Chương 24
24

Không Có Áo Lễ

Chương này dựa trên

“Đức Chúa Giê-su lại phán ví dụ cùng chúng nữa, rằng: Nước thiên đàng giống như một vua kia làm tiệc cưới cho con mình. Vua sai đầy tớ đi nhắc những người đã được mời đến dự tiệc; nhưng họ không chịu đến. Vua lại sai đầy tớ khác mà dặn rằng: Hãy nói với người được mời như vầy: Nầy ta đã sửa soạn tiệc rồi; bò và thú béo đã giết xong, mọi việc đã sẵn cả, hãy đến mà dự tiệc cưới. Nhưng họ không đếm xỉa đến, cứ việc đi đường mình; kẻ này đi ra ruộng, kẻ kia đi buôn bán; còn những kẻ khác bắt đầy tớ của vua, mắng chửi và giết đi. Vua nổi giận, bèn sai quân lính diệt những kẻ giết người đó, và đốt phá thành của họ. Đoạn, vua phán cùng đầy tớ mình rằng: Tiệc cưới đã dọn xong rồi; song những người được mời không xứng dự tiệc đó. Vậy, các ngươi hãy đi khắp các ngã tư, hễ gặp người nào thì mời cả đến dự tiệc. Đầy tớ đi khắp các đường cái, nhóm lại hết thảy những người họ gặp, bất luận dữ lành, đến nỗi trong phòng đầy những người dự tiệc. Vua vào xem khách dự tiệc, chợt thấy một người không mặc áo lễ, thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chân nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng. Bởi vì có nhiều kẻ được gọi, mà ít người được chọn.” (Ma-thi-ơ 22:1-14)

Thí dụ về chiếc áo lễ cưới mở ra trước mắt chúng ta một bài học có tầm quan trọng cao cả nhất. Tiệc cưới tượng trưng cho sự kết hợp giữa nhân tánh và thần tánh; chiếc áo lễ cưới tượng trưng cho phẩm hạnh mà tất cả những ai được kể là khách xứng đáng dự tiệc cưới phải có. COL 307.1

Trong thí dụ này, cũng như trong thí dụ về bữa tiệc lớn, có minh họa lời mời của tin lành, sự chối bỏ của người Do Thái, và tiếng gọi của lòng thương xót đến với dân ngoại. Nhưng về phía những người từ chối lời mời, thí dụ này cho thấy một sự sỉ nhục sâu sắc hơn và một hình phạt đáng sợ hơn. Lời mời dự tiệc là lời mời của một vị vua. Nó phát xuất từ một đấng được ban cho quyền truyền lệnh. Nó trao ban vinh dự cao quý. Tuy vậy vinh dự ấy không được trân trọng. Uy quyền của vua bị khinh dể. Trong khi lời mời của chủ nhà bị coi thường, thì lời mời của vua lại bị đáp lại bằng sự lăng mạ và giết chóc. Họ đối xử với các đầy tớ của vua bằng sự khinh miệt, ngược đãi và giết hại họ. COL 307.2

Chủ nhà, khi thấy lời mời của mình bị xem thường, đã tuyên bố rằng không một người nào trong số những người được mời sẽ được nếm bữa tiệc của ông. Nhưng đối với những kẻ đã lăng mạ vua, hình phạt được ấn định còn nặng hơn việc bị trục xuất khỏi sự hiện diện và bàn tiệc của vua. “Vua bèn sai quân lính diệt bọn sát nhơn đó, và đốt phá thành của chúng nó.” COL 307.3

Trong cả hai thí dụ, bữa tiệc đều có khách, nhưng thí dụ thứ hai cho thấy rằng có một sự chuẩn bị mà tất cả những ai dự tiệc đều phải thực hiện. Những ai xao lãng sự chuẩn bị này sẽ bị ném ra ngoài. “Vua vào xem khách dự tiệc,” và “chợt thấy một người không mặc áo lễ; thì phán cùng người rằng: Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ? Người đó làm thinh. Vua bèn truyền cho đầy tớ rằng: Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm, là nơi sẽ có khóc lóc và nghiến răng.” COL 308.1

Lời mời dự tiệc đã được các môn đồ của Đấng Christ rao truyền. Chúa chúng ta đã sai đi mười hai người và sau đó là bảy mươi người, công bố rằng nước Đức Chúa Trời đã đến gần, và kêu gọi loài người ăn năn và tin vào tin lành. Nhưng lời kêu gọi đã không được nghe theo. Những ai được mời dự tiệc đã không đến. Các đầy tớ được sai đi sau đó để nói rằng, “Nầy, ta đã dọn tiệc rồi, bò và thú béo đã giết rồi, mọi việc đã sẵn cả, hãy đến mà dự tiệc cưới.” Đây là sứ điệp mang đến cho dân Do Thái sau khi Đấng Christ bị đóng đinh; nhưng dân tộc tự xưng là dân đặc biệt của Đức Chúa Trời đã chối bỏ tin lành được đem đến cho họ trong quyền năng của Đức Thánh Linh. Nhiều người đã làm điều này với thái độ khinh bỉ nhất. Những người khác quá tức giận vì sự dâng hiến sự cứu rỗi, sự dâng hiến sự tha thứ cho việc chối bỏ Chúa vinh hiển, đến nỗi họ trở mặt chống lại những người truyền đạt sứ điệp. Có “sự bắt bớ dữ tợn.”

“Sau-lơ vốn ưng thuận về sự Ê-tiên bị giết. Trong lúc đó, Hội thánh ở thành Giê-ru-sa-lem gặp cơn bắt bớ dữ tợn; trừ ra các sứ đồ, còn hết thảy tín đồ đều phải chạy tan lạc trong các miền Giu-đê và xứ Sa-ma-ri.” (Công-vụ các Sứ-đồ 8:1)

Nhiều người cả nam lẫn nữ bị tống vào ngục, và một số sứ giả của Chúa, như Ê-tiên và Gia-cơ, đã bị giết. COL 308.2

Như thế, dân Do Thái đã đóng ấn sự chối bỏ lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Kết quả đã được Đấng Christ báo trước trong thí dụ. Vua “bèn sai quân lính diệt bọn sát nhơn đó, và đốt phá thành của chúng nó.” Sự phán xét được tuyên bố đã giáng xuống người Do Thái qua sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem và sự tản lạc của dân tộc. COL 308.3

Lời mời dự tiệc lần thứ ba tượng trưng cho việc đem tin lành đến với dân ngoại. Vua phán rằng, “Tiệc cưới đã dọn xong rồi, song những người được mời không xứng dự tiệc đó. Vậy, các ngươi hãy đi khắp các ngã tư, hễ gặp người nào thì mời cả đến dự tiệc.” COL 309.1

Các đầy tớ của vua đi ra các ngã tư “nhóm lại hết thảy những người họ gặp, bất luận dữ lành.” Đó là một đoàn người hỗn hợp. Một số người trong họ không thực sự quan tâm đến người chủ tiệc hơn những kẻ đã chối bỏ lời mời. Loại người được mời trước tiên cho rằng mình không thể hy sinh bất kỳ lợi lộc trần gian nào để dự tiệc của vua. Và trong số những người nhận lời mời, có một số người chỉ nghĩ đến lợi ích cho chính mình. Họ đến để hưởng phần của bữa tiệc, nhưng không có lòng ao ước tôn vinh vua. COL 309.2

Khi vua vào xem khách, phẩm hạnh thật sự của mỗi người đều được bày tỏ. Đối với mỗi khách dự tiệc đều đã có sẵn một chiếc áo lễ cưới. Chiếc áo này là quà tặng từ vua. Bằng việc mặc nó, các khách bày tỏ sự kính trọng đối với người chủ tiệc. Nhưng có một người ăn mặc trang phục thường ngày. Người ấy đã từ chối thực hiện sự chuẩn bị mà vua đòi hỏi. Chiếc áo đã được sắm cho người với giá đắt đỏ, người khinh dể không chịu mặc. Như thế người đã sỉ nhục chúa mình. Trước câu hỏi của vua, “Sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ?” người không thể trả lời gì cả. Người đã tự kết án chính mình. Rồi vua phán, “Hãy trói tay chơn nó lại, và quăng ra ngoài nơi tối tăm.” COL 309.3

Sự khám xét của vua đối với các khách dự tiệc tượng trưng cho công việc phán xét. Các khách dự tiệc tin lành là những người xưng nhận hầu việc Đức Chúa Trời, những người có tên được ghi trong sách sự sống. Nhưng không phải tất cả những ai xưng mình là Cơ-đốc nhân đều là các môn đồ thật. Trước khi phần thưởng cuối cùng được ban, phải quyết định ai xứng đáng chia sẻ cơ nghiệp của những người công bình. Quyết định này phải được thực hiện trước sự tái lâm của Đấng Christ trên mây trời; vì khi Ngài đến, phần thưởng của Ngài ở cùng Ngài, “đặng trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.”

“Nầy, ta đến mau chóng, và đem phần thưởng theo với ta, để trả cho mỗi người tùy theo công việc họ làm.” (Khải-huyền 22:12)

Vậy, trước khi Ngài đến, phẩm chất công việc của mỗi người sẽ được xác định, và đối với mỗi người theo Đấng Christ, phần thưởng sẽ được phân phát theo việc làm của người ấy. COL 310.1

Chính trong khi loài người còn đang ngự trên đất mà công việc phán xét tra xét đang diễn ra trong các tòa án trên trời. Đời sống của tất cả những người xưng nhận theo Ngài đều được xem xét trước mặt Đức Chúa Trời. Tất cả đều được xét theo ghi chép của các sách trên trời, và tùy theo việc làm của mình mà số phận của mỗi người đều được ấn định đời đời. COL 310.2

Bằng chiếc áo lễ cưới trong thí dụ được tượng trưng cho phẩm hạnh trong sạch, không tì vít mà những người theo Đấng Christ chân thật sẽ có. Hội thánh được ban cho “được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn,” “không vết, không nhăn, không chi giống như vậy.”

“đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ).” (Khải-huyền 19:8)

“đặng tỏ ra Hội thánh đầy vinh hiển, không vết, không nhăn, không chi giống như vậy, nhưng thánh sạch không chỗ trách được ở trước mặt Ngài.” (Ê-phê-sô 5:27)

Vải gai mịn, Kinh Thánh nói, “tức là công việc công bình của các thánh đồ.”

“đã cho người được mặc áo sáng láng tinh sạch bằng vải gai mịn (vải gai mịn tức là công việc công bình của các thánh đồ).” (Khải-huyền 19:8)

Đó là sự công bình của Đấng Christ, phẩm hạnh không tì vết của chính Ngài, mà qua đức tin được ban cho tất cả những ai tiếp nhận Ngài làm Đấng Cứu Thế cá nhân của mình. COL 310.3

Áo trắng của sự vô tội đã được tổ phụ đầu tiên của chúng ta mặc khi họ được Đức Chúa Trời đặt trong vườn Ê-đen thánh khiết. Họ sống trong sự phù hợp hoàn toàn với ý muốn của Đức Chúa Trời. Tất cả sức mạnh của tình thương yêu họ đều dành cho Cha thiên thượng. Một ánh sáng dịu dàng tuyệt đẹp, ánh sáng của Đức Chúa Trời, bao bọc cặp vợ chồng thánh khiết. Chiếc áo ánh sáng này là biểu tượng của y phục thuộc linh của sự vô tội thiên thượng. Nếu họ cứ trung tín với Đức Chúa Trời thì nó sẽ cứ mãi bao bọc họ. Nhưng khi tội lỗi bước vào, họ cắt đứt mối liên kết với Đức Chúa Trời, và ánh sáng bao quanh họ đã lìa khỏi. Trần truồng và xấu hổ, họ cố gắng thay thế y phục thiên thượng bằng cách may những lá vả lại với nhau làm áo che thân. COL 310.4

Đây là điều mà những kẻ vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời đã làm kể từ ngày A-đam và Ê-va không vâng phục. Họ đã may những lá vả lại với nhau để che đậy sự trần truồng gây ra bởi sự vi phạm. Họ đã mặc y phục do chính mình bày ra, bằng những việc làm của chính mình, họ đã cố gắng che đậy tội lỗi mình, và làm cho mình được chấp nhận trước mặt Đức Chúa Trời. COL 311.1

Nhưng điều này họ không bao giờ có thể làm được. Không có điều gì loài người có thể bày ra để thay thế chiếc áo vô tội đã mất của mình. Không một chiếc áo lá vả nào, không một trang phục thường ngày trần tục nào, có thể được mặc bởi những người ngồi chung với Đấng Christ và các thiên sứ tại tiệc cưới của Chiên Con. COL 311.2

Chỉ có chiếc áo mà chính Đấng Christ đã sắm sửa mới có thể làm cho chúng ta xứng đáng xuất hiện trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Chiếc áo này, áo của chính sự công bình của Ngài, Đấng Christ sẽ khoác lên mỗi linh hồn ăn năn, tin cậy. Ngài phán, “Ta khuyên ngươi hãy mua… áo trắng của ta, hầu cho ngươi có áo mặc, khỏi lộ sự xấu hổ mình ra.”

“Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được.” (Khải-huyền 3:18) COL 311.3

Chiếc áo này, được dệt trong khung cửi của thiên đàng, không có một sợi chỉ nào do con người chế tạo. Đấng Christ trong nhân tính của Ngài đã tạo nên một tánh nết hoàn hảo, và tánh nết này Ngài ban cho chúng ta.

“Chúng tôi hết thảy đã trở nên như vật ô uế, mọi việc công bình của chúng tôi như áo nhớp; chúng tôi thảy đều héo như lá, và tội ác chúng tôi như gió đùa mình đi.” (Ê-sai 64:6)

Mọi điều tự chúng ta làm được đều bị ô uế bởi tội lỗi. Nhưng Con Đức Chúa Trời “đã hiện ra để cất tội lỗi đi, và trong Ngài không có tội lỗi.” Tội lỗi được định nghĩa là “sự vi phạm luật pháp.”

“Vả, các con biết Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc đã hiện ra để cất tội lỗi đi, và biết trong Ngài không có tội lỗi. Còn ai phạm tội tức là trái luật pháp; và sự tội lỗi tức là sự trái luật pháp.” (I Giăng 3:5,4)

Nhưng Đấng Christ đã vâng phục mọi đòi hỏi của luật pháp. Ngài phán về chính mình:

“Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.” (Thi-thiên 40:8)

Khi ở trên đất, Ngài phán với các môn đồ:

“Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.” (Giăng 15:10)

Bởi sự vâng phục hoàn hảo của Ngài, Ngài đã làm cho mỗi con người có thể vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Khi chúng ta đầu phục Đấng Christ, tấm lòng được hiệp nhất với lòng Ngài, ý chí được hòa vào ý chí Ngài, tâm trí trở nên một với tâm trí Ngài, các tư tưởng bị bắt phục Ngài; chúng ta sống cuộc đời của Ngài. Đây chính là ý nghĩa của việc được mặc chiếc áo công bình của Ngài. Rồi khi Chúa nhìn chúng ta, Ngài không thấy chiếc áo bằng lá vả, không thấy sự trần truồng và méo mó của tội lỗi, nhưng thấy chiếc áo công bình của chính Ngài, đó là sự vâng phục hoàn hảo đối với luật pháp của Đức Giê-hô-va. COL 311.4

Các khách dự tiệc cưới đều được vua kiểm tra. Chỉ những người đã vâng theo các yêu cầu của vua và mặc áo lễ cưới mới được chấp nhận. Các khách dự tiệc tin lành cũng vậy. Tất cả đều phải trải qua sự xem xét kỹ lưỡng của Vua vĩ đại, và chỉ những người đã mặc chiếc áo công bình của Đấng Christ mới được tiếp nhận. COL 312.1

Sự công bình là làm điều đúng, và tất cả sẽ được phán xét bởi việc làm của mình. Tánh nết của chúng ta được tỏ bày qua điều chúng ta làm. Việc làm cho thấy đức tin có chân thật hay không. COL 312.2

Chỉ tin rằng Đức Chúa Giê-su không phải là kẻ mạo danh, và đạo của Kinh Thánh không phải là một câu chuyện hoang đường khéo đặt ra, là chưa đủ đối với chúng ta. Chúng ta có thể tin rằng danh Đức Chúa Giê-su là danh duy nhất ở dưới trời ban cho loài người để được cứu, nhưng chúng ta vẫn có thể không bởi đức tin khiến Ngài trở nên Đấng Cứu Thế cá nhân của mình. Tin vào lý thuyết của lẽ thật là chưa đủ. Tuyên xưng đức tin nơi Đấng Christ và ghi tên mình vào sổ hội thánh cũng chưa đủ.

“Ai vâng giữ các điều răn Ngài thì ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy; chúng ta biết Ngài ở trong lòng chúng ta, là nhờ Đức Thánh Linh mà Ngài đã ban cho chúng ta.” (I Giăng 3:24)

“Nầy tại sao chúng ta biết mình đã biết Ngài, ấy là tại chúng ta giữ các điều răn của Ngài.” (I Giăng 2:3)

Đây là bằng chứng chân thật của sự cải đạo. Dù chúng ta tuyên xưng điều gì, cũng chẳng có giá trị gì nếu Đấng Christ không được tỏ bày qua các việc làm công bình. COL 312.3

Lẽ thật phải được gieo vào lòng. Nó phải kiểm soát tâm trí và điều chỉnh tình cảm. Toàn bộ tánh nết phải được đóng dấu bằng những lời phán của Đức Chúa Trời. Mỗi chấm, mỗi nét của Lời Đức Chúa Trời phải được đem vào thực hành hằng ngày. COL 314.1

Người trở nên người dự phần vào bản tánh thiêng liêng sẽ hòa hợp với tiêu chuẩn công bình lớn lao của Đức Chúa Trời, tức là luật pháp thánh của Ngài. Đây là thước đo mà Đức Chúa Trời dùng để đo lường hành động của loài người. Đây sẽ là phép thử cho tánh nết trong ngày phán xét. COL 314.2

Có nhiều người cho rằng luật pháp đã bị hủy bỏ bởi sự chết của Đấng Christ; nhưng họ đã mâu thuẫn với chính lời của Đấng Christ:

“Các ngươi đừng tưởng ta đến đặng phá luật pháp hay là lời tiên tri; ta đến, không phải để phá, song để làm cho trọn. Vì ta nói thật cùng các ngươi, đương khi trời đất chưa qua đi, thì một chấm một nét trong luật pháp cũng không qua đi được cho đến khi mọi sự được trọn.” (Ma-thi-ơ 5:17-18)

Đấng Christ đã phó mạng sống mình là để chuộc tội vi phạm luật pháp của loài người. Nếu luật pháp có thể được thay đổi hoặc bãi bỏ, thì Đấng Christ đã chẳng cần phải chết. Bằng cuộc đời Ngài trên đất, Ngài đã tôn trọng luật pháp Đức Chúa Trời. Bằng sự chết của Ngài, Ngài đã thiết lập luật pháp ấy. Ngài đã phó mạng sống mình làm của lễ, không phải để hủy bỏ luật pháp Đức Chúa Trời, không phải để tạo nên một tiêu chuẩn thấp hơn, nhưng để duy trì công lý, để tỏ ra rằng luật pháp là bất biến, để luật pháp tồn tại vững bền mãi mãi. COL 314.3

Sa-tan đã tuyên bố rằng con người không thể vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời; và thật vậy, bởi sức riêng mình chúng ta không thể vâng giữ được. Nhưng Đấng Christ đã đến trong hình dạng của nhân tính, và bởi sự vâng phục hoàn hảo của Ngài, Ngài đã chứng minh rằng nhân tính kết hợp với thần tính có thể vâng giữ từng mạng lệnh của Đức Chúa Trời. COL 314.4

“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,” (Giăng 1:12)

Quyền năng này không ở trong con người. Đó là quyền năng của Đức Chúa Trời. Khi một linh hồn tiếp nhận Đấng Christ, người ấy nhận được quyền năng để sống cuộc đời của Đấng Christ. COL 314.5

Đức Chúa Trời đòi hỏi sự trọn vẹn nơi con cái Ngài. Luật pháp của Ngài là bản sao tánh nết của chính Ngài, và là tiêu chuẩn của mọi tánh nết. Tiêu chuẩn vô hạn này được trình bày cho tất cả để không có sự nhầm lẫn nào về loại người mà Đức Chúa Trời muốn dùng để hợp thành nước Ngài. Cuộc đời của Đấng Christ trên đất là sự biểu lộ hoàn hảo của luật pháp Đức Chúa Trời, và khi những ai xưng mình là con cái Đức Chúa Trời trở nên giống Đấng Christ trong tánh nết, họ sẽ vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. Khi ấy Chúa có thể tin cậy họ để họ thuộc về số người hợp thành gia đình thiên đàng. Được mặc chiếc áo vinh hiển của sự công bình của Đấng Christ, họ có một chỗ trong bữa tiệc của Vua. Họ có quyền gia nhập đoàn dân đông đã được rửa sạch bằng huyết. COL 315.1

Người đến dự tiệc mà không mặc áo lễ cưới tiêu biểu cho tình trạng của nhiều người trong thế giới chúng ta ngày nay. Họ xưng mình là Cơ-đốc nhân, và đòi hỏi những ơn phước cùng đặc ân của tin lành; thế nhưng họ không cảm thấy cần có sự biến đổi tánh nết. Họ chưa bao giờ cảm thấy sự ăn năn thật sự vì tội lỗi. Họ không nhận biết nhu cầu cần có Đấng Christ hay thực hành đức tin nơi Ngài. Họ chưa chiến thắng những khuynh hướng làm điều sai, dù do di truyền hay do tập nhiễm. Thế nhưng họ tưởng mình tự mình đã đủ tốt rồi, và họ dựa vào công đức riêng của mình thay vì tin cậy Đấng Christ. Là những người nghe lời, họ đến dự tiệc, nhưng họ chưa mặc chiếc áo công bình của Đấng Christ. COL 315.2

Nhiều người tự xưng là Cơ-đốc nhân chỉ đơn thuần là những nhà đạo đức thuần túy của loài người. Họ đã từ chối ân tứ duy nhất có thể giúp họ tôn vinh Đấng Christ bằng cách đại diện cho Ngài trước thế gian. Công việc của Đức Thánh Linh đối với họ là một công việc lạ lùng. Họ không phải là người làm theo Lời. Những nguyên tắc thiên thượng phân biệt những người hiệp một với Đấng Christ khỏi những người hiệp một với thế gian đã trở nên gần như không thể phân biệt được. Những người được cho là môn đồ của Đấng Christ không còn là một dân biệt riêng và đặc biệt nữa. Ranh giới phân cách đã mờ nhạt. Dân chúng đang tự hạ mình xuống theo thế gian, theo các thực hành, các phong tục, và sự ích kỷ của nó. Hội thánh đã ngả về thế gian trong việc vi phạm luật pháp, trong khi thế gian đáng lẽ phải ngả về hội thánh trong sự vâng phục luật pháp. Hằng ngày hội thánh đang bị biến đổi để trở nên giống thế gian. COL 315.3

Tất cả những người này mong được cứu bởi sự chết của Đấng Christ, trong khi họ từ chối sống cuộc đời hy sinh của Ngài. Họ đề cao sự phong phú của ân điển nhưng không, và cố phủ lên mình một vẻ ngoài công bình, hy vọng che giấu những khiếm khuyết trong tánh nết của mình; nhưng những nỗ lực của họ sẽ chẳng có giá trị gì trong ngày của Đức Chúa Trời. COL 316.1

Sự công bình của Đấng Christ sẽ không che đậy một tội lỗi nào được ấp ủ. Một người có thể là kẻ phá luật trong lòng; nhưng nếu người ấy không làm ra hành động vi phạm nào bên ngoài, người ấy có thể được thế gian xem là có sự chính trực lớn lao. Nhưng luật pháp của Đức Chúa Trời xem xét những bí mật của tấm lòng. Mỗi hành động được phán xét bởi những động cơ thúc đẩy nó. Chỉ những gì phù hợp với các nguyên tắc của luật pháp Đức Chúa Trời mới đứng vững được trong ngày phán xét. COL 316.2

Đức Chúa Trời là tình yêu thương. Ngài đã bày tỏ tình yêu thương ấy qua sự ban cho Đấng Christ. Khi “Ngài đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời,” Ngài đã không giữ lại điều gì cho cơ nghiệp mà Ngài đã chuộc mua.

“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)

Ngài đã ban cả thiên đàng, từ nơi đó chúng ta có thể rút lấy sức mạnh và năng lực, để chúng ta không bị đẩy lui hay bị khuất phục bởi kẻ thù lớn của chúng ta. Nhưng tình yêu thương của Đức Chúa Trời không khiến Ngài dung thứ tội lỗi. Ngài đã không dung thứ tội lỗi nơi Sa-tan; Ngài đã không dung thứ tội lỗi nơi A-đam hay Ca-in; Ngài cũng sẽ không dung thứ tội lỗi nơi bất cứ ai khác trong con cái loài người. Ngài sẽ không nhắm mắt trước tội lỗi của chúng ta hay bỏ qua những khuyết điểm trong tính cách của chúng ta. Ngài trông đợi chúng ta đắc thắng trong danh Ngài. COL 316.3

Những ai chối bỏ món quà về sự công bình của Đấng Christ là chối bỏ những phẩm chất của tính cách có thể khiến họ trở thành các con trai và con gái của Đức Chúa Trời. Họ đang chối bỏ điều duy nhất có thể khiến họ xứng đáng dự phần trong tiệc cưới. COL 316.4

Trong câu chuyện ngụ ngôn, khi vua hỏi: “Hỡi bạn, sao ngươi vào đây mà không mặc áo lễ?” thì người ấy câm miệng không nói được. Trong ngày phán xét lớn cũng sẽ như vậy. Giờ đây loài người có thể bào chữa cho những khuyết điểm trong tính cách của mình, nhưng đến ngày ấy họ sẽ không đưa ra được lời bào chữa nào. COL 317.1

Những hội thánh xưng mình thuộc về Đấng Christ trong thế hệ này được nâng lên những đặc quyền cao cả nhất. Chúa đã được bày tỏ cho chúng ta trong ánh sáng ngày càng tăng thêm. Các đặc quyền của chúng ta lớn hơn nhiều so với các đặc quyền của dân sự Đức Chúa Trời thời xưa. Chúng ta không chỉ có ánh sáng lớn được phó thác cho Y-sơ-ra-ên, mà còn có thêm bằng chứng lớn hơn về sự cứu rỗi vĩ đại đã được đem đến cho chúng ta qua Đấng Christ. Điều mà đối với người Do Thái chỉ là hình bóng và biểu tượng thì đối với chúng ta là thực tại. Họ có lịch sử Cựu Ước; chúng ta có cả Cựu Ước lẫn Tân Ước. Chúng ta có sự bảo đảm về một Đấng Cứu Thế đã đến, một Đấng Cứu Thế đã bị đóng đinh, đã sống lại, và từ ngôi mộ đã mở toang của Giô-sép, Ngài đã tuyên bố: “Ta là sự sống lại và sự sống.” Trong sự hiểu biết của chúng ta về Đấng Christ và tình yêu thương của Ngài, nước Đức Chúa Trời được đặt ở giữa chúng ta. Đấng Christ được bày tỏ cho chúng ta qua các bài giảng và được tôn vinh cho chúng ta qua các bài thánh ca. Bữa tiệc thuộc linh được bày ra trước mặt chúng ta cách dư dật. Chiếc áo lễ, được sắm sửa với giá vô cùng đắt, được ban cho tự do cho mỗi linh hồn. Qua các sứ giả của Đức Chúa Trời, chúng ta được giới thiệu về sự công bình của Đấng Christ, sự xưng công bình bởi đức tin, những lời hứa rất lớn và rất quý báu trong Lời của Đức Chúa Trời, sự tự do đến gần Đức Chúa Cha nhờ Đấng Christ, sự an ủi của Đức Thánh Linh, sự bảo đảm vững chắc về sự sống đời đời trong nước Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời còn có thể làm gì cho chúng ta mà Ngài chưa làm trong việc chuẩn bị bữa tiệc lớn, bữa tiệc trên trời? COL 317.2

Trên thiên đàng, các thiên sứ phục vụ thưa rằng: Công việc mà chúng con được ủy thác thi hành, chúng con đã làm xong. Chúng con đã đẩy lui đạo quân các thiên sứ ác. Chúng con đã gửi sự sáng láng và ánh sáng vào linh hồn loài người, làm sống lại trí nhớ của họ về tình yêu thương của Đức Chúa Trời được bày tỏ qua Đức Chúa Giê-su. Chúng con đã thu hút mắt họ hướng về thập tự giá của Đấng Christ. Lòng họ đã xúc động sâu xa bởi ý thức về tội lỗi đã đóng đinh Con Đức Chúa Trời. Họ đã bị cáo trách. Họ đã thấy những bước cần phải tiến hành trong sự hoán cải; họ cảm nhận được quyền năng của tin lành; lòng họ được mềm mại khi họ thấy sự ngọt ngào của tình yêu thương Đức Chúa Trời. Họ đã chiêm ngưỡng vẻ đẹp của tính cách Đấng Christ. Nhưng đối với đa số, tất cả đều vô ích. Họ không chịu từ bỏ thói quen và tính cách của mình. Họ không chịu cởi bỏ chiếc áo của trần gian để được mặc lấy chiếc áo của thiên đàng. Lòng họ bị buộc chặt vào sự tham lam. Họ yêu mến các mối liên kết với thế gian hơn là yêu mến Đức Chúa Trời của họ. COL 318.1

Ngày quyết định cuối cùng sẽ là một ngày trọng đại. Trong khải tượng tiên tri, sứ đồ Giăng mô tả ngày ấy: “Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.”

“Bấy giờ tôi thấy một tòa lớn và trắng cùng Đấng đương ngồi ở trên; trước mặt Ngài trời đất đều trốn hết, chẳng còn thấy chỗ nào cho nó nữa. Tôi thấy những kẻ chết, cả lớn và nhỏ, đứng trước tòa, và các sách thì mở ra. Cũng có mở một quyển sách khác nữa, là sách sự sống; những kẻ chết bị xử đoán tùy công việc mình làm, cứ như lời đã biên trong những sách ấy.” (Khải-huyền 20:11-12) COL 318.2

Sẽ thật đáng buồn khi nhìn lại trong ngày ấy, lúc con người đối diện với cõi đời đời. Toàn bộ cuộc đời sẽ hiện ra đúng như nó đã từng. Những thú vui, của cải, và danh vọng của thế gian bấy giờ sẽ không còn có vẻ quan trọng như vậy nữa. Bấy giờ loài người sẽ thấy rằng sự công bình mà họ đã khinh dể là điều duy nhất có giá trị. Họ sẽ thấy rằng họ đã rèn đúc tính cách của mình dưới những sự cám dỗ lừa dối của Sa-tan. Chiếc áo mà họ đã chọn là dấu hiệu trung thành của họ với kẻ đầu tiên đã bội nghịch. Bấy giờ họ sẽ thấy hậu quả của sự lựa chọn của mình. Họ sẽ hiểu được ý nghĩa của việc vi phạm các điều răn của Đức Chúa Trời. COL 318.3

Sẽ không có thời kỳ ân điển nào trong tương lai để chuẩn bị cho cõi đời đời. Chính trong cuộc đời này chúng ta phải mặc lấy chiếc áo công bình của Đấng Christ. Đây là cơ hội duy nhất của chúng ta để hình thành tính cách cho ngôi nhà mà Đấng Christ đã sắm sẵn cho những ai vâng giữ các điều răn của Ngài. COL 319.1

Những ngày của thời kỳ ân điển của chúng ta đang nhanh chóng khép lại. Sự cuối cùng đã gần. Lời cảnh báo được ban cho chúng ta: “Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa.”

“Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời này làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa;” (Lu-ca 21:34)

Hãy coi chừng kẻo ngày ấy đến mà các ngươi chưa sẵn sàng. Hãy cẩn thận kẻo các ngươi bị thấy đang dự tiệc của Vua mà không mặc áo lễ. COL 319.2

“Trong giờ các ngươi không ngờ, thì Con người sẽ đến.” “Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình!”

“Vậy thì các ngươi cũng hãy chực cho sẵn, vì Con người sẽ đến trong giờ các ngươi không ngờ.” (Ma-thi-ơ 24:44)

“Kìa, ta đến như kẻ trộm. Phước cho kẻ tỉnh thức và giữ gìn áo xống mình, đặng khỏi đi lõa lồ và người ta không thấy sự xấu hổ mình! —” (Khải-huyền 16:15) COL 319.3