Đồi Sọ (Gô-gô-tha)
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 27:31-53; Mác 14:20-38; Lu-ca 23:26-46; Giăng 19:16-30. DA 741.1
“Khi đến một chỗ gọi là chỗ Sọ, họ đóng đinh Ngài trên cây thập tự tại đó.” DA 741.2
“Hầu cho lấy huyết mình làm cho dân nên thánh,” Đấng Christ “đã chịu khổ tại ngoài cửa thành.” Hê-bơ-rơ 13:12. Vì vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, A-đam và Ê-va đã bị đuổi khỏi Ê-đen. Đấng Christ, Đấng thay thế cho chúng ta, phải chịu khổ ở ngoài ranh giới thành Giê-ru-sa-lem. Ngài chịu chết ngoài cửa thành, nơi những kẻ trọng tội và kẻ giết người bị xử tử. Lời này đầy ý nghĩa: “Đấng Christ đã chuộc chúng ta khỏi sự rủa sả của luật pháp, bởi Ngài đã nên sự rủa sả vì chúng ta.” Ga-la-ti 3:13. DA 741.3
Một đoàn dân đông theo Đức Chúa Giê-su từ tòa án đến đồi Gô-gô-tha. Tin về sự kết án Ngài đã lan khắp thành Giê-ru-sa-lem, và dân chúng thuộc mọi tầng lớp, mọi cấp bậc đổ xô về nơi đóng đinh. Các thầy tế lễ và các quan trưởng đã bị ràng buộc bởi lời hứa sẽ không quấy nhiễu những người theo Đấng Christ nếu chính Ngài bị giao nộp cho họ, nên các môn đồ và những người tin từ trong thành cùng vùng phụ cận đã gia nhập đoàn người theo Đấng Cứu Thế. DA 741.4
Khi Đức Chúa Giê-su đi qua cổng tòa án của Phi-lát, cây thập tự đã được chuẩn bị cho Ba-ra-ba bị đặt lên đôi vai bầm dập và rướm máu của Ngài. Hai kẻ đồng bọn của Ba-ra-ba phải chịu chết cùng lúc với Đức Chúa Giê-su, và trên vai họ thập tự giá cũng được đặt lên. Gánh nặng quá sức đối với Đấng Cứu Thế trong tình trạng yếu đuối và đau đớn của Ngài. Kể từ bữa ăn lễ Vượt Qua với các môn đồ, Ngài đã chẳng ăn cũng chẳng uống gì. Ngài đã đau đớn vật vã trong vườn Ghết-sê-ma-nê trong cuộc chiến với các thế lực của Sa-tan. Ngài đã chịu đựng nỗi thống khổ của sự phản bội, và đã thấy các môn đồ lìa bỏ Ngài mà chạy trốn. Ngài đã bị giải đến An-ne, rồi đến Cai-phe, rồi đến Phi-lát. Từ Phi-lát Ngài bị đưa đến Hê-rốt, rồi lại bị giải về Phi-lát. Từ sự nhục mạ này đến sự nhục mạ khác, từ sự nhạo báng này đến sự nhạo báng khác, hai lần bị tra tấn bằng roi—suốt cả đêm ấy hết cảnh này đến cảnh khác đều mang tính chất thử thách linh hồn con người đến tột cùng. Đấng Christ đã không thất bại. Ngài chẳng nói một lời nào ngoài những lời tôn vinh Đức Chúa Trời. Suốt cuộc xét xử nhục nhã giả dối ấy, Ngài đã giữ mình với sự cương quyết và phẩm cách. Nhưng sau lần đánh roi thứ hai, khi thập tự giá được đặt lên Ngài, bản tính loài người không thể chịu đựng thêm được nữa. Ngài ngã quỵ ngất xỉu dưới gánh nặng. DA 741.5
Đám đông theo sau Đấng Cứu Thế thấy bước chân yếu ớt và loạng choạng của Ngài, nhưng họ chẳng tỏ chút lòng thương xót nào. Họ chế giễu và mắng nhiếc Ngài vì Ngài không thể vác nổi cây thập tự nặng nề. Gánh nặng lại được đặt lên Ngài, và Ngài lại ngã quỵ ngất xỉu xuống đất. Những kẻ bắt bớ Ngài thấy không thể nào để Ngài vác gánh nặng đi xa hơn được. Họ lúng túng tìm người nào đó chịu vác gánh nhục nhã ấy. Chính người Do Thái không thể làm điều này, vì sự ô uế sẽ ngăn cản họ giữ lễ Vượt Qua. Ngay cả trong đám đông theo Ngài cũng chẳng ai chịu hạ mình vác cây thập tự. DA 742.1
Lúc ấy có một người lạ, tên là Si-môn người Sy-ren, từ ngoài đồng đi vào, gặp đoàn dân đông. Ông nghe những lời chế giễu và thô tục của đám đông; ông nghe lời lặp đi lặp lại đầy khinh miệt rằng, Hãy nhường đường cho Vua dân Do Thái! Ông sửng sốt dừng lại trước cảnh tượng ấy; và khi ông tỏ lòng thương xót, họ liền bắt lấy ông và đặt cây thập tự lên vai ông. DA 742.2
Si-môn đã nghe nói về Đức Chúa Giê-su. Các con trai của ông là những người tin nơi Đấng Cứu Thế, nhưng chính ông thì chưa phải là môn đồ. Việc vác thập tự giá đến đồi Gô-gô-tha là một ơn phước cho Si-môn, và về sau ông luôn biết ơn sự quan phòng này. Điều ấy đã khiến ông tự nguyện mang lấy thập tự giá của Đấng Christ, và luôn vui vẻ đứng vững dưới gánh nặng của nó. DA 742.3
Không ít phụ nữ ở trong đám đông theo Đấng Vô Tội đến cái chết tàn nhẫn của Ngài. Sự chú ý của họ đặt nơi Đức Chúa Giê-su. Một vài người trong họ đã từng thấy Ngài trước đây. Một số đã đem những người bệnh tật đau khổ của mình đến với Ngài. Một số chính bản thân đã được chữa lành. Câu chuyện về những cảnh đã xảy ra được kể lại. Họ kinh ngạc trước lòng căm ghét của đám đông đối với Đấng mà lòng họ đang tan chảy và sẵn sàng vỡ nát. Và bất chấp hành động của đoàn người điên cuồng và những lời giận dữ của các thầy tế lễ cùng các quan trưởng, những phụ nữ này bày tỏ lòng thương cảm của mình. Khi Đức Chúa Giê-su ngã quỵ ngất xỉu dưới cây thập tự, họ òa lên khóc than thảm thiết. DA 742.4
Đây là điều duy nhất thu hút sự chú ý của Đấng Christ. Dẫu đầy đau đớn, trong khi mang lấy tội lỗi của thế gian, Ngài cũng không hề thờ ơ với sự biểu lộ nỗi đau thương. Ngài nhìn những phụ nữ ấy với lòng thương xót dịu dàng. Họ không phải là những người tin Ngài; Ngài biết họ không khóc thương Ngài như một Đấng được Đức Chúa Trời sai đến, nhưng họ xúc động bởi lòng thương cảm của loài người. Ngài không khinh dể lòng thương cảm của họ, nhưng điều ấy đánh thức trong lòng Ngài một niềm thương cảm sâu xa hơn dành cho họ. Ngài phán: “Hỡi con gái thành Giê-ru-sa-lem, đừng khóc về ta, song hãy khóc về chính mình các ngươi và về con cái các ngươi.” Từ cảnh tượng trước mắt, Đấng Christ nhìn về thời kỳ thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt. Trong cảnh khủng khiếp ấy, nhiều người đang khóc thương Ngài lúc này sẽ phải bỏ mạng cùng con cái họ. DA 743.1
Từ sự sụp đổ của thành Giê-ru-sa-lem, tư tưởng của Đức Chúa Giê-su chuyển sang một cuộc phán xét rộng lớn hơn. Trong sự hủy diệt của thành phố không chịu ăn năn, Ngài thấy biểu tượng của sự hủy diệt cuối cùng sẽ đến trên thế gian. Ngài phán: “Bấy giờ, người ta sẽ nói với núi rằng: Hãy đổ xuống trên chúng ta! với gò rằng: Hãy che chúng ta! Vì nếu người ta làm những sự ấy cho cây xanh, thì cây khô sẽ ra sao?” Bằng hình ảnh cây xanh, Đức Chúa Giê-su tượng trưng cho chính Ngài, Đấng Cứu Chuộc vô tội. Đức Chúa Trời để cho cơn thạnh nộ của Ngài đối với sự vi phạm giáng trên Con yêu dấu của Ngài. Đức Chúa Giê-su sẽ bị đóng đinh vì tội lỗi của loài người. Vậy thì kẻ tội nhân cứ tiếp tục trong tội lỗi sẽ phải chịu sự đau khổ dường nào? Hết thảy những kẻ không ăn năn và chẳng tin sẽ biết đến nỗi buồn thảm và khốn khổ mà ngôn ngữ không thể nào diễn tả nổi. DA 743.2
Trong đoàn dân đông theo Đấng Cứu Thế đến đồi Gô-gô-tha, nhiều người đã từng theo Ngài với những lời hô-sa-na vui mừng và vẫy những nhành chà là khi Ngài cưỡi lừa khải hoàn vào thành Giê-ru-sa-lem. Nhưng không ít kẻ lúc đó đã reo hò ngợi khen Ngài, vì làm vậy là điều được ưa chuộng, thì nay lại góp tiếng kêu la: “Hãy đóng đinh hắn, hãy đóng đinh hắn.” Khi Đấng Christ cưỡi lừa vào thành Giê-ru-sa-lem, hy vọng của các môn đồ đã được nâng lên đến tột đỉnh. Họ đã chen lấn sát bên Thầy mình, cảm thấy được liên kết với Ngài là một vinh dự cao cả. Nay trong sự sỉ nhục của Ngài, họ theo Ngài từ xa. Họ tràn ngập nỗi buồn thảm, và gục đầu vì hy vọng tan vỡ. Lời của Đức Chúa Giê-su đã ứng nghiệm dường bao: “Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, vì có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tản lạc.” Ma-thi-ơ 26:31. DA 743.3
Khi đến nơi hành hình, các tù nhân bị trói vào những dụng cụ tra tấn. Hai tên trộm cướp vùng vẫy trong tay những kẻ đặt chúng lên thập tự giá; nhưng Đức Chúa Giê-su chẳng kháng cự. Mẹ của Đức Chúa Giê-su, được Giăng môn đồ yêu dấu nâng đỡ, đã theo từng bước chân của Con mình đến đồi Gô-gô-tha. Bà đã thấy Ngài ngất xỉu dưới gánh nặng của cây thập tự, và đã mong được đặt một bàn tay nâng đỡ dưới mái đầu thương tích của Ngài, và lau vầng trán đã từng tựa trên ngực bà. Nhưng bà không được phép hưởng đặc ân buồn thảm ấy. Cùng với các môn đồ, bà vẫn nuôi hy vọng rằng Đức Chúa Giê-su sẽ tỏ ra quyền năng của Ngài, và tự giải cứu mình khỏi tay kẻ thù. Rồi lòng bà lại chìm xuống khi nhớ lại những lời Ngài đã báo trước chính những cảnh đang xảy ra lúc đó. Khi những tên trộm cướp bị trói vào thập tự giá, bà nhìn trong nỗi đau đớn hồi hộp. Lẽ nào Đấng đã ban sự sống cho kẻ chết lại để cho mình bị đóng đinh? Lẽ nào Con Đức Chúa Trời lại để cho mình bị giết cách tàn nhẫn như thế? Lẽ nào bà phải từ bỏ đức tin rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si? Lẽ nào bà phải chứng kiến sự sỉ nhục và buồn thảm của Ngài, mà ngay cả đặc ân được hầu hạ Ngài trong cơn hoạn nạn cũng không có? Bà thấy đôi tay Ngài bị căng ra trên thập tự giá; cây búa và những chiếc đinh được đem đến, và khi những chiếc đinh được đóng xuyên qua da thịt mềm mại, các môn đồ với tấm lòng tan nát đã đưa thân hình ngất xỉu của mẹ Đức Chúa Giê-su ra khỏi cảnh tượng tàn nhẫn ấy. DA 744.1
Đấng Cứu Thế không hề thốt ra một lời than phiền nào. Gương mặt Ngài vẫn điềm tĩnh và thanh thản, nhưng những giọt mồ hôi lớn đọng trên trán Ngài. Không có bàn tay thương xót nào lau đi giọt sương tử thần trên gương mặt Ngài, cũng chẳng có lời cảm thông và lòng trung thành bất biến nào nâng đỡ tấm lòng nhân loại của Ngài. Trong khi quân lính đang làm công việc khủng khiếp của chúng, Đức Chúa Giê-su cầu nguyện cho kẻ thù của Ngài: “Lạy Cha, xin tha cho họ, vì họ không biết mình làm điều gì.” Tâm trí Ngài chuyển từ sự đau đớn của chính mình sang tội lỗi của những kẻ bắt bớ Ngài, và sự báo trả khủng khiếp sẽ giáng trên họ. Không một lời rủa sả nào được kêu giáng xuống những tên lính đang đối xử với Ngài thô bạo như vậy. Không một sự báo thù nào được cầu xin giáng trên các thầy tế lễ và các quan trưởng, là những kẻ đang hả hê vì đã đạt được mục đích của chúng. Đấng Christ thương xót họ trong sự ngu dốt và tội lỗi của họ. Ngài chỉ thốt lên lời cầu xin tha thứ cho họ — “vì họ không biết mình làm điều gì.” DA 744.2
Nếu họ biết rằng họ đang hành hạ Đấng đã đến để cứu loài người tội lỗi khỏi sự hư mất đời đời, ắt hẳn họ đã bị nỗi ăn năn và kinh hoàng chiếm lấy. Nhưng sự ngu dốt của họ không xóa bỏ tội lỗi của họ; vì biết và tiếp nhận Đức Chúa Giê-su làm Đấng Cứu Thế là đặc ân của họ. Một số người trong họ rồi sẽ thấy được tội lỗi mình, ăn năn và được hối cải. Một số người, bởi sự cứng lòng không ăn năn, sẽ khiến cho lời cầu nguyện của Đấng Christ không thể được nhậm cho họ. Tuy vậy, mục đích của Đức Chúa Trời vẫn cứ tiến đến chỗ thành tựu. Đức Chúa Giê-su đang giành lấy quyền trở nên Đấng biện hộ cho loài người trước mặt Đức Chúa Cha. DA 744.3
Lời cầu nguyện ấy của Đấng Christ cho kẻ thù mình bao trùm cả thế gian. Nó bao gồm mọi tội nhân đã sống hoặc sẽ sống, từ buổi đầu của thế gian cho đến tận thế. Trên hết thảy mọi người đều đè nặng tội lỗi đóng đinh Con Đức Chúa Trời. Đối với hết thảy mọi người, sự tha thứ được ban cho cách nhưng không. “Ai khứng” thì có thể được bình an với Đức Chúa Trời và thừa hưởng sự sống đời đời. DA 745.1
Ngay khi Đức Chúa Giê-su bị đóng đinh trên thập tự giá, những người lực lưỡng nâng nó lên và với sức mạnh dữ dội cắm nó vào chỗ đã chuẩn bị sẵn. Điều này gây nên sự đau đớn cực độ cho Con Đức Chúa Trời. Bấy giờ Phi-lát viết một bảng chữ bằng tiếng Hê-bơ-rơ, tiếng Hy-lạp và tiếng La-tinh, rồi đặt nó trên thập tự giá, phía trên đầu Đức Chúa Giê-su. Bảng đó ghi rằng: “Giê-su người Na-xa-rét, Vua dân Do Thái.” Lời ghi này khiến người Do Thái tức giận. Trong tòa án của Phi-lát họ đã la lên: “Hãy đóng đinh nó.”
“Những người đó bèn kêu lên rằng: Hãy trừ hắn đi, trừ hắn đi! Đóng đinh hắn trên cây thập tự đi! Phi-lát nói với chúng rằng: Ta sẽ đóng đinh Vua các ngươi lên thập tự giá hay sao? Các thầy tế lễ cả thưa rằng: Chúng tôi không có vua khác, chỉ Sê-sa mà thôi.” (Giăng 19:15)
Họ đã tuyên bố rằng ai thừa nhận bất kỳ vua nào khác đều là kẻ phản nghịch. Phi-lát viết ra chính tâm tình mà họ đã bày tỏ. Không có tội nào được nêu ra, ngoại trừ việc Đức Chúa Giê-su là Vua dân Do Thái. Lời ghi đó thật sự là một sự thừa nhận lòng trung thành của người Do Thái đối với quyền lực La-mã. Nó tuyên bố rằng bất cứ ai dám tự xưng là Vua dân Y-sơ-ra-ên thì đáng bị họ kết án tử hình. Các thầy tế lễ đã đi quá xa trong mưu đồ của mình. Khi họ âm mưu giết Đấng Christ, Cai-phe đã tuyên bố rằng thà một người chết để cứu cả dân tộc là điều có lợi. Giờ đây sự giả hình của họ bị phơi bày. Để hủy diệt Đấng Christ, họ đã sẵn sàng hy sinh ngay cả sự tồn vong của dân tộc mình. DA 745.2
Các thầy tế lễ thấy điều mình đã làm, bèn xin Phi-lát sửa lại bảng chữ. Họ nói: “Đừng viết: Vua dân Do Thái; nhưng hãy viết rằng người đã nói: Ta là Vua dân Do Thái.” Nhưng Phi-lát đang giận chính mình vì sự yếu đuối trước đó, và ông hết sức khinh bỉ các thầy tế lễ và các quan trưởng đố kỵ, xảo trá. Ông lạnh lùng đáp: “Lời ta đã viết, thì ta đã viết rồi.” DA 745.3
Một quyền lực cao hơn Phi-lát hay người Do Thái đã hướng dẫn việc đặt bảng chữ ấy phía trên đầu Đức Chúa Giê-su. Trong sự quan phòng của Đức Chúa Trời, bảng chữ đó nhằm thức tỉnh tư tưởng và sự tra cứu Kinh Thánh. Nơi Đấng Christ bị đóng đinh ở gần thành. Hàng ngàn người từ mọi xứ bấy giờ đang ở Giê-ru-sa-lem, và lời ghi tuyên bố Giê-su người Na-xa-rét là Đấng Mê-si sẽ lọt vào sự chú ý của họ. Đó là một chân lý sống động, được chép ra bởi một bàn tay mà Đức Chúa Trời đã dẫn dắt. DA 745.4
Trong sự thương khó của Đấng Christ trên thập tự giá, lời tiên tri đã được ứng nghiệm. Hàng thế kỷ trước khi bị đóng đinh, Đấng Cứu Thế đã báo trước cách Ngài sẽ bị đối đãi. Ngài phán:
“Vì những chó bao quanh tôi, Một lũ hung ác vây phủ tôi: Chúng nó đâm lủng tay và chân tôi. Tôi đếm được các xương tôi; Chúng nó xem và ngó chân tôi; Chúng nó chia nhau áo xống tôi; Bắt thăm về áo dài tôi.” (Thi-thiên 22:16-18)
Lời tiên tri về áo xống Ngài đã được thực hiện mà không có sự bàn bạc hay can thiệp nào của bằng hữu hoặc kẻ thù của Đấng bị Đóng Đinh. Áo xống Ngài được giao cho những tên lính đã đặt Ngài trên thập tự giá. Đấng Christ nghe tiếng cãi cọ của họ khi chia nhau áo xống Ngài. Áo trong của Ngài được dệt liền không có đường may, và họ nói: “Đừng xé ra, song chúng ta hãy bắt thăm xem ai được nó.” DA 746.1
Trong một lời tiên tri khác, Đấng Cứu Thế đã tuyên bố:
“Sự sỉ nhục làm đau thương lòng tôi, tôi đầy sự khổ nhọc; Tôi trông đợi có người thương xót tôi, nhưng chẳng có ai; Tôi mong nhờ người an ủi, song nào có gặp. Chúng nó ban mật đắng làm vật thực tôi, Và cho tôi uống giấm trong khi khát.” (Thi-thiên 69:20-21)
Đối với những người chịu chết trên thập tự giá, người ta được phép cho họ uống một thứ thuốc gây mê để làm dịu cảm giác đau đớn. Thứ ấy được đưa cho Đức Chúa Giê-su; nhưng khi Ngài đã nếm thử, Ngài liền từ chối. Ngài sẽ không nhận bất cứ điều gì có thể làm mờ tâm trí Ngài. Đức tin Ngài phải bám chặt lấy Đức Chúa Trời. Đó là sức mạnh duy nhất của Ngài. Làm mờ giác quan Ngài sẽ tạo lợi thế cho Sa-tan. DA 746.2
Kẻ thù của Đức Chúa Giê-su trút cơn thịnh nộ của chúng trên Ngài khi Ngài bị treo trên thập tự giá. Các thầy tế lễ, các quan trưởng và các thầy thông giáo hùa với đám đông nhạo báng Đấng Cứu Thế đang hấp hối. Tại lễ báp-têm và trên núi hóa hình, tiếng của Đức Chúa Trời đã được nghe công bố Đấng Christ là Con Ngài. Một lần nữa, ngay trước khi Đấng Christ bị phản nộp, Đức Chúa Cha đã phán, làm chứng về thần tính của Ngài. Nhưng giờ đây tiếng từ trời lặng thinh. Không một lời chứng nào bênh vực Đấng Christ được nghe thấy. Một mình Ngài chịu sự lăng nhục và chế nhạo từ những kẻ gian ác. DA 746.3
“Nếu ngươi là Con Đức Chúa Trời,” chúng nói, “hãy xuống khỏi thập tự giá đi.” “Nếu hắn là Đấng Christ, người được Đức Chúa Trời chọn, thì hãy để hắn tự cứu lấy mình.” Trong đồng vắng cám dỗ, Sa-tan đã tuyên bố:
“Quỉ cám dỗ đến gần Ngài, mà nói rằng: Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời, thì hãy khiến đá này trở nên bánh đi. và nói rằng: Nếu ngươi phải là Con Đức Chúa Trời, thì hãy gieo mình xuống đi; vì có lời chép rằng: Chúa sẽ truyền các thiên sứ gìn giữ ngươi, thì: Các đấng ấy sẽ nâng ngươi trong tay, Kẻo chân ngươi vấp nhằm đá chăng.” (Ma-thi-ơ 4:3,6)
từ trên nóc đền thờ. Và Sa-tan cùng các thiên sứ của nó, mang hình người, đang có mặt tại thập tự giá. Tên ác quỷ đầu sỏ cùng các đạo binh của nó đang hợp tác với các thầy tế lễ và các quan trưởng. Các bậc thầy của dân chúng đã kích động đám đông ngu dốt tuyên án nghịch lại Đấng mà nhiều người trong họ chưa hề nhìn thấy, cho đến khi bị thúc giục làm chứng nghịch cùng Ngài. Các thầy tế lễ, các quan trưởng, người Pha-ri-si và đám dân chai lì liên kết với nhau trong cơn cuồng loạn của Sa-tan. Các nhà lãnh đạo tôn giáo hiệp một với Sa-tan và các thiên sứ của nó. Họ đang làm theo lệnh truyền của nó. DA 746.4
Đức Chúa Giê-su, trong cơn đau đớn và hấp hối, nghe rõ từng lời khi các thầy tế lễ tuyên bố: “Nó đã cứu kẻ khác mà cứu mình không được. Nếu phải Vua dân Y-sơ-ra-ên, bây giờ hãy xuống khỏi thập tự giá đi, thì chúng ta mới tin.” Đấng Christ lẽ ra đã có thể xuống khỏi thập tự giá. Nhưng chính vì Ngài không chịu tự cứu mình mà tội nhân mới có hy vọng được tha thứ và được ơn với Đức Chúa Trời. DA 749.1
Trong khi nhạo báng Đấng Cứu Thế, những người tự xưng là kẻ giảng giải lời tiên tri lại đang lặp lại chính những lời mà sự Cảm Thúc đã báo trước rằng họ sẽ thốt ra trong dịp này. Vậy mà trong sự mù lòa của mình, họ không thấy rằng họ đang làm ứng nghiệm lời tiên tri. Những kẻ chế giễu thốt lên: “Nó nhờ cậy Đức Chúa Trời; nếu Đức Chúa Trời yêu nó thì bây giờ hãy giải cứu đi, vì nó đã nói rằng: Ta là Con Đức Chúa Trời,” ít ai ngờ rằng lời chứng của họ sẽ vang vọng qua các thời đại. Nhưng mặc dầu được thốt ra với lòng nhạo báng, những lời này đã dẫn người ta tra cứu Kinh Thánh như chưa hề có trước đó. Những người khôn ngoan đã nghe, tra cứu, suy ngẫm và cầu nguyện. Có những người không hề nghỉ ngơi cho đến khi, bằng cách so sánh Kinh Thánh với Kinh Thánh, họ thấy được ý nghĩa sứ mệnh của Đấng Christ. Chưa bao giờ có một sự nhận biết phổ quát về Đức Chúa Giê-su như khi Ngài bị treo trên thập tự giá. Ánh sáng chân lý đang chiếu rọi vào lòng nhiều người chứng kiến cảnh đóng đinh và nghe những lời của Đấng Christ. DA 749.2
Trong cơn hấp hối trên thập tự giá, Đức Chúa Giê-su nhận được một tia an ủi. Đó là lời cầu nguyện của tên trộm biết ăn năn. Cả hai người bị đóng đinh cùng với Đức Chúa Giê-su lúc đầu đều mắng nhiếc Ngài; một người trong cơn đau khổ của mình chỉ càng trở nên tuyệt vọng và ngang ngược hơn. Nhưng người bạn của hắn thì không như vậy. Người này không phải là một tên tội phạm chai lì; hắn đã bị dẫn dụ lầm lạc bởi những mối giao du xấu xa, nhưng hắn ít tội hơn nhiều kẻ đang đứng cạnh thập tự giá mà mắng nhiếc Đấng Cứu Thế. Hắn đã từng thấy và nghe Đức Chúa Giê-su, đã bị thuyết phục bởi sự dạy dỗ của Ngài, nhưng hắn đã bị các thầy tế lễ và các quan trưởng kéo lìa khỏi Ngài. Tìm cách dập tắt sự cáo trách trong lòng, hắn đã lao vào tội lỗi ngày càng sâu hơn, cho đến khi bị bắt, bị xét xử như một tội phạm, và bị kết án phải chết trên thập tự giá. Tại pháp đình và trên đường đến đồi Sọ, hắn đã ở cùng với Đức Chúa Giê-su. Hắn đã nghe Phi-lát tuyên bố: “Ta không thấy người có tội lỗi gì cả.” Giăng 19:4. Hắn đã nhận thấy phong thái thiêng liêng của Ngài, và sự thương xót tha thứ của Ngài đối với những kẻ hành hạ mình. Trên thập tự giá, hắn thấy nhiều nhà tôn giáo lớn lè lưỡi nhạo báng và chế giễu Đức Chúa Giê-su. Hắn thấy những cái lắc đầu. Hắn nghe lời sỉ nhục được người bạn đồng phạm của hắn cũng lặp lại: “Nếu ngươi là Đấng Christ, hãy tự cứu lấy mình ngươi cùng chúng ta nữa!” Giữa những người qua đường, hắn nghe nhiều kẻ bênh vực Đức Chúa Giê-su. Hắn nghe họ nhắc lại những lời Ngài, và kể về những việc làm của Ngài. Niềm tin chắc rằng đây chính là Đấng Christ trở lại trong lòng hắn. Quay sang tên tội phạm kia, hắn nói: “Ngươi cũng chịu một hình phạt ấy, còn chẳng sợ Đức Chúa Trời sao?” Những tên trộm đang hấp hối không còn gì để sợ con người nữa. Nhưng một người trong họ bị chế ngự bởi niềm tin chắc rằng có một Đức Chúa Trời đáng sợ, có một tương lai khiến hắn run rẩy. Và giờ đây, dẫu cuộc đời hắn đã bị tội lỗi làm ô uế, lịch sử đời hắn sắp khép lại. “Còn chúng ta đáng tội ấy,” hắn rên rỉ, “vì hình ta chịu xứng với việc ta làm; nhưng người này không hề làm một điều gì ác.” DA 749.3
Giờ đây không còn nghi vấn nào nữa. Không còn ngờ vực, không còn trách móc. Khi bị kết án về tội của mình, tên trộm đã trở nên vô vọng và tuyệt vọng; nhưng giờ đây những ý tưởng lạ lùng, dịu dàng nảy sinh trong lòng hắn. Hắn nhớ lại tất cả những gì hắn đã nghe về Đức Chúa Giê-su, làm sao Ngài đã chữa lành kẻ đau và tha thứ tội lỗi. Hắn đã nghe lời của những người tin nơi Đức Chúa Giê-su và đi theo Ngài mà khóc lóc. Hắn đã thấy và đọc hàng chữ ghi trên đầu Đấng Cứu Thế. Hắn đã nghe những người qua đường lặp lại hàng chữ ấy, có người với đôi môi đau buồn run rẩy, kẻ khác với sự đùa cợt và nhạo báng. Đức Thánh Linh soi sáng tâm trí hắn, và từng chút một, chuỗi bằng chứng được nối kết lại với nhau. Nơi Đức Chúa Giê-su đang bị thương tích, bị nhạo báng, và bị treo trên thập tự giá, hắn nhận ra Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi. Hy vọng hòa lẫn với nỗi thống khổ trong giọng nói của hắn khi linh hồn yếu đuối, đang hấp hối ấy phó thác mình cho một Đấng Cứu Thế đang hấp hối. “Lạy Chúa, xin nhớ đến tôi,” hắn kêu lên, “khi Chúa đến trong nước mình!” DA 750.1
Lời đáp đến cách mau lẹ. Giọng nói êm dịu và du dương, lời lẽ đầy yêu thương, lòng thương xót và quyền năng: Quả thật, hôm nay ta nói cùng ngươi, ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. DA 750.2
Suốt nhiều giờ đau đớn, những lời mắng nhiếc và nhạo báng đã đổ vào tai Đức Chúa Giê-su. Khi Ngài bị treo trên thập tự giá, tiếng chế giễu và rủa sả vẫn vọng lên đến Ngài. Với tấm lòng khao khát, Ngài đã lắng nghe để được nghe đôi lời bày tỏ đức tin từ các môn đồ. Nhưng Ngài chỉ nghe những lời buồn thảm: “Chúng tôi trông mong Ngài sẽ cứu lấy dân Y-sơ-ra-ên.” Vậy thì lời bày tỏ đức tin và tình yêu thương từ tên trộm đang hấp hối thật quý báu biết bao đối với Đấng Cứu Thế! Trong khi những người Do Thái lãnh đạo chối bỏ Ngài, và ngay cả các môn đồ cũng nghi ngờ thần tánh của Ngài, thì tên trộm khốn khổ, đang ở bên bờ cõi đời đời, lại gọi Đức Chúa Giê-su là Chúa. Nhiều người đã sẵn sàng gọi Ngài là Chúa khi Ngài làm phép lạ, và sau khi Ngài đã sống lại từ trong mồ mả; nhưng không ai nhìn nhận Ngài khi Ngài đang treo hấp hối trên thập tự giá, ngoại trừ tên trộm biết ăn năn được cứu vào giờ chót. DA 750.3
Những người đứng quanh nghe được lời tên trộm gọi Đức Chúa Giê-su là Chúa. Giọng nói của người ăn năn ấy thu hút sự chú ý của họ. Những kẻ đang tranh giành áo xống của Đấng Christ dưới chân thập tự giá, và bắt thăm chia nhau y phục Ngài, dừng lại để lắng nghe. Những giọng nói giận dữ của họ lặng đi. Họ nín thở nhìn Đấng Christ, và chờ đợi lời đáp từ đôi môi đang hấp hối ấy. DA 751.1
Khi Ngài thốt ra lời hứa, đám mây đen dường như bao trùm thập tự giá bị xé ra bởi một luồng ánh sáng tươi sáng và sống động. Tên trộm biết ăn năn nhận được sự bình an trọn vẹn của việc được Đức Chúa Trời chấp nhận. Đấng Christ trong sự sỉ nhục của Ngài được vinh hiển. Đấng mà trong mọi con mắt khác dường như đã bị chinh phục lại là Đấng Đắc Thắng. Ngài được nhìn nhận là Đấng Mang Tội Lỗi. Loài người có thể thi hành quyền lực trên thân thể loài người của Ngài. Họ có thể đâm chiếc mão gai vào màng tang thánh của Ngài. Họ có thể lột áo xống Ngài, và tranh giành nhau việc chia chác. Nhưng họ không thể cướp đi quyền năng tha tội của Ngài. Trong khi chịu chết, Ngài làm chứng cho thần tánh của chính Ngài và cho sự vinh hiển của Đức Chúa Cha. Tai Ngài chẳng nặng đến nỗi không nghe được, cánh tay Ngài cũng chẳng ngắn đến nỗi không cứu được. Ấy là quyền cao quý của Ngài để cứu đến cùng tất cả những ai nhờ Ngài mà đến với Đức Chúa Trời. DA 751.2
Hôm nay ta nói cùng ngươi, ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. Đấng Christ không hứa rằng tên trộm sẽ ở với Ngài trong nơi Ba-ra-đi ngay ngày hôm ấy. Chính Ngài cũng không lên nơi Ba-ra-đi trong ngày hôm ấy. Ngài an giấc trong mồ mả, và vào buổi sáng phục sinh, Ngài phán: “Ta chưa lên cùng Cha.” Giăng 20:17. Nhưng trong ngày Ngài bị đóng đinh, ngày của sự thất bại và tăm tối bề ngoài, lời hứa ấy đã được ban ra. “Hôm nay” trong khi đang hấp hối trên thập tự giá như một kẻ phạm tội, Đấng Christ bảo đảm với tội nhân khốn khổ rằng: Ngươi sẽ được ở với ta trong nơi Ba-ra-đi. DA 751.3
Những tên trộm bị đóng đinh cùng với Đức Chúa Giê-su được đặt “một tên bên hữu một tên bên tả, còn Đức Chúa Giê-su ở chính giữa.” Điều này được làm theo lệnh của các thầy tế lễ và các quan trưởng. Vị trí của Đấng Christ ở giữa hai tên trộm là để ám chỉ rằng Ngài là tên tội phạm lớn nhất trong ba người. Như vậy lời Kinh Thánh đã được ứng nghiệm: “Ngài đã bị kể vào hàng kẻ dữ.” Ê-sai 53:12. Nhưng các thầy tế lễ không thấy hết ý nghĩa của hành động mình. Như Đức Chúa Giê-su, bị đóng đinh cùng những tên trộm, được đặt “ở chính giữa,” thì thập tự giá của Ngài cũng được đặt ở giữa một thế gian đang chìm đắm trong tội lỗi. Và lời tha thứ phán cùng tên trộm biết ăn năn đã thắp lên một ánh sáng sẽ chiếu rọi đến tận cùng bờ cõi trái đất. DA 751.4
Các thiên sứ kinh ngạc nhìn xem tình yêu thương vô hạn của Đức Chúa Giê-su, Đấng đang chịu nỗi thống khổ dữ dội nhất cả về thân lẫn trí, mà chỉ nghĩ đến người khác, và khích lệ linh hồn biết ăn năn hãy tin. Trong sự sỉ nhục của Ngài, với tư cách một tiên tri, Ngài đã phán cùng các con gái thành Giê-ru-sa-lem; với tư cách thầy tế lễ và đấng biện hộ, Ngài đã nài xin Đức Chúa Cha tha thứ cho những kẻ giết Ngài; với tư cách một Đấng Cứu Thế đầy yêu thương, Ngài đã tha thứ tội lỗi cho tên trộm biết ăn năn. DA 752.1
Khi đôi mắt Đức Chúa Giê-su lướt qua đám đông chung quanh, một bóng dáng thu hút sự chú ý của Ngài. Dưới chân thập tự giá, mẹ Ngài đang đứng, được môn đồ Giăng nâng đỡ. Bà không thể chịu đựng nổi việc ở xa Con mình; và Giăng, biết rằng giờ cuối đã gần, đã đưa bà trở lại bên thập tự giá. Trong giờ hấp hối, Đấng Christ vẫn nhớ đến mẹ Ngài. Nhìn vào gương mặt đau đớn của bà rồi nhìn sang Giăng, Ngài phán cùng bà: “Hỡi đờn bà kia, đó là con của ngươi!” rồi phán cùng Giăng: “Đó là mẹ ngươi!” Giăng hiểu lời Đấng Christ, và nhận lãnh sự ủy thác ấy. Ngay lập tức, ông đem Ma-ri về nhà mình, và từ giờ đó chăm sóc bà cách dịu dàng. Ôi, Đấng Cứu Thế đầy thương xót và yêu thương; giữa tất cả nỗi đau đớn thể xác và sự thống khổ tâm trí, Ngài vẫn ân cần lo lắng cho mẹ mình! Ngài không có tiền bạc để chu cấp tiện nghi cho bà; nhưng Ngài được tôn quý trong lòng Giăng, và Ngài trao mẹ Ngài cho ông như một di sản quý báu. Như vậy, Ngài đã chu cấp cho bà điều bà cần nhất, — sự cảm thông dịu dàng của một người yêu mến bà vì bà yêu mến Đức Chúa Giê-su. Và trong khi nhận lãnh bà như một sự ủy thác thiêng liêng, Giăng cũng nhận được một phước lành lớn. Bà là một lời nhắc nhở thường xuyên về Thầy yêu dấu của ông. DA 752.2
Tấm gương trọn vẹn về tình yêu hiếu thảo của Đấng Christ chiếu rạng với ánh sáng không hề mờ phai từ giữa màn sương của các thời đại. Trong gần ba mươi năm, Đức Chúa Giê-su đã bằng công việc lao nhọc hằng ngày của Ngài mà giúp gánh vác những gánh nặng của gia đình. Và bây giờ, ngay trong cơn hấp hối cuối cùng, Ngài vẫn nhớ chăm lo cho người mẹ góa bụa đang đau buồn của mình. Cùng một tinh thần ấy sẽ được thấy nơi mỗi môn đồ của Chúa chúng ta. Những ai theo Đấng Christ sẽ cảm thấy rằng tôn kính và chăm lo cho cha mẹ là một phần trong tôn giáo của họ. Từ tấm lòng nuôi dưỡng tình yêu thương của Ngài, cha và mẹ sẽ không bao giờ thiếu sự chăm sóc ân cần và sự cảm thông dịu dàng. DA 752.3
Và giờ đây Chúa của sự vinh hiển đang chịu chết, làm giá chuộc cho nhân loại. Trong khi từ bỏ mạng sống quý báu của Ngài, Đấng Christ không được nâng đỡ bởi niềm vui đắc thắng. Tất cả chỉ là sự u ám đè nặng. Không phải nỗi sợ chết đè nặng trên Ngài. Không phải sự đau đớn và nhục nhã của thập tự giá đã gây nên cơn hấp hối không thể nói ra của Ngài. Đấng Christ là vua của những kẻ chịu khổ; nhưng sự đau khổ của Ngài đến từ ý thức về sự độc ác của tội lỗi, từ sự nhận biết rằng qua việc quen thuộc với điều ác, con người đã trở nên mù lòa trước mức độ kinh khủng của nó. Đấng Christ thấy tội lỗi đã bám rễ sâu thế nào trong lòng người, và có rất ít người sẵn lòng dứt khỏi quyền lực của nó. Ngài biết rằng nếu không có sự trợ giúp từ Đức Chúa Trời, nhân loại ắt phải hư mất, và Ngài thấy vô số người đang hư mất ngay trong tầm với của sự trợ giúp dồi dào. DA 752.4
Trên Đấng Christ là Đấng thay thế và bảo lãnh của chúng ta, gian ác của hết thảy chúng ta đã được chất lên. Ngài bị kể là kẻ phạm pháp, để Ngài có thể cứu chuộc chúng ta khỏi sự đoán phạt của luật pháp. Tội lỗi của mỗi con cháu A-đam đang đè nặng trên lòng Ngài. Cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi, sự biểu lộ kinh khiếp về sự không vừa lòng của Ngài vì gian ác, đã khiến linh hồn Con Ngài tràn ngập kinh hãi. Suốt đời mình, Đấng Christ đã rao truyền cho một thế gian sa ngã tin lành về lòng thương xót và tình yêu tha thứ của Đức Chúa Cha. Sự cứu rỗi cho kẻ đứng đầu trong những tội nhân là chủ đề của Ngài. Nhưng giờ đây với gánh nặng tội lỗi kinh khủng mà Ngài đang mang, Ngài không thể thấy mặt hòa giải của Đức Chúa Cha. Sự rút lui của diện mạo thiêng liêng khỏi Đấng Cứu Thế trong giờ phút thống khổ tột cùng này đã đâm xuyên lòng Ngài bằng một nỗi buồn mà loài người không bao giờ có thể hiểu trọn. Cơn hấp hối này lớn đến nỗi nỗi đau đớn thể xác của Ngài hầu như không được cảm thấy. DA 753.1
Sa-tan với những cám dỗ dữ dội của hắn đã vò xé lòng Đức Chúa Giê-su. Đấng Cứu Thế không thể nhìn xuyên qua cánh cửa của ngôi mộ. Hy vọng không bày tỏ cho Ngài cảnh Ngài bước ra khỏi mồ như một Đấng đắc thắng, cũng không nói với Ngài về sự chấp nhận của Đức Chúa Cha đối với của lễ. Ngài sợ rằng tội lỗi đáng ghê tởm đối với Đức Chúa Trời đến nỗi sự phân cách giữa hai Đấng sẽ là đời đời. Đấng Christ cảm nhận nỗi thống khổ mà kẻ có tội sẽ cảm thấy khi lòng thương xót không còn nài xin cho nhân loại tội lỗi nữa. Chính ý thức về tội lỗi, đem cơn thạnh nộ của Đức Chúa Cha xuống trên Ngài như Đấng thay thế cho con người, đã khiến cho chén Ngài uống trở nên cay đắng dường ấy, và làm tan vỡ lòng Con Đức Chúa Trời. DA 753.2
Với sự kinh ngạc, các thiên sứ chứng kiến cơn hấp hối tuyệt vọng của Đấng Cứu Thế. Các đạo binh trên trời che mặt mình khỏi cảnh tượng kinh khủng đó. Cõi thiên nhiên vô tri tỏ lòng cảm thông với Đấng Tạo Hóa của nó đang bị sỉ nhục và chịu chết. Mặt trời từ chối nhìn vào cảnh tượng khủng khiếp ấy. Những tia sáng trọn vẹn, rực rỡ của nó đang chiếu sáng mặt đất giữa trưa, thì bỗng nhiên nó dường như bị xóa mờ. Bóng tối hoàn toàn, như một bức màn tang, bao trùm thập tự giá. “Khắp đất đều tối tăm cho đến giờ thứ chín.” Không hề có nhật thực hay nguyên nhân tự nhiên nào khác cho sự tối tăm này, vốn dày đặc như nửa đêm không có mặt trăng hay các vì sao. Đó là một bằng chứng kỳ diệu được Đức Chúa Trời ban cho để đức tin của các thế hệ về sau có thể được củng cố. DA 753.3
Trong bóng tối dày đặc ấy, sự hiện diện của Đức Chúa Trời được giấu kín. Ngài lấy sự tối tăm làm trại của Ngài, và che giấu sự vinh hiển của Ngài khỏi mắt loài người. Đức Chúa Trời và các thiên sứ thánh của Ngài ở bên cạnh thập tự giá. Đức Chúa Cha ở cùng Con Ngài. Nhưng sự hiện diện của Ngài không được bày tỏ. Nếu sự vinh hiển của Ngài lóe ra từ đám mây, thì mọi người đang đứng nhìn đều sẽ bị tiêu diệt. Và trong giờ phút kinh khủng đó, Đấng Christ không được an ủi bằng sự hiện diện của Đức Chúa Cha. Một mình Ngài đạp bàn ép rượu, và trong vòng dân chúng chẳng có ai ở với Ngài. DA 753.4
Trong bóng tối dày đặc, Đức Chúa Trời đã che phủ cơn hấp hối cuối cùng của Con Ngài trong thân xác loài người. Hết thảy những ai đã thấy Đấng Christ trong sự đau khổ của Ngài đều bị thuyết phục về thần tính của Ngài. Khuôn mặt ấy, một khi đã được loài người chiêm ngưỡng, thì không bao giờ bị quên. Như khuôn mặt của Ca-in bày tỏ tội lỗi của hắn là kẻ giết người, thì khuôn mặt của Đấng Christ bày tỏ sự vô tội, sự bình thản, lòng nhân từ — hình ảnh của Đức Chúa Trời. Nhưng những kẻ tố cáo Ngài không chịu để ý đến ấn chứng của thiên đàng. Suốt nhiều giờ thống khổ, Đấng Christ đã bị đám đông chế nhạo nhìn chằm chằm. Giờ đây Ngài được giấu kín cách thương xót bởi tấm áo choàng của Đức Chúa Trời. DA 754.1
Sự yên lặng của ngôi mộ dường như đã giáng xuống trên đồi Gô-gô-tha. Một nỗi kinh khiếp không tên giữ chặt đám đông đang tụ họp quanh thập tự giá. Tiếng nguyền rủa và lăng mạ ngưng bặt giữa những câu nói còn dang dở. Đàn ông, đàn bà, và trẻ con đều sấp mình xuống đất. Thỉnh thoảng những tia chớp chói lòa lóe ra từ đám mây, và làm hiện rõ thập tự giá cùng Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh. Các thầy tế lễ, các quan trưởng, các thầy thông giáo, những kẻ hành hình, và đám đông, hết thảy đều nghĩ rằng thời điểm báo ứng của họ đã đến. Sau một lúc, vài người thì thầm rằng Đức Chúa Giê-su giờ đây sẽ xuống khỏi thập tự giá. Một số kẻ cố lần mò đường trở về thành, đấm ngực và than khóc trong sợ hãi. DA 754.2
Đến giờ thứ chín, bóng tối nhấc khỏi dân chúng, nhưng vẫn còn bao phủ Đấng Cứu Thế. Đó là biểu tượng của cơn hấp hối và sự kinh hoàng đè nặng trên lòng Ngài. Không con mắt nào có thể xuyên qua sự u ám bao quanh thập tự giá, và không ai có thể thấu vào sự u ám sâu hơn bao bọc linh hồn đau khổ của Đấng Christ. Những tia chớp giận dữ dường như nhắm phóng vào Ngài khi Ngài treo trên thập tự giá. Rồi “Đức Chúa Giê-su kêu lớn tiếng rằng: Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách-ta-ni?” “Đức Chúa Trời tôi ơi! Đức Chúa Trời tôi ơi! sao Ngài lìa bỏ tôi?” Khi sự u ám bên ngoài bao trùm Đấng Cứu Thế, nhiều tiếng nói kêu lên: Sự báo thù của thiên đàng đang ở trên hắn. Những lằn sét cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời đang phóng vào hắn, vì hắn xưng mình là Con Đức Chúa Trời. Nhiều người đã tin nơi Ngài nghe tiếng kêu tuyệt vọng của Ngài. Hy vọng lìa khỏi họ. Nếu Đức Chúa Trời đã lìa bỏ Đức Chúa Giê-su, thì những kẻ theo Ngài còn có thể tin cậy nơi điều chi? DA 754.3
Khi bóng tối nhấc khỏi tâm linh bị đè nặng của Đấng Christ, Ngài hồi tỉnh lại ý thức về sự đau đớn thể xác, và phán: “Ta khát.” Một trong những lính La-mã, động lòng thương khi nhìn đôi môi khô cháy, lấy một miếng bọt biển buộc vào nhánh kinh giới, nhúng vào bình giấm, rồi đưa cho Đức Chúa Giê-su. Nhưng các thầy tế lễ chế nhạo cơn hấp hối của Ngài. Khi bóng tối bao phủ mặt đất, họ đã đầy lòng sợ hãi; khi nỗi kinh khiếp của họ lắng dịu, nỗi lo sợ rằng Đức Chúa Giê-su rốt cuộc sẽ thoát khỏi tay họ lại trở về. Những lời Ngài phán, “Ê-li, Ê-li, lam-ma sa-bách-ta-ni?” họ đã hiểu sai. Với sự khinh miệt và chế giễu cay đắng, họ nói: “Người nầy kêu Ê-li đó.” Cơ hội cuối cùng để làm vơi đi sự đau khổ của Ngài, họ đã từ chối. “Hãy để vậy,” họ nói, “coi thử Ê-li có đến giải cứu nó chăng.” DA 754.4
Con Đức Chúa Trời vô tì vít treo trên thập tự giá, thân thể Ngài bị xé rách bởi những lằn roi; những bàn tay từng bao lần dang ra để ban phước, bị đóng đinh vào những thanh gỗ; những bàn chân không hề mệt mỏi trong những công việc yêu thương, bị đóng đinh vào cây gỗ; cái đầu vương giả ấy bị mão gai đâm thấu; đôi môi run rẩy ấy mấp máy thành tiếng kêu thống khổ. Và tất cả những gì Ngài chịu đựng — những giọt máu chảy ra từ đầu Ngài, tay Ngài, chân Ngài, cơn hấp hối giày vò thân thể Ngài, và nỗi thống khổ không nói ra được tràn ngập linh hồn Ngài khi mặt Đức Chúa Cha bị ẩn giấu — đều nói với mỗi con cái loài người, mà tuyên bố rằng: Chính vì ngươi mà Con Đức Chúa Trời bằng lòng mang gánh nặng tội lỗi này; vì ngươi mà Ngài cướp đoạt lãnh thổ của sự chết, và mở ra các cửa của Lạc Viên. Đấng đã làm yên lặng những lượn sóng giận dữ và bước đi trên những đợt sóng đầu bọt trắng, Đấng đã làm cho ma quỷ run rẩy và bệnh tật phải chạy trốn, Đấng đã mở mắt người mù và gọi kẻ chết sống lại — đã hiến chính mình Ngài trên thập tự giá làm của lễ hy sinh, và điều này là vì tình yêu thương dành cho ngươi. Ngài, Đấng Mang Tội, chịu đựng cơn thạnh nộ của sự công bình thiêng liêng, và vì cớ ngươi mà trở nên chính tội lỗi. DA 755.1
Trong yên lặng, những kẻ đang nhìn xem chờ đợi sự kết thúc của cảnh tượng kinh khiếp ấy. Mặt trời chiếu sáng ra; nhưng thập tự giá vẫn còn bị bóng tối bao phủ. Các thầy tế lễ và các quan trưởng nhìn về phía Giê-ru-sa-lem; và kìa, đám mây dày đặc đã giáng xuống trên thành và trên các đồng bằng của Giu-đê. Mặt Trời Công Bình, Sự Sáng của thế gian, đang rút những tia sáng của Ngài khỏi thành Giê-ru-sa-lem một thời được ưu đãi. Những tia chớp dữ dội của cơn thạnh nộ Đức Chúa Trời được nhắm vào thành phố mang số phận diệt vong. DA 756.1
Bỗng nhiên màn u ám tan khỏi thập tự giá, và bằng giọng trong trẻo như tiếng kèn, dường như vang dội khắp cả tạo vật, Đức Chúa Giê-su kêu lớn rằng: “Mọi việc đã được trọn.” “Hỡi Cha, tôi giao linh hồn lại trong tay Cha.” Một luồng sáng bao quanh thập tự giá, và gương mặt Đấng Cứu Thế chiếu sáng với một sự vinh hiển như mặt trời. Rồi Ngài gục đầu xuống ngực, và tắt hơi. DA 756.2
Giữa cảnh tối tăm kinh khiếp, dường như bị Đức Chúa Trời lìa bỏ, Đấng Christ đã uống cạn những giọt cuối cùng trong chén thống khổ của loài người. Trong những giờ phút khủng khiếp ấy, Ngài đã nương cậy nơi bằng chứng về sự chấp nhận của Cha Ngài đã ban cho Ngài trước đó. Ngài quen biết bản tánh của Cha Ngài; Ngài hiểu sự công bình, sự thương xót, và tình yêu thương lớn lao của Cha. Bởi đức tin, Ngài an nghỉ nơi Đấng mà việc vâng phục Ngài luôn là niềm vui của mình. Và khi trong sự thuận phục, Ngài phó thác chính mình cho Đức Chúa Trời, thì cảm giác về sự mất đi ơn của Cha Ngài được cất đi. Bởi đức tin, Đấng Christ đã đắc thắng. DA 756.3
Chưa bao giờ thế gian chứng kiến một cảnh tượng như vậy. Đoàn dân đứng tê liệt, và nín thở nhìn chăm chăm vào Đấng Cứu Thế. Một lần nữa bóng tối phủ trên đất, và một tiếng gầm khàn đục, như sấm sét dữ dội, vang lên. Có một trận động đất kinh hoàng. Dân chúng bị xô lại thành đống. Sự hỗn loạn và kinh hoảng cực độ tiếp theo sau. Trong những ngọn núi chung quanh, đá nứt ra, và đổ sầm xuống các đồng bằng. Những phần mộ bị mở toang, và những kẻ chết bị ném ra khỏi mồ mả. Tạo vật dường như rung rẩy tan tành. Các thầy tế lễ, các quan trưởng, lính tráng, những kẻ hành quyết, và dân chúng, câm lặng vì khiếp sợ, nằm phủ phục dưới đất. DA 756.4
Khi tiếng kêu lớn “Mọi việc đã được trọn” thốt ra từ môi miệng Đấng Christ, các thầy tế lễ đang thi hành chức vụ trong đền thờ. Đó là giờ dâng của lễ buổi chiều. Con chiên tượng trưng cho Đấng Christ đã được đem đến để giết. Mặc lấy chiếc áo đẹp đẽ và đầy ý nghĩa, thầy tế lễ đứng với con dao đã giơ lên, như Áp-ra-ham khi ông sắp giết con trai mình. Với mối quan tâm sâu xa, dân chúng đang nhìn xem. Nhưng đất rúng động và rung chuyển; vì chính Chúa đang đến gần. Với một tiếng xé toạc, bức màn trong của đền thờ bị một bàn tay vô hình xé ra làm đôi từ trên xuống dưới, phơi bày trước mắt đoàn dân một nơi từng tràn đầy sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Tại nơi này, sự vinh quang Shekinah đã ngự. Tại đây Đức Chúa Trời đã tỏ bày sự vinh hiển của Ngài trên nắp thi ân. Không một ai ngoài thầy tế lễ thượng phẩm từng vén bức màn ngăn cách gian phòng này với phần còn lại của đền thờ. Người vào đó mỗi năm một lần để làm sự chuộc tội cho dân sự. Nhưng kìa, bức màn này bị xé làm hai. Nơi chí thánh của đền thánh dưới đất không còn linh thiêng nữa. DA 756.5
Tất cả là sự kinh hoàng và hỗn loạn. Thầy tế lễ sắp giết con sinh tế; nhưng con dao rớt khỏi bàn tay rã rời của người, và con chiên thoát đi. Hình bóng đã gặp thực thể trong sự chết của Con Đức Chúa Trời. Của lễ vĩ đại đã được dâng. Con đường vào nơi chí thánh được mở ra. Một con đường mới và sống động được sắm sẵn cho mọi người. Nhân loại tội lỗi, sầu khổ không còn cần chờ đợi sự đến của thầy tế lễ thượng phẩm nữa. Từ nay trở đi, Đấng Cứu Thế sẽ thi hành chức vụ thầy tế lễ và Đấng Biện hộ trong các từng trời cao nhất. Dường như có một giọng nói sống động phán cùng những kẻ thờ phượng: Bây giờ là sự kết thúc cho mọi của lễ và của dâng vì tội lỗi. Con Đức Chúa Trời đã đến theo lời Ngài,
“Tôi bèn nói: Hỡi Đức Chúa Trời, này tôi đến — Trong sách có chép về tôi — Tôi đến để làm theo ý muốn Chúa.” (Hê-bơ-rơ 10:7)
“Ngài đã vào nơi rất thánh một lần thì đủ hết, không dùng huyết của dê đực và của bò con, nhưng dùng chính huyết mình, mà được sự chuộc tội đời đời.” (Hê-bơ-rơ 9:12)
DA 757.1