Nói và Làm
Chương này dựa trên
“Đức Chúa Giê-su vào đền thờ rồi, đương giảng đạo, có các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đến mà hỏi rằng: Bởi quyền phép nào mà thầy làm những sự này, và ai đã cho thầy quyền phép ấy? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Ta cũng sẽ hỏi các ngươi một điều; nếu trả lời được, thì ta cũng sẽ nói cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta đã làm những việc đó. Phép báp-têm của Giăng bởi đâu? Bởi trên trời hay là bởi người ta? Vả, họ bàn riêng với nhau như vầy: Nếu chúng ta đáp rằng: Bởi trên trời, thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người ấy? Còn nếu đáp rằng: Bởi người ta, thì chúng ta sợ thiên hạ, vì thiên hạ đều cho Giăng là đấng tiên tri. Vậy, họ trả lời Đức Chúa Giê-su rằng: Chúng tôi không biết. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ta cũng không bảo cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta làm những điều này. Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai đứa con trai; nói cùng đứa thứ nhứt, mà rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn nho. Đứa ấy thưa rằng: Vâng; rồi không đi. Đoạn, người cha đi đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Đứa này thưa rằng: Tôi không muốn đi. Nhưng sau ăn năn, rồi đi. Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Đứa thứ hai. Đức Chúa Giê-su phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi. Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.” (Ma-thi-ơ 21:23-32)
“Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai đứa con trai; nói cùng đứa thứ nhứt, mà rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn nho. Đứa ấy thưa rằng: Vâng; rồi không đi. Đoạn, người cha đi đến đứa thứ hai, cũng bảo như vậy. Đứa này thưa rằng: Tôi không muốn đi. Nhưng sau ăn năn, rồi đi. Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Đứa thứ hai. Đức Chúa Giê-su phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi.” (Ma-thi-ơ 21:28-31) COL 272.1
Trong Bài Giảng Trên Núi, Đấng Christ phán:
“Chẳng phải hễ những kẻ nói cùng ta rằng: Lạy Chúa, lạy Chúa, thì đều được vào nước thiên đàng đâu; nhưng chỉ kẻ làm theo ý muốn của Cha ta ở trên trời mà thôi.” (Ma-thi-ơ 7:21)
Thử nghiệm của sự chân thành không nằm ở lời nói, mà ở hành động. Đấng Christ không phán với ai rằng: Các ngươi nói gì hơn kẻ khác? nhưng Ngài phán:
“Lại nếu các ngươi tiếp đãi anh em mình mà thôi, thì có lạ gì hơn ai? Người ngoại há chẳng làm như vậy sao?” (Ma-thi-ơ 5:47)
Lời Ngài đầy ý nghĩa:
“Ví bằng các ngươi biết những sự này, thì có phước, miễn là các ngươi làm theo.” (Giăng 13:17)
Lời nói không có giá trị gì nếu không đi kèm với những hành động tương xứng. Đây là bài học được dạy trong dụ ngôn về hai người con. COL 272.2
Dụ ngôn này đã được phán ra trong lần thăm Giê-ru-sa-lem cuối cùng của Đấng Christ trước khi Ngài chịu chết. Ngài đã đuổi những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ. Tiếng Ngài đã phán vào lòng họ với quyền năng của Đức Chúa Trời. Kinh ngạc và khiếp sợ, họ đã vâng theo mệnh lệnh của Ngài mà không cần bào chữa hay chống cự. COL 272.3
Khi sự khiếp sợ của họ đã dịu bớt, các thầy tế lễ và các trưởng lão trở lại đền thờ, thấy Đấng Christ đang chữa lành người bệnh và người hấp hối. Họ đã nghe tiếng vui mừng và bài ca ngợi khen. Ngay trong đền thờ, những đứa trẻ đã được phục hồi sức khỏe đang vẫy những nhành lá chà là và hát hô-sa-na cho Con vua Đa-vít. Tiếng trẻ thơ đang bập bẹ ngợi khen Đấng Chữa Bệnh Toàn Năng. Thế mà đối với các thầy tế lễ và các trưởng lão, tất cả những điều này vẫn không đủ để chế ngự định kiến và lòng ghen ghét của họ. COL 273.1
Ngày hôm sau, khi Đấng Christ đang dạy dỗ trong đền thờ, các thầy tế lễ cả và các trưởng lão của dân sự đến cùng Ngài và nói:
“Đức Chúa Giê-su vào đền thờ rồi, đương giảng đạo, có các thầy tế lễ cả và các trưởng lão trong dân đến mà hỏi rằng: Bởi quyền phép nào mà thầy làm những sự này, và ai đã cho thầy quyền phép ấy?” (Ma-thi-ơ 21:23) COL 273.2
Các thầy tế lễ và các trưởng lão đã có bằng chứng không thể chối cãi về quyền năng của Đấng Christ. Trong việc Ngài thanh tẩy đền thờ, họ đã thấy thẩm quyền của Thiên đàng lóe ra từ gương mặt Ngài. Họ không thể chống lại quyền năng mà Ngài dùng để phán truyền. Một lần nữa, qua những việc chữa bệnh kỳ diệu của Ngài, Ngài đã trả lời câu hỏi của họ. Ngài đã đưa ra bằng chứng về thẩm quyền của Ngài mà không thể tranh cãi được. Nhưng bằng chứng không phải là điều họ muốn. Các thầy tế lễ và các trưởng lão háo hức mong Đức Chúa Giê-su tự tuyên bố mình là Đấng Mê-si để họ có thể xuyên tạc lời Ngài và kích động dân chúng chống lại Ngài. Họ muốn hủy hoại ảnh hưởng của Ngài và giết Ngài. COL 273.3
Đức Chúa Giê-su biết rằng nếu họ không thể nhận ra Đức Chúa Trời trong Ngài hoặc thấy trong các công việc của Ngài bằng chứng về đặc tính thiêng liêng của Ngài, thì họ sẽ không tin lời chứng của chính Ngài rằng Ngài là Đấng Christ. Trong câu trả lời của mình, Ngài né tránh vấn đề mà họ hy vọng tạo ra và chuyển sự lên án về phía chính họ. Ngài phán:
“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Ta cũng sẽ hỏi các ngươi một điều; nếu trả lời được, thì ta cũng sẽ nói cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta đã làm những việc đó. Phép báp-têm của Giăng bởi đâu? Bởi trên trời hay là bởi người ta? Vả, họ bàn riêng với nhau như vầy: Nếu chúng ta đáp rằng: Bởi trên trời, thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người ấy?” (Ma-thi-ơ 21:24-25) COL 273.4
Các thầy tế lễ và những người cai trị bối rối.
“Phép báp-têm của Giăng bởi đâu? Bởi trên trời hay là bởi người ta? Vả, họ bàn riêng với nhau như vầy: Nếu chúng ta đáp rằng: Bởi trên trời, thì người sẽ nói với ta rằng: Vậy sao không tin lời người ấy? Còn nếu đáp rằng: Bởi người ta, thì chúng ta sợ thiên hạ, vì thiên hạ đều cho Giăng là đấng tiên tri. Vậy, họ trả lời Đức Chúa Giê-su rằng: Chúng tôi không biết. Ngài bèn phán cùng họ rằng: Ta cũng không bảo cho các ngươi bởi quyền phép nào mà ta làm những điều này.” (Ma-thi-ơ 21:25-27) COL 274.1
“Chúng tôi không biết.” Câu trả lời này là một lời nói dối. Nhưng các thầy tế lễ thấy tình thế của mình, nên đã nói dối để tự che chắn. Giăng Báp-tít đã đến để làm chứng về Đấng mà bây giờ họ đang chất vấn thẩm quyền của Ngài. Ông đã chỉ về Ngài mà nói:
“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)
Ông đã làm báp-têm cho Ngài, và sau khi Ngài chịu báp-têm, đang khi Đấng Christ cầu nguyện, các tầng trời mở ra, và Thánh Linh của Đức Chúa Trời như chim bồ câu ngự trên Ngài, trong khi có tiếng từ trời phán:
“Tức thì có tiếng từ trên trời phán rằng: Nầy là Con yêu dấu của ta, đẹp lòng ta mọi đàng.” (Ma-thi-ơ 3:17) COL 274.2
Nhớ lại việc Giăng đã lặp lại các lời tiên tri về Đấng Mê-si, nhớ lại cảnh báp-têm của Đức Chúa Giê-su, các thầy tế lễ và những người cai trị không dám nói rằng báp-têm của Giăng là từ trời. Nếu họ thừa nhận Giăng là một tiên tri, như họ vẫn tin, thì làm sao họ có thể phủ nhận lời chứng của ông rằng Đức Chúa Giê-su ở Na-xa-rét là Con Đức Chúa Trời? Và họ cũng không thể nói rằng báp-têm của Giăng là bởi loài người, vì sợ dân chúng vốn tin Giăng là một tiên tri. Vì vậy, họ nói: “Chúng tôi không biết.” COL 274.3
Rồi Đấng Christ phán dụ ngôn về người cha và hai con trai. Khi người cha đến cùng đứa con thứ nhất nói rằng: “Con ơi, ngày nay hãy đi làm vườn nho,” thì người con liền đáp: “Con không đi.” Anh ta từ chối vâng lời và buông mình vào những đường lối và bạn bè xấu xa. Nhưng sau đó anh ta ăn năn và vâng theo lời kêu gọi. COL 274.4
Người cha đến với đứa con thứ hai với cùng mệnh lệnh: “Ngày nay hãy đi làm vườn nho.” Người con này đáp: “Thưa cha, vâng,” nhưng lại không đi. COL 275.1
Trong dụ ngôn này, người cha tượng trưng cho Đức Chúa Trời, vườn nho tượng trưng cho hội thánh. Hai người con tượng trưng cho hai hạng người. Người con từ chối vâng lệnh, nói: “Con không đi,” tượng trưng cho những kẻ đang sống trong sự phạm pháp công khai, không xưng nhận lòng đạo đức, công khai từ chối mang lấy ách kiềm chế và vâng lời mà luật pháp Đức Chúa Trời đòi hỏi. Nhưng nhiều người trong số này sau đó đã ăn năn và vâng theo lời kêu gọi của Đức Chúa Trời. Khi tin lành đến với họ qua sứ điệp của Giăng Báp-tít:
“rằng: Các ngươi phải ăn năn, vì nước thiên đàng đã đến gần!” (Ma-thi-ơ 3:2)
họ đã ăn năn và xưng tội lỗi mình. COL 275.2
Trong người con nói: “Thưa cha, vâng,” nhưng lại không đi, đặc tính của người Pha-ri-si được bày tỏ. Giống như người con này, các nhà lãnh đạo Do Thái không ăn năn và tự cao. Đời sống tôn giáo của dân tộc Do Thái đã trở thành giả hình. Khi luật pháp được công bố trên núi Si-nai bởi tiếng của Đức Chúa Trời, toàn dân cam kết sẽ vâng lời. Họ nói: “Thưa cha, vâng,” nhưng họ lại không đi. Khi Đấng Christ đích thân đến để đặt ra trước mắt họ các nguyên tắc của luật pháp, họ đã khước từ Ngài. Đấng Christ đã cho các nhà lãnh đạo Do Thái thời Ngài nhiều bằng chứng về thẩm quyền và quyền năng thiêng liêng của Ngài, nhưng mặc dù được thuyết phục, họ vẫn không chịu chấp nhận bằng chứng đó. Đấng Christ đã chỉ cho họ thấy rằng họ tiếp tục không tin vì họ không có tinh thần dẫn đến sự vâng lời. Ngài đã tuyên bố với họ:
“Như vậy, các ngươi đã vì lời truyền khẩu mình mà bỏ lời Đức Chúa Trời. Sự chúng nó thờ lạy ta là vô ích, Vì chúng nó dạy theo những điều răn mà chỉ bởi người ta đặt ra.” (Ma-thi-ơ 15:6,9) COL 276.1
Trong đám đông trước mặt Đấng Christ có các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, các thầy tế lễ và những người cai trị, và sau khi đưa ra dụ ngôn về hai người con, Đấng Christ hỏi những người nghe Ngài: “Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha?” Quên mất bản thân, người Pha-ri-si đáp: “Đứa thứ nhất.” Họ đã nói vậy mà không nhận ra rằng mình đang tuyên án chính mình. Rồi từ môi Đấng Christ rơi ra lời khiển trách:
“Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha? Họ đáp rằng: Đứa thứ hai. Đức Chúa Giê-su phán cùng họ rằng: Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi. Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin, còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.” (Ma-thi-ơ 21:31-32) COL 276.2
Giăng Báp-tít đến rao giảng lẽ thật, và qua sự rao giảng của ông, những kẻ có tội được thức tỉnh và cải đạo. Những người này sẽ vào nước thiên đàng trước những kẻ trong sự tự công bình đã chống lại lời cảnh báo nghiêm trọng. Những kẻ thâu thuế và những kỵ nữ là dốt nát, nhưng những người có học thức này lại biết đường lối của lẽ thật. Thế mà họ từ chối bước đi trên con đường dẫn đến Thiên đàng của Đức Chúa Trời. Lẽ thật đáng lẽ phải là mùi thơm của sự sống đem đến sự sống cho họ thì đã trở thành mùi của sự chết đem đến sự chết. Những kẻ tội lỗi công khai tự ghê tởm mình đã nhận báp-têm từ tay Giăng; nhưng những người dạy đạo này lại là những kẻ giả hình. Chính lòng cứng cỏi của họ là trở ngại khiến họ không tiếp nhận lẽ thật. Họ chống lại sự thuyết phục của Đức Thánh Linh. Họ từ chối vâng theo các điều răn của Đức Chúa Trời. COL 277.1
Đấng Christ không nói với họ rằng: Các ngươi không thể vào nước thiên đàng; nhưng Ngài chỉ ra rằng chướng ngại ngăn họ vào nước ấy là do chính họ tạo nên. Cánh cửa vẫn còn mở cho các nhà lãnh đạo Do Thái này; lời mời gọi vẫn còn được đưa ra. Đấng Christ khao khát thấy họ được thức tỉnh và hoán cải. COL 277.2
Các thầy tế lễ và các trưởng lão Y-sơ-ra-ên dành trọn đời mình cho các nghi lễ tôn giáo, mà họ xem là quá thánh khiết để có thể liên kết với việc đời. Vì vậy, đời sống của họ được cho là hoàn toàn mang tính tôn giáo. Nhưng họ thực hiện các nghi lễ để được người ta thấy, hầu được thế gian xem là sùng đạo và tận tâm. Trong khi tuyên xưng vâng phục, họ lại từ chối vâng lời Đức Chúa Trời. Họ không thực hành lẽ thật mà họ tuyên xưng giảng dạy. COL 278.1
Đấng Christ tuyên bố Giăng Báp-tít là một trong những vị tiên tri vĩ đại nhất, và Ngài chỉ cho người nghe thấy rằng họ đã có đủ bằng chứng cho thấy Giăng là sứ giả từ Đức Chúa Trời. Lời của nhà giảng đạo trong đồng vắng đầy quyền năng. Ông rao truyền sứ điệp của mình một cách kiên định, quở trách tội lỗi của các thầy tế lễ và các nhà cai trị, và truyền cho họ những công việc của nước thiên đàng. Ông chỉ cho họ thấy sự xem thường tội lỗi của họ đối với uy quyền của Cha mình khi từ chối làm công việc đã được giao phó. Ông không thỏa hiệp với tội lỗi, và nhiều người đã quay khỏi sự bất chánh của mình. COL 278.2
Nếu sự tuyên xưng của các nhà lãnh đạo Do Thái là chân thật, hẳn họ đã tiếp nhận lời chứng của Giăng và chấp nhận Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si. Nhưng họ không bày tỏ những trái của sự ăn năn và sự công bình. Chính những kẻ mà họ khinh dể lại đang chen vào nước Đức Chúa Trời trước họ. COL 278.3
Trong câu chuyện ngụ ngôn, người con nói “Tôi đi, thưa cha”, tự cho mình là trung tín và vâng phục; nhưng thời gian đã chứng tỏ rằng lời tuyên xưng của anh ta không chân thật. Anh ta không có tình yêu chân thật đối với cha mình. Cũng vậy, người Pha-ri-si tự hào về sự thánh thiện của mình, nhưng khi bị thử nghiệm, nó được thấy là thiếu sót. Khi điều đó có lợi cho mình, họ đặt ra những đòi hỏi của luật pháp rất nghiêm ngặt; nhưng khi sự vâng phục được đòi hỏi từ chính họ, bằng những lý lẽ ngụy biện khôn khéo, họ lý luận để gạt bỏ hiệu lực của các điều răn của Đức Chúa Trời. Đấng Christ tuyên bố về họ rằng:
“Vậy, hãy làm và giữ theo mọi điều họ đã bảo các ngươi; nhưng đừng bắt chước việc làm của họ, vì họ nói mà không làm.” (Ma-thi-ơ 23:3)
Họ không có tình yêu chân thật đối với Đức Chúa Trời hay loài người. Đức Chúa Trời kêu gọi họ làm bạn cùng làm việc với Ngài để ban phước cho thế gian; nhưng trong khi tuyên xưng chấp nhận lời kêu gọi, trong hành động họ lại từ chối vâng phục. Họ tin cậy vào bản thân, và tự hào về sự tốt lành của mình; nhưng họ thách thức các mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Họ từ chối làm công việc mà Đức Chúa Trời đã giao phó cho họ, và vì sự vi phạm của họ, Chúa sắp sửa lìa bỏ dân tộc bất tuân ấy. COL 278.4
Sự tự xưng công bình không phải là sự công bình thật, và những ai bám víu vào nó sẽ bị bỏ mặc để gánh lấy hậu quả của việc giữ một sự lừa dối chết người. Ngày nay nhiều người tuyên xưng vâng giữ các điều răn của Đức Chúa Trời, nhưng họ không có tình yêu của Đức Chúa Trời trong lòng để tuôn chảy đến người khác. Đấng Christ kêu gọi họ liên kết với Ngài trong công việc cứu rỗi thế gian, nhưng họ tự bằng lòng với việc nói: “Tôi đi, thưa cha”. Họ không đi. Họ không hợp tác với những người đang phục vụ Đức Chúa Trời. Họ là những kẻ biếng nhác. Giống như người con bất trung, họ đưa ra những lời hứa giả dối với Đức Chúa Trời. Khi nhận lấy giao ước trang trọng của hội thánh, họ đã cam kết tiếp nhận và vâng theo lời Đức Chúa Trời, hiến thân cho sự phục vụ Đức Chúa Trời, nhưng họ không làm điều này. Trong sự tuyên xưng, họ tự nhận là con cái Đức Chúa Trời, nhưng trong đời sống và phẩm hạnh, họ chối bỏ mối liên hệ ấy. Họ không quy phục ý chí mình cho Đức Chúa Trời. Họ đang sống một đời sống dối trá. COL 279.1
Họ dường như thực hiện lời hứa vâng phục khi điều này không đòi hỏi sự hy sinh; nhưng khi cần phải tự chối mình và hy sinh bản thân, khi họ thấy thập tự giá phải được vác lên, họ liền lùi lại. Như vậy, ý thức về bổn phận dần phai nhạt, và sự vi phạm có chủ ý các điều răn của Đức Chúa Trời trở thành thói quen. Tai có thể nghe lời Đức Chúa Trời, nhưng các năng lực nhận thức thuộc linh đã ra đi. Lòng trở nên cứng cỏi, lương tâm bị chai lì. COL 279.2
Đừng nghĩ rằng vì bạn không bày tỏ sự thù nghịch quyết liệt với Đấng Christ là bạn đang phục vụ Ngài. Như vậy chúng ta lừa dối chính linh hồn mình. Bằng cách giữ lại điều mà Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta để dùng trong sự phục vụ Ngài, dù là thời gian, phương tiện, hay bất kỳ ơn ban nào khác mà Ngài đã ủy thác, chúng ta đang chống lại Ngài. COL 279.3
Sa-tan dùng sự lười biếng, ngủ mê thờ ơ của những người tự xưng là Cơ-đốc nhân để củng cố lực lượng của hắn và lôi kéo các linh hồn về phía hắn. Nhiều người, dù nghĩ rằng mình không làm công việc thực sự nào cho Đấng Christ, vẫn cho rằng mình ở phía Ngài, đang giúp kẻ thù chiếm đóng địa bàn và thu được lợi thế. Bởi sự thất bại trong việc trở thành những người làm việc siêng năng cho Chủ, bởi việc bỏ qua các bổn phận và không nói ra những lời cần nói, họ đã để Sa-tan giành quyền kiểm soát các linh hồn lẽ ra có thể đã được chinh phục cho Đấng Christ. COL 280.1
Chúng ta không bao giờ có thể được cứu trong sự lười biếng và không hoạt động. Không có chuyện một người thật sự được hoán cải lại sống một đời sống bất lực, vô dụng. Chúng ta không thể trôi dạt vào thiên đàng. Không một kẻ lười biếng nào có thể vào đó. Nếu chúng ta không cố gắng để giành được lối vào nước ấy, nếu chúng ta không tha thiết tìm hiểu điều gì cấu thành luật pháp của nước ấy, chúng ta không thích hợp để có một phần trong đó. Những người từ chối hợp tác với Đức Chúa Trời trên đất sẽ không hợp tác với Ngài trên thiên đàng. Sẽ không an toàn nếu đem họ vào thiên đàng. COL 280.2
Có nhiều hy vọng cho người thâu thuế và kẻ có tội hơn là cho những người biết lời Đức Chúa Trời nhưng từ chối vâng theo. Người tự thấy mình là kẻ có tội mà không có gì để che đậy tội lỗi mình, người biết rằng mình đang làm bại hoại linh hồn, thân thể và tâm linh trước mặt Đức Chúa Trời, sẽ trở nên hoảng sợ kẻo mình bị tách rời đời đời khỏi nước thiên đàng. Người ấy nhận ra tình trạng bệnh tật của mình, và tìm kiếm sự chữa lành từ Vị Đại Y Sĩ là Đấng đã phán:
“Phàm những kẻ Cha cho ta sẽ đến cùng ta, kẻ đến cùng ta thì ta không bỏ ra ngoài đâu.” (Giăng 6:37)
Những linh hồn này Chúa có thể dùng làm những người làm việc trong vườn nho của Ngài. COL 280.3
Người con đã có một thời gian từ chối vâng theo mệnh lệnh của cha mình không bị Đấng Christ lên án; và cũng không được khen ngợi. Hạng người đóng vai trò của người con thứ nhất trong việc từ chối vâng phục không xứng đáng được khen ngợi vì giữ lập trường này. Sự thẳng thắn của họ không được xem là một đức tính. Được thánh hóa bởi lẽ thật và sự thánh khiết, nó sẽ làm cho con người trở thành những chứng nhân dạn dĩ cho Đấng Christ; nhưng được kẻ có tội sử dụng như hiện nay, nó là sỉ nhục và thách thức, và gần như là báng bổ. Việc một người không phải là kẻ giả hình không khiến người ấy bớt thực sự là một kẻ có tội. Khi những lời kêu gọi của Đức Thánh Linh đến với tấm lòng, sự an toàn duy nhất của chúng ta nằm ở chỗ đáp ứng ngay không chậm trễ. Khi tiếng gọi đến: “Hãy đi làm vườn nho của Ta hôm nay”, đừng từ chối lời mời.
“nên về sau lâu lắm, trong một thơ của Đa-vít, Chúa lại định một ngày nữa gọi là “Ngày nay,” như trên kia đã dẫn rằng: Ngày nay nếu các ngươi nghe tiếng Ngài, Thì chớ cứng lòng.” (Hê-bơ-rơ 4:7)
Trì hoãn sự vâng phục là điều không an toàn. Bạn có thể sẽ không bao giờ nghe lời mời ấy nữa. COL 280.4
Và đừng để ai tự lừa dối mình rằng những tội lỗi được nuông chiều một thời gian có thể dễ dàng từ bỏ về sau. Không phải như vậy đâu. Mỗi tội lỗi được nuông chiều đều làm yếu phẩm hạnh và củng cố thói quen; và kết quả là sự bại hoại về thể chất, tinh thần và đạo đức. Bạn có thể ăn năn về điều sai mình đã làm, và đặt chân mình vào những lối ngay; nhưng khuôn mẫu của tâm trí bạn và sự thân thuộc của bạn với điều ác sẽ khiến bạn khó phân biệt giữa điều phải và điều trái. Qua những thói quen sai trật đã hình thành, Sa-tan sẽ tấn công bạn hết lần này đến lần khác. COL 281.1
Trong mệnh lệnh: “Hãy đi làm vườn nho của Ta hôm nay”, sự thử nghiệm về lòng chân thành được đặt ra cho mỗi linh hồn. Liệu sẽ có hành động cũng như lời nói chăng? Liệu người được kêu gọi sẽ vận dụng tất cả tri thức mình có, làm việc cách trung tín, vô tư, vì Chủ vườn nho chăng? COL 281.2
Sứ đồ Phi-e-rơ chỉ dẫn cho chúng ta về kế hoạch mà chúng ta phải làm việc. Ông nói:
“nguyền xin ân điển và sự bình an được gia thêm cho anh em bởi sự nhận biết Đức Chúa Trời và Đức Chúa Giê-su, là Chúa chúng ta! Quyền phép Đức Chúa Trời đã ban cho chúng ta mọi điều thuộc về sự sống và sự tin kính, khiến chúng ta biết Đấng lấy vinh hiển và nhân đức mà gọi chúng ta, và bởi vinh hiển nhân đức ấy, Ngài lại ban lời hứa rất quí rất lớn cho chúng ta, hầu cho nhờ đó anh em được lánh khỏi sự hư nát của thế gian bởi tư dục đến, mà trở nên người dự phần bổn tánh Đức Chúa Trời.” (II Phi-e-rơ 1:2-4) COL 281.3
“Vậy nên, về phần anh em, phải gắng hết sức thêm cho đức tin mình sự nhân đức, thêm cho nhân đức sự học thức, thêm cho học thức sự tiết độ, thêm cho tiết độ sự nhịn nhục, thêm cho nhịn nhục sự tin kính, thêm cho tin kính tình yêu thương anh em, thêm cho tình yêu thương anh em lòng yêu mến.” (II Phi-e-rơ 1:5-7) COL 282.1
Nếu bạn trung tín vun xới vườn nho của tâm hồn mình, Đức Chúa Trời sẽ biến bạn thành người cùng làm việc với Ngài. Và bạn sẽ có một công việc phải làm không chỉ cho chính mình, mà còn cho người khác. Khi tiêu biểu hội thánh như một vườn nho, Đấng Christ không dạy rằng chúng ta phải giới hạn lòng thương cảm và sự phục vụ của mình trong phạm vi những người của mình. Vườn nho của Chúa phải được mở rộng. Ngài mong muốn vườn nho ấy được lan rộng đến mọi nơi trên đất. Khi chúng ta nhận lãnh sự dạy dỗ và ân điển của Đức Chúa Trời, chúng ta nên truyền đạt cho người khác sự hiểu biết về cách chăm sóc những cây quý báu ấy. Bởi đó, chúng ta có thể mở rộng vườn nho của Chúa. Đức Chúa Trời đang theo dõi để tìm bằng chứng về đức tin, tình yêu thương và lòng kiên nhẫn của chúng ta. Ngài nhìn xem chúng ta có đang sử dụng mọi lợi thế thuộc linh để trở thành những người làm công khéo léo trong vườn nho của Ngài trên đất, hầu cho chúng ta có thể bước vào Thiên Đàng của Đức Chúa Trời, ngôi nhà Ê-đen mà A-đam và Ê-va đã bị đuổi ra khỏi bởi sự vi phạm. COL 282.2
Đức Chúa Trời đứng trong mối quan hệ của một người cha đối với dân sự Ngài, và Ngài có quyền của một người cha đòi hỏi sự phục vụ trung tín của chúng ta. Hãy suy xét cuộc đời của Đấng Christ. Đứng đầu nhân loại, phục vụ Cha Ngài, Ngài là tấm gương cho điều mà mỗi người con nên trở thành và có thể trở thành. Sự vâng phục mà Đấng Christ đã dâng lên Đức Chúa Trời, ngày nay Ngài cũng đòi hỏi nơi loài người. Ngài đã phục vụ Cha Ngài bằng tình yêu thương, với lòng sẵn sàng và tự do.
“Hỡi Đức Chúa Trời tôi, tôi lấy làm vui mừng làm theo ý muốn Chúa, Luật pháp Chúa ở trong lòng tôi.” (Thi-thiên 40:8)
Đấng Christ không coi sự hy sinh nào là quá lớn, không có công lao nào là quá khó nhọc, để hoàn thành công việc mà Ngài đến để làm. Ở tuổi mười hai, Ngài phán:
“Ngài thưa rằng: Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?” (Lu-ca 2:49)
Ngài đã nghe tiếng gọi và đã đảm nhận công việc. Ngài phán:
“Đức Chúa Giê-su phán rằng: Đồ ăn của ta tức là làm theo ý muốn của Đấng sai ta đến, và làm trọn công việc Ngài.” (Giăng 4:34) COL 282.3
Như vậy chúng ta cũng phải phục vụ Đức Chúa Trời. Chỉ có người nào sống theo tiêu chuẩn cao nhất của sự vâng phục mới thực sự phục vụ. Tất cả những ai muốn trở thành con trai và con gái của Đức Chúa Trời phải chứng tỏ mình là người cùng làm việc với Đức Chúa Trời, với Đấng Christ và với các thiên sứ trên trời. Đây là thử thách cho mỗi linh hồn. Về những người trung tín phục vụ Ngài, Chúa phán:
“Đức Giê-hô-va vạn quân phán: Những kẻ ấy sẽ thuộc về ta, làm cơ nghiệp riêng của ta trong ngày ta làm; và ta sẽ tiếc chúng nó như một người tiếc con trai mình hầu việc mình.” (Ma-la-chi 3:17) COL 283.1
Mục đích lớn lao của Đức Chúa Trời trong sự quan phòng của Ngài là thử thách loài người, ban cho họ cơ hội để phát triển nhân cách. Như vậy Ngài chứng tỏ xem họ có vâng phục hay không vâng phục các mệnh lệnh của Ngài. Những việc lành không mua được tình yêu của Đức Chúa Trời, nhưng chúng bày tỏ rằng chúng ta đã có được tình yêu ấy. Nếu chúng ta đầu phục ý chí cho Đức Chúa Trời, chúng ta sẽ không làm việc để kiếm được tình yêu của Đức Chúa Trời. Tình yêu của Ngài như một món quà nhưng không sẽ được nhận vào linh hồn, và vì tình yêu đối với Ngài, chúng ta sẽ vui mừng vâng giữ các điều răn của Ngài. COL 283.2
Ngày nay trên thế giới chỉ có hai hạng người, và chỉ có hai hạng người sẽ được công nhận trong sự phán xét—những ai vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời và những ai vâng giữ nó. Đấng Christ ban cho chúng ta sự thử nghiệm để chứng minh lòng trung thành hay bất trung của chúng ta. Ngài phán:
“Nếu các ngươi yêu mến ta, thì giữ gìn các điều răn ta. Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi. Còn ít lâu, thế gian chẳng thấy ta nữa, nhưng các ngươi sẽ thấy ta; vì ta sống thì các ngươi cũng sẽ sống. Nội ngày đó, các ngươi sẽ nhận biết rằng ta ở trong Cha ta; các ngươi ở trong ta, và ta ở trong các ngươi. Ai có các điều răn của ta và vâng giữ lấy, ấy là kẻ yêu mến ta; người nào yêu mến ta sẽ được Cha ta yêu lại, ta cũng sẽ yêu người, và tỏ cho người biết ta. Giu-đe, chớ không phải là Ích-ca-ri-ốt, thưa Ngài rằng: Lạy Chúa, vì sao Chúa sẽ tỏ mình cho chúng tôi, mà không tỏ mình cho thế gian? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Nếu ai yêu mến ta, thì vâng giữ lời ta, Cha ta sẽ thương yêu người, chúng ta đều đến cùng người và ở trong người. Còn kẻ nào chẳng yêu mến ta, thì không vâng giữ lời ta; và lời các ngươi nghe đó, chẳng phải bởi ta, nhưng bởi Cha, là Đấng đã sai ta đến.” (Giăng 14:15-24)
“Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.” (Giăng 15:10) COL 283.3