấy sự tự tôn vinh làm mục tiêu sẽ thấy mình thiếu mất ân điển - chỉ có ân điển ấy mới có thể khiến mình hữu hiệu trong sự phục vụ Đấng Christ. Mỗi khi lòng kiêu ngạo và sự tự mãn được nuông chiều, công việc bị hư hỏng. COL 402.2

Không phải thời gian chúng ta làm việc dài bao lâu, nhưng chính sự sẵn lòng và trung tín trong công việc mới khiến nó được Đức Chúa Trời chấp nhận. Trong tất cả sự phục vụ của chúng ta, sự từ bỏ hoàn toàn bản ngã là điều được đòi hỏi. Bổn phận nhỏ nhất được làm cách chân thành và quên mình còn đẹp lòng Đức Chúa Trời hơn công việc vĩ đại nhất mà bị hư hỏng bởi sự tìm kiếm bản thân. Ngài xem xét chúng ta ấp ủ tinh thần của Đấng Christ đến mức nào, và công việc chúng ta bày tỏ sự giống như Đấng Christ đến mức nào. Ngài chú trọng đến tình yêu thương và sự trung tín mà chúng ta làm việc hơn là khối lượng công việc chúng ta làm được. COL 402.3

Chỉ khi nào sự ích kỷ đã chết, khi sự tranh giành quyền tối thượng bị đuổi đi, khi lòng biết ơn tràn ngập tâm hồn, và tình yêu thương khiến cuộc đời thơm ngát—chỉ khi đó Đấng Christ mới ngự trong linh hồn, và chúng ta mới được nhìn nhận là những người cùng làm việc với Đức Chúa Trời. COL 402.4

Dù công việc của họ nặng nhọc đến đâu, những người làm công chân thật không xem đó là sự khổ nhọc. Họ sẵn sàng tiêu pha và chịu tiêu pha; nhưng đó là một công việc vui vẻ, được làm với tấm lòng hớn hở. Sự vui mừng trong Đức Chúa Trời được bày tỏ qua Đức Chúa Giê-su. Niềm vui của họ là niềm vui đặt trước Đấng Christ—

“Đức Chúa Giê-su phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.” (Giăng 4:34)

Họ đang hợp tác với Chúa của sự vinh hiển. Ý tưởng này làm ngọt ngào mọi sự lao nhọc, nó làm cứng cáp ý chí, nó làm vững mạnh tinh thần cho bất cứ điều gì có thể xảy đến. Làm việc với tấm lòng không vị kỷ, được nâng cao bởi sự dự phần vào những đau khổ của Đấng Christ, chia sẻ sự cảm thương của Ngài, và hợp tác với Ngài trong công việc của Ngài, họ giúp làm dâng trào niềm vui của Ngài và đem lại vinh dự và ngợi khen cho danh cao cả của Ngài. COL 402.5

Đây là tinh thần của mọi sự phục vụ chân thật cho Đức Chúa Trời. Vì thiếu tinh thần này, nhiều người dường như là đầu tiên sẽ trở nên cuối cùng, còn những người có tinh thần ấy, dù bị xem là cuối cùng, sẽ trở nên đầu tiên. COL 403.1

Có nhiều người đã hiến mình cho Đấng Christ, nhưng lại không thấy cơ hội làm một công việc lớn lao hay dâng những sự hy sinh lớn trong sự phục vụ Ngài. Những người ấy có thể tìm được sự an ủi trong ý nghĩ rằng không nhất thiết sự hy sinh bản thân của người tử đạo mới là điều đẹp lòng Đức Chúa Trời nhất; người đứng cao nhất trong sổ sách thiên đàng có thể không phải là nhà truyền giáo hằng ngày đối mặt với hiểm nguy và cái chết. Người Cơ-đốc nhân sống đúng như vậy trong đời sống riêng tư, trong sự từ bỏ bản ngã hằng ngày, trong sự chân thành về mục đích và thanh sạch trong tư tưởng, trong sự nhu mì khi bị khiêu khích, trong đức tin và lòng kính sợ, trong sự trung tín trong việc rất nhỏ, người nào trong đời sống gia đình tiêu biểu phẩm hạnh của Đấng Christ—người ấy trước mắt Đức Chúa Trời có thể quý giá hơn cả nhà truyền giáo hay người tử đạo nổi danh khắp thế gian. COL 403.2

Ôi, các tiêu chuẩn mà Đức Chúa Trời và loài người dùng để đo lường phẩm hạnh khác biệt biết bao. Đức Chúa Trời nhìn thấy nhiều cám dỗ được chống lại mà thế gian và ngay cả những bạn bè thân thiết cũng không hề biết—những cám dỗ trong gia đình, trong tấm lòng. Ngài nhìn thấy sự khiêm nhường của linh hồn trước sự yếu đuối của chính nó; sự ăn năn chân thành ngay cả đối với một tư tưởng xấu. Ngài nhìn thấy sự tận tụy hết lòng trong sự phục vụ Ngài. Ngài đã ghi nhận những giờ phút chiến đấu cam go với bản ngã—cuộc chiến đã chiến thắng. Tất cả điều này Đức Chúa Trời và các thiên sứ đều biết. Một cuốn sách ghi nhớ được viết trước mặt Ngài cho những kẻ kính sợ Chúa và tưởng đến danh Ngài. COL 403.3

Không phải trong sự học thức của chúng ta, không phải trong địa vị của chúng ta, không phải trong số lượng hay tài năng được giao phó cho chúng ta, không phải trong ý muốn của loài người, mà có thể tìm thấy bí quyết của sự thành công. Khi cảm nhận được sự kém cỏi của mình, chúng ta phải chiêm ngưỡng Đấng Christ, và qua Ngài là sức mạnh của mọi sức mạnh, là ý tưởng của mọi ý tưởng, người sẵn lòng và vâng phục sẽ được hết chiến thắng này đến chiến thắng khác. COL 404.1

Và dù sự phục vụ của chúng ta có ngắn ngủi đến đâu hay công việc của chúng ta có khiêm tốn đến mấy, nếu chúng ta theo Đấng Christ trong đức tin đơn sơ, chúng ta sẽ không thất vọng về phần thưởng. Điều mà ngay cả những người vĩ đại nhất và khôn ngoan nhất cũng không thể kiếm được, thì những người yếu đuối nhất và khiêm nhường nhất có thể nhận được. Cửa vàng của thiên đàng không mở ra cho những kẻ tự tôn mình lên. Nó không được nâng lên cho những kẻ kiêu ngạo trong tâm linh. Nhưng các cánh cửa đời đời sẽ mở rộng trước cái chạm run rẩy của một trẻ nhỏ. Phước hạnh thay là phần thưởng bằng ân điển dành cho những người đã làm việc cho Đức Chúa Trời trong sự đơn sơ của đức tin và tình yêu thương. COL 404.2