Hãy Đi Dạy Dỗ Muôn Dân
Chương này dựa theo Ma-thi-ơ 28:16-20. DA 818.1
Khi chỉ còn cách ngai thiên đàng của Ngài một bước, Đấng Christ đã trao mạng lệnh cho các môn đồ Ngài. Ngài phán: “Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta. Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân.” “Hãy đi khắp thế gian, giảng tin lành cho mọi người.” Mác 16:15. Những lời ấy được lặp đi lặp lại nhiều lần, hầu cho các môn đồ có thể nắm bắt được ý nghĩa của chúng. Trên hết thảy cư dân của trái đất, sang hèn, giàu nghèo, ánh sáng của thiên đàng sẽ tỏa chiếu bằng những tia sáng rõ ràng và mạnh mẽ. Các môn đồ phải trở nên những người đồng công với Đấng Cứu Chuộc của họ trong công việc cứu rỗi thế gian. DA 818.2
Mạng lệnh đã được ban cho mười hai sứ đồ khi Đấng Christ gặp họ trong phòng cao; nhưng giờ đây nó phải được ban cho một số người đông hơn. Tại buổi nhóm trên một ngọn núi xứ Ga-li-lê, hết thảy các tín đồ có thể được triệu tập đã quy tụ lại. Về buổi nhóm này, chính Đấng Christ, trước khi Ngài chịu chết, đã chỉ định thời gian và địa điểm. Thiên sứ tại mộ đã nhắc các môn đồ về lời hứa của Ngài sẽ gặp họ tại Ga-li-lê. Lời hứa được lặp lại cho các tín đồ đã nhóm họp tại Giê-ru-sa-lem trong tuần lễ Vượt Qua, và qua họ lời hứa đó đã đến với nhiều người cô đơn đang than khóc cái chết của Chúa mình. Với sự quan tâm sâu sắc, hết thảy đều trông mong đến cuộc gặp gỡ ấy. Họ đến nơi nhóm họp bằng những con đường vòng vèo, đến từ mọi hướng, để tránh khuấy động sự nghi ngờ của những người Do Thái ganh ghét. Họ đến với lòng đầy kinh ngạc, sốt sắng trò chuyện cùng nhau về những tin tức đã đến với họ liên quan đến Đấng Christ. DA 818.3
Vào thời điểm đã định, khoảng năm trăm tín đồ tụ tập thành từng cụm nhỏ trên sườn núi, háo hức muốn biết hết thảy những gì có thể học được từ những người đã thấy Đấng Christ kể từ khi Ngài sống lại. Các môn đồ đi từ nhóm này sang nhóm khác, thuật lại tất cả những gì họ đã thấy và đã nghe về Đức Chúa Giê-su, và lý luận từ Kinh Thánh như Ngài đã làm với họ. Thô-ma kể lại câu chuyện về sự vô tín của ông, và nói rằng những nghi ngờ của ông đã được quét sạch như thế nào. Bỗng nhiên Đức Chúa Giê-su đứng giữa họ. Không ai có thể nói được Ngài từ đâu đến hay đến bằng cách nào. Nhiều người có mặt chưa từng thấy Ngài trước đó; nhưng nơi tay và chân Ngài họ thấy những dấu của sự đóng đinh; dung nhan Ngài như mặt của Đức Chúa Trời, và khi họ thấy Ngài, họ thờ lạy Ngài. DA 818.4
Nhưng có vài người nghi ngờ. Việc ấy sẽ luôn xảy ra như vậy. Có những người cảm thấy khó vận dụng đức tin, và họ tự đặt mình về phía nghi ngờ. Những người này mất mát nhiều vì sự vô tín của họ. DA 819.1
Đây là cuộc gặp gỡ duy nhất mà Đức Chúa Giê-su có với nhiều tín đồ sau khi Ngài sống lại. Ngài đến và phán cùng họ rằng: “Hết cả quyền phép ở trên trời và dưới đất đã giao cho ta.” Các môn đồ đã thờ lạy Ngài trước khi Ngài phán, nhưng lời của Ngài, thốt ra từ đôi môi đã từng khép lại trong sự chết, làm họ rúng động với một quyền năng đặc biệt. Giờ đây Ngài là Đấng Cứu Thế đã sống lại. Nhiều người trong họ đã thấy Ngài thi thố quyền năng chữa lành kẻ bệnh và chế ngự các thế lực của Sa-tan. Họ tin rằng Ngài có quyền năng để lập nước Ngài tại Giê-ru-sa-lem, quyền năng dẹp tan mọi sự chống đối, quyền năng trên các yếu tố của thiên nhiên. Ngài đã làm cho sóng nước giận dữ phải lặng yên; Ngài đã đi trên những ngọn sóng đầu bạc; Ngài đã làm cho kẻ chết sống lại. Nay Ngài tuyên bố rằng “hết cả quyền phép” đã giao cho Ngài. Lời của Ngài nâng tâm trí những kẻ nghe Ngài vượt khỏi những điều thuộc về trần thế và tạm thời, hướng đến những điều thuộc về thiên đàng và đời đời. Họ được nâng lên đến quan niệm cao trọng nhất về sự uy nghiêm và vinh hiển của Ngài. DA 819.2
Lời của Đấng Christ trên sườn núi là sự tuyên bố rằng sự hy sinh của Ngài thay cho loài người là đầy đủ và trọn vẹn. Các điều kiện của sự chuộc tội đã được làm trọn; công việc mà vì đó Ngài đến thế gian này đã được hoàn thành. Ngài đang trên đường về ngai Đức Chúa Trời, để được các thiên sứ, các bậc cầm quyền và các thế lực tôn vinh. Ngài đã bước vào công việc trung bảo của Ngài. Mặc lấy thẩm quyền vô hạn, Ngài trao mạng lệnh cho các môn đồ: “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân,” “hãy nhân danh Đức Cha, Đức Con, và Đức Thánh Linh mà làm phép báp-têm cho họ: và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi: và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” Ma-thi-ơ 28:19, 20, R.V. DA 819.3
Dân Do Thái đã được lập làm những người gìn giữ lẽ thật thiêng liêng; nhưng chủ nghĩa Pha-ri-si đã khiến họ trở thành chủng tộc biệt lập nhất, cố chấp nhất trong cả loài người. Mọi thứ về các thầy tế lễ và các quan trưởng—y phục, phong tục, lễ nghi, truyền thống của họ—đều khiến họ không xứng đáng làm sự sáng của thế gian. Họ tự xem mình, dân tộc Do Thái, là cả thế gian. Nhưng Đấng Christ ủy thác cho các môn đồ Ngài rao truyền một đức tin và sự thờ phượng không chứa đựng gì về giai cấp hay xứ sở, một đức tin thích hợp cho mọi dân tộc, mọi quốc gia, mọi tầng lớp người. DA 819.4
Trước khi rời các môn đồ, Đấng Christ tuyên bố rõ ràng về bản chất nước Ngài. Ngài nhắc họ nhớ điều Ngài đã từng phán với họ về điều đó. Ngài tuyên bố rằng mục đích của Ngài không phải là thiết lập trong thế gian này một vương quốc tạm thời, mà là một vương quốc thuộc linh. Ngài không trị vì như một vua trần thế trên ngai Đa-vít. Một lần nữa Ngài mở Kinh Thánh ra cho họ, chỉ cho thấy rằng hết thảy những gì Ngài đã trải qua đều đã được định trên thiên đàng, trong các cuộc bàn luận giữa Đức Chúa Cha và chính Ngài. Tất cả đã được báo trước bởi những người được Đức Thánh Linh cảm động. Ngài phán: Các ngươi thấy rằng hết thảy những gì ta đã tỏ cho các ngươi về sự ta bị chối bỏ với tư cách Đấng Mê-si đã ứng nghiệm. Tất cả những gì ta đã nói về sự sỉ nhục ta phải chịu đựng và sự chết ta phải chịu đều đã được chứng thực. Đến ngày thứ ba ta đã sống lại. Hãy tra xét Kinh Thánh cách cẩn thận hơn, và các ngươi sẽ thấy rằng trong mọi điều này những chi tiết của lời tiên tri về ta đều đã được làm trọn. DA 820.1
Đấng Christ ủy thác cho các môn đồ làm công việc Ngài đã để lại trong tay họ, bắt đầu từ Giê-ru-sa-lem. Giê-ru-sa-lem đã từng là khung cảnh của sự hạ mình kỳ diệu của Ngài vì loài người. Tại đó Ngài đã chịu khổ, bị chối bỏ và lên án. Xứ Giu-đê là nơi Ngài giáng sinh. Tại đó, mặc lấy hình hài con người, Ngài đã đi giữa loài người, và ít người nhận biết được thiên đàng đã đến gần trái đất biết bao khi Đức Chúa Giê-su ở giữa họ. Tại Giê-ru-sa-lem, công việc của các môn đồ phải khởi đầu. DA 820.2
Xét đến hết thảy những gì Đấng Christ đã chịu khổ tại đó, và công lao không được trân trọng mà Ngài đã bỏ ra, các môn đồ lẽ ra có thể nài xin một cánh đồng có nhiều triển vọng hơn; nhưng họ không nài xin như vậy. Chính mảnh đất nơi Ngài đã gieo hạt giống lẽ thật phải được các môn đồ vun trồng, và hạt giống ấy sẽ mọc lên và sinh ra một mùa gặt dư dật. Trong công việc của mình, các môn đồ sẽ phải đối diện sự bắt bớ qua lòng ganh tị và thù hằn của người Do Thái; nhưng điều này đã được Thầy của họ chịu đựng, và họ không được trốn tránh nó. Những lời rao truyền sự thương xót đầu tiên phải được dành cho những kẻ đã giết Đấng Cứu Thế. DA 820.3
Và tại Giê-ru-sa-lem có nhiều người đã âm thầm tin nơi Đức Chúa Giê-su, và nhiều người đã bị các thầy tế lễ và các quan trưởng lừa dối. Cho những người này tin lành cũng phải được trình bày. Họ phải được kêu gọi đến sự ăn năn. Lẽ thật kỳ diệu rằng chỉ qua Đấng Christ mới có thể nhận được sự tha tội phải được làm cho sáng tỏ. Trong khi cả thành Giê-ru-sa-lem còn rúng động bởi những biến cố ly kỳ của vài tuần vừa qua, sự giảng dạy tin lành sẽ tạo nên ấn tượng sâu sắc nhất. DA 820.4
Nhưng công việc không được dừng lại tại đây. Nó phải được mở rộng đến tận cùng bờ cõi trái đất. Đấng Christ phán cùng các môn đồ Ngài rằng: Các ngươi đã làm chứng nhân cho đời sống hy sinh của ta vì thế gian. Các ngươi đã chứng kiến công lao của ta vì Y-sơ-ra-ên. Mặc dù họ không chịu đến cùng ta để được sự sống, mặc dù các thầy tế lễ và các quan trưởng đã làm cho ta theo ý họ muốn, mặc dù họ đã chối bỏ ta như Kinh Thánh đã báo trước, họ vẫn sẽ có thêm một cơ hội nữa để tiếp nhận Con Đức Chúa Trời. Các ngươi đã thấy rằng hết thảy những ai đến cùng ta, xưng tội mình, ta đều vui lòng tiếp nhận. Kẻ đến cùng ta thì ta chẳng hề bỏ ra ngoài đâu. Hết thảy những ai bằng lòng đều có thể được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời, và nhận lấy sự sống đời đời. Hỡi các môn đồ ta, ta giao phó sứ điệp thương xót này cho các ngươi. Nó phải được ban cho Y-sơ-ra-ên trước, rồi đến hết thảy các nước, các thứ tiếng và các dân. Nó phải được ban cho người Do Thái và dân ngoại. Hết thảy những ai tin đều phải được quy tụ vào một Hội Thánh. DA 821.1
Qua sự ban cho của Đức Thánh Linh, các môn đồ sẽ nhận được một quyền năng kỳ diệu. Lời chứng của họ sẽ được xác nhận bằng các dấu kỳ và phép lạ. Các phép lạ sẽ được thực hiện, không chỉ bởi các sứ đồ, mà còn bởi những người tiếp nhận sứ điệp của họ. Đức Chúa Giê-su phán:
“Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ này: Lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành.” (Mác 16:17,18)
DA 821.2
Vào thời đó, việc đầu độc thường được thực hành. Những kẻ vô lương tâm không ngần ngại dùng cách này để loại trừ những ai cản trở tham vọng của họ. Đức Chúa Giê-su biết rằng mạng sống của các môn đồ Ngài sẽ bị nguy hiểm như vậy. Nhiều người sẽ tưởng rằng giết các nhân chứng của Ngài là làm việc phục vụ Đức Chúa Trời. Vì vậy Ngài hứa ban cho họ sự bảo vệ khỏi mối nguy hiểm này. DA 821.3
Các môn đồ sẽ có cùng một quyền năng mà Đức Chúa Giê-su có để chữa lành “mọi thứ tật bệnh trong dân.” Bằng cách nhân danh Ngài chữa lành các bệnh tật của thân thể, họ sẽ làm chứng về quyền năng của Ngài để chữa lành linh hồn.
“Đức Chúa Giê-su đi khắp xứ Ga-li-lê, dạy dỗ trong các nhà hội, giảng tin lành của nước Đức Chúa Trời, và chữa lành mọi thứ tật bịnh trong dân.” (Ma-thi-ơ 4:23)
“Vả, hầu cho các ngươi biết Con người ở thế gian có quyền tha tội. Rồi Ngài phán cùng người bại rằng: Hãy đứng dậy, vác lấy giường, mà trở về nhà ngươi.” (Ma-thi-ơ 9:6)
Và bây giờ một ân tứ mới được hứa ban. Các môn đồ sẽ rao giảng giữa các dân tộc khác, và họ sẽ nhận được quyền năng để nói các thứ tiếng khác. Các sứ đồ và những người cộng sự với họ là những người ít học, nhưng qua sự tuôn đổ của Đức Thánh Linh trong ngày lễ Ngũ Tuần, lời nói của họ, dù bằng tiếng mẹ đẻ hay tiếng nước ngoài, đều trở nên thanh sạch, đơn sơ và chính xác, cả về từ ngữ lẫn giọng nói. DA 821.4
Như vậy Đấng Christ giao cho các môn đồ Ngài sứ mạng của họ. Ngài đã chuẩn bị đầy đủ cho việc thực hiện công việc, và Ngài tự nhận lấy trách nhiệm về sự thành công của nó. Hễ khi nào họ vâng theo lời Ngài, và làm việc trong sự liên kết với Ngài, họ không thể thất bại. Hãy đi đến mọi dân tộc, Ngài truyền bảo họ. Hãy đi đến nơi xa nhất của địa cầu có người ở, nhưng hãy biết rằng sự hiện diện của Ta sẽ ở đó. Hãy lao động trong đức tin và sự tin cậy, vì sẽ không bao giờ đến lúc Ta lìa bỏ các ngươi. DA 822.1
Sứ mạng của Đấng Cứu Thế giao cho các môn đồ bao gồm tất cả những người tin. Nó bao gồm tất cả những người tin nơi Đấng Christ cho đến tận thế. Cho rằng công việc cứu rỗi linh hồn chỉ tùy thuộc vào người truyền đạo được phong chức là một sai lầm tai hại. Tất cả những ai đã nhận được sự soi dẫn từ trời đều được giao phó tin lành. Tất cả những ai tiếp nhận sự sống của Đấng Christ đều được phong chức để làm việc cho sự cứu rỗi của đồng loại mình. Vì công việc này mà Hội Thánh được lập nên, và tất cả những ai mang lấy những lời thề nguyện thánh thiện của Hội Thánh thì nhờ đó cam kết trở nên những người cùng làm việc với Đấng Christ. DA 822.2
“Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến!”
“Thánh Linh và vợ mới cùng nói: Hãy đến! Kẻ nào nghe cũng hãy nói rằng: Hãy đến! Ai khát, khá đến. Kẻ nào muốn, khá nhận lấy nước sự sống cách nhưng không.” (Khải-huyền 22:17)
Mỗi người nghe phải lặp lại lời mời gọi. Bất kể sự kêu gọi trong đời mình là gì, mối quan tâm đầu tiên của một người phải là chinh phục linh hồn cho Đấng Christ. Người ấy có thể không có khả năng nói trước hội chúng, nhưng người ấy có thể làm việc cho từng cá nhân. Người ấy có thể truyền đạt cho họ sự dạy dỗ đã nhận được từ Chúa mình. Chức vụ không chỉ bao gồm việc rao giảng. Những người làm chức vụ là những người an ủi kẻ đau ốm và đau khổ, giúp đỡ người thiếu thốn, nói những lời an ủi cho những ai nản lòng và những ai ít đức tin. Gần và xa có những linh hồn bị đè nặng bởi cảm giác tội lỗi. Không phải sự gian khổ, lao nhọc, hay nghèo khó làm hạ thấp nhân loại. Đó là tội lỗi, sự làm điều sai trái. Điều này đem lại sự bất an và bất mãn. Đấng Christ muốn các tôi tớ Ngài phục vụ những linh hồn bị bệnh tật vì tội lỗi. DA 822.3
Các môn đồ phải bắt đầu công việc của họ tại nơi họ đang ở. Cánh đồng khó khăn nhất và ít hứa hẹn nhất cũng không được bỏ qua. Vì vậy mỗi người làm việc của Đấng Christ phải bắt đầu nơi mình đang ở. Trong chính gia đình chúng ta có thể có những linh hồn đói khát sự cảm thông, thiếu đói bánh sự sống. Có thể có những trẻ em cần được dạy dỗ cho Đấng Christ. Có những kẻ ngoại đạo ngay trước cửa nhà chúng ta. Hãy làm cách trung tín công việc gần nhất. Rồi hãy để những nỗ lực của chúng ta mở rộng đến nơi tay Đức Chúa Trời dẫn đường. Công việc của nhiều người dường như bị hạn chế bởi hoàn cảnh; nhưng, dù ở đâu, nếu được thực hiện với đức tin và sự siêng năng, nó sẽ được cảm nhận đến tận cùng trái đất. Công việc của Đấng Christ khi ở trên đất dường như bị giới hạn trong một cánh đồng hẹp, nhưng vô số người từ mọi xứ đã nghe sứ điệp của Ngài. Đức Chúa Trời thường dùng những phương tiện đơn sơ nhất để hoàn thành những kết quả lớn lao nhất. Đó là kế hoạch của Ngài rằng mỗi phần của công việc Ngài sẽ tùy thuộc vào mọi phần khác, như bánh xe trong bánh xe, tất cả hoạt động trong sự hài hòa. Người làm việc khiêm nhường nhất, được Đức Thánh Linh thúc đẩy, sẽ chạm vào những sợi dây vô hình, mà sự rung động của chúng sẽ vang đến tận cùng trái đất, và tạo nên giai điệu qua các thời đại đời đời. DA 822.4
Nhưng mệnh lệnh, “Hãy đi khắp thế gian,” không được bỏ qua. Chúng ta được kêu gọi để ngước mắt nhìn lên “những vùng xa hơn.” Đấng Christ phá vỡ bức tường ngăn cách, định kiến phân chia của quốc tịch, và dạy về một tình yêu thương cho cả gia đình nhân loại. Ngài nâng con người ra khỏi vòng tròn chật hẹp mà sự ích kỷ của họ vạch ra; Ngài xóa bỏ mọi ranh giới lãnh thổ và sự phân biệt giả tạo của xã hội. Ngài không phân biệt giữa người lân cận và người xa lạ, bạn bè và kẻ thù. Ngài dạy chúng ta nhìn mỗi linh hồn thiếu thốn như anh em của mình, và thế gian như cánh đồng của chúng ta. DA 823.1
Khi Đấng Cứu Thế phán, “Hãy đi… dạy dỗ muôn dân,” Ngài cũng phán, “Vậy những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy: Lấy danh ta mà trừ quỉ; dùng tiếng mới mà nói; bắt rắn trong tay; nếu uống giống chi độc, cũng chẳng hại gì; hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành.” Lời hứa cũng rộng lớn như sứ mạng. Không phải tất cả các ân tứ đều được ban cho mỗi người tin. Đức Thánh Linh phân chia “cho mỗi người tùy theo ý Ngài muốn.”
“Mọi điều đó là công việc của đồng một Đức Thánh Linh mà thôi, theo ý Ngài muốn, phân phát sự ban cho riêng cho mỗi người.” (I Cô-rinh-tô 12:11)
Nhưng các ân tứ của Đức Thánh Linh được hứa ban cho mỗi người tin tùy theo nhu cầu của họ cho công việc của Chúa. Lời hứa đó hiện nay vẫn mạnh mẽ và đáng tin cậy như trong thời các sứ đồ. “Những kẻ tin sẽ được các dấu lạ nầy.” Đây là đặc ân của con cái Đức Chúa Trời, và đức tin phải nắm lấy tất cả những gì có thể có như một sự xác nhận của đức tin. DA 823.2
“Hễ đặt tay trên kẻ đau, thì kẻ đau sẽ lành.” Thế giới này là một nhà thương rộng lớn, nhưng Đấng Christ đến để chữa lành kẻ bệnh tật, để rao truyền sự giải cứu cho những kẻ bị Sa-tan giam cầm. Chính Ngài là sức khỏe và sức mạnh. Ngài ban sự sống của Ngài cho kẻ bệnh tật, kẻ đau khổ, những kẻ bị quỷ ám. Ngài không xua đuổi một ai đến để nhận quyền năng chữa lành của Ngài. Ngài biết rằng những kẻ cầu xin Ngài giúp đỡ đã tự gây ra bệnh tật cho mình; nhưng Ngài không từ chối chữa lành cho họ. Và khi đức tính từ Đấng Christ tuôn vào những linh hồn đáng thương này, họ bị cáo trách về tội lỗi, và nhiều người được chữa lành khỏi bệnh tật thuộc linh, cũng như khỏi những căn bệnh thuộc thể. Tin lành vẫn còn có cùng một quyền năng, và tại sao ngày nay chúng ta lại không chứng kiến cùng những kết quả đó? DA 823.3
Đấng Christ cảm nhận nỗi đau khổ của mỗi người chịu khổ. Khi các tà linh xé nát một thân thể con người, Đấng Christ cảm nhận sự rủa sả. Khi cơn sốt thiêu đốt dòng sống, Ngài cảm nhận sự đau đớn. Và Ngài cũng sẵn lòng chữa lành kẻ bệnh tật ngày nay như khi Ngài đích thân ở trên đất. Các tôi tớ của Đấng Christ là những người đại diện của Ngài, là những kênh dẫn cho sự làm việc của Ngài. Ngài mong muốn qua họ mà thực thi quyền năng chữa lành của Ngài. DA 823.4
Trong cách Đấng Cứu Thế chữa lành có những bài học cho các môn đồ Ngài. Có một lần Ngài xức bùn lên mắt một người mù, và truyền bảo người, “Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê… Vậy, người đi rửa, rồi trở lại, thấy rõ.”
“Đoạn, Ngài phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa là chịu sai đi). Vậy, người đi đến ao đó, rửa, và trở lại, thì được thấy rõ.” (Giăng 9:7)
Sự chữa lành chỉ có thể được thực hiện bởi quyền năng của Đấng Đại Y, nhưng Đấng Christ đã sử dụng những phương tiện đơn sơ của thiên nhiên. Trong khi Ngài không tán thành việc dùng thuốc, Ngài chấp thuận việc sử dụng những phương thuốc đơn sơ và tự nhiên. DA 824.1
Với nhiều người chịu khổ được chữa lành, Đấng Christ phán, “Đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng.”
“Sau lại, Đức Chúa Giê-su gặp người đó trong đền thờ, bèn phán rằng: Kìa, ngươi đã lành rồi, đừng phạm tội nữa, e có sự gì càng xấu xa xảy đến cho ngươi chăng.” (Giăng 5:14)
Như vậy Ngài dạy rằng bệnh tật là kết quả của việc vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, cả tự nhiên lẫn thuộc linh. Sự khốn khổ lớn lao trong thế gian sẽ không hiện hữu nếu con người sống hài hòa với kế hoạch của Đấng Tạo Hóa. DA 824.2
Đấng Christ đã từng là Đấng dẫn đường và Thầy dạy của dân Y-sơ-ra-ên xưa, và Ngài đã dạy họ rằng sức khỏe là phần thưởng của sự vâng theo luật pháp Đức Chúa Trời. Vị Đại Y Sư đã chữa lành những người bệnh tại xứ Pa-lét-tin đã phán cùng dân Ngài từ trong trụ mây, bảo cho họ biết điều họ phải làm, và điều Đức Chúa Trời sẽ làm cho họ.
“Ngài phán rằng: Nếu ngươi chăm chỉ nghe lời Giê-hô-va Đức Chúa Trời ngươi, làm sự ngay thẳng trước mặt Ngài, lắng tai nghe các điều răn và giữ mọi luật lệ Ngài, thì ta chẳng giáng cho ngươi một trong các bịnh nào mà ta đã giáng cho xứ Ê-díp-tô; vì ta là Đức Giê-hô-va, Đấng chữa bịnh cho ngươi.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 15:26)
Đấng Christ đã ban cho dân Y-sơ-ra-ên lời chỉ dẫn rõ ràng về thói quen sống của họ, và Ngài đã cam đoan với họ:
“Đức Giê-hô-va sẽ khiến các tật bịnh lìa xa ngươi; và những bịnh lây của xứ Ê-díp-tô kia, mà ngươi đã biết, thì Ngài sẽ chẳng giáng cho ngươi đâu, nhưng giáng cho những kẻ nào ghét ngươi.” (Phục-truyền Luật-lệ Ký 7:15)
Khi họ làm trọn các điều kiện, lời hứa đã được ứng nghiệm cho họ.
“Đoạn Ngài dẫn Y-sơ-ra-ên ra có cầm bạc và vàng; Chẳng một ai yếu mỏn trong các chi phái của Ngài.” (Thi-thiên 105:37)
DA 824.3
Những bài học này là dành cho chúng ta. Có những điều kiện cần phải tuân giữ bởi tất cả những ai muốn gìn giữ sức khỏe. Mọi người đều nên học biết những điều kiện ấy là gì. Đức Chúa Trời không hài lòng với sự ngu dốt về các luật pháp của Ngài, dù là tự nhiên hay thuộc linh. Chúng ta phải làm những người cùng làm việc với Đức Chúa Trời để phục hồi sức khỏe cho thân thể cũng như cho linh hồn. DA 824.4
Và chúng ta nên dạy người khác cách gìn giữ và phục hồi sức khỏe. Đối với người bệnh, chúng ta nên dùng những phương thuốc mà Đức Chúa Trời đã sắm sẵn trong thiên nhiên, và chúng ta nên hướng họ đến Đấng duy nhất có thể phục hồi họ. Công việc của chúng ta là đem người bệnh và người đau khổ đến với Đấng Christ trong vòng tay đức tin của chúng ta. Chúng ta nên dạy họ tin nơi Vị Đại Y Sư. Chúng ta nên nắm chặt lời hứa của Ngài, và cầu xin sự biểu lộ quyền năng của Ngài. Chính cốt lõi của tin lành là sự phục hồi, và Đấng Cứu Thế muốn chúng ta bảo người bệnh, người tuyệt vọng, và người chịu hoạn nạn nắm lấy sức mạnh của Ngài. DA 824.5
Quyền năng của tình yêu thương hiện diện trong mọi sự chữa lành của Đấng Christ, và chỉ bằng cách dự phần vào tình yêu thương ấy, qua đức tin, chúng ta mới có thể trở thành công cụ cho công việc của Ngài. Nếu chúng ta sao lãng việc liên kết mình trong mối liên hệ thiêng liêng với Đấng Christ, thì dòng năng lực ban sự sống không thể tuôn chảy dồi dào từ chúng ta đến với dân chúng. Có những nơi mà chính Đấng Cứu Thế cũng không thể làm nhiều việc quyền năng vì sự chẳng tin của họ. Cũng vậy, ngày nay sự chẳng tin ngăn cách Hội Thánh khỏi Đấng Trợ Giúp thiêng liêng của mình. Sự nắm giữ của Hội Thánh đối với những thực tại đời đời thật yếu ớt. Bởi sự thiếu đức tin của Hội Thánh, Đức Chúa Trời bị thất vọng và bị cướp mất vinh quang của Ngài. DA 825.1
Chính trong việc làm công việc của Đấng Christ mà Hội Thánh có được lời hứa về sự hiện diện của Ngài. Ngài phán, hãy đi dạy dỗ muôn dân; “và nầy, ta thường ở cùng các ngươi luôn cho đến tận thế.” Mang lấy ách của Ngài là một trong những điều kiện đầu tiên để nhận lãnh quyền năng Ngài. Chính sự sống của Hội Thánh tùy thuộc vào lòng trung thành của Hội Thánh trong việc làm trọn sứ mạng của Chúa. Sao lãng công việc này chắc chắn là chuốc lấy sự yếu đuối và suy tàn thuộc linh. Nơi nào không có sự lao động tích cực vì người khác, thì tình yêu thương phai nhạt và đức tin lu mờ. DA 825.2
Đấng Christ muốn rằng những người hầu việc Ngài sẽ là những người giáo dục Hội Thánh trong công việc tin lành. Họ phải dạy dân chúng cách tìm kiếm và cứu người hư mất. Nhưng đây có phải là công việc họ đang làm chăng? Than ôi, biết bao người đang khó nhọc để thổi cho bùng lên đốm lửa sự sống trong một Hội Thánh sắp chết! Biết bao Hội Thánh được chăm sóc như những chiên con đau ốm bởi những người đáng lẽ phải đi tìm kiếm con chiên lạc! Và suốt thời gian ấy, hàng triệu triệu người không có Đấng Christ đang hư mất. DA 825.3
Tình yêu thương thiêng liêng đã được khuấy động đến tận chỗ sâu thẳm khôn dò vì cớ loài người, và các thiên sứ kinh ngạc khi thấy nơi những kẻ nhận lãnh tình yêu thương lớn dường ấy chỉ có một lòng biết ơn hời hợt. Các thiên sứ kinh ngạc về sự nhận thức nông cạn của con người đối với tình yêu thương của Đức Chúa Trời. Cả thiên đàng phẫn nộ trước sự thờ ơ tỏ ra đối với linh hồn loài người. Chúng ta có muốn biết Đấng Christ nhìn nhận điều đó thế nào chăng? Một người cha và một người mẹ sẽ cảm thấy thế nào, nếu họ biết rằng đứa con của mình, lạc mất trong giá rét và tuyết, đã bị bỏ qua và bỏ mặc cho chết bởi những người đáng lẽ có thể cứu nó? Họ há chẳng đau buồn ghê gớm, phẫn nộ dữ dội sao? Họ há chẳng lên án những kẻ giết người ấy với cơn thạnh nộ nóng như nước mắt họ, mãnh liệt như tình yêu thương họ sao? Sự đau khổ của mỗi người là sự đau khổ của con cái Đức Chúa Trời, và những kẻ không chìa tay cứu giúp đồng loại đang hư mất của mình thì chọc giận sự thạnh nộ công bình của Ngài. Đây là cơn thạnh nộ của Chiên Con. Đối với những kẻ tự xưng có mối thông công với Đấng Christ, mà lại thờ ơ với nhu cầu của đồng loại mình, Ngài sẽ tuyên bố trong ngày Phán Xét lớn:
“Chủ lại sẽ trả lời rằng: Ta nói cùng các ngươi, không biết các ngươi đến từ đâu; hết thảy những kẻ làm dữ kia, hãy lui ra khỏi ta!” (Lu-ca 13:27)
DA 825.4
Trong sứ mạng giao cho các môn đồ, Đấng Christ không những phác họa công việc của họ, mà còn ban cho họ sứ điệp của họ. Ngài phán, hãy dạy dân chúng “giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi.” Các môn đồ phải dạy điều mà Đấng Christ đã dạy. Điều Ngài đã phán, không những đích thân Ngài, mà còn qua tất cả các tiên tri và các thầy dạy của Cựu Ước, đều bao gồm trong đó. Sự dạy dỗ của loài người bị loại trừ. Không có chỗ cho truyền thống, cho những lý thuyết và kết luận của loài người, hay cho luật lệ của Hội Thánh. Không một luật lệ nào được lập ra bởi quyền lực giáo hội được bao gồm trong sứ mạng ấy. Không một điều nào trong số đó là điều các đầy tớ của Đấng Christ được dạy. “Luật pháp và các tiên tri,” cùng với ký thuật về lời nói và việc làm của chính Ngài, là kho báu được giao phó cho các môn đồ để ban cho thế gian. Danh của Đấng Christ là khẩu hiệu của họ, là phù hiệu phân biệt của họ, là mối liên kết hiệp nhất của họ, là thẩm quyền cho đường lối hành động của họ, và là nguồn của sự thành công của họ. Không một điều gì không mang dấu ấn của Ngài được công nhận trong nước Ngài. DA 826.1
Tin lành phải được trình bày, không phải như một lý thuyết vô hồn, mà như một sức sống động để thay đổi cuộc đời. Đức Chúa Trời mong muốn rằng những kẻ nhận lãnh ân điển của Ngài sẽ làm chứng nhân cho quyền năng của ân điển ấy. Những kẻ mà đường lối của họ đã từng xúc phạm Ngài nhất, Ngài lại sẵn lòng tiếp nhận; khi họ ăn năn, Ngài ban cho họ Thánh Linh thiêng liêng của Ngài, đặt họ vào những địa vị tin cậy cao nhất, và sai họ đi vào trại quân của những kẻ bất trung để công bố lòng thương xót vô biên của Ngài. Ngài muốn các đầy tớ của Ngài làm chứng về thực tế rằng qua ân điển của Ngài, loài người có thể có được bản tính giống như Đấng Christ, và có thể vui mừng trong sự bảo đảm về tình yêu thương lớn lao của Ngài. Ngài muốn chúng ta làm chứng về thực tế rằng Ngài không thể thỏa lòng cho đến khi nhân loại được cứu chuộc và phục hồi vào những đặc ân thánh khiết của họ với tư cách là con trai và con gái của Ngài. DA 826.2
Trong Đấng Christ có sự dịu dàng của người chăn chiên, tình thương của bậc cha mẹ, và ân điển vô song của Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót. Ngài trình bày những phước lành của Ngài bằng những lời cuốn hút nhất. Ngài không thỏa lòng chỉ với việc loan báo những phước lành ấy; Ngài trình bày chúng theo cách hấp dẫn nhất, để khơi dậy lòng ao ước được sở hữu chúng. Cũng vậy, các đầy tớ của Ngài phải trình bày sự giàu có vinh hiển của Món Quà không thể tả xiết. Tình yêu thương kỳ diệu của Đấng Christ sẽ làm tan chảy và khuất phục lòng người, trong khi sự nhắc đi nhắc lại suông các giáo lý chẳng làm được gì cả.
“Đức Chúa Trời của các ngươi phán rằng: Hãy yên ủi, hãy yên ủi dân ta. Ai rao tin lành cho Si-ôn, hãy lên trên núi cao! Ai rao tin lành cho Giê-ru-sa-lem, hãy ra sức cất tiếng lên! Hãy cất tiếng lên, đừng sợ! Hãy bảo các thành của Giu-đa rằng: Đức Chúa Trời của các ngươi đây! Nầy, Chúa Giê-hô-va sẽ lấy quyền năng mà đến; Ngài dùng cánh tay mình mà cai trị. Nầy, sự ban thưởng Ngài ở nơi Ngài, sự báo trả Ngài ở trước mặt Ngài. Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên; thâu các con chiên con vào cánh tay mình và ẵm vào lòng; từ từ dắt các chiên cái đương cho bú.” (Ê-sai 40:1,9-11)
Hãy nói cho dân chúng về Đấng là “tốt hơn muôn người,” và Đấng “toàn nhiên đáng yêu mến.”
“Lương nhân tôi trắng và đỏ, Đệ nhứt trong muôn người. Miệng người rất êm dịu; Thật, toàn thể cách người đáng yêu đương. Hỡi các con gái Giê-ru-sa-lem, lương nhân tôi như vậy, Bạn tình tôi dường ấy!” (Nhã-ca 5:10,16)
Lời nói suông không thể nào nói hết được. Hãy để điều đó được phản chiếu trong bản tính và được biểu lộ trong cuộc đời. Đấng Christ đang ngồi để vẽ chân dung Ngài trong mỗi môn đồ. Đức Chúa Trời đã định trước cho mỗi người được “trở nên giống như hình bóng Con Ngài.”
“Vì những kẻ Ngài đã biết trước, thì Ngài cũng đã định sẵn để nên giống như hình bóng Con Ngài, hầu cho Con này được làm Con cả ở giữa nhiều anh em;” (Rô-ma 8:29)
Trong mỗi người, tình yêu thương nhịn nhục của Đấng Christ, sự thánh khiết, sự nhu mì, lòng thương xót, và lẽ thật của Ngài phải được biểu lộ ra cho thế gian. DA 826.3
Các môn đồ đầu tiên đã đi ra rao giảng đạo. Họ bày tỏ Đấng Christ trong đời sống mình. Và Chúa đã cùng làm việc với họ, “lấy các phép lạ cặp theo lời giảng mà làm cho vững đạo.” Mác 16:20. Những môn đồ này đã chuẩn bị chính mình cho công việc của họ. Trước ngày lễ Ngũ Tuần, họ nhóm lại với nhau, và dẹp bỏ mọi sự bất hòa. Họ đồng một lòng. Họ tin lời hứa của Đấng Christ rằng phước lành sẽ được ban cho, và họ cầu nguyện trong đức tin. Họ không cầu xin phước lành cho riêng mình mà thôi; họ mang nặng gánh nặng về sự cứu rỗi các linh hồn. Tin lành phải được mang đến tận cùng trái đất, và họ nài xin quyền năng mà Đấng Christ đã hứa. Bấy giờ Đức Thánh Linh được đổ xuống, và hàng ngàn người được trở lại đạo trong một ngày. DA 827.1
Ngày nay cũng có thể như vậy. Thay vì những lý thuyết suy đoán của loài người, hãy để Lời Đức Chúa Trời được rao giảng. Hãy để những người Cơ-đốc dẹp bỏ những sự bất đồng của mình, và dâng chính mình cho Đức Chúa Trời để cứu rỗi những kẻ hư mất. Hãy để họ trong đức tin cầu xin phước lành, và phước lành sẽ đến. Sự đổ xuống của Đức Thánh Linh trong những ngày của các sứ đồ là “mưa đầu mùa,” và kết quả thật vinh hiển. Nhưng “mưa cuối mùa” sẽ còn dồi dào hơn. Giô-ên 2:23. DA 827.2
Tất cả những ai dâng linh hồn, thân thể, và thần linh mình cho Đức Chúa Trời sẽ liên tục nhận được sự ban thêm mới mẻ về quyền năng thể chất và tinh thần. Những nguồn cung cấp vô tận của thiên đàng nằm trong tầm tay họ. Đấng Christ ban cho họ hơi thở của chính thần linh Ngài, sự sống của chính sự sống Ngài. Đức Thánh Linh dùng năng lực cao cả nhất của mình để hành động trong tấm lòng và tâm trí. Ân điển của Đức Chúa Trời mở rộng và nhân thêm các khả năng của họ, và mỗi sự trọn vẹn của bổn tánh thiêng liêng đến trợ giúp họ trong công việc cứu rỗi các linh hồn. Qua sự hợp tác với Đấng Christ, họ được trọn vẹn trong Ngài, và trong sự yếu đuối của con người, họ được ban cho khả năng làm những việc của Đấng Toàn Năng. DA 827.3
Đấng Cứu Thế khao khát bày tỏ ân điển của Ngài và đóng dấu bổn tánh Ngài trên cả thế gian. Đó là cơ nghiệp mà Ngài đã mua chuộc, và Ngài mong muốn làm cho loài người được tự do, trong sạch, và thánh khiết. Dù Sa-tan tìm cách ngăn trở mục đích này, nhưng qua huyết đã đổ ra vì thế gian, có những chiến thắng sẽ đạt được, đem lại vinh hiển cho Đức Chúa Trời và Chiên Con. Đấng Christ sẽ không thỏa lòng cho đến khi chiến thắng được trọn vẹn, và “Người sẽ thấy kết quả của sự khốn khổ linh hồn mình, và lấy làm thỏa mãn.” Ê-sai 53:11. Tất cả các dân tộc trên đất sẽ nghe tin lành về ân điển của Ngài. Không phải tất cả sẽ nhận lãnh ân điển của Ngài; nhưng “một dòng dõi sẽ hầu việc Ngài; người ta sẽ kể dòng dõi ấy thuộc về Chúa.” Thi Thiên 22:30. “Nước, quyền thế, và sự tôn đại của các nước ở dưới cả trời, sẽ được ban cho dân các thánh của Đấng Rất Cao,” và “thế gian sẽ đầy dẫy sự hiểu biết Đức Giê-hô-va, như các dòng nước che lấp biển.” “Người ta sẽ kính sợ danh Đức Giê-hô-va từ phương tây, và sự vinh hiển Ngài từ phương mặt trời mọc.” Đa-ni-ên 7:27; Ê-sai 11:9; 59:19. DA 827.4
“Những kẻ đem tin tốt, rao sự bình an, đem tin tốt về phước lành, rao sự cứu chuộc, bảo Si-ôn rằng: Đức Chúa Trời ngươi trị vì, chân của những kẻ ấy trên các núi xinh đẹp là dường nào! Tiếng những kẻ canh của ngươi! họ cất tiếng, cùng nhau hát xướng; vì họ sẽ thấy mắt đối mắt khi Đức Giê-hô-va trở về Si-ôn. Hỡi những nơi hoang vu của Giê-ru-sa-lem, hãy trổi giọng hát mừng chung rập. Vì Đức Giê-hô-va đã yên ủi dân Ngài, đã chuộc lại Giê-ru-sa-lem. Đức Giê-hô-va đã tỏ trần cánh tay thánh Ngài trước mắt mọi nước; mọi đầu cùng đất đã thấy sự cứu rỗi của Đức Chúa Trời chúng ta!” (Ê-sai 52:7-10)
DA 828.1