Một Lần Nữa Bên Bờ Biển
Chương này dựa trên Giăng 21:1-22. DA 809.1
Đức Chúa Giê-su đã hẹn gặp các môn đồ tại xứ Ga-li-lê; và ngay sau khi tuần lễ Vượt Qua kết thúc, họ hướng bước về đó. Sự vắng mặt của họ tại Giê-ru-sa-lem trong kỳ lễ có thể bị hiểu là sự bất mãn và tà giáo, vì vậy họ ở lại cho đến khi lễ kết thúc; nhưng khi lễ đã xong, họ vui mừng quay về nhà để gặp Đấng Cứu Thế như Ngài đã chỉ dẫn. DA 809.2
Bảy môn đồ đi chung với nhau. Họ mặc bộ y phục khiêm tốn của những người đánh cá; họ nghèo về của cải vật chất, nhưng giàu có trong sự hiểu biết và thực hành lẽ thật, là điều mà dưới mắt Thiên đàng đã ban cho họ địa vị cao quý nhất với tư cách là những người dạy dỗ. Họ chưa từng học trong các trường của các tiên tri, nhưng trong ba năm họ đã được dạy dỗ bởi Đấng Giáo Dục vĩ đại nhất mà thế gian từng biết đến. Dưới sự dạy dỗ của Ngài, họ đã trở nên cao thượng, thông sáng và tinh tế, những công cụ mà qua đó người ta có thể được dẫn đến sự hiểu biết lẽ thật. DA 809.3
Phần lớn thời gian chức vụ của Đấng Christ đã trải qua gần Biển Ga-li-lê. Khi các môn đồ tụ họp tại một nơi mà họ không dễ bị quấy rầy, họ thấy mình được bao quanh bởi những điều nhắc nhở về Đức Chúa Giê-su và các công việc quyền năng của Ngài. Trên biển này, khi lòng họ đầy kinh hãi, và cơn bão dữ dội đang đẩy họ đến chỗ diệt vong, Đức Chúa Giê-su đã đi trên các lượn sóng để giải cứu họ. Tại đây cơn bão tố đã được dẹp yên bởi lời Ngài. Trong tầm mắt là bãi biển nơi hơn mười ngàn người đã được cho ăn từ vài cái bánh nhỏ và mấy con cá. Cách đó không xa là thành Ca-bê-na-um, hiện trường của biết bao phép lạ. Khi các môn đồ nhìn cảnh vật, tâm trí họ tràn ngập những lời nói và việc làm của Đấng Cứu Thế. DA 809.4
Buổi chiều thật êm dịu, và Phi-e-rơ, vẫn còn nhiều tình yêu cũ đối với thuyền và việc đánh cá, đã đề nghị họ nên ra biển và thả lưới. Tất cả đều sẵn lòng tham gia vào kế hoạch này; họ đang cần thức ăn và quần áo, là những thứ mà số tiền thu được từ một đêm đánh cá thành công sẽ cung cấp. Vậy họ ra đi trên thuyền của mình, nhưng chẳng bắt được gì cả. Suốt đêm họ làm việc cực nhọc, mà không thành công. Qua những giờ mệt mỏi, họ nói về Chúa vắng mặt của họ, và nhắc lại những sự kiện kỳ diệu mà họ đã chứng kiến trong chức vụ của Ngài bên biển. Họ thắc mắc về tương lai của chính mình, và trở nên buồn bã trước viễn cảnh đang chờ đợi họ. DA 810.1
Suốt thời gian đó, một Đấng quan sát đơn độc trên bờ dõi theo họ bằng đôi mắt Ngài, trong khi chính Ngài không bị thấy. Cuối cùng, bình minh ló dạng. Chiếc thuyền chỉ cách bờ một quãng ngắn, và các môn đồ thấy một người lạ đứng trên bãi biển, người ấy ngỏ lời hỏi họ rằng: “Hỡi các con, không có chi ăn sao?” Khi họ đáp: “Không”, “Ngài phán rằng: Hãy thả lưới bên hữu thuyền, thì các ngươi sẽ được. Vậy, họ thả lưới xuống, được nhiều cá đến nỗi không thể kéo lên nữa.” DA 810.2
Giăng nhận ra người lạ, và kêu lên với Phi-e-rơ: “Ấy là Chúa.” Phi-e-rơ quá phấn khởi và vui mừng đến nỗi trong sự háo hức, ông nhảy xuống nước và chẳng mấy chốc đã đứng bên cạnh Thầy mình. Các môn đồ khác đến trên thuyền, kéo theo lưới đầy cá. “Lúc môn đồ đã lên bờ, thấy tại đó có lửa than, ở trên để cá, và có bánh.” DA 810.3
Họ quá đỗi kinh ngạc đến nỗi không hỏi lửa và thức ăn từ đâu mà có. “Đức Chúa Giê-su phán rằng: Hãy đem cá các ngươi mới đánh được đó lại đây.” Phi-e-rơ vội chạy đến lưới mà ông đã buông xuống, và giúp anh em mình kéo nó vào bờ. Sau khi công việc đã xong, và mọi sự đã được chuẩn bị, Đức Chúa Giê-su mời các môn đồ đến dùng bữa. Ngài bẻ bánh, và chia cho họ, và được tất cả bảy người nhận biết và thừa nhận. Phép lạ cho năm ngàn người ăn trên sườn núi giờ đây hiện về trong trí họ; nhưng một sự kính sợ huyền nhiệm bao trùm họ, và trong im lặng họ chăm chú nhìn Đấng Cứu Thế đã sống lại. DA 810.4
Họ nhớ lại sống động cảnh tượng bên biển khi Đức Chúa Giê-su đã bảo họ theo Ngài. Họ nhớ rằng, theo lệnh Ngài, họ đã chèo ra chỗ nước sâu, và thả lưới xuống, và đã bắt được nhiều cá đến nỗi đầy cả lưới, gần như rách lưới. Rồi Đức Chúa Giê-su đã kêu gọi họ rời bỏ những chiếc thuyền đánh cá, và đã hứa biến họ thành những kẻ đánh lưới người. Chính để đem cảnh tượng này vào tâm trí họ, và để khắc sâu ấn tượng đó, mà Ngài đã làm lại phép lạ này. Hành động của Ngài là một sự đổi mới sứ mạng cho các môn đồ. Nó cho họ thấy rằng sự chết của Thầy họ không làm giảm bớt nghĩa vụ của họ trong việc làm công việc Ngài đã giao phó cho họ. Dù họ sẽ bị tước mất sự đồng hành riêng tư của Ngài, và mất phương tiện sinh sống bởi nghề nghiệp trước kia, Đấng Cứu Thế đã sống lại vẫn sẽ chăm sóc họ. Trong khi họ làm công việc của Ngài, Ngài sẽ chu cấp cho những nhu cầu của họ. Và Đức Chúa Giê-su có một mục đích khi bảo họ thả lưới bên hữu thuyền. Bên ấy là nơi Ngài đứng trên bờ. Đó là phía của đức tin. Nếu họ làm việc trong sự liên kết với Ngài—quyền năng thần thượng của Ngài kết hợp với nỗ lực của con người họ—họ không thể nào thất bại được. DA 810.5
Đấng Christ còn có một bài học khác để ban cho, đặc biệt liên quan đến Phi-e-rơ. Việc Phi-e-rơ chối Chúa mình tương phản một cách đáng xấu hổ với những lời tuyên xưng lòng trung thành trước kia của ông. Ông đã làm ô danh Đấng Christ, và đã gây ra sự nghi ngờ nơi anh em mình. Họ nghĩ rằng ông sẽ không được phép trở lại địa vị cũ giữa họ, và chính ông cũng cảm thấy rằng mình đã đánh mất sự tin cậy. Trước khi được kêu gọi để lại đảm nhận công việc sứ đồ của mình, ông phải trình bày trước mặt tất cả họ bằng chứng về sự ăn năn của mình. Không có điều này, tội lỗi của ông, dù đã được ăn năn, vẫn có thể hủy diệt ảnh hưởng của ông với tư cách là người phục vụ Đấng Christ. Đấng Cứu Thế đã ban cho ông cơ hội để lấy lại lòng tin của anh em mình, và, trong chừng mực có thể, để cất bỏ sự sỉ nhục mà ông đã đem đến cho tin lành. DA 811.1
Đây là bài học cho tất cả những người theo Đấng Christ. Tin lành không thỏa hiệp với điều ác. Nó không thể bào chữa cho tội lỗi. Những tội kín giấu phải được xưng cách kín giấu với Đức Chúa Trời; nhưng, đối với tội công khai, sự xưng tội công khai được đòi hỏi. Sự sỉ nhục bởi tội lỗi của môn đồ giáng trên Đấng Christ. Nó khiến Sa-tan đắc thắng, và những linh hồn dao động vấp ngã. Bằng cách đưa ra bằng chứng về sự ăn năn, môn đồ, trong chừng mực thuộc về quyền hạn của mình, phải cất bỏ sự sỉ nhục này. DA 811.2
Trong khi Đấng Christ và các môn đồ đang ăn chung bên bờ biển, Đấng Cứu Thế phán với Phi-e-rơ: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta hơn những kẻ nầy chăng?” ngụ ý đến anh em ông. Phi-e-rơ đã có lần tuyên bố:
“Phi-e-rơ cất tiếng thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, song tôi chắc không bao giờ vấp phạm vậy.” (Ma-thi-ơ 26:33)
Nhưng giờ đây ông đặt một sự đánh giá chân thật hơn về chính mình. “Lạy Chúa,” ông nói, “Chúa biết rằng tôi yêu Chúa.” Không có sự bảo đảm hăng hái nào rằng tình yêu của ông lớn hơn tình yêu của anh em mình. Ông không bày tỏ ý kiến riêng của mình về lòng tận tụy của mình. Với Đấng có thể đọc thấu mọi động cơ của lòng người, ông kêu cầu để Ngài phán xét về sự chân thành của ông—“Chúa biết rằng tôi yêu Chúa.” Và Đức Chúa Giê-su bảo ông: “Hãy chăn những chiên con ta.” DA 811.3
Một lần nữa Đức Chúa Giê-su đem sự thử nghiệm đến cho Phi-e-rơ, lặp lại những lời trước kia của Ngài: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng?” Lần này Ngài không hỏi Phi-e-rơ có yêu Ngài hơn anh em mình hay không. Lời đáp thứ hai cũng giống như lời đáp thứ nhất, không có sự bảo đảm quá đáng: “Lạy Chúa, Chúa biết rằng tôi yêu Chúa.” Đức Chúa Giê-su phán với ông: “Hãy chăn chiên ta.” Một lần nữa Đấng Cứu Thế đặt câu hỏi thử thách: “Hỡi Si-môn, con Giô-na, ngươi yêu ta chăng?” Phi-e-rơ buồn rầu; ông nghĩ rằng Đức Chúa Giê-su nghi ngờ tình yêu của ông. Ông biết rằng Chúa mình có lý do để không tin cậy ông, và với tấm lòng đau đớn ông đáp: “Lạy Chúa, Chúa biết hết mọi việc; Chúa biết rằng tôi yêu Chúa.” Một lần nữa Đức Chúa Giê-su phán với ông: “Hãy chăn chiên ta.” DA 812.1
Ba lần Phi-e-rơ đã công khai chối Chúa mình, và ba lần Đức Chúa Giê-su rút ra từ ông lời bảo đảm về tình yêu và lòng trung thành của ông, ấn sâu câu hỏi nhọn sắc ấy, như một mũi tên có ngạnh đâm vào tấm lòng bị thương của ông. Trước mặt các môn đồ đang tụ họp, Đức Chúa Giê-su tỏ ra chiều sâu của sự ăn năn nơi Phi-e-rơ, và cho thấy người môn đồ một thời khoe khoang nay đã được hạ mình triệt để biết bao. DA 812.2
Phi-e-rơ vốn tánh nóng nảy và bộc trực, và Sa-tan đã lợi dụng những đặc tánh này để đánh đổ ông. Ngay trước khi Phi-e-rơ sa ngã, Đức Chúa Giê-su đã phán cùng ông:
“Hỡi Si-môn, Si-môn, này, quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì. Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình.” (Lu-ca 22:31,32)
Thời điểm đó nay đã đến, và sự biến đổi trong Phi-e-rơ thật rõ ràng. Những câu hỏi gần gũi và thử thách của Chúa đã không gợi ra một lời đáp bộc trực, tự mãn nào; và bởi sự khiêm nhường và ăn năn của mình, Phi-e-rơ đã được chuẩn bị tốt hơn bao giờ hết để làm người chăn cho bầy chiên. DA 812.3
Công việc đầu tiên mà Đấng Christ giao phó cho Phi-e-rơ khi phục hồi ông vào chức vụ là chăn dắt chiên con. Đây là công việc mà Phi-e-rơ có ít kinh nghiệm. Nó đòi hỏi sự cẩn thận và dịu dàng lớn lao, nhiều kiên nhẫn và bền chí. Nó kêu gọi ông phục vụ những người còn non trẻ trong đức tin, dạy dỗ những kẻ ngu dốt, mở Kinh Thánh ra cho họ, và rèn luyện họ để hữu ích trong sự phục vụ Đấng Christ. Trước đây Phi-e-rơ chưa được trang bị để làm điều này, hay thậm chí hiểu được tầm quan trọng của nó. Nhưng đây là công việc mà Đức Chúa Giê-su nay kêu gọi ông làm. Chính kinh nghiệm đau khổ và ăn năn của ông đã chuẩn bị ông cho công việc này. DA 812.4
Trước khi sa ngã, Phi-e-rơ luôn nói năng thiếu thận trọng, theo sự bốc đồng của khoảnh khắc. Ông luôn sẵn sàng sửa sai người khác, và bày tỏ ý kiến của mình, trước khi ông hiểu rõ chính mình hay điều ông phải nói. Nhưng Phi-e-rơ đã được biến đổi thì rất khác. Ông vẫn giữ lòng sốt sắng trước kia, nhưng ân điển của Đấng Christ điều chỉnh nhiệt tâm của ông. Ông không còn nóng nảy, tự tin, và tự cao nữa, nhưng điềm tĩnh, tự chủ, và dễ dạy. Bấy giờ ông có thể chăn dắt cả chiên con lẫn chiên lớn của bầy Đấng Christ. DA 812.5
Cách Đấng Cứu Thế đối xử với Phi-e-rơ chứa đựng một bài học cho ông và cho các anh em ông. Nó dạy họ phải đối xử với kẻ phạm tội bằng sự kiên nhẫn, cảm thông, và tình yêu thương tha thứ. Mặc dù Phi-e-rơ đã chối Chúa mình, tình yêu thương mà Đức Chúa Giê-su dành cho ông chưa bao giờ lay chuyển. Người chăn phụ phải có chính tình yêu thương như vậy đối với chiên lớn và chiên con được giao phó cho mình chăm sóc. Nhớ đến sự yếu đuối và thất bại của chính mình, Phi-e-rơ phải đối xử với bầy chiên của ông cách dịu dàng như Đấng Christ đã đối xử với ông. DA 815.1
Câu hỏi mà Đấng Christ đặt ra cho Phi-e-rơ thật có ý nghĩa. Ngài chỉ đề cập đến một điều kiện duy nhất của việc làm môn đồ và phục vụ. Ngài phán: “Ngươi có yêu ta chăng?” Đây là phẩm chất thiết yếu. Dẫu Phi-e-rơ có thể sở hữu mọi phẩm chất khác, nhưng nếu không có tình yêu thương của Đấng Christ thì ông không thể là người chăn trung thành trên bầy chiên của Chúa. Tri thức, lòng nhân từ, tài hùng biện, lòng biết ơn, và sự sốt sắng đều là những trợ giúp trong công việc tốt lành; nhưng nếu không có tình yêu thương của Đức Chúa Giê-su trong lòng, thì công việc của người hầu việc Cơ-đốc là một thất bại. DA 815.2
Đức Chúa Giê-su đi một mình với Phi-e-rơ, vì có điều Ngài muốn chỉ truyền đạt riêng cho ông. Trước khi chết, Đức Chúa Giê-su đã phán cùng ông: “Nơi ta đi, bây giờ ngươi chẳng có thể theo ta được; nhưng rồi sau ngươi sẽ theo ta.” Phi-e-rơ đã đáp lại: “Lạy Chúa, sao bây giờ tôi không thể theo Chúa được? Tôi liều sự sống tôi vì Chúa!”
“Si-môn Phi-e-rơ thưa cùng Ngài rằng: Lạy Chúa, Chúa đi đâu? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Nơi ta đi, bây giờ ngươi chẳng có thể theo ta được; nhưng rồi sau ngươi sẽ theo ta. Phi-e-rơ thưa rằng: Lạy Chúa, sao hiện bây giờ tôi không thể theo Chúa được? Tôi liều sự sống tôi vì Chúa!” (Giăng 13:36,37)
Khi nói điều này, ông chẳng mấy biết đến những đỉnh cao và vực sâu mà bước chân của Đấng Christ sẽ dẫn đường. Phi-e-rơ đã thất bại khi sự thử thách đến, nhưng một lần nữa ông sẽ có cơ hội chứng tỏ tình yêu thương của mình đối với Đấng Christ. Để ông có thể được thêm sức cho sự thử thách cuối cùng của đức tin mình, Đấng Cứu Thế đã mở ra cho ông tương lai của ông. Ngài bảo ông rằng sau khi sống một đời hữu ích, khi tuổi tác đè nặng lên sức lực ông, thì ông thật sẽ theo Chúa mình. Đức Chúa Giê-su phán: “Khi ngươi còn trẻ, ngươi tự mình thắt lưng lấy, muốn đi đâu thì đi; nhưng khi ngươi già, sẽ giơ bàn tay ra, người khác thắt lưng cho và dẫn ngươi đi đến nơi mình không muốn. Ngài nói điều đó để chỉ về Phi-e-rơ sẽ chết cách nào đặng sáng danh Đức Chúa Trời.” DA 815.3
Như vậy Đức Chúa Giê-su tỏ cho Phi-e-rơ biết chính cách thức ông sẽ chết; Ngài thậm chí báo trước việc ông giơ tay ra trên thập tự giá. Một lần nữa Ngài truyền cho môn đồ Ngài: “Hãy theo ta.” Phi-e-rơ không nản lòng bởi sự mặc khải ấy. Ông cảm thấy sẵn lòng chịu bất cứ cái chết nào vì Chúa mình. DA 815.4
Trước đây Phi-e-rơ đã biết Đấng Christ theo phần xác thịt, như nhiều người biết Ngài bây giờ; nhưng ông không còn bị giới hạn như vậy nữa. Ông không còn biết Ngài như khi ông kết giao với Ngài trong nhân tánh. Ông đã yêu Ngài như một con người, như một giáo sư được trời sai đến; nay ông yêu Ngài như Đức Chúa Trời. Ông đã học được bài học rằng đối với ông, Đấng Christ là tất cả trong mọi sự. Nay ông đã được chuẩn bị để dự phần vào sứ mạng hy sinh của Chúa mình. Cuối cùng khi bị đưa đến thập tự giá, theo lời yêu cầu của chính ông, ông đã bị đóng đinh với đầu chúc xuống. Ông nghĩ rằng được chịu khổ theo cùng cách như Thầy mình là một vinh dự quá lớn. DA 815.5
Đối với Phi-e-rơ, lời “Hãy theo ta” tràn đầy sự dạy dỗ. Bài học được ban không chỉ cho cái chết của ông, mà cho mỗi bước đi trong đời ông. Trước đây Phi-e-rơ có khuynh hướng hành động độc lập. Ông đã cố lập kế hoạch cho công việc của Đức Chúa Trời, thay vì chờ đợi để làm theo kế hoạch của Đức Chúa Trời. Nhưng ông chẳng được gì khi lao về phía trước, đi trước Chúa. Đức Chúa Giê-su truyền cho ông: “Hãy theo ta.” Đừng chạy trước ta. Như vậy ngươi sẽ không phải đối diện với đạo binh Sa-tan một mình. Hãy để ta đi trước ngươi, thì ngươi sẽ không bị kẻ thù đánh bại. DA 816.1
Khi Phi-e-rơ bước đi bên cạnh Đức Chúa Giê-su, ông thấy Giăng đi theo. Một ước muốn dâng lên trong lòng ông để biết tương lai của Giăng, và ông “thấy Giăng, bèn hỏi Đức Chúa Giê-su rằng: Lạy Chúa, còn người nầy về sau sẽ ra thế nào? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Nếu ta muốn người cứ ở cho tới khi ta đến, thì can hệ gì với ngươi? Còn ngươi, hãy theo ta.” Phi-e-rơ lẽ ra phải xét rằng Chúa mình sẽ tỏ cho ông biết mọi điều tốt nhất cho ông biết. Bổn phận của mỗi người là theo Đấng Christ, mà không lo lắng thái quá về công việc được giao cho người khác. Khi nói về Giăng: “Nếu ta muốn người cứ ở cho tới khi ta đến,” Đức Chúa Giê-su không hề bảo đảm rằng môn đồ này sẽ sống cho đến sự tái lâm của Chúa. Ngài chỉ khẳng định quyền năng tối thượng của chính Ngài, và rằng dù Ngài có muốn điều đó là như vậy, thì nó cũng chẳng hề ảnh hưởng đến công việc của Phi-e-rơ. Tương lai của cả Giăng lẫn Phi-e-rơ đều ở trong tay Chúa của họ. Sự vâng lời mà theo Ngài là bổn phận đòi hỏi nơi mỗi người. DA 816.2
Ngày nay có biết bao người giống như Phi-e-rơ! Họ quan tâm đến công việc của người khác, và lo lắng muốn biết bổn phận của họ, trong khi chính họ lại có nguy cơ sao lãng bổn phận của mình. Công việc của chúng ta là nhìn xem Đấng Christ và theo Ngài. Chúng ta sẽ thấy những lỗi lầm trong đời sống của người khác, và những khuyết điểm trong tánh hạnh của họ. Nhân loại bị bao quanh bởi sự yếu đuối. Nhưng trong Đấng Christ chúng ta sẽ tìm thấy sự trọn vẹn. Nhìn xem Ngài, chúng ta sẽ được biến đổi. DA 816.3
Giăng sống đến tuổi rất già. Ông chứng kiến sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem, và sự sụp đổ của đền thờ nguy nga, — một biểu tượng cho sự hủy diệt cuối cùng của thế gian. Cho đến những ngày cuối cùng của mình, Giăng vẫn theo sát Chúa mình. Gánh nặng lời chứng của ông cho các Hội Thánh là: “Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau;” “ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.”
“Hỡi kẻ rất yêu dấu, chúng ta hãy yêu mến lẫn nhau; vì sự yêu thương đến từ Đức Chúa Trời, kẻ nào yêu, thì sanh từ Đức Chúa Trời và nhìn biết Đức Chúa Trời. Chúng ta đã biết và tin sự yêu thương của Đức Chúa Trời đối với chúng ta. Đức Chúa Trời tức là sự yêu thương, ai ở trong sự yêu thương, là ở trong Đức Chúa Trời, và Đức Chúa Trời ở trong người ấy.” (I Giăng 4:7,16)
DA 816.4
Phi-e-rơ đã được phục hồi vào chức sứ đồ, nhưng vinh dự và quyền uy mà ông nhận được từ Đấng Christ đã không ban cho ông quyền tối thượng trên các anh em mình. Đấng Christ đã làm rõ điều này khi đáp lại câu hỏi của Phi-e-rơ, “Còn người nầy sẽ ra thế nào?” Ngài đã phán: “Thì can hệ gì với ngươi? Còn ngươi, hãy theo ta.” Phi-e-rơ không được tôn làm đầu của Hội Thánh. Ơn mà Đấng Christ đã tỏ ra cho ông khi tha thứ sự bội đạo của ông, và giao phó cho ông việc chăn dắt bầy chiên, cùng với sự trung thành của chính Phi-e-rơ trong việc theo Đấng Christ, đã chiếm được lòng tin cậy của các anh em ông. Ông có nhiều ảnh hưởng trong Hội Thánh. Nhưng bài học mà Đấng Christ đã dạy ông bên bờ biển Ga-li-lê thì Phi-e-rơ đã mang theo suốt cuộc đời mình. Được Đức Thánh Linh cảm động, ông viết cho các Hội Thánh rằng: DA 817.1
“Tôi gởi lời khuyên nhủ này cho các bậc trưởng lão trong anh em, tôi đây cũng là trưởng lão như họ, là người chứng kiến sự đau đớn của Đấng Cơ-đốc, và cũng có phần về sự vinh hiển sẽ hiện ra: hãy chăn bầy của Đức Chúa Trời đã giao phó cho anh em; làm việc đó chẳng phải bởi ép tình, bèn là bởi vui lòng, chẳng phải vì lợi dơ bẩn, bèn là hết lòng mà làm, chẳng phải quản trị phần trách nhiệm chia cho anh em, song để làm gương tốt cho cả bầy. Khi Đấng làm đầu các kẻ chăn chiên hiện ra, anh em sẽ được mão triều thiên vinh hiển, chẳng hề tàn héo.” (I Phi-e-rơ 5:1-4)
DA 817.2