“Chúa Đã Sống Lại”

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 28:2-4, 11-15. DA 779.1

Đêm của ngày thứ nhất trong tuần lễ đã chầm chậm trôi qua. Giờ phút tối tăm nhất, ngay trước khi rạng đông, đã đến. Đấng Christ vẫn còn là một tù nhân trong ngôi mộ chật hẹp của Ngài. Tảng đá lớn vẫn nằm tại chỗ; ấn của La-mã chưa bị phá vỡ; lính canh La-mã vẫn đang canh giữ. Và có những kẻ canh chừng vô hình. Vô số ác thần tụ tập quanh nơi ấy. Nếu có thể được, chúa của sự tối tăm cùng đạo binh bội nghịch của hắn hẳn đã muốn niêm phong mãi mãi ngôi mộ giam giữ Con Đức Chúa Trời. Nhưng một đạo binh thiên đàng đã bao quanh huyệt mộ. Các thiên sứ trổi hơn về sức mạnh đang canh giữ ngôi mộ, và chờ đợi để nghênh đón Chúa của sự sống. DA 779.2

“Và nầy, đất rúng động dữ dội, vì có thiên sứ của Chúa ở trên trời xuống.” Mặc lấy toàn bộ giáp trụ của Đức Chúa Trời, thiên sứ này rời khỏi cung điện thiên đàng. Những tia sáng rực rỡ của sự vinh hiển Đức Chúa Trời đi trước người, và soi sáng lối đi của người. “Hình dung người như chớp nháng, và áo trắng như tuyết: vì sợ người, lính canh đều run rẩy, trở nên như người chết.” DA 779.3

Hỡi các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền, giờ đây quyền lực của lính canh các ngươi ở đâu? Những binh sĩ dũng cảm chưa từng sợ hãi quyền lực của loài người nay trở thành như những tù nhân bị bắt mà không cần đến gươm hay giáo. Gương mặt mà họ nhìn thấy không phải là gương mặt của một chiến binh phàm trần; ấy là gương mặt của đấng mạnh mẽ nhất trong đạo binh của Chúa. Sứ giả này là đấng đang giữ vị trí mà từ đó Sa-tan đã sa ngã. Ấy là đấng đã loan báo sự ra đời của Đấng Christ trên những ngọn đồi Bết-lê-hem. Đất rúng động khi người đến gần, các thế lực tối tăm chạy trốn, và khi người lăn tảng đá đi, dường như cả thiên đàng giáng xuống trần gian. Các binh sĩ thấy người dời tảng đá như thể đó là một viên sỏi, và nghe người kêu lên: Hỡi Con Đức Chúa Trời, hãy bước ra; Cha Ngài đang gọi Ngài. Họ thấy Đức Chúa Giê-su bước ra khỏi mồ, và nghe Ngài tuyên bố trên huyệt mộ đã mở toang: “Ta là sự sống lại và sự sống.” Khi Ngài bước ra trong sự uy nghi và vinh hiển, đạo binh thiên sứ cúi rạp xuống thờ lạy trước Đấng Cứu Chuộc, và nghênh đón Ngài với những bài ca ngợi khen. DA 779.4

Một cơn động đất đã đánh dấu giờ phút Đấng Christ phó sự sống của Ngài, và một cơn động đất khác đã chứng kiến khoảnh khắc Ngài lấy lại sự sống ấy trong khải hoàn. Đấng đã chiến thắng sự chết và mồ mả bước ra khỏi ngôi mộ với bước chân của một kẻ đắc thắng, giữa lúc đất rung chuyển, chớp nháng và sấm sét gầm vang. Khi Ngài lại đến trần gian lần nữa, Ngài sẽ làm rúng động “chẳng những đất mà thôi, nhưng cả đến trời nữa.” “Đất lảo đảo như người say, lung lay như cái chòi.” “Các từng trời cuốn lại như cuốn sách;” “các thể chất sẽ tan chảy đi vì sức nóng dữ dội, đất cùng mọi công trình trên nó đều sẽ bị thiêu đốt.” Nhưng “Đức Giê-hô-va sẽ là nơi ẩn náu cho dân Ngài, và là sức mạnh của con cái Y-sơ-ra-ên.” Hê-bơ-rơ 12:26; Ê-sai 24:20; 34:4; 2 Phi-e-rơ 3:10; Giô-ên 3:16. DA 780.1

Khi Đức Chúa Giê-su qua đời, các binh sĩ đã chứng kiến đất bị bao trùm trong bóng tối giữa ban trưa; nhưng lúc Ngài phục sinh, họ thấy sự rực rỡ của các thiên sứ chiếu sáng đêm tối, và nghe cư dân thiên đàng ca hát với niềm vui lớn và sự khải hoàn: Ngài đã chiến thắng Sa-tan cùng các thế lực tối tăm; Ngài đã nuốt mất sự chết trong sự đắc thắng! DA 780.2

Đấng Christ bước ra khỏi ngôi mộ trong sự vinh hiển, và lính canh La-mã đã nhìn thấy Ngài. Mắt họ dán chặt vào gương mặt của Đấng mà chỉ mới đây họ đã nhạo báng và chế giễu. Trong Đấng vinh hiển này, họ nhận ra người tù mà họ đã thấy nơi sảnh đường xét xử, đấng mà họ đã bện cho một mão gai. Đây chính là Đấng đã đứng không kháng cự trước Phi-lát và Hê-rốt, thân thể Ngài bị xé nát bởi roi vọt tàn nhẫn. Đây là Đấng đã bị đóng đinh trên thập tự giá, mà các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền, đầy lòng tự mãn, đã lắc đầu mà nói: “Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được.” Ma-thi-ơ 27:42. Đây chính là Đấng đã được đặt vào ngôi mộ mới của Giô-sép. Sắc lệnh của thiên đàng đã giải phóng kẻ bị giam cầm. Dẫu núi chất chồng lên núi trên huyệt mộ Ngài cũng không thể ngăn Ngài bước ra. DA 780.3

Khi nhìn thấy các thiên sứ và Đấng Cứu Thế vinh hiển, lính canh La-mã đã ngất đi và trở nên như người chết. Khi đoàn thiên binh khuất khỏi tầm mắt họ, họ đứng dậy, và nhanh chừng nào mà đôi chân run rẩy có thể mang họ đi, họ tìm đường ra đến cổng vườn. Loạng choạng như những kẻ say rượu, họ vội vã chạy về thành, kể cho những người họ gặp tin lạ lùng ấy. Họ đang trên đường đến với Phi-lát, nhưng lời tường thuật của họ đã được đem đến tai các nhà cầm quyền Do Thái, và các thầy tế lễ cả cùng các nhà cầm quyền sai người đưa họ đến trước mặt mình trước. Các binh sĩ ấy hiện ra một dáng vẻ kỳ lạ. Run rẩy vì sợ hãi, gương mặt tái nhợt, họ làm chứng về sự sống lại của Đấng Christ. Các binh sĩ kể lại tất cả, đúng như họ đã thấy; họ không có thì giờ để suy nghĩ hay nói điều gì khác ngoài sự thật. Với giọng nói đau đớn, họ nói: Ấy chính là Con Đức Chúa Trời đã bị đóng đinh; chúng tôi đã nghe một thiên sứ tuyên bố Ngài là Đấng Uy nghi của thiên đàng, là Vua vinh hiển. DA 781.1

Gương mặt các thầy tế lễ như gương mặt của người chết. Cai-phe cố gắng nói. Môi ông mấp máy, nhưng không phát ra một âm thanh nào. Các binh sĩ sắp rời khỏi phòng hội nghị thì có một tiếng nói giữ họ lại. Cuối cùng Cai-phe đã cất được tiếng nói. Hãy chờ đã, hãy chờ đã, ông nói. Đừng kể cho ai những điều các ngươi đã thấy. DA 781.2

Bấy giờ một lời tường thuật dối trá được trao cho các binh sĩ. “Các ngươi hãy nói,” các thầy tế lễ bảo, “rằng các môn đồ của hắn đã đến lúc ban đêm và lấy trộm xác hắn đi trong khi chúng tôi đang ngủ.” Ở đây các thầy tế lễ đã tự mâu thuẫn với chính mình. Làm sao các binh sĩ có thể nói rằng các môn đồ đã lấy trộm xác trong khi họ đang ngủ? Nếu họ ngủ, làm sao họ biết được? Và nếu các môn đồ bị chứng tỏ có tội lấy trộm xác Đấng Christ, thì chẳng phải các thầy tế lễ sẽ là người đầu tiên lên án họ sao? Hay nếu lính canh đã ngủ tại ngôi mộ, thì chẳng phải các thầy tế lễ sẽ là người đi đầu trong việc tố cáo họ với Phi-lát sao? DA 781.3

Các binh sĩ kinh hãi trước ý nghĩ phải gánh lấy lời buộc tội ngủ gục khi đang canh gác. Đây là một tội bị trừng phạt bằng cái chết. Lẽ nào họ phải làm chứng dối, lừa gạt dân chúng, và đặt chính mạng sống mình vào vòng nguy hiểm? Chẳng phải họ đã canh giữ mệt nhọc với sự tỉnh thức không hề ngủ nghỉ sao? Làm sao họ có thể chịu nổi cuộc xét xử, dù là vì tiền bạc, nếu họ khai man? DA 782.1

Để làm im lặng lời chứng mà họ e sợ, các thầy tế lễ hứa bảo đảm sự an toàn cho lính canh, nói rằng Phi-lát cũng chẳng muốn một lời tường thuật như vậy được lan truyền hơn gì họ. Các binh sĩ La-mã đã bán sự liêm chính của mình cho người Do Thái để lấy tiền. Họ đến trước mặt các thầy tế lễ mang gánh nặng của một sứ điệp lẽ thật đáng kinh ngạc nhất; họ ra đi với gánh nặng tiền bạc, và trên lưỡi họ là một lời tường thuật dối trá đã được các thầy tế lễ dựng nên cho họ. DA 782.2

Trong khi đó, lời tường thuật về sự sống lại của Đấng Christ đã được đem đến tai Phi-lát. Dầu Phi-lát phải chịu trách nhiệm vì đã phó Đấng Christ cho sự chết, ông tương đối không mấy bận tâm. Dầu ông đã kết án Đấng Cứu Thế cách miễn cưỡng, với một cảm giác thương xót, ông chưa hề cảm thấy hối hận thật sự cho đến lúc này. Trong cơn kinh hoàng, giờ đây ông tự nhốt mình trong nhà, quyết không gặp một ai. Nhưng các thầy tế lễ tìm đường đến trước mặt ông, kể câu chuyện mà họ đã bịa đặt, và nài ép ông bỏ qua sự lơ là phận sự của lính canh. Trước khi ưng thuận điều này, đích thân ông đã tra hỏi riêng lính canh. Họ, vì lo sợ cho sự an toàn của chính mình, không dám che giấu điều gì, và Phi-lát đã moi ra từ họ lời tường thuật về tất cả những gì đã xảy ra. Ông không truy cứu vấn đề thêm nữa, nhưng từ lúc đó không còn sự bình an cho ông. DA 782.3

Khi Đức Chúa Giê-su được đặt vào mồ, Sa-tan đã đắc thắng. Hắn dám hy vọng rằng Đấng Cứu Thế sẽ không lấy lại sự sống của Ngài nữa. Hắn đòi lấy thân thể của Chúa, và đặt lính canh quanh ngôi mộ, tìm cách giam giữ Đấng Christ làm tù nhân. Hắn vô cùng tức giận khi các quỷ sứ của hắn chạy trốn lúc sứ giả thiên đàng đến gần. Khi hắn thấy Đấng Christ bước ra trong khải hoàn, hắn biết rằng vương quốc của mình sẽ có ngày tận cùng, và rằng cuối cùng hắn phải chết. DA 782.4

Các thầy tế lễ, khi đưa Đấng Christ vào chỗ chết, đã tự biến mình thành công cụ của Sa-tan. Giờ đây họ hoàn toàn nằm trong quyền lực của hắn. Họ bị vướng vào một cái bẫy mà họ không thấy lối thoát nào ngoài việc tiếp tục cuộc chiến chống lại Đấng Christ. Khi nghe tin Ngài sống lại, họ sợ cơn thạnh nộ của dân chúng. Họ cảm thấy chính mạng sống mình đang gặp nguy hiểm. Hy vọng duy nhất của họ là chứng minh Đấng Christ là kẻ mạo danh bằng cách chối rằng Ngài đã sống lại. Họ hối lộ những người lính và bảo đảm sự im lặng của Phi-lát. Họ truyền bá những lời dối trá khắp nơi xa gần. Nhưng có những nhân chứng mà họ không thể bịt miệng được. Nhiều người đã nghe lời chứng của những người lính về sự sống lại của Đấng Christ. Và một số người chết đã ra khỏi mồ cùng với Đấng Christ đã hiện ra cho nhiều người và tuyên bố rằng Ngài đã sống lại. Có những lời tường thuật được đem đến cho các thầy tế lễ về những người đã trông thấy những kẻ sống lại này và nghe lời chứng của họ. Các thầy tế lễ và những người cai trị luôn sống trong sự kinh hãi, sợ rằng khi đi trên đường phố, hoặc trong chốn riêng tư của chính nhà mình, họ sẽ đối diện với Đấng Christ. Họ cảm thấy không có nơi nào an toàn cho mình. Then cài và chốt khóa chỉ là sự bảo vệ yếu ớt chống lại Con Đức Chúa Trời. Ngày và đêm, cảnh tượng khủng khiếp ấy trong dinh xét xử, khi họ đã kêu lên, “Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi,” cứ hiện ra trước mắt họ.

“Hết thảy dân chúng đều đáp rằng: Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi!” (Ma-thi-ơ 27:25)

Ký ức về cảnh tượng đó sẽ chẳng bao giờ phai mờ khỏi tâm trí họ. Giấc ngủ bình an sẽ chẳng bao giờ đến với gối họ nữa. DA 785.1

Khi tiếng của thiên sứ quyền năng vang lên tại mộ Đấng Christ rằng, Cha Ngài gọi Ngài, thì Đấng Cứu Thế từ phần mộ bước ra bởi sự sống ở trong chính Ngài. Bấy giờ sự thật của lời Ngài đã được chứng minh, “Ta phó sự sống mình để được lấy lại… Ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại.” Bấy giờ lời tiên tri Ngài đã phán cùng các thầy tế lễ và những người cai trị đã được ứng nghiệm, “Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại.”

“Nầy, tại sao Cha yêu ta: Ấy vì ta phó sự sống mình, để được lấy lại. Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho; ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại; ta đã lãnh mạng lịnh này nơi Cha ta.” (Giăng 10:17,18)

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại!” (Giăng 2:19)

DA 785.2

Trên ngôi mộ đã mở của Giô-sép, Đấng Christ đã tuyên bố cách đắc thắng, “Ta là sự sống lại và sự sống.” Những lời này chỉ có thể được phán ra bởi Đấng Thần Thượng. Mọi loài thọ tạo đều sống bởi ý muốn và quyền năng của Đức Chúa Trời. Họ là những kẻ lệ thuộc nhận lấy sự sống của Đức Chúa Trời. Từ vị thiên sứ sê-ra-phin cao nhất đến loài vật hèn mọn nhất có sự sống, hết thảy đều được tiếp sức từ Nguồn của sự sống. Chỉ Đấng là một với Đức Chúa Trời mới có thể phán rằng, Ta có quyền phó sự sống mình, và ta có quyền lấy lại. Trong thần tánh của Ngài, Đấng Christ sở hữu quyền năng để bẻ gãy xiềng xích của sự chết. DA 785.3

Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết như trái đầu mùa của những kẻ ngủ. Ngài là thực thể được biểu trưng bởi bó lúa đưa qua đưa lại, và sự sống lại của Ngài diễn ra chính vào ngày mà bó lúa đưa qua đưa lại được trình dâng trước mặt Chúa. Trong hơn một ngàn năm, nghi lễ tượng trưng này đã được thực hiện. Từ những cánh đồng gặt hái, những gié lúa chín đầu tiên được gom lại, và khi dân chúng lên thành Giê-ru-sa-lem dự lễ Vượt Qua, bó trái đầu mùa được đưa qua đưa lại như của lễ tạ ơn trước mặt Chúa. Mãi cho đến khi bó lúa này được trình dâng thì lưỡi liềm mới được đặt vào mùa lúa và lúa được gom thành bó. Bó lúa được dâng hiến cho Đức Chúa Trời tượng trưng cho mùa gặt. Vậy nên Đấng Christ, trái đầu mùa, tượng trưng cho mùa gặt thuộc linh lớn lao sẽ được thâu vào nước Đức Chúa Trời. Sự sống lại của Ngài là hình bóng và lời cam kết về sự sống lại của hết thảy những người công bình đã chết. “Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê-su đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Giê-su cùng đến với Ngài.”

“Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê-su đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những kẻ ngủ trong Đức Chúa Giê-su cùng đến với Ngài.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 4:14)

DA 785.4

Khi Đấng Christ sống lại, Ngài đã đem ra khỏi mồ mả vô số kẻ bị giam cầm. Trận động đất lúc Ngài chết đã làm mồ mả của họ mở toang, và khi Ngài sống lại, họ cũng ra khỏi mồ cùng với Ngài. Họ là những kẻ đã từng cùng làm việc với Đức Chúa Trời, và đã lấy mạng sống mình làm giá để làm chứng cho lẽ thật. Giờ đây họ sẽ làm nhân chứng cho Đấng đã khiến họ sống lại từ kẻ chết. DA 786.1

Trong chức vụ của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã khiến kẻ chết sống lại. Ngài đã khiến con trai bà góa thành Na-in, con gái người cai nhà hội, và La-xa-rơ sống lại. Nhưng những người này không được mặc lấy sự bất tử. Sau khi được sống lại, họ vẫn còn lệ thuộc vào sự chết. Nhưng những kẻ đã ra khỏi mồ mả lúc Đấng Christ sống lại thì được sống lại để hưởng sự sống đời đời. Họ thăng thiên cùng với Ngài như những chiến lợi phẩm của sự đắc thắng của Ngài trên sự chết và mồ mả. Những kẻ này, Đấng Christ phán, không còn là tù nhân của Sa-tan nữa; ta đã cứu chuộc họ. Ta đã đem họ ra khỏi mồ mả như trái đầu mùa của quyền năng ta, để ở cùng ta tại nơi ta ở, chẳng bao giờ còn thấy sự chết hay trải qua sự buồn rầu nữa. DA 786.2

Những người này đi vào thành và hiện ra cho nhiều người, tuyên bố rằng, Đấng Christ đã sống lại từ kẻ chết, và chúng tôi đã sống lại cùng với Ngài. Như vậy lẽ thật thiêng liêng về sự sống lại đã được làm cho trường tồn. Các thánh đồ đã sống lại làm chứng cho sự thật của những lời, “Những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những thây ma của Ngài sẽ chỗi dậy.” Sự sống lại của họ là một minh họa cho sự ứng nghiệm của lời tiên tri, “Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy và hát mừng! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi.”

“Những kẻ chết của Ngài sẽ sống, những xác chết của tôi đều chỗi dậy! Hỡi kẻ ở trong bụi đất, hãy thức dậy, hãy hát! Vì hột móc của Ngài như hột móc lúc hừng đông, đất sẽ buông các âm hồn ra khỏi.” (Ê-sai 26:19)

DA 786.3

Đối với người tin, Đấng Christ là sự sống lại và sự sống. Trong Đấng Cứu Thế của chúng ta, sự sống đã bị mất đi bởi tội lỗi được phục hồi; vì Ngài có sự sống trong chính Ngài để ban sự sống cho kẻ Ngài muốn. Ngài được phú cho quyền ban sự bất tử. Sự sống mà Ngài đã phó ra trong thân xác loài người, Ngài lại lấy lại và ban cho loài người. Ngài phán, “Ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống dư dật.” “Hễ ai uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa; nhưng nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.” “Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại.”

“Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống dư dật.” (Giăng 10:10)

“nhưng uống nước ta sẽ cho, thì chẳng hề khát nữa. Nước ta cho sẽ thành một mạch nước trong người đó, văng ra cho đến sự sống đời đời.” (Giăng 4:14)

“Ai ăn thịt và uống huyết ta thì được sự sống đời đời; nơi ngày sau rốt, ta sẽ khiến người đó sống lại.” (Giăng 6:54)

DA 786.4

Đối với người tin, sự chết chỉ là một việc nhỏ. Đấng Christ nói về nó như thể nó chẳng đáng kể chi. “Nếu ai giữ lời ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ,” “sẽ chẳng hề nếm sự chết đời đời.” Đối với Cơ-đốc nhân, sự chết chỉ là một giấc ngủ, một khoảnh khắc của sự im lặng và tối tăm. Sự sống đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời, và “khi nào Đấng Christ, là sự sống của chúng ta, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển.”

“Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu kẻ nào giữ lời ta, sẽ chẳng thấy sự chết bao giờ. Người Giu-đa nói rằng: Bây giờ chúng tôi thấy rõ thầy bị quỉ ám; Áp-ra-ham đã chết, các đấng tiên tri cũng vậy, mà thầy nói: Nếu kẻ nào giữ lời ta sẽ chẳng hề chết!” (Giăng 8:51,52)

“Khi nào Đấng Cơ-đốc, là sự sống của anh em, sẽ hiện ra, bấy giờ anh em cũng sẽ hiện ra với Ngài trong sự vinh hiển.” (Cô-lô-se 3:4)

DA 787.1

Tiếng kêu từ thập tự giá, “Mọi việc đã được trọn,” đã được nghe giữa vòng những kẻ chết. Nó xuyên thấu các vách mộ và triệu gọi những kẻ ngủ chỗi dậy. Cũng sẽ như vậy khi tiếng của Đấng Christ được nghe từ trời. Tiếng ấy sẽ thấu vào các mồ mả và mở toang các phần mộ, và những kẻ chết trong Đấng Christ sẽ sống lại. Lúc Đấng Cứu Thế sống lại, một vài ngôi mộ được mở ra, nhưng khi Ngài tái lâm, hết thảy những kẻ chết quý báu sẽ nghe tiếng Ngài và sẽ ra khỏi mồ để hưởng sự sống vinh hiển và bất tử. Cùng một quyền năng đã khiến Đấng Christ sống lại từ kẻ chết sẽ khiến Hội Thánh của Ngài sống lại và làm cho Hội Thánh được vinh hiển với Ngài, cao hơn mọi quyền cai trị, mọi thế lực, mọi danh được xưng ra, không những trong đời này mà còn trong đời sẽ đến. DA 787.2