Chương 19
19

Mức Độ Của Sự Tha Thứ

Chương này dựa trên

“Phi-e-rơ bèn đến gần Đức Chúa Giê-su mà hỏi rằng: Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng? Ngài đáp rằng: Ta không nói cùng ngươi rằng đến bảy lần đâu, nhưng đến bảy mươi lần bảy. Vậy nên, nước thiên đàng giống như vua kia, muốn tính sổ với các đầy tớ mình. Khi vua khởi soát sổ, thì có người đem nộp một tên kia mắc nợ vua một vạn ta-lâng. Bởi vì người chẳng có gì mà trả, thì chủ dạy bán người, vợ con và gia tài người, đặng trả nợ. Kẻ đầy tớ này bèn sấp mình xuống nơi chân chủ mà xin rằng: Thưa chủ, xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết! Chủ bèn động lòng thương xót, thả người về, và tha nợ cho. Nhưng khi đầy tớ đó ra về, gặp một người trong bạn làm việc, có thiếu mình một trăm đơ-ni-ê, thì nắm bóp cổ bạn mà nói rằng: Hãy trả nợ cho ta! Người bạn sấp mình xuống mà nài xin rằng: Xin giãn cho tôi, thì tôi sẽ trả cho anh. Song người chẳng khứng, cứ việc bắt bỏ tù cho đến khi trả hết nợ. Các bạn thấy vậy, buồn lắm, đến thuật lại cùng chủ mình mọi điều đã xảy ra. Chủ bèn đòi đầy tớ ấy đến mà nói rằng: Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta; ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao? Chủ nổi giận, phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ. Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy.” (Ma-thi-ơ 18:21-35)

Phi-e-rơ đã đến với Đấng Christ với câu hỏi: “Thưa Chúa, nếu anh em tôi phạm tội cùng tôi, thì sẽ tha cho họ mấy lần? Có phải đến bảy lần chăng?” Các ra-bi giới hạn sự tha thứ trong ba lần phạm tội. Phi-e-rơ, vì tưởng rằng mình đang thực hành theo lời dạy của Đấng Christ, đã nghĩ đến việc mở rộng sự tha thứ đến bảy lần, là con số tượng trưng cho sự trọn vẹn. Nhưng Đấng Christ dạy rằng chúng ta đừng bao giờ mỏi mệt trong việc tha thứ. Ngài phán: không phải “Đến bảy lần”, nhưng “Đến bảy mươi lần bảy”. COL 243.1

Rồi Ngài chỉ rõ nền tảng thật của sự tha thứ và sự nguy hiểm của việc nuôi dưỡng tinh thần không tha thứ. Trong một ẩn dụ, Ngài kể về cách một vị vua đối xử với các quan chức cai quản việc triều chính của ông. Một số quan chức này nhận những khoản tiền lớn thuộc về nhà nước. Khi vua xem xét việc quản lý của họ, người ta đem đến trước mặt ông một người mà sổ sách cho thấy mắc nợ chủ mình đến một vạn ta-lâng. Người ấy không có gì để trả, và theo tục lệ, vua truyền đem người đó đi bán, cùng với tất cả những gì người có, để trả nợ. Nhưng người sợ hãi quỳ dưới chân vua và nài xin rằng: “Thưa chủ, xin hoãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết! Chủ bèn động lòng thương xót, thả người về, và tha nợ cho.” COL 243.2

“Nhưng khi đầy tớ đó ra về, gặp một người trong bạn làm việc, có thiếu mình một trăm đơ-ni-ê, thì nắm bóp cổ bạn mà nói rằng: Hãy trả nợ cho ta! Người bạn sấp mình xuống mà nài xin rằng: Xin hoãn cho tôi, thì tôi sẽ trả cho anh. Song người chẳng khứng, cứ việc bắt bỏ tù cho đến khi trả hết nợ. Các bạn thấy vậy, buồn lắm, đến thuật lại cùng chủ mình mọi điều đã xảy ra. Chủ bèn đòi đầy tớ ấy đến mà nói rằng: Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta; ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao? Chủ nổi giận, phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ.” COL 244.1

Ẩn dụ này trình bày những chi tiết cần thiết để hoàn chỉnh bức tranh, nhưng những chi tiết ấy không có điểm tương ứng trong ý nghĩa thuộc linh của nó. Sự chú ý không nên bị phân tán vào những chi tiết đó. Một số lẽ thật vĩ đại được minh họa, và tư tưởng của chúng ta nên hướng vào những lẽ thật ấy. COL 244.2

Sự tha thứ do vua ban biểu hiện sự tha thứ thiêng liêng đối với mọi tội lỗi. Đấng Christ được biểu hiện bởi vị vua, người đã động lòng thương xót tha nợ cho đầy tớ mình. Loài người đã ở dưới sự kết án của luật pháp bị vi phạm. Loài người không thể tự cứu mình, và vì lý do đó Đấng Christ đã đến thế gian này, khoác lấy nhân tánh lên thiên tánh của Ngài, và đã phó sự sống của Ngài, người công bình chết thay cho kẻ không công bình. Ngài đã phó chính mình vì tội lỗi chúng ta, và Ngài tự do ban cho mỗi linh hồn sự tha thứ đã được mua bằng huyết. “Bởi Đức Giê-hô-va có lòng nhân từ, Nơi Ngài có sự cứu rỗi dư dật.”

“Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy trông cậy nơi Đức Giê-hô-va; Vì Đức Giê-hô-va có lòng nhân từ, Nơi Ngài có sự cứu rỗi nhiều;” (Thi-thiên 130:7) COL 244.3

Đây là nền tảng trên đó chúng ta phải tỏ lòng thương xót đối với những tội nhân đồng loại. “Hỡi kẻ rất yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, chúng ta cũng phải yêu nhau.”

“Hỡi kẻ rất yêu dấu, nếu Đức Chúa Trời đã yêu chúng ta dường ấy, thì chúng ta cũng phải yêu nhau.” (I Giăng 4:11)

Đấng Christ phán: “Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không.”

“Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không.” (Ma-thi-ơ 10:8) COL 245.1

Trong ẩn dụ, khi con nợ nài xin được hoãn nợ, với lời hứa: “Xin hoãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết”, bản án được rút lại. Toàn bộ món nợ đã được xóa. Và chẳng bao lâu sau, người ấy được dịp để noi theo gương của chủ mình, người đã tha thứ cho mình. Khi đi ra, người ấy gặp một bạn làm việc có nợ mình một số tiền nhỏ. Bản thân người đã được tha một vạn ta-lâng; còn người mắc nợ người ấy chỉ nợ một trăm đơ-ni-ê. Nhưng người đã được đối xử khoan dung như vậy lại cư xử với bạn làm việc của mình theo một cách hoàn toàn khác. Người mắc nợ người ấy nài xin tương tự như chính người đã nài xin vua, nhưng không nhận được kết quả tương tự. Người vừa mới được tha thứ lại không có lòng dịu dàng và thương xót. Lòng thương xót đã được tỏ ra cho người, người lại không tỏ ra trong cách đối xử với bạn làm việc của mình. Người không đếm xỉa đến lời cầu xin được kiên nhẫn. Số nợ nhỏ mà người ấy nợ mình là tất cả những gì đầy tớ vô ơn giữ trong tâm trí. Người đòi tất cả những gì người nghĩ là thuộc về mình, và thi hành một bản án tương tự như bản án đã được ân cần thu hồi cho chính mình. COL 245.2

Ngày nay có biết bao người đang biểu lộ cùng một tinh thần như vậy. Khi con nợ nài xin lòng thương xót của chủ mình, người ấy không có ý thức thật về sự to lớn của món nợ mình. Người không nhận ra sự bất lực của mình. Người hy vọng tự giải thoát mình. Người nói: “Xin hoãn cho tôi, thì tôi sẽ trả hết.” Cũng vậy, có nhiều người hy vọng nhờ công việc riêng của mình mà được ân huệ của Đức Chúa Trời. Họ không nhận ra sự bất lực của mình. Họ không chấp nhận ân điển của Đức Chúa Trời như một tặng phẩm nhưng không, nhưng đang cố xây dựng bản thân trong sự công bình riêng. Lòng họ không tan vỡ và hạ mình vì tội lỗi, và họ khắc nghiệt và không tha thứ đối với người khác. Tội lỗi của chính họ đối với Đức Chúa Trời, so với tội lỗi của anh em họ đối với họ, giống như một vạn ta-lâng so với một trăm đơ-ni-ê—gần một triệu so với một; thế mà họ dám không tha thứ. COL 245.3

Trong ẩn dụ, chủ đã triệu tập con nợ không có lòng thương xót, và “nói rằng: Hỡi đầy tớ độc ác kia, ta đã tha hết nợ cho ngươi, vì ngươi cầu xin ta; ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao? Chủ nổi giận, phú nó cho kẻ giữ ngục cho đến khi nào trả xong hết nợ.” Đức Chúa Giê-su phán: “Nếu mỗi người trong các ngươi không hết lòng tha lỗi cho anh em mình, thì Cha ta ở trên trời cũng sẽ xử với các ngươi như vậy.” Người từ chối tha thứ thì chính mình đang vứt bỏ hy vọng được tha thứ của mình. COL 247.1

Nhưng lời dạy của ẩn dụ này không nên bị áp dụng sai. Sự tha thứ của Đức Chúa Trời đối với chúng ta không hề làm giảm bổn phận của chúng ta phải vâng lời Ngài. Cũng vậy, tinh thần tha thứ đối với đồng loại không làm giảm bớt đòi hỏi về nghĩa vụ chính đáng. Trong lời cầu nguyện mà Đấng Christ dạy các môn đồ, Ngài phán: “Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi.”

“Xin tha tội lỗi cho chúng tôi, như chúng tôi cũng tha kẻ phạm tội nghịch cùng chúng tôi;” (Ma-thi-ơ 6:12)

Bởi điều này, Ngài không có ý rằng để được tha thứ tội lỗi, chúng ta không được đòi hỏi những khoản nợ chính đáng từ những con nợ của mình. Nếu họ không thể trả, ngay cả khi đây có thể là kết quả của sự quản lý không khôn ngoan, họ không nên bị tống vào tù, bị áp bức, hoặc thậm chí bị đối xử khắc nghiệt; nhưng ẩn dụ này không dạy chúng ta khuyến khích sự biếng nhác. Lời Đức Chúa Trời tuyên bố rằng nếu ai không chịu làm việc, thì cũng không nên ăn. (

“Khi chúng tôi ở cùng anh em, cũng đã rao bảo cho anh em rằng: nếu ai không khứng làm việc, thì cũng không nên ăn nữa.” (II Tê-sa-lô-ni-ca 3:10)

.) Chúa không đòi hỏi người chăm chỉ làm việc phải chu cấp cho kẻ khác trong sự biếng nhác. Nơi nhiều người có sự phí phạm thì giờ, thiếu nỗ lực, dẫn đến nghèo đói và thiếu thốn. Nếu những lỗi lầm này không được sửa chữa bởi chính những người buông mình vào đó, thì tất cả những gì có thể làm được cho họ sẽ giống như bỏ của báu vào một cái túi có lỗ thủng. Tuy nhiên, có một sự nghèo khó không thể tránh khỏi, và chúng ta phải tỏ lòng dịu dàng và thương xót đối với những người bất hạnh. Chúng ta nên đối xử với người khác y như chính chúng ta, trong hoàn cảnh tương tự, mong muốn được đối xử. COL 247.2

Đức Thánh Linh qua sứ đồ Phao-lô khuyên dặn chúng ta: “Vậy nếu trong Đấng Christ có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn. Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi một người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Christ đã có.”

“Vậy nếu trong Đấng Cơ-đốc có điều yên ủi nào, nếu vì lòng yêu thương có điều cứu giúp nào, nếu có sự thông công nơi Thánh Linh, nếu có lòng yêu mến và lòng thương xót, thì anh em hãy hiệp ý với nhau, đồng tình yêu thương, đồng tâm, đồng tư tưởng mà làm cho tôi vui mừng trọn vẹn. Chớ làm sự chi vì lòng tranh cạnh hoặc vì hư vinh, nhưng hãy khiêm nhường, coi người khác như tôn trọng hơn mình. Mỗi một người trong anh em chớ chăm về lợi riêng mình, nhưng phải chăm về lợi kẻ khác nữa. Hãy có đồng một tâm tình như Đấng Cơ-đốc đã có,” (Phi-líp 2:1-5) COL 248.1

Nhưng tội lỗi không phải là điều để xem nhẹ. Chúa đã truyền dặn chúng ta không để cho anh em mình chịu điều sai trái. Ngài phán: “Nếu anh em ngươi đã phạm tội, hãy quở trách họ.”

“Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.” (Lu-ca 17:3)

Tội lỗi phải được gọi đúng tên của nó, và phải được trình bày rõ ràng trước kẻ làm sai. COL 248.2

Trong lời khuyên dặn Ti-mô-thê, Phao-lô, viết bởi Đức Thánh Linh, nói: “Hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi.”

“hãy giảng đạo, cố khuyên, bất luận gặp thời hay không gặp thời, hãy đem lòng rất nhịn nhục mà bẻ trách, nài khuyên, sửa trị, cứ dạy dỗ chẳng thôi.” (II Ti-mô-thê 4:2)

Và viết cho Tít, ông nói: “Vả, có nhiều người nhất là trong những người chịu cắt bì, chẳng chịu vâng phục, hay nói hư không và phỉnh dỗ… Vậy hãy quở nặng họ, hầu cho họ có đức tin vẹn lành.”

“Vả, có nhiều người, nhứt là trong những người chịu cắt bì, chẳng chịu vâng phục, hay nói hư không và phỉnh dỗ, đáng phải bịt miệng họ đi. Họ vì mối lợi đáng bỉ mà dạy điều không nên dạy, và phá đổ cả nhà người ta. Một người trong bọn họ, tức là bậc tiên tri của họ, có nói rằng: Người Cơ-rết hay nói dối, là thú dữ, ham ăn mà làm biếng. Lời chứng ấy quả thật lắm. Vậy hãy quở nặng họ, hầu cho họ có đức tin vẹn lành,” (Tít 1:10-13) COL 248.3

Đức Chúa Giê-su phán:

“Nếu anh em ngươi phạm tội cùng ngươi, thì hãy trách người khi chỉ có ngươi với một mình người; như người nghe lời, thì ngươi được anh em lại. Ví bằng không nghe, hãy mời một hai người đi với ngươi, hầu cứ lời hai ba người làm chứng mà mọi việc được chắc chắn. Nếu người không chịu nghe các người đó, thì hãy cáo cùng Hội thánh, lại nếu người không chịu nghe Hội thánh, thì hãy coi người như kẻ ngoại và kẻ thâu thuế vậy.” (Ma-thi-ơ 18:15-17) COL 248.4

Chúa chúng ta dạy rằng những vấn đề khó khăn giữa các Cơ-đốc nhân phải được giải quyết trong hội thánh. Chúng không nên được phơi bày trước những người không kính sợ Đức Chúa Trời. Nếu một Cơ-đốc nhân bị anh em mình làm điều sai trái, thì đừng kiện lên những kẻ chẳng tin tại tòa án. Hãy làm theo lời chỉ dẫn mà Đấng Christ đã ban. Thay vì tìm cách trả thù, hãy tìm cách cứu anh em mình. Đức Chúa Trời sẽ bảo vệ quyền lợi của những ai yêu mến và kính sợ Ngài, và chúng ta có thể tin cậy giao phó trường hợp mình cho Đấng phán xét công bình. COL 248.5

Rất nhiều khi sai trái cứ được lặp đi lặp lại, và người phạm lỗi thú nhận lỗi lầm của mình, thì người bị xúc phạm trở nên mệt mỏi, và nghĩ rằng mình đã tha thứ khá đủ rồi. Nhưng Đấng Cứu Thế đã nói rõ với chúng ta cách đối xử với những người lầm lạc:

“Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ.” (Lu-ca 17:3)

Đừng xa lánh người ấy như thể không đáng để bạn tin cậy. Hãy xét

“Hỡi anh em, ví bằng có người nào tình cờ phạm lỗi gì, anh em là kẻ có Đức Thánh Linh, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại; chính mình anh em lại phải giữ, e cũng bị dỗ dành chăng.” (Ga-la-ti 6:1) COL 249.1

Nếu anh em mình phạm lỗi, bạn phải tha thứ cho họ. Khi họ đến với bạn để thú nhận, bạn không nên nói: Tôi không nghĩ họ đã đủ khiêm nhường. Tôi không nghĩ họ thật lòng xưng tội. Bạn có quyền gì mà xét đoán họ, như thể bạn có thể đọc được tấm lòng? Lời Đức Chúa Trời phán:

“Các ngươi hãy giữ lấy mình. Nếu anh em ngươi đã phạm tội hãy quở trách họ; và nếu họ ăn năn, thì hãy tha thứ. Dầu trong một ngày, họ phạm tội cùng ngươi bảy lần, và bảy lần trở lại cùng ngươi mà nói rằng: Tôi ăn năn, thì hãy tha tội cho họ.” (Lu-ca 17:3-4)

Và không chỉ bảy lần, mà là bảy mươi lần bảy — cũng thường xuyên như Đức Chúa Trời tha thứ cho bạn. COL 249.2

Chính chúng ta nợ mọi sự nơi ân điển nhưng không của Đức Chúa Trời. Ân điển trong giao ước đã định trước sự nhận chúng ta làm con. Ân điển trong Đấng Cứu Thế đã thực hiện sự cứu chuộc, sự tái sanh, và sự nâng lên làm kẻ đồng kế tự với Đấng Christ của chúng ta. Hãy để ân điển này được bày tỏ cho người khác. COL 250.1

Đừng cho người lầm lạc cơ hội để nản lòng. Chớ để một sự cứng lòng kiểu người Pha-ri-si xen vào và làm tổn thương anh em mình. Chớ để một lời mỉa mai cay đắng nào dấy lên trong tâm trí hay tấm lòng. Chớ để một chút khinh miệt nào biểu lộ trong giọng nói. Nếu bạn thốt ra một lời riêng của mình, nếu bạn có thái độ thờ ơ, hay tỏ ra nghi ngờ hoặc không tin tưởng, điều đó có thể dẫn đến sự hư mất của một linh hồn. Người ấy cần một anh em có tấm lòng cảm thông như Anh Cả để chạm đến tấm lòng nhân loại của mình. Hãy để người ấy cảm nhận cái siết chặt mạnh mẽ của một bàn tay cảm thông, và nghe được lời thì thầm: Chúng ta hãy cầu nguyện. Đức Chúa Trời sẽ ban cho cả hai bạn một kinh nghiệm phong phú. Lời cầu nguyện liên kết chúng ta với nhau và với Đức Chúa Trời. Lời cầu nguyện đem Đức Chúa Giê-su đến bên cạnh chúng ta, và ban cho linh hồn yếu đuối, bối rối sức mạnh mới để thắng thế gian, xác thịt và ma quỷ. Lời cầu nguyện làm chệch hướng các cuộc tấn công của Sa-tan. COL 250.2

Khi một người quay khỏi những khiếm khuyết của loài người để chiêm ngưỡng Đức Chúa Giê-su, thì một sự biến đổi thiêng liêng xảy ra trong tính cách. Thánh Linh của Đấng Christ hành động trên tấm lòng, làm cho nó trở nên giống hình ảnh Ngài. Vậy hãy để nỗ lực của bạn là nâng cao Đức Chúa Giê-su. Hãy để con mắt của tâm trí hướng về

“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)

Và khi bạn dự phần vào công việc này, hãy nhớ rằng

“thì phải biết rằng kẻ làm cho người có tội trở lại, bỏ đường lầm lạc, ấy là cứu linh hồn người khỏi sự chết và che đậy vô số tội lỗi.” (Gia-cơ 5:20) COL 250.3

“Song nếu không tha lỗi cho người ta, thì Cha các ngươi cũng sẽ không tha lỗi cho các ngươi.” (Ma-thi-ơ 6:15)

Không có điều gì có thể biện minh cho một tinh thần không tha thứ. Kẻ không thương xót người khác chứng tỏ chính mình không hề dự phần vào ân điển tha thứ của Đức Chúa Trời. Trong sự tha thứ của Đức Chúa Trời, tấm lòng của người lầm lạc được kéo lại gần tấm lòng vĩ đại của Tình Yêu Vô Hạn. Thủy triều của lòng thương xót thiêng liêng tuôn chảy vào linh hồn tội nhân, và từ người ấy đến linh hồn của những người khác. Sự dịu dàng và lòng thương xót mà Đấng Christ đã bày tỏ trong chính đời sống quý báu của Ngài sẽ được thấy nơi những ai trở nên người dự phần trong ân điển Ngài. Nhưng

“Về phần anh em, nếu thật quả Thánh Linh Đức Chúa Trời ở trong mình, thì không sống theo xác thịt đâu, nhưng theo Thánh Linh; song nếu ai không có Thánh Linh của Đấng Cơ-đốc, thì người ấy chẳng thuộc về Ngài.” (Rô-ma 8:9)

Người ấy bị phân cách khỏi Đức Chúa Trời, và chỉ thích hợp cho sự phân cách đời đời khỏi Ngài. COL 251.1

Thật vậy, người ấy có thể đã từng nhận được sự tha thứ; nhưng tinh thần không thương xót của mình cho thấy rằng giờ đây người ấy khước từ tình yêu tha thứ của Đức Chúa Trời. Người ấy đã tự tách mình khỏi Đức Chúa Trời, và đang ở trong cùng tình trạng như trước khi mình được tha thứ. Người ấy đã chối bỏ sự ăn năn của mình, và các tội lỗi vẫn còn đè nặng trên người ấy như thể chưa hề ăn năn. COL 251.2

Nhưng bài học lớn của ẩn dụ nằm ở sự tương phản giữa lòng thương xót của Đức Chúa Trời và sự cứng lòng của con người; ở chỗ lòng thương xót tha thứ của Đức Chúa Trời phải là thước đo cho chính chúng ta. “Ngươi há lại chẳng nên thương xót bạn làm việc ngươi như ta đã thương xót ngươi sao?” COL 251.3

Chúng ta không được tha thứ vì chúng ta tha thứ, nhưng tùy theo mức độ chúng ta tha thứ. Căn nguyên của mọi sự tha thứ được tìm thấy trong tình yêu không xứng đáng của Đức Chúa Trời, nhưng qua thái độ của chúng ta đối với người khác, chúng ta tỏ ra mình có biến tình yêu đó thành của riêng mình hay không. Vì vậy, Đấng Christ phán:

“Vì các ngươi đoán xét người ta thể nào, thì họ cũng đoán xét lại thể ấy; các ngươi lường cho người ta mực nào, thì họ cũng lường lại cho mực ấy.” (Ma-thi-ơ 7:2) COL 251.4