"Từ Giữa Các Dân Ngoại"
Chương này dựa trên
“Bấy giờ, một thầy dạy luật đứng dậy hỏi đặng thử Đức Chúa Giê-su rằng: Thưa thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời? Ngài phán rằng: Trong luật pháp có chép điều gì? Ngươi đọc gì trong đó? Thưa rằng: Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi và yêu người lân cận như mình Đức Chúa Giê-su phán rằng: Ngươi đáp phải lắm; hãy làm điều đó, thì được sống. Song thầy ấy muốn xưng mình là công bình, nên thưa cùng Đức Chúa Giê-su rằng: Ai là người lân cận tôi? Đức Chúa Giê-su lại cất tiếng phán rằng: Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào tay kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết. Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi. Song có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. Đến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người này, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả. Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp? Thầy dạy luật thưa rằng: Ấy là người đã lấy lòng thương xót đãi người. Đức Chúa Giê-su phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy.” (Lu-ca 10:25-37)
Giữa vòng người Do Thái, câu hỏi “Ai là người lân cận tôi?” đã gây ra những cuộc tranh luận không dứt. Họ không nghi ngờ gì về dân ngoại và người Sa-ma-ri. Những người này là khách lạ và kẻ thù. Nhưng phải phân biệt thế nào giữa vòng dân tộc của chính họ và giữa các giai cấp khác nhau trong xã hội? Thầy tế lễ, ra-bi, trưởng lão phải coi ai là người lân cận? Họ dành cả đời để lặp đi lặp lại các nghi lễ nhằm làm cho chính mình được tinh sạch. Họ dạy rằng sự tiếp xúc với đám đông dốt nát và cẩu thả sẽ gây ô uế, mà để tẩy sạch thì phải nỗ lực mệt nhọc. Vậy họ có nên xem những kẻ “ô uế” là người lân cận không? COL 376.1
Câu hỏi này đã được Đấng Christ trả lời qua ẩn dụ về người Sa-ma-ri nhân lành. Ngài cho thấy rằng người lân cận của chúng ta không có nghĩa chỉ là người cùng hội thánh hay cùng đức tin với chúng ta. Nó không liên quan đến chủng tộc, màu da, hay sự phân biệt giai cấp. Người lân cận của chúng ta là mỗi người cần sự giúp đỡ của chúng ta. Người lân cận của chúng ta là mỗi linh hồn bị kẻ thù nghịch làm tổn thương và bầm dập. Người lân cận của chúng ta là mỗi người thuộc về Đức Chúa Trời. COL 376.2
Ẩn dụ về người Sa-ma-ri nhân lành được khơi nguồn từ một câu hỏi mà một thầy dạy luật đặt ra cho Đấng Christ. Khi Đấng Cứu Thế đang dạy dỗ, “có một thầy dạy luật đứng dậy hỏi đặng thử Ngài rằng: Thưa thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” Người Pha-ri-si đã gợi ý câu hỏi này cho thầy dạy luật với hy vọng họ có thể gài bẫy Đấng Christ trong lời Ngài, và họ háo hức lắng nghe câu trả lời của Ngài. Nhưng Đấng Cứu Thế không sa vào tranh cãi. Ngài đòi câu trả lời từ chính người hỏi. “Trong luật pháp có chép điều gì?” Ngài hỏi, “Ngươi đọc gì trong đó?” Người Do Thái vẫn tố cáo Đức Chúa Giê-su coi nhẹ luật pháp đã ban ra tại núi Si-na-i, nhưng Ngài đã xoay vấn đề cứu rỗi sang việc giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. COL 377.1
Thầy dạy luật thưa rằng: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình.” Đấng Christ phán: “Ngươi đáp phải lắm; hãy làm điều đó, thì được sống.” COL 377.2
Thầy dạy luật không hài lòng với địa vị và công việc của người Pha-ri-si. Ông đã nghiên cứu Kinh Thánh với lòng ước ao hiểu ý nghĩa thật sự của Kinh Thánh. Ông có sự quan tâm sâu sắc đến vấn đề này, và ông chân thành hỏi: “Tôi phải làm gì?” Trong câu trả lời về những đòi hỏi của luật pháp, ông đã gạt sang một bên toàn bộ khối quy tắc nghi lễ và nghi thức. Đối với những điều này, ông cho là không có giá trị, nhưng ông trình bày hai nguyên tắc lớn mà cả luật pháp và các tiên tri đều tùy thuộc vào. Sự khen ngợi của Đấng Cứu Thế đối với câu trả lời này đã đặt Ngài vào vị thế thuận lợi trước các ra-bi. Họ không thể kết án Ngài vì đã đồng tình với điều mà một nhà giải luật đã đưa ra. COL 377.3
Đấng Christ phán: “Hãy làm điều đó, thì được sống.” Trong sự dạy dỗ của Ngài, Ngài luôn trình bày luật pháp như một thể thống nhất thiêng liêng, cho thấy rằng không thể giữ một điều răn mà lại vi phạm một điều khác; vì cùng một nguyên tắc chạy xuyên suốt mọi điều. Số phận con người sẽ được quyết định bởi sự vâng phục toàn bộ luật pháp của người ấy. COL 377.4
Đấng Christ biết rằng không ai có thể vâng giữ luật pháp bằng sức lực riêng. Ngài muốn dẫn dắt thầy dạy luật đến chỗ tìm tòi rõ ràng và kỹ lưỡng hơn để ông có thể tìm thấy lẽ thật. Chỉ bằng cách tiếp nhận đức hạnh và ân điển của Đấng Christ chúng ta mới có thể giữ được luật pháp. Lòng tin vào của lễ chuộc tội làm cho con người sa ngã có khả năng yêu mến Đức Chúa Trời hết lòng và yêu người lân cận như chính mình. COL 378.1
Thầy dạy luật biết rằng ông đã không giữ cả bốn điều răn đầu lẫn sáu điều răn sau. Ông bị định tội dưới những lời dò xét của Đấng Christ, nhưng thay vì xưng tội mình, ông lại cố biện hộ. Thay vì thừa nhận lẽ thật, ông cố gắng chỉ ra rằng điều răn thật khó lòng thi hành. Như vậy ông hy vọng vừa né tránh sự định tội vừa tự biện minh trước mắt mọi người. Lời của Đấng Cứu Thế đã cho thấy câu hỏi của ông là không cần thiết, vì chính ông đã có thể trả lời được rồi. Tuy nhiên, ông lại đặt một câu hỏi khác: “Ai là người lân cận tôi?” COL 378.2
Một lần nữa, Đấng Christ từ chối bị cuốn vào tranh cãi. Ngài trả lời câu hỏi bằng cách kể lại một sự việc mà ký ức còn tươi mới trong tâm trí những người nghe Ngài. Ngài phán: “Có một người từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào tay kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết.” COL 379.1
Trong hành trình từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, khách bộ hành phải đi qua một phần đồng vắng Giu-đê. Con đường dẫn xuống một khe núi hoang dại, đầy đá, là nơi bọn cướp thường trú ngụ, và thường xảy ra bạo lực. Chính tại đây, khách bộ hành bị tấn công, bị cướp hết mọi thứ quý giá, và bị bỏ lại nửa sống nửa chết bên vệ đường. Khi ông nằm như vậy, có một thầy tế lễ đi qua đường đó; thầy tế lễ thấy người nằm bị thương và bầm dập, vùi mình trong máu mình; nhưng thầy tế lễ đã bỏ đi mà không giúp đỡ chút nào. Thầy tế lễ “tránh qua bên kia mà đi.” Rồi một người Lê-vi xuất hiện. Tò mò muốn biết điều gì đã xảy ra, ông dừng lại và nhìn kẻ đang đau khổ. Ông nhận ra điều ông nên làm, nhưng đó không phải là một bổn phận dễ chịu. Ông ước gì mình đã không đi qua con đường đó để khỏi phải thấy người bị thương. Ông tự thuyết phục rằng trường hợp này không liên quan gì đến mình, và ông cũng “tránh qua bên kia mà đi.” COL 379.2
Nhưng một người Sa-ma-ri, cùng đi trên con đường ấy, thấy kẻ đau khổ, và ông đã làm công việc mà những người kia đã từ chối làm. Với sự dịu dàng và ân cần, ông chăm sóc cho người bị thương. “Nhưng có một người Sa-ma-ri đi đường, đến gần người đó, ngó thấy thì động lòng thương; bèn áp lại, lấy dầu và rượu xức chỗ bị thương, rồi rịt lại; đoạn, cho cỡi con vật mình, đem đến nhà quán, mà săn sóc cho. Đến bữa sau, lấy hai đơ-ni-ê đưa cho chủ quán, dặn rằng: Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.” Cả thầy tế lễ và người Lê-vi đều tỏ ra sùng đạo, nhưng người Sa-ma-ri đã cho thấy ông thật sự được hoán cải. Việc làm đó đối với ông cũng chẳng thích thú hơn so với thầy tế lễ và người Lê-vi, nhưng trong tinh thần và việc làm, ông đã chứng tỏ mình hòa hợp với Đức Chúa Trời. COL 379.3
Khi đưa ra bài học này, Đấng Christ đã trình bày các nguyên tắc của luật pháp cách trực tiếp, mạnh mẽ, cho những người nghe thấy rằng họ đã xao lãng không thực hiện các nguyên tắc ấy. Lời Ngài rõ ràng và sắc bén đến mức người nghe không thể tìm ra cơ hội nào để bắt bẻ. Thầy dạy luật không tìm thấy điều gì trong bài học có thể chỉ trích. Định kiến của ông đối với Đấng Christ đã được gỡ bỏ. Nhưng ông vẫn chưa vượt qua được lòng ác cảm của dân tộc mình đủ để gọi tên người Sa-ma-ri kia cách ghi nhận. Khi Đấng Christ hỏi: “Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp?” ông đáp: “Ấy là người đã lấy lòng thương xót đãi người.” COL 380.1
“Đức Chúa Giê-su phán rằng: Hãy đi, làm theo như vậy.” Hãy tỏ ra cùng lòng nhân ái dịu dàng ấy đối với những người đang thiếu thốn. Như vậy ngươi sẽ chứng minh rằng ngươi giữ trọn luật pháp. COL 380.2
Sự khác biệt lớn giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri là sự khác biệt về đức tin tôn giáo, một vấn đề về điều gì tạo nên sự thờ phượng chân thật. Người Pha-ri-si không nói gì tốt về người Sa-ma-ri, nhưng trút lên họ những lời rủa sả cay độc nhất. Sự ác cảm giữa người Do Thái và người Sa-ma-ri mạnh đến nỗi đối với người phụ nữ Sa-ma-ri, việc Đấng Christ xin bà nước uống dường như là điều lạ lùng. Bà nói: “Ủa kìa! ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đờn bà Sa-ma-ri sao?” Rồi nhà truyền đạo nói thêm: “Vì dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.”
“Người đàn bà Sa-ma-ri thưa rằng: Ủa kìa! Ông là người Giu-đa, mà lại xin uống nước cùng tôi, là một người đàn bà Sa-ma-ri sao? (Số là, dân Giu-đa chẳng hề giao thiệp với dân Sa-ma-ri.)” (Giăng 4:9)
Và khi người Do Thái đầy lòng căm thù muốn giết Đấng Christ đến nỗi họ đứng dậy trong đền thờ để ném đá Ngài, họ không thể tìm được lời nào tốt hơn để diễn tả lòng căm ghét của mình ngoài câu: “Người Sa-ma-ri! và bị quỉ ám, há chẳng phải chúng tôi nói phải không?”
“Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi nói thầy là người Sa-ma-ri, và bị quỉ ám, há không phải sao?” (Giăng 8:48)
Vậy mà thầy tế lễ và người Lê-vi đã xao lãng chính công việc mà Chúa đã truyền cho họ, để cho một người Sa-ma-ri bị ghét và bị khinh miệt chăm sóc cho một người đồng bào của họ. COL 380.3
Người Sa-ma-ri đã làm trọn điều răn: “Ngươi phải yêu người lân cận như mình,” qua đó chứng tỏ rằng ông công bình hơn những kẻ đã tố cáo ông. Liều cả mạng sống mình, ông đã đối xử với người bị thương như anh em ruột. Người Sa-ma-ri này tượng trưng cho Đấng Christ. Đấng Cứu Thế của chúng ta đã bày tỏ cho chúng ta một tình yêu mà tình yêu của loài người không bao giờ có thể sánh kịp. Khi chúng ta bị thương tích và hấp hối, Ngài đã thương xót chúng ta. Ngài không đi tránh qua bên kia đường và bỏ mặc chúng ta, không nơi nương tựa và không hy vọng, phải hư mất. Ngài không ở lại trong ngôi nhà thánh khiết, hạnh phúc của Ngài, nơi Ngài được toàn thể thiên binh yêu mến. Ngài đã nhìn thấy nhu cầu đau thương của chúng ta, Ngài đã đảm nhận trường hợp của chúng ta, và đã đồng hóa lợi ích của Ngài với lợi ích của nhân loại. Ngài đã chết để cứu kẻ thù của Ngài. Ngài đã cầu nguyện cho những kẻ giết Ngài. Chỉ đến gương của chính mình, Ngài phán với những kẻ theo Ngài:
“Ta truyền cho các ngươi những điều răn đó, đặng các ngươi yêu mến lẫn nhau vậy.” (Giăng 15:17)
“Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy.” (Giăng 13:34) COL 381.1
Thầy tế lễ và người Lê-vi đã đi lên đền thờ thờ phượng, là đền thờ mà nghi thức của nó do chính Đức Chúa Trời thiết lập. Được dự phần vào việc thờ phượng ấy là một đặc ân lớn lao và cao trọng, và thầy tế lễ cùng người Lê-vi cảm thấy rằng khi đã được tôn trọng như vậy, việc chăm sóc cho một kẻ đau khổ vô danh bên vệ đường là dưới phẩm giá của họ. Như thế họ đã bỏ qua cơ hội đặc biệt mà Đức Chúa Trời đã ban cho họ với tư cách là người đại diện của Ngài để ban phước cho một người đồng loại. COL 382.1
Nhiều người ngày nay đang phạm một sai lầm tương tự. Họ phân chia bổn phận của mình thành hai loại riêng biệt. Một loại gồm những việc lớn, được điều chỉnh bởi luật pháp Đức Chúa Trời; loại kia gồm những việc được gọi là nhỏ nhặt, trong đó điều răn “Ngươi phải yêu người lân cận như mình” bị xem thường. Phạm vi công việc này được phó mặc cho sự tùy tiện, tùy theo khuynh hướng hay sự bốc đồng. Như vậy nhân cách bị hủy hoại, và đạo của Đấng Christ bị trình bày sai lệch. COL 382.2
Có những người nghĩ rằng việc phục vụ nhân loại đau khổ sẽ hạ thấp phẩm giá của họ. Nhiều người nhìn với thái độ thờ ơ và khinh bỉ những kẻ đã để đền thờ của linh hồn mình trở thành đống đổ nát. Những người khác bỏ bê người nghèo vì một động cơ khác. Họ đang làm việc, như họ tin, cho công cuộc của Đấng Christ, tìm cách xây dựng một sự nghiệp đáng giá nào đó. Họ cảm thấy rằng mình đang làm một công việc lớn lao, và họ không thể dừng lại để để ý đến nhu cầu của những người thiếu thốn và khốn khổ. Trong khi thúc đẩy công việc mà họ cho là lớn lao ấy, họ thậm chí có thể áp bức kẻ nghèo. Họ có thể đặt những người này vào hoàn cảnh khó khăn và thử thách, tước đoạt quyền lợi của họ, hoặc lơ là nhu cầu của họ. Thế nhưng họ cảm thấy rằng tất cả những điều này đều chính đáng vì, theo suy nghĩ của họ, họ đang thúc đẩy công cuộc của Đấng Christ. COL 382.3
Nhiều người để một người anh em hoặc người lân cận phải vật lộn một mình trong hoàn cảnh khó khăn mà không trợ giúp. Vì họ xưng mình là Cơ-đốc nhân, người kia có thể bị dẫn đến chỗ nghĩ rằng trong sự ích kỷ lạnh lùng của họ, họ đang đại diện cho Đấng Christ. Vì những người tự xưng là đầy tớ của Chúa không hợp tác với Ngài, nên tình yêu của Đức Chúa Trời, đáng lẽ phải chảy ra từ họ, đã bị cắt đứt phần lớn khỏi đồng loại của họ. Và một lượng lớn lời ngợi khen và cảm tạ từ tấm lòng và môi miệng con người bị ngăn trở không thể trở về với Đức Chúa Trời. Ngài bị cướp mất vinh hiển đáng thuộc về danh thánh của Ngài. Ngài bị cướp mất những linh hồn mà vì họ Đấng Christ đã chết, những linh hồn mà Ngài khao khát được đưa vào nước Ngài để ngự trong sự hiện diện của Ngài qua các thời đại vô tận. COL 383.1
Lẽ thật thiêng liêng có ảnh hưởng rất ít trên thế gian, trong khi qua sự thực hành của chúng ta, nó đáng lẽ phải có ảnh hưởng lớn. Chỉ riêng sự xưng nhận tôn giáo thì rất nhiều, nhưng không có trọng lượng bao nhiêu. Chúng ta có thể tuyên bố mình là môn đồ của Đấng Christ, có thể tuyên bố mình tin mọi lẽ thật trong Lời Đức Chúa Trời; nhưng điều này chẳng ích gì cho người lân cận của chúng ta trừ khi niềm tin của chúng ta được đem vào đời sống hàng ngày. Sự xưng nhận của chúng ta có thể cao đến tận trời, nhưng nó sẽ không cứu được chính chúng ta lẫn đồng loại của chúng ta, trừ khi chúng ta thực sự là Cơ-đốc nhân. Một tấm gương đúng đắn sẽ ích lợi cho thế gian hơn tất cả sự xưng nhận của chúng ta. COL 383.2
Không một sự thực hành ích kỷ nào có thể phục vụ công cuộc của Đấng Christ. Công cuộc của Ngài là công cuộc của kẻ bị áp bức và người nghèo khổ. Trong lòng những người tự xưng theo Ngài cần phải có lòng thương cảm dịu dàng của Đấng Christ — một tình yêu sâu đậm hơn đối với những người mà Ngài đã quý trọng đến nỗi hy sinh cả mạng sống mình để cứu rỗi họ. Những linh hồn ấy là quý giá, quý giá vô cùng hơn bất kỳ của lễ nào khác mà chúng ta có thể dâng cho Đức Chúa Trời. Dốc hết sức lực vào một công việc dường như lớn lao nào đó, trong khi chúng ta bỏ mặc người thiếu thốn hoặc tước đoạt quyền của khách lạ, thì không phải là một sự phục vụ được Ngài chấp nhận. COL 383.3
Sự thánh hóa linh hồn bởi sự vận hành của Đức Thánh Linh là việc cấy nhân tính của Đấng Christ vào trong loài người. Tôn giáo của tin lành là Đấng Christ trong đời sống — một nguyên tắc sống, hoạt động. Đó là ân điển của Đấng Christ được bày tỏ trong nhân cách và được thể hiện qua các việc lành. Các nguyên tắc của tin lành không thể bị tách rời khỏi bất kỳ lãnh vực nào của đời sống thực tế. Mọi khía cạnh của kinh nghiệm và công việc Cơ-đốc phải là sự đại diện cho đời sống của Đấng Christ. COL 384.1
Tình yêu thương là nền tảng của sự tin kính. Dù tuyên xưng thế nào đi nữa, không ai có tình yêu trong sạch đối với Đức Chúa Trời nếu người đó không có tình yêu vô kỷ đối với anh em mình. Nhưng chúng ta không bao giờ có thể sở hữu tinh thần này bằng cách cố gắng yêu thương người khác. Điều cần thiết là tình yêu của Đấng Christ trong lòng. Khi bản ngã được hòa tan trong Đấng Christ, tình yêu tuôn trào một cách tự nhiên. Sự trọn vẹn của nhân cách Cơ-đốc được đạt tới khi thúc đẩy giúp đỡ và ban phước cho người khác liên tục phát sinh từ bên trong — khi ánh dương của thiên đàng tràn ngập tấm lòng và được bày tỏ trên gương mặt. COL 384.2
Tấm lòng mà Đấng Christ ngự trị không thể nào thiếu vắng tình yêu thương. Nếu chúng ta yêu Đức Chúa Trời vì Ngài đã yêu chúng ta trước, chúng ta sẽ yêu tất cả những người mà vì họ Đấng Christ đã chết. Chúng ta không thể tiếp xúc với thần tính mà không tiếp xúc với nhân tính; vì trong Đấng ngự trên ngôi vũ trụ, thần tính và nhân tính được kết hợp. Kết nối với Đấng Christ, chúng ta được kết nối với đồng loại mình bằng những mắt xích vàng của chuỗi tình yêu. Bấy giờ lòng thương xót và trắc ẩn của Đấng Christ sẽ được biểu lộ trong đời sống chúng ta. Chúng ta sẽ không đợi cho đến khi người thiếu thốn và bất hạnh được đem đến với mình. Chúng ta sẽ không cần ai nài khuyên để cảm thương nỗi khổ của người khác. Việc phục vụ người thiếu thốn và đau khổ sẽ trở nên tự nhiên đối với chúng ta, như chính Đấng Christ đã đi khắp nơi làm việc lành. COL 384.3
Nơi đâu có sự thúc đẩy của tình yêu và lòng thương cảm, nơi đâu có tấm lòng vươn ra để ban phước và nâng đỡ người khác, thì nơi đó có sự vận hành của Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời được bày tỏ. Giữa nơi sâu thẳm của ngoại giáo, những người chưa từng biết đến luật pháp đã ghi chép của Đức Chúa Trời, chưa từng nghe đến danh Đấng Christ, đã tỏ ra tử tế với các đầy tớ của Ngài, bảo vệ họ với nguy cơ hy sinh chính mạng sống mình. Những hành động của họ cho thấy sự vận hành của một quyền năng thiêng liêng. Đức Thánh Linh đã cấy ân điển của Đấng Christ vào lòng của người man di, khơi dậy lòng thương cảm của người đó, trái với bản tính, trái với sự giáo dục của mình. “Sự sáng soi mọi người sinh ra trong thế gian”
“Sự sáng này là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người.” (Giăng 1:9)
đang chiếu sáng trong linh hồn người ấy; và ánh sáng này, nếu được lưu ý, sẽ dẫn bước chân người ấy đến nước Đức Chúa Trời. COL 385.1
Vinh quang của thiên đàng là ở việc nâng đỡ kẻ sa ngã, an ủi người đau khổ. Và ở đâu Đấng Christ ngự trong tấm lòng con người, Ngài sẽ được bày tỏ theo cùng một cách ấy. Ở bất cứ nơi nào nó hoạt động, đạo của Đấng Christ sẽ ban phước. Ở bất cứ nơi nào nó hoạt động, ở đó có ánh sáng rực rỡ. COL 386.1
Đức Chúa Trời không nhìn nhận bất kỳ sự phân biệt nào về quốc tịch, chủng tộc, hoặc giai cấp. Ngài là Đấng tạo dựng toàn thể loài người. Tất cả loài người đều thuộc về một gia đình qua sự sáng tạo, và tất cả đều là một qua sự cứu chuộc. Đấng Christ đã đến để phá bỏ mọi bức tường ngăn cách, để mở toang mọi ngăn phòng của đền thờ, hầu cho mọi linh hồn có thể tự do đến với Đức Chúa Trời. Tình yêu của Ngài rộng lớn, sâu xa, trọn vẹn đến nỗi thấm nhuần khắp mọi nơi. Nó đưa những linh hồn đáng thương đã bị lừa dối bởi những mưu chước của Sa-tan ra khỏi vòng kiềm tỏa của hắn. Nó đặt họ vào trong tầm với của ngôi Đức Chúa Trời, ngôi được cầu vồng của lời hứa bao quanh. COL 386.2
Trong Đấng Christ không có người Giu-đa hay người Gờ-réc, người nô lệ hay người tự do. Tất cả đều được đem đến gần nhờ huyết quý báu của Ngài. (
“Tại đây không còn chia ra người Giu-đa hoặc người Gờ-réc; không còn người tôi mọi hoặc người tự chủ; không còn đàn ông hoặc đàn bà; vì trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, anh em thảy đều làm một.” (Ga-la-ti 3:28)
“Nhưng trong Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc, anh em là kẻ ngày trước cách xa, hiện nay đã nhờ huyết Đấng Cơ-đốc mà được gần rồi.” (Ê-phê-sô 2:13)
.) COL 386.3
Dù có khác biệt về niềm tin tôn giáo thế nào đi nữa, tiếng kêu cứu từ nhân loại đau khổ phải được lắng nghe và đáp lại. Nơi nào có sự cay đắng trong tình cảm vì khác biệt về tôn giáo, thì qua sự phục vụ cá nhân, có thể làm được nhiều điều tốt. Sự phục vụ đầy yêu thương sẽ đánh đổ thành kiến và dẫn đưa các linh hồn đến với Đức Chúa Trời. COL 386.4
Chúng ta phải biết dự phần vào những nỗi buồn, những khó khăn, những phiền muộn của người khác. Chúng ta phải cùng chia sẻ những niềm vui và mối bận tâm của cả người sang lẫn kẻ hèn, kẻ giàu lẫn người nghèo. Đấng Christ phán:
“Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không.” (Ma-thi-ơ 10:8)
Chung quanh chúng ta có biết bao linh hồn nghèo khổ, bị thử thách đang cần những lời cảm thông và những hành động giúp đỡ. Có những người góa bụa cần sự cảm thông và trợ giúp. Có những trẻ mồ côi mà Đấng Christ đã truyền dạy những kẻ theo Ngài phải tiếp nhận như một sự ủy thác từ Đức Chúa Trời. Quá thường khi những người này bị bỏ qua một cách lãnh đạm. Họ có thể rách rưới, cộc cằn, và dường như mọi mặt đều không hấp dẫn; nhưng họ là tài sản của Đức Chúa Trời. Họ đã được mua bằng một giá, và họ quý báu trong mắt Ngài cũng như chúng ta. Họ là những thành viên trong đại gia đình của Đức Chúa Trời, và những Cơ-đốc nhân với tư cách là người quản lý của Ngài phải có trách nhiệm với họ. Ngài phán: “Linh hồn của họ, ta sẽ đòi nơi tay ngươi.” COL 386.5
Tội lỗi là điều ác lớn nhất trong tất cả các điều ác, và bổn phận của chúng ta là thương xót và giúp đỡ tội nhân. Nhưng không phải ai cũng có thể được tiếp cận theo cùng một cách. Có nhiều người giấu đi sự đói khát của linh hồn mình. Họ sẽ được giúp đỡ rất nhiều qua một lời nói dịu dàng hay một sự nhớ đến ân cần. Có những người khác đang trong sự cần kíp lớn nhất, nhưng họ không biết. Họ không nhận ra sự thiếu thốn khủng khiếp của linh hồn. Vô số người đã chìm đắm trong tội lỗi đến nỗi đã mất đi ý thức về các thực tại đời đời, đã mất đi hình ảnh của Đức Chúa Trời, và họ hầu như không biết mình có linh hồn để được cứu hay không. Họ không có đức tin nơi Đức Chúa Trời cũng không có lòng tin cậy nơi con người. Nhiều người trong số này chỉ có thể được tiếp cận qua những hành động tử tế vô vị lợi. Trước hết phải chăm lo cho những nhu cầu thể chất của họ. Họ phải được cho ăn, được tắm rửa sạch sẽ và được mặc quần áo tươm tất. Khi họ thấy bằng chứng về tình yêu vô ngã của bạn, họ sẽ dễ dàng tin vào tình yêu của Đấng Christ hơn. COL 387.1
Có nhiều người đã lầm lỗi, và họ cảm thấy sự hổ thẹn và sự dại dột của mình. Họ nhìn vào những sai lầm và lỗi lầm của mình cho đến khi gần như bị đẩy vào tuyệt vọng. Chúng ta không được bỏ mặc những linh hồn này. Khi một người phải bơi ngược dòng, cả sức mạnh của dòng nước đang đẩy người ấy lùi lại. Hãy đưa ra một bàn tay giúp đỡ cho người ấy, như bàn tay của Người Anh Cả đã đưa ra cho Phi-e-rơ khi ông đang chìm. Hãy nói với người ấy những lời hy vọng, những lời sẽ thiết lập sự tin tưởng và đánh thức tình yêu thương. COL 387.2
Anh em bạn, người đang đau yếu trong tâm linh, cần bạn, như chính bạn đã từng cần tình yêu thương của một người anh em. Người ấy cần kinh nghiệm của một người đã từng yếu đuối như người ấy, một người có thể cảm thông và giúp đỡ người ấy. Sự nhận biết về điểm yếu của chính mình sẽ giúp chúng ta giúp đỡ một người khác trong cơn khốn cùng đắng cay của họ. Chúng ta không bao giờ nên đi qua một linh hồn đau khổ mà không tìm cách truyền đạt cho người ấy sự an ủi mà chính chúng ta đã được Đức Chúa Trời an ủi. COL 387.3
Chính sự thông công với Đấng Christ, sự tiếp xúc cá nhân với một Đấng Cứu Thế hằng sống, mới làm cho tâm trí, tấm lòng và linh hồn có thể đắc thắng bản chất thấp hèn. Hãy kể cho kẻ lang thang nghe về một bàn tay toàn năng sẽ nâng đỡ người ấy, về lòng nhân ái vô hạn trong Đấng Christ thương xót người ấy. Đối với người ấy, tin vào luật pháp và sức mạnh là chưa đủ, những điều không có lòng thương xót và không bao giờ nghe tiếng kêu cứu. Người ấy cần nắm lấy một bàn tay ấm áp, cần tin cậy nơi một tấm lòng đầy dịu dàng. Hãy giữ cho tâm trí người ấy luôn hướng về ý nghĩ có một sự hiện diện thiêng liêng luôn ở bên cạnh, luôn nhìn người ấy với tình yêu thương xót. Hãy khuyên người ấy nghĩ đến tấm lòng của Đức Chúa Cha luôn đau buồn vì tội lỗi, đến bàn tay của Đức Chúa Cha vẫn còn giơ ra, đến tiếng phán của Đức Chúa Cha rằng:
“Chẳng gì bằng nhờ sức ta, làm hòa với ta, phải, hãy làm hòa với ta!” (Ê-sai 27:5) COL 388.1
Khi bạn tham gia vào công việc này, bạn có những người bạn đồng hành mà mắt người không thấy được. Các thiên sứ trên trời đã ở bên người Sa-ma-ri chăm sóc cho người khách lạ bị thương. Các thiên sứ từ triều đình thiên đàng đứng bên cạnh tất cả những ai làm công việc của Đức Chúa Trời trong việc phục vụ đồng loại của mình. Và bạn có sự hợp tác của chính Đấng Christ. Ngài là Đấng Phục Hồi, và khi bạn làm việc dưới sự giám sát của Ngài, bạn sẽ thấy những kết quả lớn lao. COL 388.2
Không chỉ phúc lợi của những người khác mà cả số phận đời đời của chính bạn đều phụ thuộc vào lòng trung thành của bạn trong công việc này. Đấng Christ đang tìm cách nâng đỡ tất cả những ai sẽ được nâng lên trong mối tương giao với chính Ngài, để chúng ta có thể là một với Ngài như Ngài là một với Đức Chúa Cha. Ngài cho phép chúng ta tiếp xúc với đau khổ và tai họa để kêu gọi chúng ta ra khỏi sự vị kỷ của mình; Ngài tìm cách phát triển nơi chúng ta những đặc tính của tánh hạnh Ngài—lòng trắc ẩn, sự dịu dàng và tình yêu thương. Bằng cách chấp nhận công việc phục vụ này, chúng ta tự đặt mình vào trường học của Ngài, để được chuẩn bị cho cung triều của Đức Chúa Trời. Bằng cách từ chối nó, chúng ta từ chối sự dạy dỗ của Ngài, và chọn sự chia cách đời đời khỏi sự hiện diện của Ngài. COL 388.3
Chúa phán: “Nếu ngươi giữ điều ta truyền, ta sẽ ban cho ngươi chỗ bước đi giữa những kẻ đứng chầu đây”—tức là giữa các thiên sứ đang vây quanh ngai Ngài. (
“Đức Giê-hô-va vạn quân phán như vầy: Nếu ngươi bước đi trong đường lối ta, vâng giữ điều ta dạy phải giữ, thì ngươi sẽ được xét đoán nhà ta, và canh giữ hiên cửa ta, ta sẽ cho ngươi bước đi trong hàng những kẻ đứng chầu này.” (Xa-cha-ri 3:7)
.) Bằng cách hợp tác với những thiên thần trong công việc của họ trên đất, chúng ta đang chuẩn bị cho mối tương giao của họ trên thiên đàng.
“Các thiên sứ há chẳng phải đều là thần hầu việc Đức Chúa Trời, đã được sai xuống để giúp việc những người sẽ hưởng cơ nghiệp cứu rỗi hay sao?” (Hê-bơ-rơ 1:14)
các thiên sứ trên trời sẽ chào đón những người mà trên đất đã sống
“Ấy vậy, Con người đã đến, không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta, và phó sự sống mình làm giá chuộc nhiều người.” (Ma-thi-ơ 20:28)
Trong mối tương giao phước hạnh này, chúng ta sẽ học biết, trong niềm vui đời đời của mình, tất cả những gì được bao hàm trong câu hỏi: “Ai là kẻ lân cận tôi?” COL 389.1