“Bình An Cho Các Ngươi”
Chương này dựa trên Lu-ca 24:33-48; Giăng 20:19-29. DA 802.1
Khi đến Giê-ru-sa-lem, hai môn đồ bước vào cổng phía đông, là cổng được mở ban đêm trong những dịp lễ. Nhà cửa tối tăm và yên lặng, nhưng những người lữ hành tìm đường qua các con phố chật hẹp nhờ ánh sáng của vầng trăng đang mọc. Họ đi đến căn phòng trên gác nơi Đức Chúa Giê-su đã trải qua những giờ phút của buổi tối cuối cùng trước khi Ngài chịu chết. Họ biết rằng tại đây họ sẽ tìm thấy anh em mình. Dù đã khuya, họ biết rằng các môn đồ sẽ không ngủ cho đến khi biết chắc điều gì đã xảy ra với thi thể của Chúa mình. Họ thấy cửa phòng đã được cài then chắc chắn. Họ gõ cửa xin vào, nhưng không có tiếng trả lời. Tất cả đều im lặng. Rồi họ xưng tên mình. Cửa được cẩn thận mở then, họ bước vào, và một Đấng khác, không ai thấy, cũng bước vào với họ. Rồi cửa lại được cài chặt, để ngăn những kẻ do thám. DA 802.2
Những người lữ hành thấy mọi người đều đang xúc động kinh ngạc. Tiếng những người trong phòng vang lên lời tạ ơn và ngợi khen, mà rằng: “Chúa thật đã sống lại, và đã hiện ra cùng Si-môn.” Rồi hai người lữ hành, còn thở dốc vì vội vã trên đường đi, kể lại câu chuyện kỳ diệu về việc Đức Chúa Giê-su đã hiện ra với họ. Họ vừa kể xong, và một số người nói rằng họ không thể tin được, vì điều đó tốt đẹp đến nỗi khó tin là thật, thì kìa, một Đấng khác đứng trước mặt họ. Mọi con mắt đều chăm chú nhìn vào Người Lạ ấy. Không ai gõ cửa xin vào. Không nghe thấy tiếng bước chân nào. Các môn đồ giật mình, và tự hỏi điều này có nghĩa gì. Rồi họ nghe một tiếng nói chẳng phải gì khác hơn là tiếng nói của Thầy mình. Rõ ràng và phân minh, những lời ấy thốt ra từ môi Ngài: “Bình an cho các ngươi.” DA 802.3
“Nhưng môn đồ đều sửng sốt rụng rời, tưởng thấy thần. Ngài phán rằng: Sao các ngươi bối rối, và sao trong lòng các ngươi nghi làm vậy? Hãy xem tay chân ta: Thật chính ta. Hãy rờ đến ta, và hãy xem; thần thì không có thịt xương, mà các ngươi thấy ta có. Đương phán vậy, Ngài giơ tay và chân ra cho xem.” (Lu-ca 24:37-40)
DA 803.1
Họ nhìn thấy bàn tay và bàn chân bị những cây đinh tàn nhẫn làm tổn thương. Họ nhận ra tiếng nói của Ngài, không giống bất kỳ tiếng nói nào họ từng nghe.
“Nhưng vì cớ môn đồ vui mừng, nên chưa tin chắc, và lấy làm lạ, thì Ngài phán rằng: Ở đây các ngươi có gì ăn không? Môn đồ dâng cho Ngài một miếng cá nướng. Ngài nhận lấy mà ăn trước mặt môn đồ.” (Lu-ca 24:41-43)
“Nói đoạn, Ngài giơ tay và sườn mình cho môn đồ xem. Các môn đồ vừa thấy Chúa thì đầy sự mừng rỡ.” (Giăng 20:20)
Đức tin và niềm vui thế chỗ cho sự chẳng tin, và với những cảm xúc không lời nào diễn tả được, họ nhìn nhận Đấng Cứu Thế đã sống lại của mình. DA 803.2
Khi Đức Chúa Giê-su giáng sinh, thiên sứ đã loan báo: Bình an dưới đất, và thiện chí cho loài người. Và giờ đây, trong lần đầu tiên hiện ra với các môn đồ sau khi sống lại, Đấng Cứu Thế ngỏ lời cùng họ bằng những lời phước hạnh: “Bình an cho các ngươi.” Đức Chúa Giê-su luôn sẵn sàng phán bình an cho những linh hồn bị gánh nặng bởi nghi ngờ và sợ hãi. Ngài chờ chúng ta mở cửa lòng cho Ngài, và nói: Xin ở lại với chúng tôi. Ngài phán:
“Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.” (Khải-huyền 3:20)
DA 803.3
Sự sống lại của Đức Chúa Giê-su là hình bóng về sự sống lại sau cùng của tất cả những ai ngủ trong Ngài. Diện mạo của Đấng Cứu Thế đã sống lại, cử chỉ của Ngài, lời nói của Ngài, thảy đều quen thuộc với các môn đồ. Như Đức Chúa Giê-su đã từ kẻ chết sống lại, thì những người ngủ trong Ngài cũng sẽ sống lại như vậy. Chúng ta sẽ nhận ra bạn hữu mình, cũng như các môn đồ đã nhận ra Đức Chúa Giê-su. Trong cuộc đời hay chết này, họ có thể đã bị dị dạng, bệnh tật, hoặc biến dạng, mà rồi họ sống lại trong sức khỏe và sự cân đối hoàn hảo; nhưng trong thân thể vinh hiển, danh tánh của họ sẽ được gìn giữ trọn vẹn. Bấy giờ chúng ta sẽ biết như chính mình đã được biết vậy. 1 Cô-rinh-tô 13:12. Trong gương mặt rạng ngời với ánh sáng tỏa ra từ gương mặt của Đức Chúa Giê-su, chúng ta sẽ nhận ra những nét quen thuộc của những người mình yêu thương. DA 804.1
Khi Đức Chúa Giê-su gặp các môn đồ, Ngài nhắc họ những lời Ngài đã phán với họ trước khi Ngài chịu chết, rằng mọi sự đã chép về Ngài trong luật pháp Môi-se, trong các tiên tri, và trong Thi Thiên đều phải được ứng nghiệm.
“Bấy giờ Ngài mở trí cho môn đồ được hiểu Kinh thánh. Ngài phán: Có lời chép rằng Đấng Cơ-đốc phải chịu đau đớn dường ấy, ngày thứ ba sẽ từ kẻ chết sống lại, và người ta sẽ nhân danh Ngài mà rao giảng cho dân các nước sự ăn năn để được tha tội, bắt đầu từ thành Giê-ru-sa-lem. Các ngươi làm chứng về mọi việc đó; ta đây, sẽ ban cho các ngươi điều Cha ta đã hứa,” (Lu-ca 24:45-48)
DA 804.2
Các môn đồ bắt đầu nhận ra bản chất và phạm vi công việc của mình. Họ phải rao truyền cho thế gian những lẽ thật kỳ diệu mà Đấng Christ đã giao phó cho họ. Các biến cố trong đời sống Ngài, sự chết và sự sống lại của Ngài, những lời tiên tri chỉ về các biến cố ấy, sự thánh khiết của luật pháp Đức Chúa Trời, những điều mầu nhiệm của kế hoạch cứu rỗi, quyền năng của Đức Chúa Giê-su trong sự tha tội—về tất cả những điều này, họ là những nhân chứng, và họ phải làm cho thế gian biết đến. Họ phải rao truyền tin lành về sự bình an và sự cứu rỗi qua sự ăn năn và quyền năng của Đấng Cứu Thế. DA 805.1
“Khi Ngài phán điều đó rồi, thì hà hơi trên môn đồ mà rằng: Hãy nhận lãnh Đức Thánh Linh. Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha; còn kẻ nào các ngươi cầm tội lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó.” (Giăng 20:22,23)
Đức Thánh Linh chưa được tỏ ra cách trọn vẹn; vì Đấng Christ chưa được vinh hiển. Sự ban Đức Thánh Linh cách dồi dào hơn không xảy ra cho đến sau khi Đấng Christ thăng thiên. Cho đến khi nhận được điều này, các môn đồ mới có thể thực hiện sứ mạng rao giảng tin lành cho thế gian. Nhưng giờ đây Đức Thánh Linh được ban cho vì một mục đích đặc biệt. Trước khi các môn đồ có thể chu toàn những trách nhiệm chính thức của mình trong mối liên hệ với Hội Thánh, Đấng Christ đã hà hơi Linh của Ngài trên họ. Ngài đang giao phó cho họ một sự ủy thác hết sức thiêng liêng, và Ngài muốn khắc sâu vào lòng họ sự thật rằng nếu không có Đức Thánh Linh thì công việc này không thể nào hoàn thành được. DA 805.2
Đức Thánh Linh là hơi thở của sự sống thuộc linh trong linh hồn. Sự ban Đức Thánh Linh là sự ban sự sống của Đấng Christ. Nó thấm nhuần người tiếp nhận bằng các đức tính của Đấng Christ. Chỉ những ai được Đức Chúa Trời dạy dỗ như vậy, những ai có sự hành động bên trong của Đức Thánh Linh, và trong đời sống của họ sự sống của Đấng Christ được tỏ ra, mới được đứng làm những người đại diện, để phục vụ thay cho Hội Thánh. DA 805.3
Đấng Christ phán: “Kẻ nào mà các ngươi tha tội cho, thì tội sẽ được tha;… còn kẻ nào mà các ngươi cầm tội lại, thì sẽ bị cầm cho kẻ đó.” Ở đây Đấng Christ không ban cho bất cứ ai quyền tự do phán xét người khác. Trong Bài Giảng Trên Núi, Ngài đã cấm điều này. Đó là đặc quyền của Đức Chúa Trời. Nhưng trên Hội Thánh trong tư cách tổ chức, Ngài đặt một trách nhiệm đối với từng thành viên. Đối với những ai sa vào tội lỗi, Hội Thánh có bổn phận cảnh báo, dạy dỗ, và nếu có thể, phục hồi họ. Chúa phán: “hãy quở trách, răn bảo, khuyên lơn, dùng lòng rất nhịn nhục mà dạy dỗ.” 2 Ti-mô-thê 4:2. Hãy đối xử trung tín với điều sai trái. Hãy cảnh báo mỗi linh hồn đang gặp nguy hiểm. Đừng để ai tự lừa dối mình. Hãy gọi tội lỗi bằng đúng tên của nó. Hãy công bố điều Đức Chúa Trời đã phán về sự nói dối, sự phạm ngày Sa-bát, sự trộm cắp, sự thờ hình tượng, và mọi điều ác khác. “Hễ ai phạm những việc thể ấy thì không được hưởng nước Đức Chúa Trời.” Ga-la-ti 5:21. Nếu họ cứ tiếp tục phạm tội, thì sự phán xét mà bạn đã công bố từ Lời Đức Chúa Trời được tuyên ra trên họ ở trên trời. Khi chọn phạm tội, họ chối bỏ Đấng Christ; Hội Thánh phải tỏ ra rằng mình không tán đồng việc làm của họ, bằng không chính Hội Thánh làm nhục Chúa mình. Hội Thánh phải nói về tội lỗi điều mà Đức Chúa Trời nói. Hội Thánh phải xử lý nó theo cách Đức Chúa Trời chỉ dẫn, và hành động của Hội Thánh được phê chuẩn ở trên trời. Ai khinh dể thẩm quyền của Hội Thánh là khinh dể chính thẩm quyền của Đấng Christ. DA 805.4
Nhưng còn có một mặt sáng sủa hơn của bức tranh. “Các ngươi tha tội cho ai, thì tội nấy được tha.” Hãy giữ ý tưởng này luôn ở hàng đầu. Trong công việc cứu giúp những kẻ lầm lạc, hãy để mọi con mắt hướng về Đấng Christ. Hãy để những người chăn chiên chăm sóc cách dịu dàng bầy chiên trong đồng cỏ của Chúa. Hãy để họ nói với những kẻ lầm lạc về lòng thương xót tha thứ của Đấng Cứu Thế. Hãy để họ khích lệ kẻ có tội ăn năn, và tin nơi Đấng có thể tha thứ. Hãy để họ tuyên bố, trên thẩm quyền của Lời Đức Chúa Trời,
“Còn nếu chúng ta xưng tội mình, thì Ngài là thành tín công bình để tha tội cho chúng ta, và làm cho chúng ta sạch mọi điều gian ác.” (I Giăng 1:9)
Tất cả những ai ăn năn đều có sự bảo đảm rằng,
“Ngài sẽ còn thương xót chúng tôi, dập sự gian ác chúng tôi dưới chân Ngài; và ném hết thảy tội lỗi chúng nó xuống đáy biển.” (Mi-chê 7:19)
DA 806.1
Hãy để sự ăn năn của kẻ có tội được Hội Thánh tiếp nhận với những tấm lòng biết ơn. Hãy để người ăn năn được dẫn dắt ra khỏi bóng tối của sự không tin để bước vào ánh sáng của đức tin và sự công bình. Hãy để bàn tay run rẩy của người ấy được đặt vào bàn tay yêu thương của Đức Chúa Giê-su. Sự tha thứ như vậy được phê chuẩn ở trên trời. DA 806.2
Chỉ trong ý nghĩa này Hội Thánh mới có quyền giải tội cho kẻ có tội. Sự tha tội chỉ có thể đạt được qua công đức của Đấng Christ. Không một người nào, không một nhóm người nào được ban cho quyền giải thoát linh hồn khỏi tội lỗi. Đấng Christ đã truyền cho các môn đồ Ngài rao giảng sự tha tội trong danh Ngài giữa mọi dân tộc; nhưng chính họ lại không được ban quyền để xóa đi một vết nhơ nào của tội lỗi. Danh Đức Chúa Giê-su là “danh” duy nhất “ở dưới trời ban cho loài người, để chúng ta phải nhờ đó mà được cứu.” Công vụ các sứ đồ 4:12. DA 806.3
Khi Đức Chúa Giê-su lần đầu gặp các môn đồ trong căn phòng trên lầu, Thô-ma không có mặt với họ. Ông nghe những lời tường thuật của những người khác, và nhận được nhiều bằng chứng rằng Đức Chúa Giê-su đã sống lại; nhưng sự u sầu và không tin tràn ngập lòng ông. Khi ông nghe các môn đồ kể về những sự hiện ra kỳ diệu của Đấng Cứu Thế phục sinh, điều đó chỉ khiến ông chìm sâu hơn vào nỗi tuyệt vọng. Nếu Đức Chúa Giê-su thật sự đã sống lại từ kẻ chết, thì không còn hy vọng nào nữa cho một vương quốc trần gian theo nghĩa đen. Và lòng kiêu hãnh của ông bị tổn thương khi nghĩ rằng Chủ mình lại hiện ra cho tất cả các môn đồ ngoại trừ ông. Ông quyết không tin, và suốt cả một tuần lễ ông cứ ấp ủ nỗi khốn khổ của mình, nỗi khốn khổ dường như càng tăm tối hơn khi đối chiếu với hy vọng và đức tin của anh em mình. DA 806.4
Trong thời gian này ông nhiều lần tuyên bố, “Nếu ta không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu ta không đặt ngón tay vào chỗ dấu đinh, và nếu ta không đặt bàn tay nơi sườn Ngài, thì ta không tin.” Ông không muốn nhìn qua đôi mắt của anh em mình, hay vận dụng đức tin lệ thuộc vào lời chứng của họ. Ông yêu mến Chúa mình tha thiết, nhưng ông đã để cho lòng ghen tị và sự không tin chiếm lấy tâm trí và tấm lòng mình. DA 807.1
Lúc này một số môn đồ lấy căn phòng quen thuộc trên lầu làm nơi ở tạm thời, và vào buổi chiều tất cả ngoại trừ Thô-ma đều tụ họp tại đây. Một buổi chiều nọ Thô-ma quyết định gặp gỡ với những người khác. Mặc dù không tin, ông vẫn có một hy vọng mong manh rằng tin tốt lành ấy là thật. Trong khi các môn đồ đang dùng bữa tối, họ bàn về những bằng chứng mà Đấng Christ đã ban cho họ trong các lời tiên tri. “Bấy giờ, cửa đang đóng, Đức Chúa Giê-su đến, đứng chính giữa môn đồ mà phán rằng: Bình an cho các ngươi!” DA 807.2
Quay sang Thô-ma, Ngài phán, “Hãy đặt ngón tay ngươi vào đây, và xem bàn tay ta; cũng hãy giơ bàn tay ngươi ra mà đặt vào sườn ta, chớ cứng lòng, song hãy tin.” Những lời này cho thấy Ngài biết rõ những tư tưởng và lời nói của Thô-ma. Người môn đồ hay nghi ngờ biết rằng không một bạn đồng hành nào của ông đã gặp Đức Chúa Giê-su trong suốt một tuần lễ. Họ không thể nào đã kể cho Chủ nghe về sự không tin của ông. Ông nhận ra Đấng đứng trước mặt mình chính là Chúa mình. Ông không còn ao ước thêm bằng chứng nào nữa. Lòng ông nhảy mừng, và ông phủ phục dưới chân Đức Chúa Giê-su kêu lên, “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” DA 807.3
Đức Chúa Giê-su tiếp nhận lời thừa nhận của ông, nhưng dịu dàng quở trách sự không tin của ông: “Hỡi Thô-ma, vì ngươi đã thấy ta, nên ngươi tin. Phước cho những kẻ chẳng từng thấy mà đã tin vậy.” Đức tin của Thô-ma đáng lẽ làm vui lòng Đấng Christ hơn nếu ông sẵn lòng tin theo lời chứng của anh em mình. Nếu thế gian ngày nay noi theo gương của Thô-ma, thì sẽ không một ai tin để được cứu rỗi; vì tất cả những ai tiếp nhận Đấng Christ đều phải làm như vậy qua lời chứng của những người khác. DA 807.4
Nhiều người hay nghi ngờ tự bào chữa rằng nếu họ có được bằng chứng mà Thô-ma đã nhận từ các bạn đồng hành của ông, thì họ sẽ tin. Họ không nhận ra rằng họ không những có bằng chứng đó, mà còn nhiều hơn thế nữa. Nhiều người, giống như Thô-ma, chờ đợi cho đến khi mọi nguyên nhân nghi ngờ được loại bỏ, sẽ không bao giờ thấy được điều mình mong muốn. Họ dần dần trở nên cố chấp trong sự không tin. Những kẻ tự rèn luyện mình để nhìn vào mặt tối tăm, hay càu nhàu và phàn nàn, thì không biết mình làm điều gì. Họ đang gieo những hạt giống nghi ngờ, và họ sẽ gặt một mùa nghi ngờ. Vào lúc mà đức tin và lòng tin cậy là cần thiết nhất, nhiều người sẽ thấy mình bất lực không thể hy vọng và tin tưởng. DA 807.5
Trong cách Ngài đối xử với Thô-ma, Đức Chúa Giê-su đã ban một bài học cho những kẻ theo Ngài. Gương của Ngài cho thấy chúng ta nên đối xử thế nào với những người có đức tin yếu đuối, và là những kẻ phô bày những nghi ngờ của mình. Đức Chúa Giê-su không vùi dập Thô-ma bằng lời quở trách, cũng không tranh cãi với ông. Ngài bày tỏ chính mình Ngài cho người hay nghi ngờ. Thô-ma đã hết sức vô lý khi đặt ra những điều kiện cho đức tin của mình, nhưng Đức Chúa Giê-su, bằng tình yêu rộng lượng và sự ân cần của Ngài, đã phá đổ mọi rào cản. Sự không tin hiếm khi bị khắc phục bằng tranh cãi. Trái lại, nó được đặt vào thế tự vệ, và tìm được sự hậu thuẫn cùng lời bào chữa mới. Nhưng hãy để Đức Chúa Giê-su, trong tình yêu và lòng thương xót của Ngài, được bày tỏ là Đấng Cứu Thế chịu đóng đinh, thì từ nhiều đôi môi vốn từng chẳng muốn tin sẽ nghe được lời thừa nhận của Thô-ma, “Lạy Chúa tôi và Đức Chúa Trời tôi!” DA 808.1