Chương 15
15

"Người Nầy Tiếp Những Kẻ Tội Lỗi"

Chương này dựa trên

“Hết thảy các người thâu thuế và người có tội đến gần Đức Chúa Giê-su đặng nghe Ngài giảng. Các người Pha-ri-si và các thầy thông giáo lằm bằm mà nói rằng: Người này tiếp những kẻ tội lỗi, và cùng ăn với họ! Ngài bèn phán cho họ lời thí dụ này: Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho kỳ được sao? Khi đã kiếm được, thì vui mừng vác nó lên vai; đoạn, về đến nhà, kêu bạn hữu và kẻ lân cận, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất. Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn. Hay là, có người đàn bà nào có mười đồng bạc, mất một đồng, mà không thắp đèn, quét nhà, kiếm kỹ càng cho kỳ được sao? Khi tìm được rồi, gọi bầu bạn và người lân cận mình, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được đồng bạc bị mất. Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn.” (Lu-ca 15:1-10)

Khi “những người thâu thuế và kẻ có tội” tụ họp quanh Đấng Christ, các thầy thông giáo đã bày tỏ sự bất bình của họ. Họ nói: “Người nầy tiếp những kẻ tội lỗi và cùng ăn với họ.” COL 185.1

Bằng lời buộc tội này, họ ám chỉ rằng Đấng Christ thích giao du với những kẻ tội lỗi và thấp hèn, mà chẳng nhận ra sự gian ác của chúng. Các thầy thông giáo đã thất vọng về Đức Chúa Giê-su. Tại sao một người tự nhận có phẩm cách cao cả như vậy lại không hòa nhập với họ và theo phương pháp giảng dạy của họ? Tại sao Ngài lại đi lại một cách khiêm nhường như thế, làm việc giữa đủ mọi tầng lớp? Họ nói, nếu Ngài là một tiên tri thật, thì Ngài sẽ đồng quan điểm với họ, và sẽ đối xử với những người thâu thuế và kẻ có tội bằng sự lạnh nhạt mà họ đáng phải nhận. Những người tự xem mình là người bảo vệ xã hội này tức giận khi thấy Đấng mà họ luôn tranh cãi — Đấng có đời sống tinh khiết khiến họ kinh sợ và lên án họ — lại gặp gỡ cách đầy cảm thông với những kẻ bị xã hội ruồng bỏ. Họ không tán thành phương pháp của Ngài. Họ tự xem mình là có học thức, tao nhã và đạo đức xuất chúng; nhưng tấm gương của Đấng Christ đã phơi bày sự ích kỷ của họ. COL 185.2

Họ cũng tức giận khi thấy những người chỉ tỏ ra khinh miệt các thầy thông giáo và chẳng bao giờ xuất hiện trong các nhà hội lại tụ họp quanh Đức Chúa Giê-su và chăm chú lắng nghe lời Ngài. Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si chỉ cảm thấy bị kết án trước sự hiện diện thánh khiết ấy; vậy thì tại sao những người thâu thuế và kẻ có tội lại bị thu hút đến với Đức Chúa Giê-su? COL 186.1

Họ không biết rằng câu trả lời nằm chính trong những lời mà họ đã thốt ra như một lời buộc tội khinh bỉ: “Người nầy tiếp những kẻ tội lỗi.” Những linh hồn đến với Đức Chúa Giê-su cảm thấy trong sự hiện diện của Ngài rằng ngay cả đối với họ, vẫn có lối thoát khỏi vực sâu tội lỗi. Người Pha-ri-si chỉ có sự khinh bỉ và lên án dành cho họ; nhưng Đấng Christ đón tiếp họ như con cái của Đức Chúa Trời, dù quả thật đã xa cách nhà Cha, nhưng không bị lãng quên trong lòng Đức Chúa Cha. Và chính sự khốn khổ và tội lỗi của họ càng khiến họ trở nên đối tượng của lòng thương xót Ngài nhiều hơn. Họ càng đi lạc xa Ngài bao nhiêu, thì nỗi khao khát của Ngài càng tha thiết và sự hy sinh để cứu họ càng lớn lao bấy nhiêu. COL 186.2

Tất cả những điều này, các giáo sư Y-sơ-ra-ên đáng lẽ có thể học được từ những cuộn sách thánh mà họ vốn hãnh diện vì là người gìn giữ và giải nghĩa. Chẳng phải Đa-vít — là Đa-vít, người đã sa vào tội lỗi chết người — đã viết:

“Tôi xiêu lạc khác nào con chiên mất: Xin hãy tìm kiếm kẻ tôi tớ Chúa, Vì tôi không quên điều răn của Chúa.” (Thi-thiên 119:176)

hay sao? Chẳng phải Mi-chê đã bày tỏ tình yêu của Đức Chúa Trời dành cho tội nhân khi nói:

“Ai là Đức Chúa Trời giống như Ngài, tha thứ sự gian ác, và bỏ qua sự phạm pháp của dân sót của sản nghiệp Ngài? Ngài không cưu giận đời đời, vì Ngài lấy sự nhân từ làm vui thích.” (Mi-chê 7:18)

hay sao? COL 186.3

Con Chiên Lạc Mất

Lúc ấy Đấng Christ không nhắc lại cho thính giả những lời trong Kinh Thánh. Ngài kêu gọi chính kinh nghiệm của họ làm chứng. Những cao nguyên rộng lớn ở phía đông sông Giô-đanh cung cấp đồng cỏ dồi dào cho bầy chiên, và qua các khe núi và trên những đồi cây rậm rạp đã có biết bao con chiên đi lạc, để rồi người chăn phải tìm kiếm và đem về với sự chăm sóc ân cần. Trong đám đông vây quanh Đức Chúa Giê-su có những người chăn chiên, và cũng có những người đã đầu tư tiền bạc vào các bầy súc vật, nên tất cả đều có thể hiểu thấu lời minh họa của Ngài:

“Trong các ngươi ai là người có một trăm con chiên, nếu mất một con, mà không để chín mươi chín con nơi đồng vắng, đặng đi tìm con đã mất cho kỳ được sao?” (Lu-ca 15:4) COL 186.4

Đức Chúa Giê-su phán, những linh hồn mà các ngươi khinh dể này chính là tài sản của Đức Chúa Trời. Bởi sự sáng tạo và bởi sự cứu chuộc, họ thuộc về Ngài, và họ có giá trị trước mắt Ngài. Như người chăn yêu đàn chiên mình và không thể yên nghỉ nếu dù chỉ một con bị thiếu, thì ở mức độ vô cùng cao hơn, Đức Chúa Trời cũng yêu thương mỗi một linh hồn bị bỏ rơi như vậy. Loài người có thể phủ nhận đòi hỏi của tình yêu Ngài, họ có thể đi lạc xa Ngài, họ có thể chọn một chủ khác; tuy nhiên họ vẫn thuộc về Đức Chúa Trời, và Ngài khát khao tìm lại của cải của chính mình. Ngài phán:

“Ví như kẻ chăn tìm bầy mình ra, trong ngày mà nó ở giữa những chiên mình bị tan lạc, thì ta cũng sẽ tìm chiên ta ra như vậy: ta sẽ cứu chúng nó ra khỏi mọi nơi mà chúng nó đã bị tan lạc trong ngày mây mù tăm tối.” (Ê-xê-chi-ên 34:12) COL 187.1

Trong ẩn dụ này, người chăn đi ra để tìm kiếm một con chiên — con số nhỏ nhất có thể đếm được. Vì vậy, nếu chỉ có một linh hồn hư mất, thì Đấng Christ cũng đã chịu chết vì một linh hồn ấy. COL 187.2

Con chiên đã đi lạc khỏi chuồng là sinh vật bất lực nhất trong tất cả các loài thọ tạo. Nó phải được người chăn tìm kiếm, vì nó không thể tự tìm đường trở về. Linh hồn đã đi lạc khỏi Đức Chúa Trời cũng vậy; người ấy bất lực như con chiên lạc mất, và nếu tình yêu thiêng liêng không đến giải cứu thì người ấy sẽ không bao giờ tìm được đường về với Đức Chúa Trời. COL 187.3

Người chăn phát hiện một con chiên của mình bị thiếu sẽ không nhìn cách thờ ơ vào bầy chiên đã an toàn trong chuồng mà nói rằng: “Ta đã có chín mươi chín con, việc đi tìm con chiên lạc sẽ tốn quá nhiều công sức. Hãy để nó tự quay về, và ta sẽ mở cửa chuồng cho nó vào.” Không; con chiên vừa mới đi lạc thì lòng người chăn đã tràn đầy đau buồn và lo lắng. Ông đếm đi đếm lại bầy chiên. Khi biết chắc có một con bị lạc mất, ông không ngủ được. Ông để chín mươi chín con trong chuồng và đi tìm con chiên đi lạc. Đêm càng tối tăm và bão bùng, đường đi càng nguy hiểm thì nỗi lo lắng của người chăn càng lớn và sự tìm kiếm của ông càng tha thiết. Ông cố gắng hết mọi cách để tìm cho được con chiên lạc ấy. COL 187.4

Với bao nhiêu nhẹ nhõm, ông nghe từ xa tiếng kêu yếu ớt đầu tiên của nó. Lần theo âm thanh ấy, ông trèo lên những đỉnh núi dốc đứng, ông đi tới tận mép vực thẳm, bất chấp nguy hiểm đến tính mạng. Ông cứ thế tìm kiếm, trong khi tiếng kêu mỗi lúc một yếu dần báo cho ông biết rằng con chiên sắp chết. Cuối cùng, công sức của ông được tưởng thưởng; con chiên lạc mất đã được tìm thấy. Rồi ông không la mắng nó vì đã gây cho ông bao phiền phức. Ông không dùng roi để đánh đuổi nó. Ông thậm chí không cố dẫn nó về nhà. Trong niềm vui, ông vác con vật đang run rẩy lên vai; nếu nó bị thương tích và rách nát, ông ôm nó vào lòng, áp sát vào ngực mình, để hơi ấm từ chính trái tim ông ban sự sống cho nó. Với lòng biết ơn vì sự tìm kiếm của mình không vô ích, ông vác nó trở về chuồng. COL 188.1

Cảm tạ Đức Chúa Trời, Ngài đã không đặt vào trí tưởng tượng của chúng ta hình ảnh một người chăn buồn bã trở về mà không có con chiên. Ẩn dụ không nói về sự thất bại mà nói về sự thành công và niềm vui trong việc tìm lại được. Đây là sự bảo đảm thiêng liêng rằng không một con chiên đi lạc nào trong bầy của Đức Chúa Trời bị bỏ qua, không một con nào bị bỏ mặc không được cứu giúp. Mỗi người bằng lòng để được chuộc, Đấng Christ sẽ giải cứu khỏi hầm hư nát và khỏi bụi gai của tội lỗi. COL 188.2

Hỡi linh hồn nản lòng, hãy can đảm lên, dẫu ngươi đã làm điều gian ác. Đừng nghĩ rằng có lẽ Đức Chúa Trời sẽ tha thứ những vi phạm của ngươi và cho phép ngươi đến trước mặt Ngài. Đức Chúa Trời đã đi bước đầu tiên. Trong khi ngươi còn nổi loạn chống lại Ngài, Ngài đã đi ra để tìm ngươi. Với tấm lòng dịu dàng của người chăn, Ngài đã rời bỏ chín mươi chín con mà đi vào đồng vắng để tìm con bị lạc mất. Linh hồn bị thương tích và đầy vết thương, sắp bị hư mất, Ngài ôm vào vòng tay yêu thương của Ngài và vui mừng vác trở về chuồng an toàn. COL 188.3

Người Do Thái dạy rằng trước khi tình yêu của Đức Chúa Trời được ban cho kẻ có tội, người ấy trước hết phải ăn năn. Theo quan điểm của họ, sự ăn năn là một công việc nhờ đó con người kiếm được ân huệ của Thiên đàng. Và chính suy nghĩ này đã khiến người Pha-ri-si kinh ngạc và tức giận mà kêu lên rằng: “Người nầy tiếp những kẻ tội lỗi.” Theo ý họ, Ngài không nên cho phép ai đến gần mình ngoài những người đã ăn năn. Nhưng trong ẩn dụ về con chiên lạc mất, Đấng Christ dạy rằng sự cứu rỗi không đến qua sự tìm kiếm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời mà qua sự tìm kiếm của Đức Chúa Trời đối với chúng ta.

“Chẳng có một người nào hiểu biết, Chẳng có một người nào tìm kiếm Đức Chúa Trời. Chúng nó đều sai lạc cả, thảy cùng nhau ra vô ích; Chẳng có một người làm điều lành, dẫu một người cũng không.” (Rô-ma 3:11-12)

Chúng ta không ăn năn để Đức Chúa Trời có thể yêu thương chúng ta, nhưng Ngài bày tỏ cho chúng ta tình yêu của Ngài để chúng ta có thể ăn năn. COL 189.1

Khi con chiên lạc cuối cùng được đem về nhà, lòng biết ơn của người chăn được bày tỏ qua những khúc ca vui mừng êm ái. Ông mời bạn hữu và láng giềng đến mà nói cùng họ rằng: “Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được con chiên bị mất.” Vì vậy, khi một kẻ đi lạc được Đấng Chăn Chiên lớn tìm thấy, trời và đất hiệp nhau trong sự tạ ơn và vui mừng. COL 189.2

“Ta nói cùng các ngươi, trên trời cũng như vậy, sẽ vui mừng cho một kẻ có tội ăn năn hơn là chín mươi chín kẻ công bình không cần phải ăn năn.” (Lu-ca 15:7)

Đấng Christ phán, hỡi các ngươi là người Pha-ri-si, các ngươi tự xem mình là những người được thiên đàng ưu ái. Các ngươi tự cho mình được an toàn trong sự công bình của riêng mình. Vậy hãy biết rằng, nếu các ngươi không cần ăn năn, thì sứ mạng của Ta không dành cho các ngươi. Những linh hồn nghèo khổ cảm biết được sự nghèo nàn và tội lỗi của mình, ấy chính là những người mà Ta đã đến để giải cứu. Các thiên sứ trên trời quan tâm đến những kẻ lạc mất này mà các ngươi khinh dể. Các ngươi phàn nàn và chế giễu khi một trong những linh hồn ấy đến hiệp cùng Ta; nhưng hãy biết rằng các thiên sứ vui mừng, và bài ca khải hoàn vang dội khắp hành lang trên trời. COL 189.3

Các ra-bi có câu nói rằng trên trời có sự vui mừng khi một kẻ đã phạm tội với Đức Chúa Trời bị hủy diệt; nhưng Đức Chúa Giê-su dạy rằng đối với Đức Chúa Trời, công việc hủy diệt là công việc lạ lùng. Điều mà cả thiên đàng vui thỏa chính là sự phục hồi hình ảnh của Đức Chúa Trời trong những linh hồn mà Ngài đã tạo dựng. COL 190.1

Khi một người đã đi lạc xa trong tội lỗi tìm cách trở về cùng Đức Chúa Trời, người ấy sẽ gặp phải sự chỉ trích và ngờ vực. Sẽ có những người nghi ngờ liệu sự ăn năn của người ấy có chân thật hay không, hoặc thì thầm rằng: “Người này không kiên định đâu; tôi không tin rằng người ấy sẽ bền lòng.” Những người này không làm công việc của Đức Chúa Trời mà làm công việc của Sa-tan, là kẻ kiện cáo anh em. Qua những lời chỉ trích của họ, kẻ ác hy vọng làm cho linh hồn ấy nản lòng và đẩy người ấy xa hơn nữa khỏi niềm hy vọng và khỏi Đức Chúa Trời. Hãy để kẻ có tội đang ăn năn suy ngẫm về sự vui mừng trên thiên đàng về sự trở về của kẻ đã bị lạc mất. Hãy để người ấy yên nghỉ trong tình yêu của Đức Chúa Trời và không bao giờ để mình nản lòng bởi sự khinh bỉ và nghi ngờ của người Pha-ri-si. COL 190.2

Các thầy ra-bi hiểu ngụ ngôn của Đấng Christ là chỉ áp dụng cho những người thâu thuế và kẻ có tội; nhưng ngụ ngôn ấy còn có một ý nghĩa rộng lớn hơn. Qua con chiên lạc mất, Đấng Christ không chỉ tiêu biểu cho một tội nhân cá nhân mà còn cho cả thế giới đã bội đạo và bị hủy hoại bởi tội lỗi. Thế giới này chỉ là một hạt bụi nhỏ trong những lãnh thổ mênh mông mà Đức Chúa Trời cai quản, vậy mà thế giới nhỏ bé sa ngã này—con chiên lạc mất ấy—lại quý báu hơn trong mắt Ngài so với chín mươi chín con không đi lạc khỏi bầy. Đấng Christ, vị Thống Lĩnh yêu quý trong các triều đình thiên đàng, đã hạ mình xuống khỏi địa vị cao trọng của Ngài, đặt sang một bên vinh hiển mà Ngài đã có với Đức Chúa Cha, để cứu lấy một thế giới lạc mất. Vì điều này mà Ngài đã rời bỏ những thế giới không tội lỗi ở trên cao, chín mươi chín thế giới đã yêu mến Ngài, và đến thế gian này, để bị “vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, bởi sự gian ác chúng ta mà bị bầm giập.”

“Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh.” (Ê-sai 53:5)

Đức Chúa Trời đã ban chính Ngài trong Con Ngài để Ngài có thể có được niềm vui nhận lại con chiên đã lạc mất. COL 190.3

“Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời.”

“Hãy xem Đức Chúa Cha đã tỏ cho chúng ta sự yêu thương dường nào, mà cho chúng ta được xưng là con cái Đức Chúa Trời; và chúng ta thật là con cái Ngài. Ấy là vì đó mà thế gian chẳng biết chúng ta, vì họ chẳng từng biết Ngài.” (I Giăng 3:1)

Và Đấng Christ phán, “Như Cha đã sai Con trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian” (

“Như Cha đã sai Con trong thế gian, thì Con cũng sai họ trong thế gian.” (Giăng 17:18)

)—để “làm cho đầy đủ trong xác thịt tôi những sự còn lại trong các điều đau khổ của Đấng Christ, … vì Hội thánh, tức là thân thể Ngài.”

“Nay tôi lấy làm vui về sự tôi đã chịu khổ sở vì anh em, tôi lại vì thân thể Đấng Cơ-đốc, là Hội thánh, mà đem xác thịt mình chịu hết các điều còn lại trong sự thương khó của Ngài.” (Cô-lô-se 1:24)

Mọi linh hồn mà Đấng Christ đã giải cứu đều được kêu gọi làm việc trong danh Ngài để cứu lấy những kẻ hư mất. Công việc này đã bị lơ là trong Y-sơ-ra-ên. Ngày nay, há công việc ấy cũng không bị lơ là bởi những kẻ tự xưng là môn đồ của Đấng Christ sao? COL 191.1

Hỡi bạn đọc, bạn đã tìm kiếm và đem bao nhiêu kẻ lạc đường trở lại bầy? Khi bạn quay lưng với những người dường như không hứa hẹn và không hấp dẫn, bạn có nhận ra rằng mình đang lơ là những linh hồn mà Đấng Christ đang tìm kiếm không? Chính vào lúc bạn quay lưng với họ, có lẽ họ đang cần lòng thương xót của bạn hơn bao giờ hết. Trong mỗi buổi nhóm thờ phượng, đều có những linh hồn khao khát sự nghỉ ngơi và bình an. Họ có thể trông như đang sống cuộc đời vô tâm, nhưng họ không hề vô cảm trước ảnh hưởng của Đức Thánh Linh. Nhiều người trong số họ có thể được đưa về cho Đấng Christ. COL 191.2

Nếu con chiên lạc không được đưa trở lại bầy, nó sẽ lang thang cho đến khi chết mất. Và nhiều linh hồn đi vào chỗ hủy diệt vì thiếu một bàn tay đưa ra để cứu. Những kẻ lầm đường này có thể trông cứng cỏi và liều lĩnh; nhưng nếu họ đã nhận được cùng những thuận lợi mà những người khác đã có, có lẽ họ đã bộc lộ nhiều cao quý hơn nữa trong tâm hồn, và tài năng lớn lao hơn cho sự hữu dụng. Các thiên sứ thương xót những kẻ lang thang này. Các thiên sứ khóc, trong khi mắt con người khô ráo và lòng khép kín trước sự thương xót. COL 191.3

Ôi, sự thiếu vắng lòng cảm thông sâu xa, lay động tâm hồn dành cho những kẻ bị cám dỗ và lầm đường! Ôi, mong sao có nhiều hơn tinh thần của Đấng Christ, và ít hơn, ít hơn rất nhiều cái tôi! COL 192.1

Người Pha-ri-si hiểu ngụ ngôn của Đấng Christ là một lời quở trách đối với họ. Thay vì chấp nhận lời chỉ trích của họ đối với công việc của Ngài, Ngài đã quở trách họ vì đã lơ là những người thâu thuế và kẻ có tội. Ngài đã không làm điều này cách công khai, e rằng sẽ khiến lòng họ đóng lại đối với Ngài; nhưng lời minh họa của Ngài đã đặt ra trước mắt họ chính công việc mà Đức Chúa Trời đòi hỏi ở họ, và là điều họ đã không làm. Nếu họ là những người chăn chiên thật, thì các nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên này đã làm công việc của người chăn chiên. Họ đã bày tỏ lòng thương xót và tình yêu thương của Đấng Christ, và đã cùng hiệp với Ngài trong sứ mạng của Ngài. Việc họ từ chối làm điều này đã chứng tỏ những lời xưng nhận của họ về sự tin kính là giả dối. Bấy giờ nhiều người đã khước từ lời quở trách của Đấng Christ; tuy nhiên, với một số người, lời của Ngài đã đem đến sự cáo trách. Trên những người này, sau khi Đấng Christ thăng thiên, Đức Thánh Linh đã giáng xuống, và họ đã hiệp cùng các môn đồ của Ngài trong chính công việc được phác họa trong ngụ ngôn con chiên lạc mất. COL 192.2

Đồng Bạc Bị Mất

Sau khi kể ví dụ về con chiên bị lạc, Đấng Christ lại kể một ví dụ khác rằng: “Hay là, có người đờn bà nào có mười đồng bạc, mất một đồng, mà không thắp đèn, quét nhà, kiếm kỹ càng cho kỳ được sao?” COL 192.3

Ở phương Đông, nhà của người nghèo thường chỉ có một gian phòng, phần nhiều không có cửa sổ và tối tăm. Gian phòng ít khi được quét dọn, và một đồng tiền rơi xuống sàn sẽ nhanh chóng bị bụi bặm và rác rến phủ lấp. Để có thể tìm ra đồng tiền ấy, dù là giữa ban ngày, cũng phải thắp đèn lên và quét nhà thật kỹ lưỡng. COL 192.4

Của hồi môn của người vợ thường gồm những đồng tiền, mà nàng gìn giữ cẩn thận như vật báu quý nhất của mình, để truyền lại cho các con gái. Việc mất một trong những đồng tiền này được xem như một tai họa nghiêm trọng, và khi tìm lại được sẽ mang lại niềm vui lớn, mà các phụ nữ láng giềng cũng sẵn sàng chia sẻ. COL 193.1

Đấng Christ phán: “Khi tìm được rồi, gọi bầu bạn và người lân cận mình, mà rằng: Hãy chung vui với ta, vì ta đã tìm được đồng bạc bị mất. Ta nói cùng các ngươi, trước mặt thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng như vậy, sẽ mừng rỡ cho một kẻ có tội ăn năn.” COL 193.2

Ví dụ này, cũng như ví dụ trước, trình bày sự mất mát của một vật có thể tìm lại được qua sự tìm kiếm đúng cách, và việc ấy đem lại niềm vui lớn. Nhưng hai ví dụ đại diện cho hai hạng người khác nhau. Con chiên lạc biết rằng nó đã lạc mất. Nó đã rời khỏi người chăn và bầy, và nó không thể tự trở về được. Nó tiêu biểu cho những ai nhận thức rằng mình đã xa cách Đức Chúa Trời và đang ở trong đám mây bối rối, trong sự hạ mình, và bị cám dỗ nặng nề. Đồng bạc bị mất tiêu biểu cho những người bị mất trong sự vi phạm và tội lỗi, nhưng không có cảm biết về tình trạng của mình. Họ đã xa cách Đức Chúa Trời, nhưng họ không biết điều đó. Linh hồn họ đang gặp nguy hiểm, nhưng họ vô ý thức và vô tâm. Trong ví dụ này, Đấng Christ dạy rằng ngay cả những người thờ ơ với các đòi hỏi của Đức Chúa Trời cũng là đối tượng của tình yêu thương xót Ngài. Họ cần được tìm kiếm để có thể được đem về với Đức Chúa Trời. COL 193.3

Con chiên đi lạc khỏi chuồng; nó bị mất trong đồng vắng hoặc trên núi. Đồng bạc bị mất ngay trong nhà. Nó ở gần bên, nhưng chỉ có thể tìm lại được qua sự tìm kiếm siêng năng. COL 194.1

Ví dụ này có một bài học cho các gia đình. Trong gia đình thường có sự thờ ơ lớn đối với linh hồn của các thành viên. Trong số họ có thể có một người đã xa cách Đức Chúa Trời; nhưng người ta ít lo lắng khi nghĩ rằng trong mối quan hệ gia đình có thể mất đi một trong những món quà mà Đức Chúa Trời đã giao phó. COL 194.2

Đồng tiền, dù nằm giữa bụi bặm và rác rến, vẫn là một đồng bạc. Người chủ tìm kiếm nó vì nó có giá trị. Cũng vậy, mỗi linh hồn, dù bị tội lỗi làm cho hư hoại đến đâu, trong mắt Đức Chúa Trời đều được xem là quý báu. Cũng như đồng tiền mang hình và dòng chữ của quyền lực đang trị vì, thì con người khi được sáng tạo cũng mang hình và dòng chữ của Đức Chúa Trời; và dù nay đã bị hư hoại và mờ nhạt bởi ảnh hưởng của tội lỗi, dấu tích của dòng chữ này vẫn còn trên mỗi linh hồn. Đức Chúa Trời mong muốn giành lại linh hồn ấy và khắc lại trên đó hình ảnh của chính Ngài trong sự công bình và thánh khiết. COL 194.3

Người đàn bà trong ví dụ tìm kiếm đồng bạc bị mất một cách siêng năng. Nàng thắp đèn lên và quét nhà. Nàng dời đi mọi thứ có thể cản trở sự tìm kiếm. Dù chỉ mất một đồng, nàng không ngừng nỗ lực cho đến khi tìm được đồng ấy. Cũng vậy, trong gia đình, nếu có một thành viên bị mất đối với Đức Chúa Trời, thì phải dùng mọi phương tiện để cứu người ấy. Về phần tất cả những người khác, phải có sự tự kiểm điểm siêng năng, kỹ lưỡng. Phải xem xét cách sống hằng ngày. Xem thử có sai lầm nào, có sự sai sót nào trong cách quản lý, mà vì đó linh hồn ấy được củng cố trong sự không ăn năn hay không. COL 194.4

Nếu trong gia đình có một đứa con không ý thức được tình trạng tội lỗi của mình, cha mẹ không nên nghỉ ngơi. Hãy thắp đèn lên. Hãy tra xét Lời Đức Chúa Trời, và bởi ánh sáng của Lời ấy, hãy xem xét kỹ lưỡng mọi sự trong gia đình, để tìm hiểu tại sao đứa con này bị hư mất. Hãy để cha mẹ tự xét lòng mình, xem xét thói quen và cách cư xử của mình. Con cái là cơ nghiệp của Chúa, và chúng ta phải chịu trách nhiệm với Ngài về cách chúng ta quản lý tài sản của Ngài. COL 195.1

Có những người cha người mẹ mong mỏi được lao động trong một cánh đồng truyền giáo nước ngoài nào đó; có nhiều người hoạt động tích cực trong công việc Cơ-đốc bên ngoài gia đình, trong khi chính con cái họ lại xa lạ với Đấng Cứu Thế và tình yêu của Ngài. Công việc thu phục con cái mình cho Đấng Christ, nhiều cha mẹ đã giao phó cho mục sư hoặc giáo viên trường Sa-bát, nhưng khi làm như vậy họ đang sao lãng trách nhiệm mà Đức Chúa Trời đã giao cho chính mình. Việc giáo dục và huấn luyện con cái mình trở thành Cơ-đốc nhân là sự phục vụ cao quý nhất mà cha mẹ có thể dâng lên cho Đức Chúa Trời. Đó là một công việc đòi hỏi lao động nhẫn nại, một nỗ lực siêng năng và bền bỉ suốt đời. Bởi sự sao lãng sự giao phó này, chúng ta tự chứng tỏ mình là những người quản gia bất trung. Không có lời bào chữa nào cho sự sao lãng như vậy sẽ được Đức Chúa Trời chấp nhận. COL 195.2

Nhưng những ai đã phạm tội sao lãng cũng không nên tuyệt vọng. Người đàn bà mất đồng bạc đã tìm kiếm cho đến khi tìm được. Cũng vậy, trong tình yêu thương, đức tin và sự cầu nguyện, hãy để cha mẹ làm việc cho gia đình mình, cho đến khi với niềm vui họ có thể đến với Đức Chúa Trời mà thưa rằng:

“Nầy, tôi đây, với con cái mà Đức Giê-hô-va đã ban cho tôi, là dấu và điềm trong Y-sơ-ra-ên, bởi Đức Giê-hô-va vạn quân ngự trên núi Si-ôn.” (Ê-sai 8:18) COL 195.3

Đây là công việc truyền giáo trong nhà thật sự, và nó có ích cho những người thực hiện cũng như cho những người được phục vụ. Qua sự quan tâm trung tín của chúng ta đối với vòng gia đình, chúng ta đang tự chuẩn bị mình để làm việc cho các thành viên trong gia đình của Chúa, mà chúng ta, nếu trung thành với Đấng Christ, sẽ sống cùng suốt các thời đại đời đời. Đối với anh chị em của chúng ta trong Đấng Christ, chúng ta phải tỏ cùng một sự quan tâm như những thành viên của một gia đình dành cho nhau. COL 196.1

Và Đức Chúa Trời thiết kế rằng tất cả những điều này sẽ trang bị cho chúng ta lao động cho những người khác nữa. Khi cảm thông của chúng ta mở rộng và tình yêu của chúng ta tăng trưởng, chúng ta sẽ tìm thấy ở khắp mọi nơi có công việc để làm. Đại gia đình nhân loại to lớn của Đức Chúa Trời bao gồm cả thế giới, và không một thành viên nào trong gia đình ấy được bỏ qua trong sự sao lãng. COL 196.2

Dù chúng ta ở đâu, đồng bạc bị mất cũng đang chờ đợi sự tìm kiếm của chúng ta ở đó. Chúng ta có tìm kiếm nó không? Ngày qua ngày, chúng ta gặp những người không quan tâm đến những điều thuộc về tôn giáo; chúng ta trò chuyện với họ, chúng ta thăm viếng họ; chúng ta có tỏ ra quan tâm đến sự an lành thuộc linh của họ không? Chúng ta có giới thiệu Đấng Christ cho họ là Đấng Cứu Thế tha tội không? Với tấm lòng ấm áp bởi tình yêu của Đấng Christ, chúng ta có nói với họ về tình yêu ấy không? Nếu không, làm sao chúng ta đối diện với những linh hồn này — hư mất, hư mất đời đời — khi cùng với họ chúng ta đứng trước ngai Đức Chúa Trời? COL 196.3

Giá trị của một linh hồn, ai có thể ước lượng được? Nếu bạn muốn biết giá trị ấy, hãy đi đến Ghết-sê-ma-nê, và ở đó cùng thức với Đấng Christ suốt những giờ đau đớn, khi Ngài đổ mồ hôi ra như những giọt máu lớn. Hãy nhìn Đấng Cứu Thế bị giương lên trên thập tự giá. Hãy nghe tiếng kêu tuyệt vọng:

“Đến giờ thứ chín, Đức Chúa Giê-su kêu lớn tiếng rằng: Ê-lô-i, Ê-lô-i, lam-ma-sa-bách-ta-ni? nghĩa là: Đức Chúa Trời tôi ơi, Đức Chúa Trời tôi ơi, sao Ngài lìa bỏ tôi?” (Mác 15:34)

Hãy nhìn cái đầu bị thương, bên hông bị đâm thâu, đôi chân bị thương tích. Hãy nhớ rằng Đấng Christ đã liều tất cả. Vì sự cứu chuộc chúng ta, chính thiên đàng đã bị đặt vào nguy cơ. Ở dưới chân thập tự giá, nhớ rằng vì một tội nhân Đấng Christ cũng sẽ đặt mạng sống Ngài xuống, bạn có thể ước lượng giá trị của một linh hồn. COL 196.4

Nếu bạn ở trong sự thông công với Đấng Christ, bạn sẽ đặt sự đánh giá của Ngài trên mỗi con người. Bạn sẽ cảm nhận đối với người khác cùng một tình yêu sâu đậm mà Đấng Christ đã cảm nhận đối với bạn. Bấy giờ bạn sẽ có thể thu phục chứ không xua đuổi, thu hút chứ không đẩy lui, những người mà Ngài đã chết vì. Không ai đã từng được đem về với Đức Chúa Trời nếu Đấng Christ đã không có nỗ lực cá nhân cho họ; và chính bằng công việc cá nhân này mà chúng ta có thể cứu vớt các linh hồn. Khi bạn thấy những người đang đi xuống sự chết, bạn sẽ không nghỉ ngơi trong sự thờ ơ yên lặng và an nhàn. Tội lỗi của họ càng lớn và sự khốn khổ của họ càng sâu, thì nỗ lực của bạn cho sự giải cứu họ sẽ càng tha thiết và dịu dàng. Bạn sẽ nhận ra nhu cầu của những người đang chịu khổ, những người đã phạm tội cùng Đức Chúa Trời, và những người bị đè nặng dưới gánh tội lỗi. Lòng bạn sẽ tuôn tràn ra trong sự cảm thông với họ, và bạn sẽ đưa ra cho họ một bàn tay giúp đỡ. Trong vòng tay đức tin và tình yêu của mình, bạn sẽ đem họ đến với Đấng Christ. Bạn sẽ trông nom và khích lệ họ, và sự cảm thông cùng lòng tin cậy của bạn sẽ khiến cho họ khó sa ngã khỏi sự vững vàng của mình. COL 197.1

Trong công việc này, tất cả các thiên sứ trên trời đều sẵn sàng hợp tác. Tất cả nguồn lực của thiên đàng đều sẵn sàng dưới quyền sử dụng của những ai đang tìm cách cứu người hư mất. Các thiên sứ sẽ giúp bạn tiếp cận được cả những người vô tâm nhất và cứng lòng nhất. Và khi một người được đem trở về với Đức Chúa Trời, cả thiên đàng đều vui mừng; các sê-ra-phim và chê-ru-bim gảy đàn hạc bằng vàng của mình, và ca ngợi Đức Chúa Trời cùng Chiên Con vì lòng thương xót và sự nhân từ của Ngài đối với con cái loài người. COL 197.2