Chương 21
21

"Một Vực Sâu Đã Định"

Chương này dựa trên

“Có một người giàu mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng. Lại có một người nghèo, tên là La-xa-rơ, nằm ngoài cửa người giàu đó, mình đầy những ghẻ. Người ước ao được ăn những đồ ở trên bàn người giàu rớt xuống; cũng có chó đến liếm ghẻ người. Vả, người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Áp-ra-ham; người giàu cũng chết, người ta đem chôn. Người giàu ở nơi Âm phủ đang bị đau đớn, ngước mắt lên, xa thấy Áp-ra-ham, và La-xa-rơ trong lòng người; bèn kêu lên rằng: Hỡi Áp-ra-ham tổ tôi, xin thương lấy tôi, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước đặng làm cho mát lưỡi tôi; vì tôi bị khổ trong lửa này quá đỗi. Nhưng Áp-ra-ham trả lời rằng: Con ơi, hãy nhớ lại lúc ngươi còn sống đã được hưởng những sự lành của mình rồi, còn La-xa-rơ phải những sự dữ; bây giờ, nó ở đây được yên ủi, còn ngươi phải bị khổ hình. Vả lại, có một vực sâu ở giữa chúng ta với ngươi, đến nỗi ai muốn từ đây qua đó không được, mà ai muốn từ đó qua đây cũng không được. Người giàu nói rằng: Tổ tôi ơi! Vậy thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha tôi, — vì tôi có năm anh em, — đặng người làm chứng cho họ về những điều này, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn này chăng. Áp-ra-ham trả lời rằng: Chúng nó đã có Môi-se và các đấng tiên tri; chúng nó phải nghe lời các đấng ấy! Người giàu nói rằng: Thưa Áp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn. Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.” (Lu-ca 16:19-31)

Trong câu chuyện ngụ ngôn về người giàu và La-xa-rơ, Đấng Christ chỉ ra rằng trong đời này, con người quyết định số phận đời đời của mình. Trong thời gian thử thách, ân điển của Đức Chúa Trời được ban cho mỗi linh hồn. Nhưng nếu con người phung phí cơ hội của mình trong sự thỏa mãn bản thân, họ tự cắt đứt mình khỏi sự sống đời đời. Sẽ không có thời gian thử thách nào nữa được ban cho họ. Bằng sự lựa chọn của chính mình, họ đã định một vực thẳm không thể vượt qua giữa họ và Đức Chúa Trời của họ. COL 260.1

Câu chuyện ngụ ngôn này vẽ ra sự tương phản giữa người giàu không lấy Đức Chúa Trời làm chỗ nương tựa, và người nghèo lấy Đức Chúa Trời làm chỗ nương tựa. Đấng Christ chỉ ra rằng thời điểm sắp đến khi địa vị của hai hạng người này sẽ bị đảo ngược. Những người nghèo nàn về của cải thế gian này, nhưng tin cậy Đức Chúa Trời và kiên nhẫn trong sự đau khổ, một ngày kia sẽ được tôn cao hơn những người hiện đang giữ những địa vị cao nhất mà thế gian có thể ban tặng nhưng đã không dâng đời sống mình cho Đức Chúa Trời. COL 260.2

Đấng Christ phán:

“Có một người giàu mặc áo tía và áo bằng vải gai mịn, hằng ngày ăn ở rất là sung sướng. Lại có một người nghèo, tên là La-xa-rơ, nằm ngoài cửa người giàu đó, mình đầy những ghẻ. Người ước ao được ăn những đồ ở trên bàn người giàu rớt xuống; cũng có chó đến liếm ghẻ người.” (Lu-ca 16:19-21) COL 260.3

Người giàu không thuộc về hạng người được tiêu biểu bởi quan án bất công, kẻ công khai tuyên bố sự khinh thường của mình đối với Đức Chúa Trời và con người. Ông ta tự xưng là con trai của Áp-ra-ham. Ông không đối xử với người ăn xin bằng bạo lực hay bắt người ấy phải đi khỏi vì cảnh tượng đó khó chịu. Nếu kẻ nghèo khó, đáng ghê tởm này có thể được an ủi bằng việc nhìn ngắm ông khi ông bước vào cổng nhà mình, thì người giàu sẵn lòng để người ấy ở lại. Nhưng ông ích kỷ thờ ơ với những nhu cầu của người anh em đang đau khổ. COL 261.1

Lúc đó chưa có bệnh viện nào để chăm sóc người bệnh. Những người đau khổ và túng thiếu được đem đến trước mắt những người mà Chúa đã giao phó tài sản, để họ có thể nhận được sự giúp đỡ và cảm thông. Đó là trường hợp của người ăn xin và người giàu. La-xa-rơ rất cần được giúp đỡ, vì ông không có bạn bè, không nhà cửa, không tiền bạc, không thức ăn. Tuy nhiên, ông bị bỏ mặc trong tình trạng này ngày qua ngày, trong khi vị quý tộc giàu có thì mọi nhu cầu đều được cung ứng. Người có khả năng dồi dào để giải tỏa nỗi đau khổ của đồng loại lại sống cho riêng mình, như nhiều người ngày nay vẫn sống. COL 261.2

Ngày nay ngay bên cạnh chúng ta có nhiều người đói khát, trần truồng và không nhà cửa. Sự lơ là không chia sẻ phương tiện của chúng ta cho những người túng thiếu, đau khổ này đặt trên chúng ta gánh nặng của tội lỗi mà một ngày kia chúng ta sẽ kinh sợ phải đối diện. Mọi sự tham lam đều bị lên án như sự thờ hình tượng. Mọi sự nuông chiều ích kỷ đều là điều xúc phạm trước mặt Đức Chúa Trời. COL 261.3

Đức Chúa Trời đã đặt người giàu làm quản gia của các phương tiện Ngài, và bổn phận của ông là chăm lo những trường hợp như của người ăn xin này. Mệnh lệnh đã được ban:

“Ngươi phải hết lòng, hết ý, hết sức kính mến Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi.” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 6:5)

“Chớ toan báo thù, chớ giữ sự báo thù cùng con cháu dân sự mình; nhưng hãy yêu thương kẻ lân cận ngươi như mình: Ta là Đức Giê-hô-va.” (Lê-vi Ký 19:18)

Người giàu là người Do Thái, và ông biết rõ mệnh lệnh của Đức Chúa Trời. Nhưng ông quên rằng mình phải chịu trách nhiệm về việc sử dụng các phương tiện và khả năng được giao phó. Phước lành của Chúa đổ xuống trên ông cách dồi dào, nhưng ông sử dụng chúng cách ích kỷ, để tôn vinh chính mình, không phải Đấng Tạo Hóa của mình. Tỷ lệ với sự dư dật của ông là nghĩa vụ phải dùng các ân tứ của mình để nâng đỡ nhân loại. Đây là mệnh lệnh của Chúa, nhưng người giàu không hề nghĩ đến nghĩa vụ của mình đối với Đức Chúa Trời. Ông cho vay tiền và lấy lãi cho những gì ông cho vay; nhưng ông không trả lãi gì cho những gì Đức Chúa Trời đã cho ông mượn. Ông có tri thức và tài năng, nhưng không tận dụng chúng. Quên đi trách nhiệm của mình đối với Đức Chúa Trời, ông dùng tất cả sức lực mình cho sự khoái lạc. Mọi thứ bao quanh ông, những trò vui chơi, những lời ngợi khen và tâng bốc của bạn bè, đều phục vụ cho sự thưởng thức ích kỷ của ông. Ông quá mải mê trong xã hội của bạn bè đến nỗi đánh mất hết ý thức về trách nhiệm cộng tác với Đức Chúa Trời trong sự phục vụ thương xót của Ngài. Ông có cơ hội để hiểu lời của Đức Chúa Trời và thực hành những lời dạy của lời ấy; nhưng xã hội ưa khoái lạc mà ông đã chọn chiếm hết thời gian của ông đến nỗi ông quên mất Đức Chúa Trời đời đời. COL 261.4

Đến lúc một sự thay đổi diễn ra trong tình trạng của hai người. Người nghèo đã đau khổ ngày này qua ngày khác, nhưng ông kiên nhẫn và lặng lẽ chịu đựng. Theo thời gian, ông qua đời và được chôn cất. Không có ai khóc thương ông; nhưng bằng sự kiên nhẫn trong đau khổ, ông đã làm chứng cho Đấng Christ, ông đã chịu đựng sự thử thách đức tin, và khi ông qua đời, ông được mô tả như được các thiên sứ đem vào lòng Áp-ra-ham. COL 262.1

La-xa-rơ tiêu biểu cho những người nghèo đau khổ tin nơi Đấng Christ. Khi tiếng kèn vang lên và tất cả những ai đang ở trong mồ mả nghe tiếng Đấng Christ và bước ra, họ sẽ nhận được phần thưởng của mình; vì đức tin của họ nơi Đức Chúa Trời không phải chỉ là một lý thuyết, mà là một thực tại. COL 262.2

“Vả, người nghèo chết, thiên sứ đem để vào lòng Áp-ra-ham; người giàu cũng chết, người ta đem chôn. Người giàu ở nơi Âm phủ đang bị đau đớn, ngước mắt lên, xa thấy Áp-ra-ham, và La-xa-rơ trong lòng người; bèn kêu lên rằng: Hỡi Áp-ra-ham tổ tôi, xin thương lấy tôi, sai La-xa-rơ nhúng đầu ngón tay vào nước đặng làm cho mát lưỡi tôi; vì tôi bị khổ trong lửa này quá đỗi.” (Lu-ca 16:22-24) COL 263.1

Trong câu chuyện ngụ ngôn này, Đấng Christ gặp gỡ dân chúng trên lập trường của chính họ. Học thuyết về một trạng thái tồn tại có ý thức giữa cái chết và sự sống lại được nhiều người trong số những kẻ đang lắng nghe lời Đấng Christ tin theo. Đấng Cứu Thế biết về quan niệm của họ, và Ngài đã dựng câu chuyện ngụ ngôn của mình theo cách để truyền dạy những lẽ thật quan trọng qua những quan niệm đã có sẵn này. Ngài giơ trước mặt những người nghe Ngài một tấm gương trong đó họ có thể nhìn thấy chính mình trong mối liên hệ thật của mình với Đức Chúa Trời. Ngài đã dùng quan niệm phổ biến để truyền đạt ý tưởng mà Ngài muốn nhấn mạnh cho mọi người—rằng không có ai được quý trọng vì những gì mình sở hữu; vì tất cả những gì người ấy có chỉ thuộc về người ấy như được Chúa cho mượn. Sự lạm dụng những ân tứ này sẽ đặt người ấy xuống dưới người nghèo nhất và đau khổ nhất, là người yêu mến Đức Chúa Trời và tin cậy nơi Ngài. COL 263.2

Đấng Christ muốn những người nghe Ngài hiểu rằng con người không thể nào bảo đảm sự cứu rỗi linh hồn sau khi chết. Áp-ra-ham được mô tả như đáp lời: “Con ơi, hãy nhớ lại lúc ngươi còn sống đã được hưởng những sự lành của mình rồi, còn La-xa-rơ phải những sự dữ; bây giờ, nó ở đây được yên ủi, còn ngươi phải bị khổ hình. Vả lại, có một vực sâu ở giữa chúng ta với ngươi, đến nỗi ai muốn từ đây qua đó không được, mà ai muốn từ đó qua đây cũng không được.” Như vậy, Đấng Christ đã thể hiện sự vô vọng của việc trông đợi một cơ hội thử thách thứ hai. Đời sống này là thời gian duy nhất được ban cho con người để chuẩn bị cho cõi đời đời. COL 263.3

Người giàu đã không từ bỏ ý nghĩ rằng mình là con cái của Áp-ra-ham, và trong sự đau khổ của mình, ông được mô tả như kêu cầu Áp-ra-ham giúp đỡ. Ông cầu xin: “Hỡi Áp-ra-ham tổ tôi, xin thương xót tôi.” Ông không cầu nguyện với Đức Chúa Trời, mà với Áp-ra-ham. Như vậy ông cho thấy rằng ông đặt Áp-ra-ham trên Đức Chúa Trời, và rằng ông trông cậy vào mối quan hệ của mình với Áp-ra-ham để được cứu rỗi. Tên trộm trên thập tự giá đã dâng lời cầu nguyện của mình lên Đấng Christ. Ông nói: “Khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!” (

“Đoạn lại nói rằng: Hỡi Giê-su, khi Ngài đến trong nước mình rồi, xin nhớ lấy tôi!” (Lu-ca 23:42)

.) Và ngay lập tức câu trả lời đến: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay (khi ta đang treo trên thập tự giá trong sự sỉ nhục và đau khổ), ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. Nhưng người giàu đã cầu nguyện với Áp-ra-ham, và lời thỉnh cầu của ông đã không được chấp nhận. Chỉ một mình Đấng Christ được tôn cao làm “Vua và Cứu Chúa, để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.”

“Đức Chúa Trời đã đem Đấng ấy lên bên hữu Ngài, làm Vua và Cứu Chúa, để ban lòng ăn năn và sự tha tội cho dân Y-sơ-ra-ên.” (Công-vụ các Sứ-đồ 5:31)

“Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác.”

“Chẳng có sự cứu rỗi trong đấng nào khác; vì ở dưới trời, chẳng có danh nào khác ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” (Công-vụ các Sứ-đồ 4:12) COL 263.4

Người giàu đã dành cả đời mình để chiều theo bản thân, và quá muộn ông mới nhận ra rằng mình đã không chuẩn bị gì cho cõi đời đời. Ông nhận thức được sự dại dột của mình, và nghĩ đến các anh em của ông, những người sẽ tiếp tục sống như ông đã sống, sống để làm vui lòng chính họ. Thế là ông đưa ra lời thỉnh cầu:

“Người giàu nói rằng: Tổ tôi ơi! Vậy thì xin sai La-xa-rơ đến nhà cha tôi, — vì tôi có năm anh em, — đặng người làm chứng cho họ về những điều này, kẻo họ cũng xuống nơi đau đớn này chăng.” (Lu-ca 16:27-28)

Nhưng

“Áp-ra-ham trả lời rằng: Chúng nó đã có Môi-se và các đấng tiên tri; chúng nó phải nghe lời các đấng ấy! Người giàu nói rằng: Thưa Áp-ra-ham tổ tôi, không phải vậy đâu; nhưng nếu có kẻ chết sống lại đến cùng họ, thì họ sẽ ăn năn. Song Áp-ra-ham rằng: Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.” (Lu-ca 16:29-31) COL 264.1

Khi người giàu xin thêm bằng chứng cho các anh em của ông, ông được nói thẳng rằng dù có ban cho bằng chứng ấy, họ cũng sẽ không tin. Lời thỉnh cầu của ông là một sự chỉ trích đối với Đức Chúa Trời. Dường như người giàu muốn nói rằng: Nếu Ngài đã cảnh báo con kỹ càng hơn, thì giờ đây con đã không phải ở chốn này. Trong câu trả lời cho lời thỉnh cầu ấy, Áp-ra-ham được mô tả như đang nói: Các anh em của ngươi đã được cảnh báo đầy đủ rồi. Ánh sáng đã được ban cho họ, nhưng họ không chịu thấy; lẽ thật đã được trình bày cho họ, nhưng họ không chịu nghe. COL 264.2

“Nếu không nghe Môi-se và các đấng tiên tri, thì dầu có ai từ kẻ chết sống lại, chúng nó cũng chẳng tin vậy.” Những lời này đã được chứng thực trong lịch sử của dân tộc Do Thái. Phép lạ cuối cùng và vinh diệu nhất của Đấng Christ là làm cho La-xa-rơ ở Bê-tha-ni sống lại sau khi ông đã chết được bốn ngày. Người Do Thái đã được ban cho bằng chứng kỳ diệu này về thần tính của Đấng Cứu Thế, nhưng họ đã chối bỏ nó. La-xa-rơ đã sống lại từ kẻ chết và làm chứng trước mặt họ, nhưng họ đã chai cứng lòng mình trước mọi bằng chứng, và thậm chí còn tìm cách giết ông. (

“Một bọn người Giu-đa nghe Đức Chúa Giê-su có tại đó, bèn đến, chẳng những vì Ngài thôi, lại cũng để xem La-xa-rơ, là người Ngài đã khiến từ kẻ chết sống lại. Các thầy tế lễ cả bèn định giết luôn La-xa-rơ nữa, vì có nhiều người Giu-đa nhân cớ người mà chia rẽ họ và tin theo Đức Chúa Giê-su.” (Giăng 12:9-11)

.) COL 265.1

Luật pháp và các tiên tri là những công cụ được Đức Chúa Trời chỉ định để cứu rỗi loài người. Đấng Christ phán: Hãy để họ chú ý đến những bằng chứng này. Nếu họ không lắng nghe tiếng của Đức Chúa Trời trong Lời Ngài, thì lời làm chứng của một người sống lại từ kẻ chết cũng sẽ không được để ý tới. COL 265.2

Những ai lắng nghe Môi-se và các tiên tri sẽ không cần đến ánh sáng lớn hơn điều Đức Chúa Trời đã ban cho; nhưng nếu loài người khước từ ánh sáng, và không biết trân trọng những cơ hội đã được ban cho mình, thì dù có một người từ kẻ chết đến với họ mang theo sứ điệp, họ cũng sẽ không nghe. Họ sẽ không được thuyết phục ngay cả bởi bằng chứng này; vì những ai khước từ luật pháp và các tiên tri thì đã chai cứng lòng mình đến nỗi họ sẽ khước từ mọi ánh sáng. COL 265.3

Cuộc đối thoại giữa Áp-ra-ham và người từng giàu có là mang tính biểu tượng. Bài học rút ra từ đó là mọi người đều được ban cho đủ ánh sáng để thực hiện những bổn phận được đòi hỏi ở mình. Trách nhiệm của con người tương xứng với những cơ hội và đặc ân của mình. Đức Chúa Trời ban cho mỗi người đủ ánh sáng và ân điển để làm công việc Ngài đã giao cho họ làm. Nếu con người thất bại trong việc thực hiện điều mà chút ánh sáng nhỏ đã cho thấy là bổn phận của mình, thì ánh sáng lớn hơn chỉ bày tỏ sự bất trung, sự xao lãng trong việc tận dụng các phước lành đã được ban cho.

“Ai trung tín trong việc rất nhỏ, cũng trung tín trong việc lớn; ai bất nghĩa trong việc rất nhỏ, cũng bất nghĩa trong việc lớn.” (Lu-ca 16:10)

Những ai khước từ được soi sáng bởi Môi-se và các tiên tri mà lại cầu xin một phép lạ kỳ diệu nào đó được thực hiện, thì cũng sẽ không được thuyết phục nếu điều họ ước muốn được ban cho. COL 265.4

Ngụ ngôn về người giàu và La-xa-rơ cho thấy hai hạng người được đại diện bởi hai nhân vật này được đánh giá như thế nào trong thế giới vô hình. Không có tội lỗi gì trong việc giàu có nếu sự giàu có không được thu được bởi sự bất công. Một người giàu không bị lên án vì có của cải, nhưng sự lên án đổ trên ông nếu những phương tiện đã giao phó cho ông bị tiêu phí cách ích kỷ. Tốt hơn nhiều nếu ông để dành tiền của mình bên cạnh ngai Đức Chúa Trời, bằng cách sử dụng nó để làm điều thiện. Cái chết không thể làm cho bất kỳ ai trở nên nghèo khó, nếu người ấy đã dâng mình tìm kiếm sự giàu có đời đời như vậy. Nhưng người nào tích trữ kho báu của mình cho bản thân thì không thể mang theo bất cứ thứ gì lên thiên đàng. Người ấy đã tỏ ra là một quản gia bất trung. Suốt đời mình, người ấy đã có những điều tốt lành, nhưng lại quên đi bổn phận của mình đối với Đức Chúa Trời. Người ấy đã thất bại trong việc đạt được kho báu trên trời. COL 266.1

Người giàu có đã có nhiều đặc ân được giới thiệu cho chúng ta như là một người lẽ ra phải trau dồi những ân tứ của mình, để việc làm của ông vươn tới cõi vĩnh hằng vĩ đại, mang theo với chúng những lợi thế thuộc linh được nâng cao. Mục đích của sự cứu chuộc không chỉ là xóa bỏ tội lỗi, mà còn là trả lại cho con người những ân tứ thuộc linh đã bị mất vì năng lực còi cọc hóa của tội lỗi. Tiền bạc không thể được mang vào đời sau; nó không cần thiết ở đó; nhưng những việc lành làm được trong việc chinh phục các linh hồn về với Đấng Christ sẽ được đưa vào các triều đình thiên đàng. Nhưng những kẻ ích kỷ tiêu xài các ân tứ của Chúa cho bản thân mình, để lại những đồng loại túng thiếu không được trợ giúp và không làm gì để thăng tiến công việc của Đức Chúa Trời trong thế gian, thì làm hổ danh Đấng Tạo Hóa của mình. Tội cướp Đức Chúa Trời được viết bên cạnh tên họ trong các sách trên trời. COL 266.2

Người giàu có đã có tất cả những gì tiền bạc có thể mua được, nhưng ông không sở hữu sự giàu có lẽ ra đã giữ cho tài khoản của ông đúng đắn với Đức Chúa Trời. Ông đã sống như thể mọi thứ ông sở hữu đều là của riêng mình. Ông đã xao lãng tiếng gọi của Đức Chúa Trời và những nhu cầu của người nghèo đau khổ. Nhưng cuối cùng có một tiếng gọi mà ông không thể xao lãng. Bởi một quyền năng mà ông không thể nghi ngờ hay kháng cự, ông bị truyền lệnh phải rời khỏi cơ nghiệp mà ông không còn là quản gia nữa. Người từng giàu có nay bị giảm xuống cảnh nghèo khổ vô vọng. Chiếc áo công bình của Đấng Christ, được dệt trong khung cửi trời, không bao giờ có thể che phủ ông. Người từng mặc áo tía quý giá nhất, vải lanh mịn nhất, nay bị giảm xuống cảnh trần truồng. Thời kỳ thử thách của ông đã kết thúc. Ông chẳng đem gì vào thế gian, và cũng không thể đem ra khỏi nó điều gì. COL 267.1

Đấng Christ đã vén bức màn và trình bày bức tranh này trước các thầy tế lễ và các nhà cai trị, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Hỡi các ngươi là những kẻ giàu có về của cải đời này nhưng không giàu có đối với Đức Chúa Trời, hãy nhìn xem đó. Các ngươi sẽ không suy ngẫm về cảnh này sao? Điều được loài người coi trọng là điều gớm ghiếc trước mặt Đức Chúa Trời. Đấng Christ hỏi:

“Người nào nếu được cả thiên hạ mà mất linh hồn mình, thì có ích gì? Hay là có người nào lấy chi mà đổi linh hồn mình ư?” (Mác 8:36-37) COL 267.2

Áp dụng cho dân Do Thái

Khi Đấng Christ kể thí dụ về người giàu và La-xa-rơ, có nhiều người trong dân Do Thái đang ở trong tình trạng đáng thương như người giàu, sử dụng của cải của Chúa để thỏa mãn lòng ích kỷ, tự chuẩn bị cho mình phải nghe lời phán xét:

“Tê-ken là: Vua đã bị cân trên cái cân, và thấy là kém thiếu.” (Đa-ni-ên 5:27)

Người giàu đã được ban cho mọi phước lành cả về vật chất lẫn thiêng liêng, nhưng ông đã từ chối cộng tác với Đức Chúa Trời trong việc sử dụng những phước lành đó. Dân Do Thái cũng đã như vậy. Chúa đã đặt người Do Thái làm những người gìn giữ lẽ thật thiêng liêng. Ngài đã chỉ định họ làm những người quản lý ân điển Ngài. Ngài đã ban cho họ mọi lợi thế cả về thiêng liêng lẫn vật chất, và Ngài kêu gọi họ chia sẻ những phước lành này. Họ đã được chỉ dẫn đặc biệt về cách đối xử với anh em của họ đã sa sút, với người khách lạ trong cổng thành họ, và với những người nghèo giữa vòng họ. Họ không được tìm kiếm mọi điều cho lợi ích riêng của mình, nhưng phải nhớ đến những người thiếu thốn và chia sẻ với họ. Và Đức Chúa Trời hứa ban phước cho họ tùy theo những việc làm bày tỏ lòng yêu thương và thương xót của họ. Nhưng giống như người giàu, họ đã không đưa tay ra giúp đỡ để xoa dịu những nhu cầu vật chất hay thiêng liêng của nhân loại đau khổ. Đầy lòng kiêu ngạo, họ tự coi mình là dân được Đức Chúa Trời chọn và sủng ái; tuy nhiên, họ lại không phụng sự hay thờ phượng Đức Chúa Trời. Họ đặt sự nương cậy của mình vào việc họ là con cháu Áp-ra-ham. “Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham,” họ kiêu hãnh nói. (

“Người Giu-đa thưa rằng: Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?” (Giăng 8:33)

.) Khi cơn khủng hoảng đến, điều được bày tỏ ra là họ đã tự lìa bỏ Đức Chúa Trời, và đặt lòng tin cậy vào Áp-ra-ham, như thể ông là Đức Chúa Trời. COL 267.3

Đấng Christ khao khát để ánh sáng chiếu vào tâm trí tối tăm của người Do Thái. Ngài phán với họ:

“Chúng trả lời rằng: Cha chúng tôi tức là Áp-ra-ham, Đức Chúa Giê-su phán rằng: Nếu các ngươi là con Áp-ra-ham, thì chắc sẽ làm công việc của Áp-ra-ham. Nhưng hiện nay, các ngươi tìm mưu giết ta, là người lấy lẽ thật đã nghe nơi Đức Chúa Trời mà nói với các ngươi; Áp-ra-ham chưa hề làm điều đó!” (Giăng 8:39-40) COL 268.1

Đấng Christ không công nhận đức hạnh ở nơi dòng dõi. Ngài dạy rằng mối liên hệ thiêng liêng vượt trên mọi mối liên hệ tự nhiên. Người Do Thái tuyên bố là dòng dõi của Áp-ra-ham; nhưng vì không làm những việc của Áp-ra-ham, họ đã chứng tỏ mình không phải là con cháu thật của ông. Chỉ những ai chứng tỏ mình có sự hòa hợp thiêng liêng với Áp-ra-ham bằng cách vâng theo tiếng phán của Đức Chúa Trời, mới được coi là dòng dõi thật. Mặc dù người ăn xin thuộc về tầng lớp bị loài người xem là thấp kém, Đấng Christ đã công nhận ông là người mà Áp-ra-ham sẽ đón nhận vào tình bằng hữu thân thiết nhất. COL 268.2

Người giàu dù được vây quanh bởi mọi sự xa hoa của cuộc đời lại dốt nát đến mức đặt Áp-ra-ham vào vị trí lẽ ra thuộc về Đức Chúa Trời. Nếu ông đã biết quý trọng những đặc ân cao quý của mình và để cho Thánh Linh Đức Chúa Trời uốn nắn tâm trí và tấm lòng mình, ông đã có một địa vị hoàn toàn khác. Dân tộc mà ông đại diện cũng vậy. Nếu họ đã đáp lời kêu gọi thiêng liêng, tương lai của họ đã hoàn toàn khác. Họ đã tỏ ra có sự nhận thức thiêng liêng chân thật. Họ có những phương tiện mà Đức Chúa Trời sẽ gia tăng, đủ để ban phước và soi sáng cho cả thế gian. Nhưng họ đã xa rời sự sắp đặt của Chúa đến mức cả cuộc đời họ đã bị băng hoại. Họ đã không sử dụng các ân tứ của mình với tư cách là người quản lý của Đức Chúa Trời theo lẽ thật và sự công bình. Cõi đời đời không được đưa vào tính toán của họ, và kết quả của sự bất trung của họ là sự diệt vong cho cả dân tộc. COL 269.1

Đấng Christ biết rằng khi thành Giê-ru-sa-lem bị tàn phá, người Do Thái sẽ nhớ lại lời cảnh báo của Ngài. Và quả đã như vậy. Khi tai họa giáng xuống Giê-ru-sa-lem, khi đói kém và đủ mọi khổ đau ập đến trên dân chúng, họ đã nhớ lại những lời này của Đấng Christ và hiểu được thí dụ. Họ đã tự chuốc lấy sự đau khổ cho mình vì đã bỏ bê không để cho ánh sáng Đức Chúa Trời ban cho chiếu ra thế gian. COL 269.2

Trong những ngày sau rốt

Những cảnh cuối cùng của lịch sử trái đất này được miêu tả trong đoạn kết của câu chuyện về người giàu. Người giàu tuyên bố mình là con cháu của Áp-ra-ham, nhưng ông bị ngăn cách với Áp-ra-ham bởi một vực sâu không thể vượt qua — một tính cách được phát triển sai lầm. Áp-ra-ham phục vụ Đức Chúa Trời, vâng theo lời Ngài trong đức tin và sự vâng phục. Nhưng người giàu thì không quan tâm đến Đức Chúa Trời cũng như đến nhu cầu của nhân loại đang đau khổ. Vực sâu lớn được đặt cố định giữa ông và Áp-ra-ham chính là vực sâu của sự bất tuân. Ngày nay có nhiều người đang đi theo cùng một con đường. Dù là thành viên của hội thánh, họ vẫn chưa được hoán cải. Họ có thể tham dự các buổi nhóm của hội thánh, họ có thể hát thánh vịnh:

“Đức Chúa Trời ôi! linh hồn tôi mơ ước Chúa, Như con nai cái thèm khát khe nước.” (Thi-thiên 42:1)

nhưng họ đang làm chứng cho một điều giả dối. Trong mắt Đức Chúa Trời, họ không công bình hơn gì kẻ tội lỗi tệ hại nhất. Linh hồn khao khát sự phấn khích của thú vui thế gian, tâm trí đầy yêu thích sự phô trương, không thể phục vụ Đức Chúa Trời được. Giống như người giàu trong thí dụ, người ấy không có khuynh hướng chiến đấu chống lại những dục vọng của xác thịt. Người ấy khao khát thỏa mãn ham muốn. Người ấy chọn bầu không khí của tội lỗi. Người ấy bị cái chết cướp đi bất ngờ, và xuống mồ mả với tính cách đã được hình thành trong suốt cuộc đời mình trong sự liên kết với các thế lực của Sa-tan. Ở trong mồ mả, người ấy không có quyền lực để lựa chọn bất cứ điều gì, dù tốt hay xấu; vì trong ngày một người chết, các tư tưởng của người ấy tiêu tan. (

“Hơi thở tắt đi, loài người bèn trở về bụi đất mình; Trong chánh ngày đó các mưu mô nó liền mất đi.” (Thi-thiên 146:4)

“Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết, chẳng được phần thưởng gì hết; vì sự kỷ niệm họ đã bị quên đi. Sự yêu, sự ghét, sự ganh gỗ của họ thảy đều tiêu mất từ lâu; họ chẳng hề còn có phần nào về mọi điều làm ra dưới mặt trời.” (Truyền-đạo 9:5-6)

.) COL 269.3

Khi tiếng phán của Đức Chúa Trời đánh thức kẻ chết, người ấy sẽ ra khỏi mồ mả với cùng những ham muốn và dục vọng, cùng những điều ưa thích và ghét bỏ mà người ấy đã nuôi dưỡng khi còn sống. Đức Chúa Trời không làm phép lạ để tái tạo một người không chịu được tái tạo khi người ấy đã được ban cho mọi cơ hội và được cung cấp mọi phương tiện. Trong suốt cuộc đời mình, người ấy không vui thỏa nơi Đức Chúa Trời, cũng không tìm thấy niềm vui trong sự phục vụ Ngài. Tính cách của người ấy không hòa hợp với Đức Chúa Trời, và người ấy không thể hạnh phúc trong gia đình thiên thượng. COL 270.1

Ngày nay trong thế giới của chúng ta có một hạng người tự cho mình là công bình. Họ không phải là kẻ háu ăn, họ không phải là kẻ say sưa, họ không phải là kẻ vô tín; nhưng họ mong muốn sống cho bản thân, chứ không phải cho Đức Chúa Trời. Ngài không ở trong tư tưởng của họ; vì vậy họ được xếp chung với những kẻ chẳng tin. Nếu họ có thể bước qua các cổng của thành Đức Chúa Trời, thì họ cũng không có quyền nào đối với cây sự sống, vì khi các điều răn của Đức Chúa Trời được đặt trước mặt họ cùng với mọi đòi hỏi ràng buộc, họ đã nói: Không. Họ đã không phục vụ Đức Chúa Trời ở đây; vì vậy họ sẽ không phục vụ Ngài ở đời sau. Họ không thể sống trong sự hiện diện của Ngài, và họ sẽ cảm thấy rằng bất cứ nơi nào cũng tốt hơn thiên đàng. COL 270.2

Học nơi Đấng Christ có nghĩa là tiếp nhận ân điển của Ngài, chính là tính cách của Ngài. Nhưng những người không biết quý trọng và sử dụng những cơ hội quý báu và những ảnh hưởng thiêng liêng được ban cho họ trên đất, thì không thích hợp để dự phần vào sự thờ phượng thuần khiết của thiên đàng. Tính cách của họ không được đúc nặn theo hình ảnh thiêng liêng. Bởi sự thờ ơ của chính mình, họ đã tạo nên một hố sâu mà không gì có thể bắc cầu qua được. Giữa họ và người công bình có một vực sâu lớn được đặt cố định. COL 271.1