Chương 13
13

Hai Người Thờ Phượng

Chương này dựa trên

“Ngài lại phán thí dụ này về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dể kẻ khác: Có hai người lên đền thờ cầu nguyện: một người Pha-ri-si và một người thâu thuế. Người Pha-ri-si đứng cầu nguyện thầm như vầy: Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế này. Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi. Người thâu thuế đứng xa xa, không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực mà rằng: Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội! Ta nói cùng các ngươi, người này trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia; vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên.” (Lu-ca 18:9-14)

“Ngài lại phán thí dụ nầy về kẻ cậy mình là người công bình và khinh dể kẻ khác,” Đấng Christ đã kể thí dụ về người Pha-ri-si và người thâu thuế. Người Pha-ri-si lên đền thờ cầu nguyện, không phải vì ông cảm thấy mình là tội nhân cần được tha thứ, mà vì ông tự cho mình là công bình và hy vọng được khen ngợi. Ông xem sự thờ phượng của mình như một công trạng đáng được Đức Chúa Trời ghi nhận. Đồng thời điều đó sẽ khiến người ta đánh giá cao lòng kính đạo của ông. Ông hy vọng nhận được sự ưu ái từ cả Đức Chúa Trời và loài người. Sự thờ phượng của ông xuất phát từ tư lợi. COL 150.1

Và ông đầy lòng tự khen mình. Ông nhìn như vậy, đi đứng như vậy, cầu nguyện như vậy. Ông tách ra khỏi những người khác như thể muốn nói: “Hãy đứng riêng ra, đừng lại gần ta, vì ta thánh sạch hơn ngươi” (

“và dám nói rằng: hãy đứng riêng ra, đừng lại gần ta, vì ta thánh sạch hơn ngươi! Bọn đó là khói nơi lỗ mũi ta, như lửa cháy cả ngày.” (Ê-sai 65:5)

), ông đứng và cầu nguyện “thầm.” Hoàn toàn tự mãn, ông nghĩ rằng Đức Chúa Trời và loài người cũng nhìn ông với cùng một sự hài lòng như vậy. COL 150.2

“Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài,” ông nói, “vì tôi không phải như người khác, tham lam, bất nghĩa, gian dâm, cũng không phải như người thâu thuế nầy.” Ông đánh giá phẩm hạnh của mình, không phải bằng bản tánh thánh khiết của Đức Chúa Trời, mà bằng bản tánh của những con người khác. Tâm trí ông xa rời Đức Chúa Trời mà hướng về loài người. Đây là bí quyết của sự tự mãn của ông. COL 150.3

Ông tiếp tục kể lể những việc lành của mình: “Tôi kiêng ăn một tuần lễ hai lần, và nộp một phần mười về mọi món lợi của tôi.” Tôn giáo của người Pha-ri-si không đụng đến linh hồn. Ông không tìm kiếm phẩm hạnh giống Đức Chúa Trời, một tấm lòng đầy yêu thương và thương xót. Ông hài lòng với một tôn giáo chỉ có liên quan đến đời sống bên ngoài. Sự công bình của ông là của chính ông—bông trái của công việc của chính ông—và được đánh giá bằng tiêu chuẩn loài người. COL 151.1

Ai cậy mình là công bình, thì sẽ khinh dể người khác. Như người Pha-ri-si tự đánh giá mình bằng người khác, thì ông cũng đánh giá người khác bằng chính mình. Sự công bình của ông được ước lượng bởi sự công bình của họ, và họ càng xấu xa thì ông càng có vẻ công bình hơn khi so sánh. Sự tự xưng công bình dẫn ông đến việc cáo buộc. Ông lên án “người khác” là kẻ vi phạm luật pháp của Đức Chúa Trời. Như vậy ông đang bày tỏ chính tinh thần của Sa-tan, kẻ kiện cáo anh em. Với tinh thần này, ông không thể bước vào sự thông công với Đức Chúa Trời. Ông trở về nhà mình thiếu vắng phước lành thiêng liêng. COL 151.2

Người thâu thuế cũng đã lên đền thờ với những người thờ phượng khác, nhưng ông chẳng mấy chốc đã tách ra khỏi họ vì thấy mình không xứng đáng để hợp với họ trong sự thờ phượng. Đứng xa xa, ông “không dám ngước mắt lên trời, đấm ngực” trong nỗi đau đớn cay đắng và sự ghê tởm bản thân. Ông cảm thấy mình đã phạm tội cùng Đức Chúa Trời, rằng mình là tội lỗi và ô uế. Ông thậm chí không mong đợi được thương xót từ những người xung quanh, vì họ nhìn ông với sự khinh miệt. Ông biết rằng mình không có công trạng nào để giới thiệu mình với Đức Chúa Trời, và trong nỗi tuyệt vọng hoàn toàn, ông kêu lên: “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!” Ông không so sánh mình với người khác. Bị đè nặng bởi ý thức về tội lỗi, ông đứng như thể một mình trước sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Ước ao duy nhất của ông là được tha thứ và bình an, lời cầu xin duy nhất của ông là lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Và ông đã được ban phước. “Ta nói cùng các ngươi,” Đấng Christ phán, “người nầy trở về nhà mình, được xưng công bình hơn người kia.” COL 151.3

Người Pha-ri-si và người thâu thuế đại diện cho hai hạng người lớn mà những ai đến thờ phượng Đức Chúa Trời đều được phân chia vào đó. Hai đại diện đầu tiên của họ được thấy trong hai đứa con đầu tiên sinh ra trong thế gian. Ca-in tự cho mình là công bình, và đến cùng Đức Chúa Trời chỉ với một của lễ tạ ơn. Ông không xưng tội, và không thừa nhận nhu cầu về lòng thương xót. Nhưng A-bên đến với huyết chỉ về Chiên Con của Đức Chúa Trời. Ông đến như một tội nhân, xưng mình là hư mất; hy vọng duy nhất của ông là tình yêu không xứng đáng của Đức Chúa Trời. Chúa đoái xem của lễ của ông, nhưng Ngài không đoái xem Ca-in và của lễ của ông. Ý thức về nhu cầu, sự nhận biết về sự nghèo khó và tội lỗi của chúng ta, chính là điều kiện đầu tiên để được Đức Chúa Trời chấp nhận. “Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!”

“Phước cho những kẻ có lòng khó khăn, vì nước thiên đàng là của những kẻ ấy!” (Ma-thi-ơ 5:3) COL 152.1

Đối với mỗi hạng người được đại diện bởi người Pha-ri-si và người thâu thuế, đều có một bài học trong lịch sử của sứ đồ Phi-e-rơ. Vào thời kỳ đầu làm môn đồ, Phi-e-rơ tự cho mình là mạnh mẽ. Giống như người Pha-ri-si, theo ước lượng của chính mình, ông “không phải như người khác.” Khi Đấng Christ vào đêm trước khi bị phản bội đã báo trước với các môn đồ của Ngài, “Đêm nay các ngươi đều vấp phạm vì cớ ta,” Phi-e-rơ đã tự tin tuyên bố, “Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chẳng bao giờ vấp phạm vậy.”

“Đức Chúa Giê-su phán cùng môn đồ rằng: Hết thảy các ngươi sẽ gặp dịp vấp phạm; vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì bầy chiên sẽ tan lạc. Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.” (Mác 14:27,29)

Phi-e-rơ không biết sự nguy hiểm của chính mình. Sự tự tin đã đánh lừa ông. Ông nghĩ mình có thể chống lại sự cám dỗ; nhưng trong vài giờ ngắn ngủi thử thách đã đến, và với sự rủa sả và thề thốt, ông đã chối Chúa mình. COL 152.2

Khi tiếng gà gáy nhắc ông nhớ đến lời của Đấng Christ, kinh ngạc và bàng hoàng trước điều mình vừa làm, ông quay lại và nhìn Thầy của mình. Vào khoảnh khắc ấy, Đấng Christ nhìn Phi-e-rơ, và dưới cái nhìn đau buồn đó, trong đó lòng trắc ẩn và tình yêu dành cho ông được hòa quyện, Phi-e-rơ đã hiểu chính mình. Ông đi ra và khóc lóc thảm thiết. Cái nhìn ấy của Đấng Christ đã làm tan nát lòng ông. Phi-e-rơ đã đến bước ngoặt, và ông đã ăn năn cay đắng tội mình. Ông giống như người thâu thuế trong sự hối hận và ăn năn, và giống như người thâu thuế, ông đã tìm được sự thương xót. Cái nhìn của Đấng Christ đã bảo đảm cho ông sự tha thứ. COL 152.3

Bây giờ sự tự tin của ông đã biến mất. Không bao giờ nữa những lời khoe khoang cũ được lặp lại. COL 154.1

Đấng Christ sau sự phục sinh đã thử Phi-e-rơ ba lần. “Hỡi Si-môn, con Giô-na,” Ngài phán, “ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng?” Phi-e-rơ bây giờ không còn tôn mình lên trên anh em mình nữa. Ông kêu cầu Đấng có thể đọc được lòng ông. “Lạy Chúa,” ông nói, “Chúa biết hết mọi việc; Chúa biết rằng tôi yêu Chúa!”

“Khi ăn rồi, Đức Chúa Giê-su phán cùng Si-môn Phi-e-rơ rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những kẻ này chăng? Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, phải, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa. Đức Chúa Giê-su phán rằng: Hãy chăn những chiên con ta. Ngài phán cùng người đến lần thứ ba rằng: Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng? Phi-e-rơ buồn rầu vì Ngài phán cùng mình đến ba lần: Ngươi yêu ta chăng? Người bèn thưa rằng: Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc; Chúa biết rằng tôi yêu Chúa! Đức Chúa Giê-su phán rằng: Hãy chăn chiên ta.” (Giăng 21:15,17) COL 154.2

Rồi ông nhận nhiệm vụ của mình. Một công việc rộng lớn hơn và tế nhị hơn trước đây đã được giao cho ông. Đấng Christ bảo ông chăn chiên và chăn chiên con. Khi giao phó cho sự quản nhiệm của ông những linh hồn mà Đấng Cứu Thế đã đặt chính mạng sống mình xuống vì họ, Đấng Christ đã ban cho Phi-e-rơ bằng chứng mạnh mẽ nhất về niềm tin vào sự phục hồi của ông. Người môn đồ từng bồn chồn, khoe khoang, tự tin nay đã trở nên nhu mì và thống hối. Từ đó trở đi, ông đi theo Chúa mình trong sự từ bỏ mình và hy sinh bản thân. Ông là người dự phần trong những sự đau đớn của Đấng Christ; và khi Đấng Christ sẽ ngự trên ngôi vinh hiển của Ngài, Phi-e-rơ sẽ là người dự phần trong sự vinh hiển của Ngài. COL 154.3

Điều ác đã dẫn đến sự sa ngã của Phi-e-rơ và đã khiến người Pha-ri-si không được thông công với Đức Chúa Trời đang là sự hủy diệt của hàng ngàn người ngày nay. Không có gì xúc phạm Đức Chúa Trời hay nguy hiểm cho linh hồn con người bằng sự kiêu ngạo và tự mãn. Trong mọi tội lỗi, đó là tội vô vọng nhất, khó chữa nhất. COL 154.4

Sự sa ngã của Phi-e-rơ không diễn ra tức thì, mà từ từ. Sự tự tin đã dẫn ông đến niềm tin rằng ông đã được cứu, và từng bước một đã được thực hiện trên con đường đi xuống, cho đến khi ông có thể chối Thầy mình. Chúng ta không bao giờ có thể an toàn đặt lòng tin cậy vào bản thân mình hoặc cảm thấy, bên này thiên đàng, rằng chúng ta được an toàn khỏi sự cám dỗ. Những ai chấp nhận Đấng Cứu Thế, dù sự ăn năn trở lại của họ chân thành đến đâu, cũng không bao giờ nên được dạy để nói hoặc cảm thấy rằng họ đã được cứu. Điều này gây lầm lạc. Mỗi người nên được dạy để nuôi dưỡng hy vọng và đức tin; nhưng ngay cả khi chúng ta dâng mình cho Đấng Christ và biết rằng Ngài chấp nhận chúng ta, chúng ta vẫn không nằm ngoài tầm với của sự cám dỗ. Lời Đức Chúa Trời tuyên bố: “Sẽ có nhiều kẻ tự làm nên tinh sạch và trắng, và được luyện lọc.”

“Sẽ có nhiều kẻ tự làm nên tinh sạch và trắng, và được luyện lọc. Nhưng những kẻ dữ sẽ cứ làm điều dữ; trong những kẻ dữ chẳng ai sẽ hiểu; song kẻ khôn sáng sẽ hiểu.” (Đa-ni-ên 12:10)

Chỉ người nào chịu đựng được thử thách mới sẽ nhận được mão triều thiên của sự sống. (

“Phước cho người bị cám dỗ; vì lúc đã chịu nổi sự thử thách rồi, thì sẽ lãnh mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho kẻ kính mến Ngài.” (Gia-cơ 1:12)

.) COL 155.1

Những ai chấp nhận Đấng Christ, và trong sự tin cậy ban đầu của họ nói rằng, Tôi đã được cứu, thì đang ở trong nguy cơ tin cậy vào chính mình. Họ mất đi tầm nhìn về sự yếu đuối của chính mình và nhu cầu thường xuyên về sức mạnh thiêng liêng. Họ không được chuẩn bị cho những mưu chước của Sa-tan, và dưới sự cám dỗ, nhiều người, giống như Phi-e-rơ, rơi vào chính vực sâu của tội lỗi. Chúng ta được khuyên răn: “Ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã.”

“Vậy thì, ai tưởng mình đứng, hãy giữ kẻo ngã.” (I Cô-rinh-tô 10:12)

Sự an toàn duy nhất của chúng ta là trong sự không ngừng nghi ngờ chính mình, và nương cậy nơi Đấng Christ. COL 155.2

Điều cần thiết đối với Phi-e-rơ là phải học biết những khiếm khuyết trong phẩm hạnh của chính mình, và nhu cầu của ông về quyền năng và ân điển của Đấng Christ. Chúa không thể cứu ông khỏi thử thách, nhưng Ngài có thể cứu ông khỏi thất bại. Nếu Phi-e-rơ sẵn lòng tiếp nhận lời cảnh báo của Đấng Christ, ông sẽ tỉnh thức mà cầu nguyện. Ông sẽ bước đi với sự sợ hãi và run rẩy e chân mình vấp ngã. Và ông sẽ nhận được sự trợ giúp thiêng liêng để Sa-tan không thể giành được chiến thắng. COL 155.3

Chính vì lòng tự mãn mà Phi-e-rơ đã sa ngã; và cũng nhờ sự ăn năn và khiêm nhường mà bước chân ông lại được vững lập. Trong câu chuyện về kinh nghiệm của ông, mỗi tội nhân biết ăn năn đều có thể tìm được sự khích lệ. Mặc dù Phi-e-rơ đã phạm tội nặng nề, ông không bị ruồng bỏ. Những lời của Đấng Christ đã được ghi khắc trong tâm hồn ông:

“Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình.” (Lu-ca 22:32)

Trong nỗi đau đớn cay đắng của sự hối hận, lời cầu nguyện này cùng với ký ức về cái nhìn yêu thương và thương xót của Đấng Christ đã đem lại cho ông niềm hy vọng. Sau khi sống lại, Đấng Christ đã nhớ đến Phi-e-rơ, và phán bảo thiên sứ truyền sứ điệp cho những người đàn bà:

“Nhưng hãy đi nói cho các môn đồ Ngài và cho Phi-e-rơ rằng Ngài đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi; các ngươi sẽ thấy Ngài tại đó, như Ngài đã phán cùng các ngươi vậy.” (Mác 16:7)

Sự ăn năn của Phi-e-rơ đã được Đấng Cứu Thế, Đấng tha tội, tiếp nhận. COL 155.4

Và chính lòng thương xót đã giang tay cứu Phi-e-rơ cũng được ban cho mỗi linh hồn đã sa ngã dưới sự cám dỗ. Đó là mưu kế đặc biệt của Sa-tan, dụ con người phạm tội, rồi bỏ mặc họ, bất lực và run rẩy, sợ hãi không dám tìm kiếm sự tha thứ. Nhưng tại sao chúng ta phải sợ hãi, khi Đức Chúa Trời đã phán:

“Chẳng gì bằng nhờ sức ta, làm hòa với ta, phải, hãy làm hòa với ta!” (Ê-sai 27:5)

Mọi sự đã được chuẩn bị cho những yếu đuối của chúng ta, mọi sự khích lệ đã được ban cho chúng ta để đến cùng Đấng Christ. COL 156.1

Đấng Christ đã dâng thân thể tan nát của Ngài để chuộc lại cơ nghiệp của Đức Chúa Trời, để ban cho con người một cơ hội khác.

“Bởi đó Ngài có thể cứu toàn vẹn những kẻ nhờ Ngài mà đến gần Đức Chúa Trời, vì Ngài hằng sống để cầu thay cho những kẻ ấy.” (Hê-bơ-rơ 7:25)

Bằng cuộc đời không tì vết, sự vâng phục của Ngài, và sự chết trên thập tự giá tại Gô-gô-tha, Đấng Christ đã cầu thay cho dòng dõi hư mất. Và nay, Đấng Thủ Lãnh của sự cứu rỗi chúng ta cầu thay cho chúng ta không phải như một người cầu xin thuần túy, nhưng như một Đấng Chiến Thắng đòi lại chiến công của Ngài. Của lễ của Ngài đã trọn vẹn, và với tư cách là Đấng Cầu Thay của chúng ta, Ngài thi hành công việc mà Ngài tự đảm nhận, nâng trước mặt Đức Chúa Trời lư hương chứa đựng công nghiệp không tì vết của chính Ngài cùng với lời cầu nguyện, lời xưng tội và lời tạ ơn của dân sự Ngài. Được ướp hương thơm của sự công bình Ngài, những điều này dâng lên Đức Chúa Trời như một mùi thơm ngọt ngào. Của lễ này được hoàn toàn chấp nhận, và sự tha thứ bao phủ mọi vi phạm. COL 156.2

Đấng Christ đã tự nguyện làm Đấng thay thế và bảo chứng cho chúng ta, và Ngài không bỏ quên một ai. Đấng không thể thấy con người bị phơi bày trước sự hủy diệt đời đời mà không đổ linh hồn Ngài ra cho đến chết vì họ, sẽ nhìn với lòng thương xót và lòng trắc ẩn đối với mỗi linh hồn nhận biết rằng mình không thể tự cứu lấy bản thân. COL 157.1

Ngài sẽ không nhìn một kẻ cầu xin run rẩy nào mà không nâng người ấy lên. Đấng đã qua sự chuộc tội của chính mình sắm sẵn cho con người một nguồn năng lực đạo đức vô hạn, sẽ không bỏ lỡ việc sử dụng năng lực đó cho chúng ta. Chúng ta có thể đem tội lỗi và nỗi buồn của mình đến dưới chân Ngài; vì Ngài yêu chúng ta. Mỗi cái nhìn và lời phán của Ngài đều mời gọi lòng tin cậy của chúng ta. Ngài sẽ uốn nắn và tạo hình phẩm cách chúng ta theo ý muốn của Ngài. COL 157.2

Trong toàn bộ lực lượng của Sa-tan không có quyền năng nào có thể đánh bại một linh hồn với lòng tin cậy đơn sơ phó thác mình cho Đấng Christ.

“Ngài ban sức mạnh cho kẻ nhọc nhằn, thêm lực lượng cho kẻ chẳng có sức.” (Ê-sai 40:29) COL 157.3

“Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” (I Giăng 1:9)

Chúa phán:

“Chỉn ngươi phải nhận lỗi mình: Ngươi đã phạm tội nghịch cùng Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi; ngươi đã chạy khắp mọi ngả nơi các thần khác ở dưới mỗi cây xanh, mà không vâng theo tiếng ta, Đức Giê-hô-va phán vậy.” (Giê-rê-mi 3:13)

“Ta sẽ rưới nước trong trên các ngươi, và các ngươi sẽ trở nên sạch; ta sẽ làm sạch hết mọi sự ô uế và mọi thần tượng của các ngươi.” (Ê-xê-chi-ên 36:25) COL 158.1

Nhưng chúng ta phải có sự hiểu biết về chính mình, một sự hiểu biết dẫn đến lòng đau xót, trước khi có thể tìm được sự tha thứ và bình an. Người Pha-ri-si không cảm thấy bị cáo trách về tội lỗi. Đức Thánh Linh không thể làm việc với ông ta. Linh hồn ông ta được bao bọc trong áo giáp tự xưng công bình mà những mũi tên của Đức Chúa Trời, dù sắc nhọn và được bàn tay thiên sứ nhắm chuẩn xác, cũng không thể xuyên thủng. Chỉ có người nhận biết mình là tội nhân mới được Đấng Christ cứu. Ngài đã đến để

“Thần của Chúa ngự trên ta; Vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo;” (Lu-ca 4:18)

Nhưng

“Đức Chúa Giê-su phán cùng họ rằng: Không phải người khỏe mạnh cần thầy thuốc, song là người đau ốm.” (Lu-ca 5:31)

Chúng ta phải biết tình trạng thật của mình, nếu không chúng ta sẽ không cảm thấy nhu cầu về sự giúp đỡ của Đấng Christ. Chúng ta phải hiểu mối nguy của mình, nếu không chúng ta sẽ không chạy đến nơi trú ẩn. Chúng ta phải cảm thấy nỗi đau của các vết thương mình, nếu không chúng ta sẽ không ước ao được chữa lành. COL 158.2

Chúa phán:

“Vả, ngươi nói: Ta giàu, ta nên giàu có rồi, không cần chi nữa; song ngươi không biết rằng mình khổ sở, khốn khó, nghèo ngặt, đui mù, và lõa lồ. Ta khuyên ngươi hãy mua vàng thử lửa của ta, hầu cho ngươi trở nên giàu có; mua những áo trắng, hầu cho ngươi được mặc vào và điều xấu hổ về sự trần truồng ngươi khỏi lộ ra; lại mua thuốc xức mắt đặng thoa mắt ngươi, hầu cho ngươi thấy được.” (Khải-huyền 3:17-18)

Vàng đã thử lửa là đức tin hành động bằng tình yêu thương. Chỉ có điều này mới có thể đem chúng ta vào sự hòa hợp với Đức Chúa Trời. Chúng ta có thể năng động, chúng ta có thể làm nhiều công việc; nhưng nếu không có tình yêu thương, thứ tình yêu đã ngự trong lòng Đấng Christ, chúng ta sẽ không bao giờ được kể vào gia đình của thiên đàng. COL 158.3

Không ai có thể tự mình hiểu được những lỗi lầm của chính mình.

“Lòng người ta là dối trá hơn mọi vật, và rất là xấu xa: ai có thể biết được?” (Giê-rê-mi 17:9)

Môi miệng có thể bày tỏ sự nghèo khó của linh hồn mà tấm lòng không thừa nhận. Trong khi thưa với Đức Chúa Trời về sự nghèo khó về tâm linh, tấm lòng có thể đang phồng lên với sự tự phụ về sự khiêm nhường vượt trội và sự công bình cao cả của chính mình. Chỉ có một cách duy nhất để có được sự hiểu biết chân thật về bản thân. Chúng ta phải chiêm ngưỡng Đấng Christ. Chính vì không biết Ngài mà con người mới tự đề cao bản thân trong sự công bình của chính mình. Khi chúng ta chiêm ngưỡng sự tinh khiết và cao quý của Ngài, chúng ta sẽ thấy rõ sự yếu đuối, nghèo nàn và khiếm khuyết của mình đúng như thực trạng. Chúng ta sẽ thấy mình hư mất và vô vọng, mặc áo choàng tự xưng công bình, giống như mọi tội nhân khác. Chúng ta sẽ thấy rằng nếu chúng ta được cứu, điều đó sẽ không phải nhờ sự tốt lành của chính mình, mà nhờ ân điển vô hạn của Đức Chúa Trời. COL 159.1

Lời cầu nguyện của người thâu thuế được nhậm vì nó biểu lộ sự nương cậy vươn tới để nắm lấy Đấng Toàn Năng. Đối với người thâu thuế, bản thân chỉ là điều đáng xấu hổ. Đó cũng là cách mà tất cả những ai tìm kiếm Đức Chúa Trời phải nhìn thấy bản thân mình. Bởi đức tin — đức tin từ bỏ mọi sự tự tin — người cầu xin khốn cùng phải nắm lấy quyền năng vô hạn. COL 159.2

Không một nghi thức bên ngoài nào có thể thay thế cho đức tin đơn sơ và sự hoàn toàn từ bỏ bản thân. Nhưng không ai có thể tự đổ bỏ cái tôi của mình. Chúng ta chỉ có thể bằng lòng để Đấng Christ hoàn thành công việc đó. Khi ấy ngôn ngữ của linh hồn sẽ là: Lạy Chúa, xin nhận lấy lòng con; vì con không thể dâng nó. Nó là tài sản của Ngài. Xin giữ cho nó tinh sạch, vì con không thể giữ nó cho Ngài. Xin cứu con bất chấp chính con, cái tôi yếu đuối, không giống Đấng Christ của con. Xin uốn nắn con, tạo hình con, nâng con lên bầu không khí tinh sạch và thánh khiết, nơi dòng suối dồi dào của tình yêu Ngài có thể tuôn chảy qua linh hồn con. COL 159.3

Không chỉ ở lúc khởi đầu đời sống Cơ-đốc mà sự từ bỏ bản thân này cần phải được thực hiện. Ở mỗi bước tiến về thiên đàng, sự từ bỏ này phải được làm mới lại. Mọi việc lành của chúng ta đều tùy thuộc vào một quyền năng ở ngoài chính mình. Vì vậy cần phải có sự liên tục hướng lòng vươn tới Đức Chúa Trời, sự liên tục, sốt sắng, xưng nhận tội lỗi với tấm lòng tan vỡ và hạ mình trước mặt Ngài. Chỉ bằng sự từ bỏ bản thân không ngừng và nương cậy vào Đấng Christ, chúng ta mới có thể bước đi an toàn. COL 159.4

Chúng ta càng đến gần Đức Chúa Giê-su và càng nhận thấy rõ ràng sự tinh sạch của phẩm cách Ngài, chúng ta càng nhận thấy rõ ràng sự gớm ghê khôn tả của tội lỗi và càng ít cảm thấy muốn tự đề cao mình. Những ai được thiên đàng công nhận là những người thánh khiết thì lại là những người sau cùng phô trương sự tốt lành của chính mình. Sứ đồ Phi-e-rơ đã trở thành một tôi tớ trung thành của Đấng Christ, và ông được tôn trọng lớn lao với ánh sáng và quyền năng thiêng liêng; ông có vai trò tích cực trong việc xây dựng hội thánh của Đấng Christ; nhưng Phi-e-rơ không bao giờ quên được kinh nghiệm đáng sợ về sự hạ mình của mình; tội của ông đã được tha; nhưng ông biết rõ rằng đối với sự yếu đuối của phẩm cách đã khiến ông sa ngã, chỉ có ân điển của Đấng Christ mới có thể cứu giúp. Ông không tìm thấy điều gì trong chính mình để tự hào. COL 160.1

Không một sứ đồ hay tiên tri nào đã từng tuyên bố mình là vô tội. Những người đã sống gần gũi Đức Chúa Trời nhất, những người thà hy sinh cả mạng sống mình còn hơn là cố ý phạm một hành vi sai trái, những người mà Đức Chúa Trời đã tôn vinh bằng ánh sáng và quyền năng thiên thượng, đều đã thú nhận bản chất tội lỗi của mình. Họ đã không đặt lòng tin cậy nơi xác thịt, không tuyên xưng sự công bình nào của riêng mình, nhưng đã hoàn toàn tin cậy vào sự công bình của Đấng Christ. Tất cả những ai chiêm ngưỡng Đấng Christ cũng sẽ như vậy. COL 160.2

Ở mỗi bước tiến trong kinh nghiệm Cơ-đốc, sự ăn năn của chúng ta sẽ càng sâu sắc hơn. Chính với những người mà Chúa đã tha thứ, những người mà Ngài công nhận là dân sự của Ngài, Ngài phán:

“Bấy giờ các ngươi sẽ nhớ lại đường lối xấu xa của mình, và việc làm của mình là không tốt. Chính các ngươi sẽ tự gớm ghét mình, vì cớ tội lỗi và những sự gớm ghiếc của các ngươi.” (Ê-xê-chi-ên 36:31)

Ngài lại phán:

“Ta sẽ lập giao ước ta với mầy, mầy sẽ biết ta là Đức Giê-hô-va; hầu cho mầy được nhớ lại và hổ ngươi; vì cớ sự xấu hổ mầy, mầy chẳng còn mở miệng nữa, khi ta đã tha thứ mọi điều mầy đã làm, Chúa Giê-hô-va phán vậy.” (Ê-xê-chi-ên 16:62-63)

Khi ấy, môi miệng chúng ta sẽ không mở ra để tự tôn vinh mình. Chúng ta sẽ biết rằng sự đầy đủ của chúng ta chỉ ở trong Đấng Christ mà thôi. Chúng ta sẽ biến lời thú nhận của sứ đồ thành của chính mình:

“Vả, tôi biết điều lành chẳng ở trong tôi đâu, nghĩa là trong xác thịt tôi, bởi tôi có ý muốn làm điều lành, nhưng không có quyền làm trọn;” (Rô-ma 7:18)

“Còn như tôi, tôi hẳn chẳng khoe mình, trừ ra khoe về thập tự giá của Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc chúng ta, bởi thập tự giá ấy, thế gian đối với tôi đã bị đóng đinh, và tôi đối với thế gian cũng vậy!” (Ga-la-ti 6:14) COL 160.3

Hòa hợp với kinh nghiệm này là mệnh lệnh:

“Ấy vậy, hỡi những kẻ rất yêu dấu của tôi, như anh em đã vâng lời luôn luôn, chẳng những khi tôi có mặt mà thôi, lại bây giờ là lúc tôi vắng mặt, hãy càng hơn nữa, mà lấy lòng sợ sệt run rẩy làm nên sự cứu chuộc mình. Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” (Phi-líp 2:12-13)

Đức Chúa Trời không bảo bạn phải sợ rằng Ngài sẽ không thực hiện các lời hứa của Ngài, rằng lòng nhẫn nại của Ngài sẽ mỏi mệt, hay lòng thương xót của Ngài sẽ thiếu hụt. Hãy sợ rằng ý muốn của bạn sẽ không được giữ trong sự phục tùng ý muốn của Đấng Christ, hãy sợ rằng những đặc tính di truyền và những nét tính cách được vun trồng của bạn sẽ kiểm soát đời sống của bạn. “Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” Hãy sợ rằng cái tôi sẽ xen vào giữa linh hồn bạn và Đấng Đại Công Nhân. Hãy sợ rằng ý riêng sẽ làm hỏng mục đích cao cả mà Đức Chúa Trời muốn hoàn thành qua bạn. Hãy sợ tin cậy vào sức lực của chính mình, hãy sợ rút tay mình ra khỏi tay Đấng Christ và cố gắng bước đi trên con đường cuộc đời mà không có sự hiện diện thường xuyên của Ngài. COL 161.1

Chúng ta cần tránh mọi điều khuyến khích lòng kiêu ngạo và tự mãn; vì vậy chúng ta nên cẩn thận về việc trao đi hay nhận lấy lời nịnh hót hoặc khen ngợi. Nịnh hót là công việc của Sa-tan. Nó sử dụng lời nịnh hót cũng như lời buộc tội và lên án. Bằng cách đó nó tìm cách hủy diệt linh hồn. Những ai ca ngợi loài người đều bị Sa-tan dùng làm công cụ của nó. Hãy để những người làm việc cho Đấng Christ hướng mọi lời ca ngợi ra khỏi chính mình. Hãy để cái tôi bị gạt khỏi tầm nhìn. Chỉ một mình Đấng Christ mới đáng được tôn cao.

“lại từ nơi Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là Đấng làm chứng thành tín, sinh đầu nhứt từ trong kẻ chết và làm Chúa của các vua trong thế gian!” (Khải-huyền 1:5)

hãy để mọi con mắt hướng về Ngài, và mọi tấm lòng dâng lên lời ngợi khen. COL 161.2

Đời sống trân quý sự kính sợ Chúa sẽ không phải là đời sống buồn bã và u ám. Chính sự vắng bóng của Đấng Christ khiến gương mặt trở nên buồn rầu, và cuộc đời trở thành một cuộc hành hương của những tiếng thở dài. Những ai đầy lòng tự trọng và yêu mình thì không cảm thấy cần một sự hiệp nhất cá nhân, sống động với Đấng Christ. Tấm lòng chưa ngã trên Vầng Đá thì lại kiêu ngạo về sự nguyên vẹn của mình. Loài người muốn một tôn giáo trang trọng. Họ mong muốn bước đi trên một con đường đủ rộng để chứa đựng những phẩm chất của riêng họ. Lòng tự ái, lòng ham mê danh tiếng và yêu thích lời ngợi khen của họ đã loại trừ Đấng Cứu Thế khỏi tấm lòng, và không có Ngài thì chỉ có sự u ám và buồn rầu. Nhưng Đấng Christ ngự trong linh hồn là nguồn mạch của niềm vui. Đối với tất cả những ai tiếp nhận Ngài, âm điệu chính của Lời Đức Chúa Trời là sự vui mừng. COL 162.1

“Đấng cao cả, ở nơi đời đời vô cùng, danh Ngài là Thánh, có phán như vầy: Ta ngự trong nơi cao và thánh, với người có lòng ăn năn đau đớn và khiêm nhường, đặng làm tươi tỉnh thần linh của những kẻ khiêm nhường, và làm tươi tỉnh lòng người ăn năn đau đớn.” (Ê-sai 57:15) COL 162.2

Chính khi Môi-se ẩn mình trong hốc đá, ông đã được chiêm ngưỡng vinh quang của Đức Chúa Trời. Chính khi chúng ta ẩn mình trong Vầng Đá bị nứt ra thì Đấng Christ sẽ che phủ chúng ta bằng chính bàn tay bị đâm thủng của Ngài, và chúng ta sẽ nghe điều Chúa phán với các tôi tớ Ngài. Đối với chúng ta cũng như đối với Môi-se, Đức Chúa Trời sẽ tỏ mình ra là

“Ngài đi ngang qua mặt người, hô rằng: Giê-hô-va! Giê-hô-va! là Đức Chúa Trời nhân từ, thương xót, chậm giận, đầy dẫy ân huệ và thành thực, ban ơn đến ngàn đời, xá điều gian ác, tội trọng, và tội lỗi; nhưng chẳng kể kẻ có tội là vô tội, và nhân tội tổ phụ phạt đến con cháu trải ba bốn đời.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 34:6-7) COL 162.3

Công cuộc cứu chuộc kéo theo những hệ quả mà khó có ai có thể hình dung được.

“Song le, như có chép rằng: Ấy là sự mắt chưa thấy, tai chưa nghe, Và lòng người chưa nghĩ đến, Nhưng Đức Chúa Trời đã sắm sẵn điều ấy cho những người yêu mến Ngài.” (I Cô-rinh-tô 2:9)

Khi tội nhân, bị lôi cuốn bởi quyền năng của Đấng Christ, đến gần thập tự giá được giương cao và phủ phục trước thập tự giá, thì có một sự sáng tạo mới. Một tấm lòng mới được ban cho người ấy. Người ấy trở nên một tạo vật mới trong Đức Chúa Giê-su Christ. Sự thánh khiết nhận thấy không còn đòi hỏi gì thêm nữa. Chính Đức Chúa Trời là

“trong buổi Ngài nhịn nhục; tức là Ngài đã tỏ sự công bình Ngài trong thời hiện tại, tỏ ra mình là công bình và xưng công bình kẻ nào tin đến Đức Chúa Giê-su.” (Rô-ma 3:26)

“còn những kẻ Ngài đã định sẵn, thì Ngài cũng đã gọi, những kẻ Ngài đã gọi, thì Ngài cũng đã xưng là công bình, và những kẻ Ngài đã xưng là công bình, thì Ngài cũng đã làm cho vinh hiển.” (Rô-ma 8:30)

Sự hổ thẹn và sa đọa do tội lỗi gây ra lớn lao đến đâu, thì sự vinh dự và được tôn cao qua tình yêu cứu chuộc còn lớn lao hơn thế. Với những con người đang cố gắng nên giống hình ảnh thiêng liêng, thì một kho báu từ trời, một năng lực xuất sắc được ban phát cho họ, sẽ đặt họ ở vị trí cao hơn cả những thiên sứ chưa từng sa ngã. COL 162.4

“Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu chuộc Y-sơ-ra-ên, và Đấng Thánh của Ngài, phán cùng người bị loài người khinh dể, bị dân này gớm ghiếc, là người làm tôi kẻ có quyền thế, như vầy: Các vua sẽ thấy và đứng dậy; các quan trưởng sẽ quì lạy, vì cớ Đức Giê-hô-va là Đấng thành tín, tức là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã chọn ngươi.” (Ê-sai 49:7) COL 163.1

“Bởi vì ai tự nhắc mình lên sẽ phải hạ xuống, còn ai tự hạ mình xuống sẽ được nhắc lên.” COL 163.2