Trong Phòng Xử Án Của Phi-lát

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 27:2, 11-31; Mác 15:1-20; Lu-ca 23:1-25; Giăng 18:28-40; Giăng 19:1-16 DA 723.1

Tại công đường của Phi-lát, quan tổng đốc La-mã, Đấng Christ đứng đó bị trói như một tù nhân. Chung quanh Ngài là toán lính canh, và công đường mau chóng đầy chật người xem. Ngay bên ngoài lối vào là các quan án của Tòa Công Luận, các thầy tế lễ, các quan trưởng, các trưởng lão, và đám đông dân chúng. DA 723.2

Sau khi đã kết án Đức Chúa Giê-su, hội đồng Tòa Công Luận đến cùng Phi-lát để được phê chuẩn và thi hành bản án. Nhưng các quan chức Do Thái này không chịu bước vào công đường La-mã. Theo nghi lễ của luật pháp họ, làm như vậy sẽ bị ô uế, và như thế họ sẽ không được dự lễ Vượt Qua. Trong sự mù lòa của mình, họ không thấy rằng lòng thù hận giết người đã làm ô uế tâm hồn họ. Họ không thấy rằng Đấng Christ chính là chiên con thật của lễ Vượt Qua, và rằng, kể từ khi họ chối bỏ Ngài, kỳ đại lễ ấy đối với họ đã mất hết ý nghĩa. DA 723.3

Khi Đấng Cứu Thế được dẫn vào công đường, Phi-lát nhìn Ngài bằng cặp mắt chẳng có chút thiện cảm. Quan tổng đốc La-mã đã bị gọi dậy vội vàng từ phòng ngủ, và ông quyết tâm làm xong công việc của mình càng nhanh càng tốt. Ông sẵn sàng xử trí tù nhân với sự nghiêm khắc của một quan tòa. Khoác lấy vẻ mặt nghiêm nghị nhất, ông quay lại để xem người mà ông phải thẩm vấn, kẻ đã khiến ông phải rời khỏi giấc nghỉ ngơi vào giờ sớm sủa như vậy, là hạng người nào. Ông biết rằng đó hẳn phải là một người mà các nhà cầm quyền Do Thái nóng lòng muốn xét xử và trừng phạt gấp rút. DA 723.4

Phi-lát nhìn những người đang giải Đức Chúa Giê-su, rồi cái nhìn của ông dừng lại dò xét nơi Đức Chúa Giê-su. Ông đã từng phải xử trí đủ mọi loại tội phạm; nhưng chưa bao giờ có một người mang dấu ấn của sự nhân hậu và cao thượng đến thế được đem đến trước mặt ông. Trên gương mặt Ngài, ông không thấy dấu hiệu của tội lỗi, không có vẻ sợ hãi, không có sự ngang ngược hay thách thức. Ông thấy một người với phong thái điềm tĩnh và đường bệ, mà gương mặt không mang dấu vết của một tội phạm, nhưng mang chữ ký của thiên đàng. DA 724.1

Dáng vẻ của Đấng Christ tạo nên ấn tượng thuận lợi nơi Phi-lát. Bản tính tốt đẹp hơn của ông được khơi dậy. Ông đã nghe nói về Đức Chúa Giê-su và các công việc của Ngài. Vợ ông đã kể cho ông đôi điều về những việc làm kỳ diệu được thực hiện bởi vị tiên tri người Ga-li-lê, Đấng chữa lành kẻ đau và làm cho người chết sống lại. Bây giờ điều này sống lại như một giấc mơ trong tâm trí Phi-lát. Ông nhớ lại những lời đồn đãi mà ông đã nghe từ nhiều nguồn. Ông quyết định đòi hỏi người Do Thái nêu ra những lời cáo buộc của họ chống lại tù nhân. DA 724.2

Người này là ai, và tại sao các ngươi đem người đến đây? ông hỏi. Các ngươi cáo người về điều gì? Người Do Thái lúng túng. Biết rằng họ không thể chứng minh được những lời cáo buộc chống lại Đấng Christ, họ không muốn có một cuộc thẩm vấn công khai. Họ trả lời rằng Ngài là một kẻ lừa dối tên là Giê-su người Na-xa-rét. DA 724.3

Phi-lát lại hỏi: “Các ngươi cáo người này về điều gì?” Các thầy tế lễ không trả lời câu hỏi của ông, nhưng bằng những lời tỏ ra sự tức giận của họ, họ nói: “Nếu người này không phải là kẻ làm ác, thì chúng tôi đã chẳng nộp cho quan.” Khi những người hợp thành Tòa Công Luận, những bậc đứng đầu của dân tộc, đem đến cho quan một người mà họ cho là đáng chết, thì còn cần phải hỏi lời cáo buộc chống lại người ấy hay sao? Họ hy vọng gây cho Phi-lát ấn tượng về tầm quan trọng của họ, và như thế khiến ông chấp thuận lời thỉnh cầu của họ mà không cần qua nhiều thủ tục. Họ nóng lòng muốn bản án của họ được phê chuẩn; vì họ biết rằng dân chúng đã chứng kiến những công việc kỳ diệu của Đấng Christ có thể kể lại một câu chuyện rất khác với điều bịa đặt mà chính họ đang dựng lên lúc này. DA 724.4

Các thầy tế lễ nghĩ rằng với Phi-lát yếu đuối và do dự, họ có thể thực hiện kế hoạch của mình mà không gặp khó khăn gì. Trước đây ông đã từng vội vàng ký lệnh tử hình, kết án tử hình những người mà họ biết là không đáng chết. Theo sự đánh giá của ông, mạng sống của một tù nhân chẳng đáng giá là bao; người ấy vô tội hay có tội cũng chẳng có ý nghĩa gì đặc biệt. Các thầy tế lễ hy vọng rằng Phi-lát giờ đây sẽ tuyên án tử hình Đức Chúa Giê-su mà không cần xét xử Ngài. Họ nài xin điều này như một ân huệ nhân dịp đại lễ quốc gia của họ. DA 724.5

Nhưng có điều gì đó nơi tù nhân khiến Phi-lát chùn lại không làm như vậy. Ông không dám làm điều đó. Ông đọc thấu mưu đồ của các thầy tế lễ. Ông nhớ lại rằng, cách đó không lâu, Đức Chúa Giê-su đã làm cho La-xa-rơ, một người đã chết bốn ngày, sống lại; và ông quyết định, trước khi ký bản án kết tội, phải biết những lời cáo buộc chống lại Ngài là gì, và liệu chúng có thể được chứng minh hay không. DA 725.1

Nếu sự xét xử của các ngươi là đủ, ông nói, thì sao lại đem tù nhân đến cho ta? “Hãy bắt lấy người và xử theo luật pháp các ngươi.” Bị thúc ép như vậy, các thầy tế lễ nói rằng họ đã tuyên án cho Ngài rồi, nhưng họ cần có bản án của Phi-lát để khiến cho sự kết tội của họ có hiệu lực. Bản án của các ngươi là gì? Phi-lát hỏi. Bản án tử hình, họ trả lời; nhưng chúng tôi không có phép giết ai. Họ xin Phi-lát hãy tin lời họ về tội của Đấng Christ, và thi hành bản án của họ. Họ sẽ chịu trách nhiệm về hậu quả. DA 725.2

Phi-lát không phải là một quan tòa công bình hay tận tâm; nhưng dù yếu đuối về mặt đạo đức, ông vẫn từ chối chấp thuận lời thỉnh cầu này. Ông sẽ không kết án Đức Chúa Giê-su cho đến khi có một lời cáo buộc được đưa ra chống lại Ngài. DA 725.3

Các thầy tế lễ lâm vào thế tiến thoái lưỡng nan. Họ thấy rằng họ phải che giấu sự giả hình của mình dưới lớp ngụy trang dày nhất. Họ không được để lộ ra rằng Đấng Christ đã bị bắt vì lý do tôn giáo. Nếu điều này được nêu ra làm lý do, thì những hành động của họ sẽ chẳng có trọng lượng gì đối với Phi-lát. Họ phải làm cho có vẻ rằng Đức Chúa Giê-su đang chống lại luật chung; như thế Ngài có thể bị trừng phạt như một kẻ phạm tội chính trị. Những vụ náo loạn và nổi dậy chống lại chính quyền La-mã liên tục xảy ra giữa vòng người Do Thái. Với những cuộc nổi loạn này, người La-mã đã xử trí rất nghiêm khắc, và họ luôn canh chừng để dập tắt bất cứ điều gì có thể dẫn đến một cuộc bùng nổ. DA 725.4

Chỉ vài ngày trước đó, người Pha-ri-si đã cố gài bẫy Đấng Christ với câu hỏi: “Chúng tôi có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không?” Nhưng Đấng Christ đã vạch trần sự giả hình của họ. Những người La-mã có mặt ở đó đã thấy sự thất bại hoàn toàn của những kẻ mưu mô, và sự bối rối của họ trước câu trả lời của Ngài: “Vậy thì hãy nộp cho Sê-sa vật gì của Sê-sa.” Lu-ca 20:22-25. DA 725.5

Bây giờ các thầy tế lễ nghĩ cách làm cho có vẻ rằng vào dịp này Đấng Christ đã dạy điều mà họ hy vọng Ngài sẽ dạy. Trong cơn cùng quẫn của mình, họ kêu gọi những kẻ làm chứng dối đến giúp, “và họ bắt đầu cáo Ngài rằng: Chúng tôi đã thấy người này xui giục dân tộc chúng tôi, ngăn cấm nộp thuế cho Sê-sa, và xưng mình là Christ, là Vua.” Ba lời cáo buộc, mỗi lời đều không có căn cứ. Các thầy tế lễ biết điều này, nhưng họ sẵn lòng khai man miễn là đạt được mục đích của mình. DA 725.6

Phi-lát nhìn thấu mưu đồ của họ. Ông không tin rằng tù nhân đã mưu phản chống lại chính quyền. Dáng vẻ hiền lành và khiêm nhường của Ngài hoàn toàn không phù hợp với lời cáo buộc. Phi-lát tin chắc rằng một âm mưu thâm độc đã được dựng lên để tiêu diệt một người vô tội đang cản đường các nhà chức trách Do Thái. Quay sang Đức Chúa Giê-su, ông hỏi: “Ngươi có phải là Vua dân Do Thái không?” Đấng Cứu Thế đáp: “Thật như lời.” Và khi Ngài phán những lời ấy, gương mặt Ngài bừng sáng như thể một tia nắng đang chiếu trên đó. DA 726.1

Khi nghe câu trả lời của Ngài, Cai-phe và những kẻ ở với người gọi Phi-lát làm chứng rằng Đức Chúa Giê-su đã thừa nhận tội mà Ngài bị cáo. Với những tiếng la ó ầm ĩ, các thầy tế lễ, các thầy thông giáo, và các quan trưởng đòi Ngài phải bị tuyên án tử hình. Tiếng la ó được đám đông hùa theo, và sự huyên náo đến điếc tai. Phi-lát rối trí. Thấy Đức Chúa Giê-su không trả lời những kẻ cáo Ngài, Phi-lát nói với Ngài: “Ngươi không trả lời chi hết sao? Hãy xem họ làm chứng nghịch cùng ngươi biết bao nhiêu! Nhưng Đức Chúa Giê-su vẫn không trả lời chi hết.” DA 726.2

Đứng phía sau Phi-lát, trong tầm nhìn của mọi người trong công đường, Đấng Christ nghe những lời lăng mạ; nhưng với tất cả những lời cáo buộc dối trá chống lại Ngài, Ngài không đáp lại một lời. Toàn bộ phong thái của Ngài làm chứng cho sự vô tội mà Ngài ý thức được. Ngài đứng đó không hề lay chuyển trước cơn cuồng nộ của những đợt sóng đang vỗ quanh Ngài. Như thể những lượn sóng dữ dội của cơn thịnh nộ, dâng lên cao mãi, như những đợt sóng của đại dương cuồng nộ, vỡ tan quanh Ngài, nhưng không chạm đến Ngài. Ngài đứng lặng yên, nhưng sự im lặng của Ngài là sự hùng biện. Đó như một ánh sáng tỏa ra từ con người bên trong ra con người bên ngoài. DA 726.3

Phi-lát kinh ngạc trước phong thái của Ngài. Người này không màng đến phiên xử vì Ngài chẳng buồn cứu lấy mạng sống mình sao? ông tự hỏi. Khi nhìn Đức Chúa Giê-su chịu đựng sỉ nhục và chế nhạo mà không đáp trả, ông cảm thấy rằng Ngài không thể bất chính và bất công như các thầy tế lễ đang la hét kia. Với hy vọng tìm được sự thật từ Ngài và thoát khỏi sự náo loạn của đám đông, Phi-lát dẫn Đức Chúa Giê-su sang một bên với mình, rồi lại hỏi: “Ngươi có phải là Vua dân Do Thái không?” DA 726.4

Đức Chúa Giê-su không trực tiếp trả lời câu hỏi này. Ngài biết rằng Đức Thánh Linh đang cảm động Phi-lát, và Ngài cho ông cơ hội thừa nhận sự tin chắc trong lòng mình. “Ngươi nói điều đó tự ý mình,” Ngài hỏi, “hay là có người đã nói điều đó với ngươi về ta?” Tức là, có phải lời cáo buộc của các thầy tế lễ, hay là lòng khao khát muốn nhận được ánh sáng từ Đấng Christ, đã thúc đẩy câu hỏi của Phi-lát? Phi-lát hiểu ý của Đấng Christ; nhưng lòng kiêu ngạo trỗi dậy trong ông. Ông không chịu thừa nhận sự tin chắc đang thúc giục mình. “Ta há là người Do Thái sao?” ông nói. “Dân ngươi và các thầy tế lễ cả đã nộp ngươi cho ta: ngươi đã làm điều gì?” DA 726.5

Cơ hội quý báu của Phi-lát đã trôi qua. Tuy vậy, Đức Chúa Giê-su không bỏ mặc ông mà chẳng ban thêm ánh sáng. Dù không trực tiếp trả lời câu hỏi của Phi-lát, Ngài đã tuyên bố rõ ràng về sứ mạng của chính mình. Ngài cho Phi-lát hiểu rằng Ngài không tìm kiếm một ngai vàng trần thế. DA 727.1

“Nước của ta chẳng phải thuộc về thế gian này,” Ngài phán; “ví bằng nước ta thuộc về thế gian này, thì tôi tớ của ta sẽ đánh trận, đặng ta khỏi phải nộp cho dân Do Thái; nhưng hiện nay nước ta chẳng thuộc về hạ giới. Phi-lát bèn nói rằng, Thế thì ngươi là vua sao? Đức Chúa Giê-su đáp rằng, Thật như lời, ta là vua. Nầy, vì sao ta đã sanh ra và vì sao ta đã giáng thế: ấy là để làm chứng cho lẽ thật. Hễ ai thuộc về lẽ thật thì nghe lấy tiếng ta.” DA 727.2

Đấng Christ khẳng định rằng lời của Ngài tự nó là một chiếc chìa khóa mở ra điều huyền nhiệm cho những ai sẵn lòng tiếp nhận. Lời ấy có một quyền năng tự xác chứng, và đây là bí quyết của sự lan rộng nước lẽ thật của Ngài. Ngài muốn Phi-lát hiểu rằng chỉ bằng cách tiếp nhận và chiếm hữu lẽ thật thì bản tính hư hoại của ông mới có thể được dựng lại. DA 727.3

Phi-lát có lòng khao khát muốn biết lẽ thật. Tâm trí ông rối bời. Ông sốt sắng nắm lấy những lời của Đấng Cứu Thế, và lòng ông xao động với một niềm khao khát lớn lao muốn biết lẽ thật thật sự là gì, và làm thế nào để có được nó. “Lẽ thật là gì?” ông hỏi. Nhưng ông không chờ đợi câu trả lời. Sự náo động bên ngoài kéo ông trở lại với những mối lo của giờ phút ấy; vì các thầy tế lễ đang la hét đòi hành động ngay lập tức. Đi ra cùng dân Do Thái, ông tuyên bố cách dứt khoát: “Ta chẳng tìm thấy người này có tội lỗi gì cả.” DA 727.4

Những lời này từ một quan tòa ngoại đạo là một lời quở trách gay gắt đối với sự phản trắc và dối trá của các nhà cầm quyền Y-sơ-ra-ên đang cáo buộc Đấng Cứu Thế. Khi các thầy tế lễ và trưởng lão nghe điều này từ Phi-lát, sự thất vọng và cơn giận dữ của họ không còn bờ bến. Họ đã mưu tính và chờ đợi cơ hội này từ lâu. Khi thấy viễn cảnh Đức Chúa Giê-su được phóng thích, họ dường như sẵn sàng xé Ngài ra từng mảnh. Họ lớn tiếng tố cáo Phi-lát, và đe dọa ông với sự khiển trách của chính quyền La-mã. Họ buộc tội ông từ chối kết án Đức Chúa Giê-su, kẻ mà họ quả quyết rằng đã tự đặt mình chống lại Sê-sa. DA 727.5

Bấy giờ những giọng nói giận dữ vang lên, tuyên bố rằng ảnh hưởng dấy loạn của Đức Chúa Giê-su đã được biết khắp xứ. Các thầy tế lễ nói: “Người này dấy loạn dân chúng, dạy dỗ khắp xứ Giu-đê, bắt đầu từ Ga-li-lê rồi đến đây.” DA 728.1

Lúc này Phi-lát chẳng có ý định kết án Đức Chúa Giê-su. Ông biết rằng người Do Thái đã cáo buộc Ngài vì lòng thù ghét và thành kiến. Ông biết bổn phận của mình là gì. Công lý đòi hỏi Đấng Christ phải được phóng thích ngay lập tức. Nhưng Phi-lát e sợ ác cảm của dân chúng. Nếu ông từ chối giao Đức Chúa Giê-su vào tay họ, một cuộc náo loạn sẽ nổi lên, và điều đó thì ông sợ phải đối mặt. Khi nghe rằng Đấng Christ đến từ Ga-li-lê, ông quyết định gửi Ngài đến Hê-rốt, là quan cai trị tỉnh đó, bấy giờ đang ở tại Giê-ru-sa-lem. Bằng cách này, Phi-lát nghĩ có thể đẩy trách nhiệm xét xử khỏi mình mà giao cho Hê-rốt. Ông cũng nghĩ đây là cơ hội tốt để hàn gắn mối bất hòa cũ giữa ông và Hê-rốt. Và quả thực đã như vậy. Hai vị quan tòa trở nên bạn bè qua việc xét xử Đấng Cứu Thế. DA 728.2

Phi-lát lại giao Đức Chúa Giê-su cho quân lính, và giữa những lời chế nhạo cùng sỉ nhục của đám đông, Ngài bị vội vã giải đến công đường của Hê-rốt. “Vua Hê-rốt thấy Đức Chúa Giê-su thì mừng lắm.” Trước đó ông chưa từng gặp Đấng Cứu Thế, nhưng “đã lâu ông muốn gặp Ngài, vì có nghe nói về Ngài nhiều, và ông mong xem Ngài làm phép lạ.” Hê-rốt này chính là kẻ có đôi tay vấy máu của Giăng Báp-tít. Khi Hê-rốt lần đầu nghe nói về Đức Chúa Giê-su, ông kinh hãi, và nói: “Ấy là Giăng mà ta đã truyền chém: người đã từ kẻ chết sống lại;” “bởi đó cho nên các phép lạ đó tỏ ra trong người.”

“Nhưng Hê-rốt nghe vậy, thì nói rằng: Ấy là Giăng mà ta đã truyền chém, người đã sống lại.” (Mác 6:16)

“thì phán cùng bầy tôi rằng: Đây là Giăng Báp-tít. Người chết đi sống lại, nhân đó mới làm được mấy phép lạ như vậy.” (Ma-thi-ơ 14:2)

Tuy vậy, Hê-rốt vẫn ao ước được gặp Đức Chúa Giê-su. Nay có cơ hội để cứu mạng vị tiên tri này, và vua hy vọng có thể vĩnh viễn xua khỏi tâm trí mình ký ức về cái đầu đẫm máu được mang đến cho ông trên một cái mâm. Ông cũng muốn thỏa mãn tánh tò mò của mình, và nghĩ rằng nếu Đấng Christ được cho bất kỳ hy vọng nào về sự phóng thích, Ngài sẽ làm bất cứ điều gì được yêu cầu. DA 728.3

Một đoàn đông các thầy tế lễ và trưởng lão đã đi theo Đấng Christ đến Hê-rốt. Và khi Đấng Cứu Thế được đưa vào, các vị chức sắc này, tất cả đều nói cách hăng hái, thúc ép những lời cáo buộc của họ chống lại Ngài. Nhưng Hê-rốt ít quan tâm đến những lời cáo của họ. Ông truyền lệnh im lặng, vì muốn có cơ hội tra hỏi Đấng Christ. Ông ra lệnh tháo gông cùm của Đấng Christ, đồng thời quở trách kẻ thù của Ngài đã đối xử thô bạo với Ngài. Nhìn với lòng trắc ẩn vào gương mặt thanh thản của Đấng Cứu Chuộc thế gian, ông chỉ đọc thấy nơi đó sự khôn ngoan và thanh khiết. Cũng như Phi-lát, ông tin chắc rằng Đấng Christ đã bị cáo buộc vì lòng ác ý và đố kỵ. DA 729.1

Hê-rốt tra hỏi Đấng Christ bằng nhiều lời, nhưng suốt từ đầu đến cuối Đấng Cứu Thế vẫn giữ một sự im lặng sâu thẳm. Theo lệnh của vua, những người tàn tật và què quặt được gọi vào, rồi Đấng Christ bị bắt phải chứng minh lời tuyên bố của Ngài bằng cách làm một phép lạ. Người ta nói rằng ngươi có thể chữa lành kẻ bệnh, Hê-rốt nói. Ta nóng lòng muốn thấy rằng danh tiếng vang dội của ngươi không phải là dối trá. Đức Chúa Giê-su không đáp lại, và Hê-rốt vẫn cứ tiếp tục thúc ép: Nếu ngươi có thể làm phép lạ cho kẻ khác, hãy làm ngay bây giờ cho chính mình ngươi, và điều đó sẽ có ích cho ngươi. Một lần nữa ông ra lệnh, Hãy tỏ cho chúng ta một dấu hiệu rằng ngươi có quyền năng mà lời đồn đã gán cho ngươi. Nhưng Đấng Christ như một người nghe mà chẳng nghe và thấy mà chẳng thấy. Con Đức Chúa Trời đã mang lấy bản tính loài người. Ngài phải làm như con người phải làm trong những hoàn cảnh tương tự. Vì vậy Ngài sẽ không làm phép lạ để cứu mình khỏi sự đau đớn và nhục nhã mà con người phải chịu đựng khi bị đặt vào hoàn cảnh tương tự. DA 729.2

Hê-rốt hứa rằng nếu Đấng Christ thực hiện một phép lạ nào đó trước mặt ông, Ngài sẽ được phóng thích. Những kẻ cáo buộc Đấng Christ đã tận mắt thấy những việc quyền năng được làm ra bởi quyền phép của Ngài. Họ đã nghe Ngài truyền lệnh cho mồ mả trao trả kẻ chết. Họ đã thấy kẻ chết bước ra vâng theo tiếng Ngài. Sự sợ hãi nắm lấy họ, e rằng giờ đây Ngài sẽ làm một phép lạ. Trong tất cả mọi điều, họ sợ nhất là sự biểu lộ quyền năng của Ngài. Một sự bày tỏ như vậy sẽ giáng đòn chí mạng vào kế hoạch của họ, và có lẽ sẽ khiến họ phải trả giá bằng mạng sống. Một lần nữa, các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền, trong sự lo lắng tột độ, thúc ép những lời cáo buộc chống lại Ngài. Cất cao giọng, họ tuyên bố: Hắn là kẻ phản bội, kẻ phạm thượng. Hắn làm phép lạ bởi quyền năng mà Bê-ên-xê-bun, chúa của ma quỷ, đã ban cho. Công đường trở thành một cảnh hỗn loạn, người la điều này, kẻ la điều kia. DA 729.3

Lương tâm của Hê-rốt giờ đây kém nhạy bén hơn nhiều so với khi ông từng run rẩy kinh hoàng trước lời yêu cầu của Hê-rô-đia đòi cái đầu của Giăng Báp-tít. Có một thời ông từng cảm thấy những nhói đau cay đắng của sự ăn năn vì hành động khủng khiếp của mình; nhưng những nhận thức đạo đức của ông đã ngày càng bị thoái hóa bởi đời sống phóng đãng. Nay lòng ông đã trở nên chai sạn đến nỗi ông còn có thể khoe khoang về hình phạt mà ông đã giáng xuống Giăng vì dám quở trách ông. Và bây giờ ông đe dọa Đức Chúa Giê-su, lặp đi lặp lại rằng ông có quyền phóng thích hay kết án Ngài. Nhưng không một dấu hiệu nào từ Đức Chúa Giê-su cho thấy rằng Ngài đã nghe lấy một lời. DA 730.1

Hê-rốt bực tức vì sự im lặng này. Dường như nó cho thấy sự hoàn toàn thờ ơ đối với quyền lực của ông. Đối với vị vua kiêu căng và phô trương này, một lời quở trách công khai còn ít xúc phạm hơn là bị xem thường như vậy. Một lần nữa, ông giận dữ đe dọa Đức Chúa Giê-su, nhưng Ngài vẫn điềm tĩnh và im lặng. DA 730.2

Sứ mạng của Đấng Christ trong thế gian này không phải để thỏa mãn sự tò mò vô ích. Ngài đến để chữa lành những tấm lòng tan vỡ. Nếu Ngài có thể phán bất cứ lời nào để chữa lành những vết thương của các linh hồn bị tội lỗi làm cho đau yếu, thì Ngài đã không giữ im lặng. Nhưng Ngài không có lời nào cho những kẻ chỉ chực giày đạp lẽ thật dưới bàn chân ô uế của họ. DA 730.3

Đấng Christ có thể đã phán những lời xuyên thấu tai của vị vua cứng lòng ấy. Ngài có thể đã khiến ông phải sợ hãi và run rẩy bằng cách phơi bày trước mặt ông tất cả sự gian ác của đời ông, cùng nỗi kinh hoàng của số phận đang đến gần. Nhưng sự im lặng của Đấng Christ là lời quở trách nghiêm khắc nhất mà Ngài có thể ban cho ông. Hê-rốt đã chối bỏ lẽ thật được phán cho ông bởi vị tiên tri vĩ đại nhất, và ông sẽ không nhận được sứ điệp nào khác. Đấng Uy Nghi của thiên đàng không có một lời nào cho ông. Cái tai vốn luôn rộng mở trước nỗi đau khổ của loài người, không có chỗ cho những mệnh lệnh của Hê-rốt. Đôi mắt vốn luôn dừng lại trên kẻ tội nhân ăn năn với tình yêu thương xót và tha thứ, không có cái nhìn nào dành cho Hê-rốt. Đôi môi đã thốt ra lẽ thật cảm động nhất, đã trong những âm điệu nài xin dịu dàng nhất khẩn cầu những kẻ tội lỗi nhất và sa đọa nhất, đều khép lại trước vị vua kiêu ngạo không cảm thấy cần đến Đấng Cứu Thế. DA 730.4

Mặt Hê-rốt tối sầm lại vì cơn giận. Quay về phía đám đông, ông giận dữ lên án Đức Chúa Giê-su là kẻ mạo danh. Rồi ông nói với Đấng Christ: Nếu Ngươi không đưa ra bằng chứng nào cho lời tuyên bố của mình, ta sẽ giao Ngươi cho quân lính và dân chúng. Có lẽ họ sẽ thành công trong việc bắt Ngươi nói. Nếu Ngươi là kẻ mạo danh, thì cái chết dưới tay họ chính là điều Ngươi đáng nhận; còn nếu Ngươi là Con Đức Chúa Trời, thì hãy tự cứu mình bằng cách làm một phép lạ đi. DA 730.5

Vừa khi những lời này được thốt ra, người ta liền lao vào Đấng Christ. Như những con thú dữ, đám đông xông tới con mồi của chúng. Đức Chúa Giê-su bị lôi kéo hết phía này đến phía khác, Hê-rốt cũng nhập bọn cùng đám đông tìm cách làm nhục Con Đức Chúa Trời. Nếu lính La-mã không can thiệp và đẩy lui đám người điên cuồng ấy, thì Đấng Cứu Thế đã bị xé thành nhiều mảnh. DA 731.1

“Bấy giờ vua Hê-rốt và quân lính hầu vua đều đãi Ngài cách khinh dể và nhạo báng Ngài; đoạn, họ mặc áo hoa hòe cho Ngài.” Quân lính La-mã cũng nhập vào sự lăng mạ này. Tất cả những gì mà những tên lính gian ác, đồi bại này, được Hê-rốt và các bậc chức sắc Do Thái xúi giục, có thể bày ra đều trút lên Đấng Cứu Thế. Tuy nhiên, lòng nhẫn nại thiêng liêng của Ngài không hề lung lay. DA 731.2

Những kẻ bắt bớ Đấng Christ đã cố đo lường tánh hạnh của Ngài bằng tánh hạnh của chính chúng; chúng đã miêu tả Ngài đê tiện như chính chúng. Nhưng đằng sau tất cả vẻ bề ngoài hiện tại, một cảnh tượng khác đã hiện ra—một cảnh tượng mà một ngày kia chúng sẽ thấy trong tất cả vinh quang của nó. Có một số người run sợ trước sự hiện diện của Đấng Christ. Trong khi đám đông thô lỗ đang cúi mình nhạo báng trước Ngài, một số kẻ bước tới với mục đích ấy đã quay lui, sợ hãi và câm lặng. Hê-rốt bị cáo trách. Những tia sáng cuối cùng của ánh sáng thương xót đang chiếu trên tấm lòng chai lì vì tội lỗi của ông. Ông cảm thấy đây không phải là một người tầm thường; vì thần tánh đã lóe sáng qua nhân tánh. Ngay chính lúc Đấng Christ bị bao vây bởi những kẻ nhạo báng, gian dâm và sát nhân, thì Hê-rốt cảm thấy ông đang chiêm ngưỡng một Đức Chúa Trời trên ngai Ngài. DA 731.3

Dù chai lì đến đâu, Hê-rốt cũng không dám phê chuẩn bản án kết tội Đấng Christ. Ông muốn trút bỏ trách nhiệm khủng khiếp này, và ông gửi Đức Chúa Giê-su trở lại tòa án La-mã. DA 731.4

Phi-lát thất vọng và rất bất mãn. Khi người Do Thái trở lại cùng với tù nhân của họ, ông sốt ruột hỏi họ muốn ông làm gì. Ông nhắc cho họ rằng ông đã xét hỏi Đức Chúa Giê-su rồi, và không tìm thấy lỗi gì nơi Ngài; ông nói với họ rằng họ đã đưa ra những lời tố cáo nghịch cùng Ngài, nhưng họ không thể chứng minh được một lời buộc tội nào. Ông đã gửi Đức Chúa Giê-su đến Hê-rốt, vua chư hầu xứ Ga-li-lê, và là một người thuộc chính dân tộc của họ, nhưng ông ấy cũng không tìm thấy nơi Ngài điều gì đáng tội chết. Phi-lát nói: “Vậy, ta sẽ đánh đòn Ngài, rồi thả ra.” DA 731.5

Tại đây Phi-lát bày tỏ sự yếu đuối của mình. Ông đã tuyên bố rằng Đức Chúa Giê-su vô tội, vậy mà ông lại sẵn lòng để Ngài bị đánh đòn nhằm xoa dịu những kẻ tố cáo Ngài. Ông chịu hy sinh sự công bình và nguyên tắc để thỏa hiệp với đám đông. Điều này đặt ông vào thế bất lợi. Đám đông được nước lấn tới trước sự do dự của ông, và càng la hét đòi mạng sống của tù nhân. Nếu ngay từ đầu Phi-lát đứng vững, từ chối kết án một người mà ông thấy là vô tội, thì ông đã bẻ gãy được sợi xích định mệnh sẽ trói buộc ông trong sự hối hận và tội lỗi suốt cả đời. Nếu ông đã thực hiện theo niềm xác tín về lẽ phải của mình, thì người Do Thái đã không dám ra lệnh cho ông. Đấng Christ vẫn sẽ bị xử tử, nhưng tội lỗi sẽ không đè trên Phi-lát. Nhưng Phi-lát đã đi từng bước một trong việc vi phạm lương tâm mình. Ông đã tự bào chữa khỏi việc xét xử cách công bình và chính trực, và bây giờ ông thấy mình gần như bất lực trong tay các thầy tế lễ và quan trưởng. Sự dao động và thiếu quyết đoán của ông đã chứng tỏ sự bại hoại của ông. DA 731.6

Ngay cả lúc này, Phi-lát cũng không bị bỏ mặc để hành động một cách mù quáng. Một sứ điệp từ Đức Chúa Trời cảnh báo ông về việc ông sắp làm. Để đáp lại lời cầu nguyện của Đấng Christ, vợ của Phi-lát đã được một thiên sứ từ thiên đàng viếng thăm, và trong một giấc chiêm bao bà đã thấy Đấng Cứu Thế và trò chuyện với Ngài. Vợ Phi-lát không phải là người Do Thái, nhưng khi nhìn Đức Chúa Giê-su trong giấc chiêm bao, bà không hề nghi ngờ gì về tánh hạnh hay sứ mạng của Ngài. Bà biết Ngài là Đấng Quân Vương của Đức Chúa Trời. Bà thấy Ngài bị xét xử trong tòa án. Bà thấy hai tay bị trói chặt như tay của một tên tội phạm. Bà thấy Hê-rốt và quân lính của ông làm công việc khủng khiếp của họ. Bà nghe các thầy tế lễ và quan trưởng, đầy lòng ghen ghét và hiểm độc, điên cuồng tố cáo. Bà nghe những lời: “Chúng tôi có luật, chiếu luật đó hắn phải chết.” Bà thấy Phi-lát giao Đức Chúa Giê-su để bị đánh đòn, sau khi đã tuyên bố: “Ta không tìm thấy lỗi gì nơi người này.” Bà nghe lời kết án mà Phi-lát tuyên ra, và thấy ông giao Đấng Christ cho những kẻ giết Ngài. Bà thấy thập tự giá được dựng lên trên đồi Gô-gô-tha. Bà thấy đất bị bao phủ trong bóng tối, và nghe tiếng kêu huyền bí: “Mọi việc đã được trọn.” Lại còn một cảnh tượng khác hiện ra trước mắt bà. Bà thấy Đấng Christ ngồi trên đám mây trắng lớn, trong khi đất rúng động trong không gian, và những kẻ giết Ngài chạy trốn khỏi sự hiện diện của vinh quang Ngài. Với một tiếng kêu kinh hoàng, bà thức giấc, và lập tức viết cho Phi-lát những lời cảnh báo. DA 732.1

Trong khi Phi-lát đang lưỡng lự không biết nên làm gì, một người đưa tin chen qua đám đông và trao cho ông bức thư của vợ ông, nội dung như sau: DA 732.2

“Đừng làm gì đến người công bình đó; vì hôm nay tôi đã bởi cớ người mà đau đớn nhiều trong chiêm bao.” DA 732.3

Mặt Phi-lát tái đi. Ông bối rối bởi chính những cảm xúc trái ngược của mình. Nhưng trong khi ông đang chần chừ chưa hành động, thì các thầy tế lễ và quan trưởng càng kích động tâm trí dân chúng thêm nữa. Phi-lát buộc phải hành động. Bấy giờ ông sực nhớ đến một tục lệ có thể giúp bảo đảm cho việc thả Đấng Christ. Theo thông lệ, vào dịp lễ này người ta thả một tù nhân nào đó mà dân chúng có thể chọn. Tục lệ này do người ngoại đạo đặt ra; trong đó không có chút bóng dáng nào của sự công bình, nhưng nó được người Do Thái rất quý chuộng. Lúc này nhà cầm quyền La-mã đang giam giữ một tù nhân tên là Ba-ra-ba, kẻ đang bị án tử hình. Người này từng tự xưng là Đấng Mê-si. Hắn tuyên bố mình có quyền lập nên một trật tự khác, để chỉnh đốn thế gian. Dưới sự lừa dối của Sa-tan, hắn tuyên bố rằng bất cứ thứ gì hắn có thể chiếm đoạt bằng trộm cắp và cướp bóc đều là của hắn. Hắn đã làm những điều kỳ lạ qua các quyền lực của Sa-tan, đã thu phục được một số người đi theo, và đã khích động sự nổi loạn chống lại chính quyền La-mã. Núp dưới vỏ bọc của lòng nhiệt thành tôn giáo, hắn là một tên ác ôn chai lì và liều lĩnh, một lòng theo đuổi sự phản loạn và tàn bạo. Bằng cách cho dân chúng lựa chọn giữa người này và Đấng Cứu Thế vô tội, Phi-lát nghĩ có thể đánh thức ý thức công bình nơi họ. Ông hy vọng giành được lòng cảm thông của họ dành cho Đức Chúa Giê-su để chống lại các thầy tế lễ và quan trưởng. Vậy nên, quay về phía đám đông, ông hết sức nghiêm trang nói rằng: “Các ngươi muốn ta tha người nào, Ba-ra-ba hay là Giê-su gọi là Christ?” DA 733.1

Như tiếng gầm thét của thú dữ, đám đông đáp lại: “Hãy tha Ba-ra-ba cho chúng tôi!” Tiếng kêu mỗi lúc một lớn hơn, Ba-ra-ba! Ba-ra-ba! Tưởng rằng dân chúng không hiểu câu hỏi của mình, Phi-lát hỏi: “Các ngươi có muốn ta tha Vua dân Giu-đa cho các ngươi chăng?” Nhưng họ lại kêu lên: “Hãy trừ Người nầy đi, mà tha Ba-ra-ba cho chúng tôi!” Phi-lát hỏi: “Vậy thì ta sẽ xử với Giê-su gọi là Christ thể nào?” Lại một lần nữa, đám đông cuồng nộ gào thét như những con quỷ. Quả thật, chính ma quỷ trong hình hài con người đang lẫn trong đám đông, và còn có thể trông đợi câu trả lời nào khác hơn là: “Hãy đóng đinh Người trên cây thập tự!”? DA 733.2

Phi-lát bối rối. Ông không ngờ sự việc lại đi đến nông nỗi ấy. Ông chùn lại, không muốn nộp một người vô tội cho cái chết nhục nhã và tàn nhẫn nhất mà người ta có thể gây ra. Sau khi tiếng la hét đã lắng xuống, ông quay sang dân chúng mà nói: “Tại sao? Người nầy đã làm điều ác gì?” Nhưng sự việc đã đi quá xa, không còn chỗ cho lý lẽ nữa. Điều họ muốn không phải là bằng chứng về sự vô tội của Đấng Christ, mà là sự kết án Ngài. DA 733.3

Phi-lát vẫn cố cứu Ngài. “Phi-lát lại nói đến lần thứ ba, rằng: Vậy người nầy đã làm điều ác gì? Ta không tìm thấy người có sự gì đáng chết. Vậy, đánh đòn xong, ta sẽ tha.” Nhưng chỉ vừa nhắc đến việc tha Ngài, dân chúng càng điên cuồng gấp mười lần. “Đóng đinh Người trên cây thập tự, đóng đinh Người trên cây thập tự,” họ la lên. Cơn bão tố mà sự do dự của Phi-lát đã khơi dậy càng lúc càng dữ dội hơn. DA 733.4

Đức Chúa Giê-su, mệt lả vì kiệt sức và đầy thương tích, bị điệu đi và đánh đòn trước mặt đám đông. “Quân lính đem Đức Chúa Jêsus vào sân trong, tức là trong chỗ trường án; và nhóm cả cơ binh lại đó. Họ choàng cho Ngài một cái áo điều, và đội trên đầu Ngài một cái mão bằng gai họ đã đương, rồi chào Ngài rằng: Kính lạy Vua dân Giu-đa! Lại lấy cây sậy đánh đầu Ngài, nhổ trên Ngài, và quì xuống trước mặt Ngài mà lạy.” Thỉnh thoảng có bàn tay độc ác giật lấy cây sậy đã được đặt trong tay Ngài rồi đánh vào mão gai trên trán Ngài, ấn những gai nhọn xuyên vào thái dương Ngài, khiến máu chảy ròng ròng xuống mặt và râu Ngài. DA 734.1

Hỡi các từng trời, hãy lấy làm lạ! Hỡi đất, hãy kinh ngạc! Hãy nhìn xem kẻ áp bức và Người bị áp bức. Một đám đông điên cuồng vây quanh Đấng Cứu Thế của thế gian. Sự nhạo báng và chế giễu hòa lẫn với những lời thề thốt thô tục báng bổ. Nguồn gốc thấp hèn và đời sống khiêm nhường của Ngài bị đám đông vô cảm đem ra bình phẩm. Lời tuyên xưng Ngài là Con Đức Chúa Trời bị chế nhạo, và những lời đùa cợt tục tằn cùng những lời nhạo báng xúc phạm được truyền từ miệng nầy sang miệng khác. DA 734.2

Sa-tan cầm đầu đám đông tàn nhẫn trong việc lăng mạ Đấng Cứu Thế. Mục đích của nó là, nếu có thể, khiêu khích Ngài để Ngài trả đũa, hoặc thúc ép Ngài làm phép lạ để tự giải cứu mình, và như vậy phá hỏng chương trình cứu rỗi. Chỉ cần một vết nhơ trên đời sống làm người của Ngài, chỉ cần một lần nhân tánh của Ngài không chịu đựng nổi cuộc thử thách kinh khủng ấy, thì Chiên Con của Đức Chúa Trời đã trở nên một của lễ không trọn vẹn, và sự cứu chuộc loài người ắt đã thất bại. Nhưng Đấng chỉ bằng một lời phán có thể triệu cả đạo binh trên trời đến giúp đỡ Ngài—Đấng có thể khiến đám đông kia kinh hãi chạy trốn khỏi mặt Ngài bằng cách bày tỏ sự uy nghi thiên thượng của mình—đã hoàn toàn bình thản chịu đựng những lời lăng nhục và bạo hành thô bỉ nhất. DA 734.3

Các kẻ thù của Đấng Christ đã đòi một phép lạ làm bằng chứng về thần tánh của Ngài. Họ đã có bằng chứng lớn lao hơn bất cứ điều gì họ tìm kiếm. Cũng như sự tàn nhẫn đã làm cho những kẻ hành hạ Ngài hạ thấp xuống dưới mức con người, trở nên giống như Sa-tan, thì sự nhu mì và nhẫn nại của Đức Chúa Giê-su cũng nâng Ngài lên trên mức con người, và chứng tỏ mối liên hệ của Ngài với Đức Chúa Trời. Sự hạ mình của Ngài là sự bảo chứng cho sự tôn cao của Ngài. Những giọt máu khổ đau từ thái dương bị thương của Ngài chảy xuống mặt và râu Ngài là sự bảo chứng cho việc Ngài được xức “dầu vui mừng”

“Chúa ưa điều công bình, ghét điều gian ác; Cho nên, hỡi Chúa, Đức Chúa Trời của Chúa lấy dầu vui mừng xức cho, Khiến Chúa trổi hơn kẻ đồng loại mình.” (Hê-bơ-rơ 1:9)

làm thầy tế lễ thượng phẩm vĩ đại của chúng ta. DA 734.4

Cơn thịnh nộ của Sa-tan thật lớn khi nó thấy rằng tất cả những sự lăng mạ giáng trên Đấng Cứu Thế đã không thể ép Ngài thốt ra dù chỉ một lời than vãn. Dù Ngài đã mang lấy bản tánh con người, Ngài vẫn được nâng đỡ bởi một sự can trường như thần linh, và không hề rời khỏi ý muốn của Đức Chúa Cha dù chỉ một mảy. DA 735.1

Khi Phi-lát giao Đức Chúa Giê-su để bị đánh đòn và nhạo báng, ông nghĩ rằng làm vậy sẽ khơi dậy lòng thương xót của đám đông. Ông hy vọng họ sẽ cho rằng hình phạt như thế là đủ rồi. Ông tưởng rằng ngay cả lòng hiểm độc của các thầy tế lễ giờ đây cũng đã được thỏa mãn. Nhưng với sự nhận xét sắc bén, người Do Thái thấy được sự nhu nhược trong việc trừng phạt một người đã được tuyên bố là vô tội. Họ biết Phi-lát đang cố cứu mạng người tù, nên họ quyết tâm không để Đức Chúa Giê-su được tha. Họ nghĩ: Để làm hài lòng và thỏa lòng chúng ta, Phi-lát đã đánh đòn Ngài rồi, và nếu chúng ta cứ ép sự việc đến chỗ phân quyết, thì chắc chắn chúng ta sẽ đạt được mục đích. DA 735.2

Bấy giờ Phi-lát sai dẫn Ba-ra-ba ra trước tòa án. Rồi ông đặt hai người tù đứng cạnh nhau, và chỉ vào Đấng Cứu Thế, ông nói với giọng khẩn thiết và trang nghiêm: “Kìa, xem Người nầy!” “Đây nầy, ta dẫn người ra ngoài, để các ngươi biết rằng ta không tìm thấy người có tội lỗi chi.” DA 735.3

Con Đức Chúa Trời đang đứng đó, mặc chiếc áo nhạo báng và đội mão gai. Bị lột trần đến thắt lưng, trên lưng Ngài hằn những lằn roi dài, tàn nhẫn, từ đó máu tuôn ra đầm đìa. Mặt Ngài vấy máu và mang dấu của sự kiệt sức và đau đớn; nhưng chưa bao giờ gương mặt ấy trông đẹp đẽ hơn lúc nầy. Diện mạo của Đấng Cứu Thế không hề biến dạng trước mặt kẻ thù. Mỗi nét trên gương mặt Ngài bày tỏ sự dịu dàng, sự nhẫn nhịn, và lòng thương xót dịu hiền nhất đối với những kẻ thù tàn ác của Ngài. Trong cử chỉ của Ngài không có sự yếu hèn nhút nhát, mà là sức mạnh và phẩm cách của lòng nhịn nhục lâu dài. Trái ngược hẳn là người tù đứng bên cạnh Ngài. Mỗi đường nét trên gương mặt Ba-ra-ba đều cho thấy hắn là một tên côn đồ chai lì đúng như bản chất của hắn. Sự tương phản ấy nói lên với từng người chứng kiến. Có vài người trong đám đông đang khóc. Khi họ nhìn Đức Chúa Giê-su, lòng họ tràn đầy cảm thương. Ngay cả các thầy tế lễ và những kẻ cai trị cũng bị thuyết phục rằng Ngài đúng là tất cả những gì Ngài đã tuyên xưng. DA 735.4

Những lính La-mã vây quanh Đấng Christ không phải tất cả đều chai lì; một số chăm chú nhìn vào gương mặt Ngài để tìm một bằng chứng cho thấy Ngài là kẻ phạm tội hay là người nguy hiểm. Thỉnh thoảng họ quay lại và ném cái nhìn khinh bỉ về phía Ba-ra-ba. Không cần phải nhìn sâu mới thấu suốt được hắn. Rồi họ lại quay sang Đấng đang bị xét xử. Họ nhìn Đấng chịu khổ thiêng liêng với lòng thương xót sâu xa. Sự cam chịu lặng lẽ của Đấng Christ in sâu cảnh tượng ấy vào tâm trí họ, không bao giờ phai mờ cho đến khi họ hoặc nhìn nhận Ngài là Đấng Christ, hoặc khước từ Ngài mà tự định lấy số phận của mình. DA 735.5

Phi-lát đầy kinh ngạc trước sự nhẫn nại không một lời than phiền của Đấng Cứu Thế. Ông không nghi ngờ rằng cảnh tượng Người nầy, đối chiếu với Ba-ra-ba, sẽ khơi dậy lòng cảm thương nơi người Do Thái. Nhưng ông không hiểu được lòng căm ghét cuồng tín của các thầy tế lễ đối với Ngài, là Đấng, vốn là Sự Sáng của thế gian, đã phơi bày sự tối tăm và sai lầm của họ. Họ đã kích động đám đông đến cơn cuồng nộ điên dại, và một lần nữa các thầy tế lễ, những kẻ cai trị và dân chúng lại cất tiếng kêu khủng khiếp ấy: “Đóng đinh Người trên cây thập tự, đóng đinh Người trên cây thập tự.” Cuối cùng, mất hết kiên nhẫn trước sự tàn nhẫn vô lý của họ, Phi-lát tuyệt vọng kêu lên: “Các ngươi hãy tự bắt lấy Người mà đóng đinh đi: vì ta không thấy Người có tội lỗi chi.” DA 736.1

Vị tổng đốc La-mã, dù đã quen với những cảnh tàn nhẫn, vẫn động lòng thương xót người tù đang chịu khổ, là Đấng dù bị kết án và đánh đòn, với trán rướm máu và lưng bị xé rách, vẫn giữ phong thái của một vị vua trên ngai. Nhưng các thầy tế lễ tuyên bố: “Chúng tôi có luật, chiếu theo luật đó nó phải chết, vì đã tự xưng là Con Đức Chúa Trời.” DA 736.2

Phi-lát giật mình. Ông không có quan niệm đúng đắn về Đấng Christ và sứ mạng của Ngài; nhưng ông có một niềm tin mơ hồ vào Đức Chúa Trời và vào những đấng cao trổi hơn loài người. Một ý tưởng từng thoáng qua trong tâm trí ông trước đây giờ đây càng rõ ràng hơn. Ông tự hỏi không biết có phải một đấng thiêng liêng đang đứng trước mặt mình chăng, khoác chiếc áo điều nhạo báng và đội mão gai. DA 736.3

Ông lại đi vào trường án, và nói cùng Đức Chúa Giê-su: “Ngươi từ đâu đến?” Nhưng Đức Chúa Giê-su chẳng trả lời chi. Đấng Cứu Thế đã từng nói chuyện cởi mở với Phi-lát, giãi bày sứ mạng của chính Ngài là làm chứng cho lẽ thật. Phi-lát đã coi thường ánh sáng ấy. Ông đã lạm dụng chức vụ cao trọng của một quan án bằng cách bỏ qua các nguyên tắc và quyền hạn của mình để chiều theo đòi hỏi của đám đông. Đức Chúa Giê-su không còn ánh sáng nào thêm cho ông nữa. Bực tức trước sự yên lặng của Ngài, Phi-lát ngạo mạn nói: DA 736.4

“Ngươi chẳng nói chi với ta hết sao? Ngươi há chẳng biết rằng ta có quyền đóng đinh ngươi, và có quyền tha ngươi sao?” DA 736.5

Đức Chúa Giê-su đáp rằng:

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Nếu chẳng phải từ trên cao đã ban cho ngươi, thì ngươi không có quyền gì trên ta; vậy nên, kẻ nộp ta cho ngươi là có tội trọng hơn nữa.” (Giăng 19:11)

DA 736.6

Như vậy, giữa nỗi đau đớn và buồn rầu mãnh liệt của mình, Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót đã tìm cách giảm nhẹ tối đa hành động của quan tổng đốc La-mã, người đã giao nộp Ngài để bị đóng đinh. Thật là một cảnh tượng để truyền lại cho thế gian qua mọi thời đại! Thật là một ánh sáng soi rọi vào tính cách của Đấng là Quan Án của cả trái đất! DA 736.7

Đức Chúa Giê-su phán: “Kẻ nộp ta cho ngươi có tội lớn hơn nữa.” Qua lời nầy, Đấng Christ muốn nói đến Cai-phe, người với tư cách thầy tế lễ thượng phẩm đã đại diện cho dân tộc Do Thái. Họ biết những nguyên tắc chi phối nhà cầm quyền La-mã. Họ đã có ánh sáng trong các lời tiên tri làm chứng về Đấng Christ, và trong chính những lời dạy dỗ cùng các phép lạ của Ngài. Các quan án Do Thái đã nhận được bằng chứng không thể chối cãi về thần tính của Đấng mà họ kết án tử hình. Và họ sẽ bị phán xét tùy theo ánh sáng họ đã nhận. DA 737.1

Tội lỗi lớn nhất và trách nhiệm nặng nề nhất thuộc về những kẻ đứng ở những địa vị cao nhất trong dân tộc, những người được giao phó các sứ mạng thiêng liêng mà họ đã hèn hạ phản bội. Phi-lát, Hê-rốt và quân lính La-mã tương đối không biết gì về Đức Chúa Giê-su. Họ tưởng làm vui lòng các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền bằng cách ngược đãi Ngài. Họ không có ánh sáng mà dân tộc Do Thái đã nhận lãnh dư dật như vậy. Nếu ánh sáng ấy được ban cho quân lính, thì họ đã không đối xử với Đấng Christ tàn nhẫn như họ đã làm. DA 737.2

Phi-lát lại đề nghị tha Đấng Cứu Thế. “Nhưng dân Giu-đa kêu lên rằng: Ví bằng quan tha người nầy, thì quan không phải là trung thần của Sê-sa.” Như vậy, những kẻ giả hình nầy giả vờ sốt sắng vì quyền lực của Sê-sa. Trong tất cả những kẻ chống đối ách thống trị La-mã, người Do Thái là cay đắng nhất. Khi nào an toàn để làm vậy, họ rất chuyên chế trong việc thực thi các đòi hỏi của dân tộc và tôn giáo mình; nhưng khi họ muốn đạt được mục đích tàn ác nào đó, họ lại đề cao quyền lực của Sê-sa. Để hoàn thành việc tiêu diệt Đấng Christ, họ sẵn lòng tỏ ra trung thành với ách thống trị ngoại bang mà họ ghét. DA 737.3

Họ tiếp tục: “Hễ ai tự xưng là vua, ấy là chống nghịch Sê-sa.” Lời nầy chạm đến điểm yếu của Phi-lát. Ông đang bị chính quyền La-mã nghi ngờ, và ông biết rằng một báo cáo như vậy sẽ là sự diệt vong cho ông. Ông biết rằng nếu người Do Thái bị cản trở, cơn thịnh nộ của họ sẽ quay sang ông. Họ sẽ không từ một việc gì để thực hiện sự báo thù của mình. Trước mắt ông đã có một thí dụ về sự dai dẳng mà họ tìm cách hại mạng sống của Đấng mà họ ghét vô cớ. DA 737.4

Phi-lát bèn ngồi vào ghế xét đoán, và một lần nữa đưa Đức Chúa Giê-su ra trước dân chúng mà nói rằng: “Vua các ngươi kia kìa!” Lại nghe tiếng kêu điên cuồng: “Hãy trừ hắn đi, hãy đóng đinh hắn trên thập tự giá.” Bằng giọng nói vang xa khắp nơi, Phi-lát hỏi: “Ta sẽ đóng đinh Vua các ngươi lên thập tự giá hay sao?” Nhưng từ những đôi môi phạm thượng, báng bổ thốt ra những lời: “Chúng tôi không có vua khác, chỉ có Sê-sa mà thôi.” DA 737.5

Như vậy, bằng cách chọn một nhà cầm quyền ngoại đạo, dân tộc Do Thái đã rút ra khỏi thể chế thần quyền. Họ đã chối bỏ Đức Chúa Trời làm vua mình. Từ đó họ không còn đấng giải cứu nào nữa. Họ không có vua nào ngoài Sê-sa. Đến nông nỗi ấy, các thầy tế lễ và các thầy dạy đã dẫn dắt dân chúng. Vì điều nầy, cùng với những hậu quả khủng khiếp theo sau, họ phải chịu trách nhiệm. Tội lỗi của một dân tộc và sự diệt vong của một dân tộc là do các nhà lãnh đạo tôn giáo gây ra. DA 737.6

“Phi-lát thấy mình không thắng nổi chi hết, mà sự ồn ào càng thêm, thì lấy nước rửa tay trước mặt thiên hạ, mà nói rằng: Ta không có tội về huyết của người công bình nầy; điều đó mặc kệ các ngươi.” Trong sự sợ hãi và tự lên án, Phi-lát nhìn Đấng Cứu Thế. Trong biển mặt người mênh mông đang ngẩng lên, chỉ một mình gương mặt Ngài là bình an. Quanh đầu Ngài dường như chiếu một ánh sáng dịu dàng. Phi-lát tự nhủ trong lòng, Người nầy là một vị thần. Quay sang đám đông, ông tuyên bố, Ta vô can về huyết của người. Hãy đem người đi mà đóng đinh. Nhưng hỡi các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền, hãy lưu ý, ta tuyên bố người là một người công bình. Cầu xin Đấng mà người xưng là Cha của mình hãy phán xét các ngươi chứ không phải ta về việc làm trong ngày hôm nay. Rồi ông nói với Đức Chúa Giê-su, Xin tha cho ta về hành động nầy; ta không thể cứu Ngài được. Và sau khi đã đánh đòn Đức Chúa Giê-su một lần nữa, ông giao Ngài để bị đóng đinh. DA 738.1

Phi-lát hết lòng mong muốn giải cứu Đức Chúa Giê-su. Nhưng ông thấy rằng mình không thể làm điều đó mà vẫn giữ được địa vị và danh dự của mình. Thay vì mất quyền lực thế gian của mình, ông đã chọn hi sinh một mạng sống vô tội. Biết bao người, để tránh thiệt hại hay đau khổ, cũng hi sinh nguyên tắc theo cách ấy. Lương tâm và bổn phận chỉ về một hướng, còn tư lợi lại chỉ về hướng khác. Dòng nước chảy mạnh về hướng sai trật, và kẻ thỏa hiệp với điều ác bị cuốn đi vào bóng tối dày đặc của tội lỗi. DA 738.2

Phi-lát đã nhượng bộ trước những đòi hỏi của đám đông. Thay vì liều mất địa vị của mình, ông đã giao nộp Đức Chúa Giê-su để bị đóng đinh. Nhưng bất chấp mọi sự phòng ngừa của ông, chính điều ông kinh sợ về sau đã giáng xuống ông. Các vinh dự của ông bị tước đoạt, ông bị cách chức khỏi địa vị cao trọng, và bị giày vò bởi sự ăn năn cùng lòng kiêu hãnh bị tổn thương, chẳng bao lâu sau sự đóng đinh, ông đã kết liễu đời mình. Như vậy, tất cả những ai thỏa hiệp với tội lỗi sẽ chỉ gặt được buồn rầu và diệt vong. “Có một con đường coi dường chánh đáng cho loài người; nhưng đến cuối cùng nó thành ra nẻo sự chết.” Châm Ngôn 14:12. DA 738.3

Khi Phi-lát tuyên bố mình vô tội về huyết của Đấng Christ, Cai-phe ngạo nghễ đáp lại: “Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi.” Những lời khủng khiếp ấy được các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền tiếp lấy, và được đám đông phụ họa bằng tiếng gầm vô nhân đạo. Cả đoàn dân đáp rằng: “Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi.” DA 738.4

Dân Y-sơ-ra-ên đã có sự lựa chọn của mình. Chỉ vào Đức Chúa Giê-su, họ đã nói: “Không phải người nầy, nhưng là Ba-ra-ba.” Ba-ra-ba, tên cướp và kẻ giết người, là đại diện của Sa-tan. Đấng Christ là đại diện của Đức Chúa Trời. Đấng Christ đã bị chối bỏ; Ba-ra-ba đã được chọn. Họ sẽ có Ba-ra-ba. Khi đưa ra sự lựa chọn nầy, họ đã chấp nhận kẻ từ ban đầu vốn là kẻ nói dối và kẻ giết người. Sa-tan là người lãnh đạo của họ. Với tư cách một dân tộc, họ sẽ hành động theo sự sai khiến của hắn. Họ sẽ làm các công việc của hắn. Họ phải chịu đựng ách thống trị của hắn. Dân tộc đã chọn Ba-ra-ba thay cho Đấng Christ ấy sẽ phải cảm nhận sự tàn ác của Ba-ra-ba cho đến tận cùng thời gian. DA 738.5

Nhìn vào Chiên Con bị đánh đập của Đức Chúa Trời, người Do Thái đã kêu lên: “Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi.” Tiếng kêu khủng khiếp ấy đã thấu lên ngai Đức Chúa Trời. Bản án ấy, mà chính họ đã tuyên bố trên mình, được ghi lại trên thiên đàng. Lời cầu xin ấy đã được nghe. Huyết của Con Đức Chúa Trời đổ trên con cái họ và con cái của con cái họ, một sự rủa sả đời đời. DA 739.1

Điều đó đã được ứng nghiệm cách khủng khiếp trong sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem. Điều đó đã được biểu lộ cách khủng khiếp trong tình trạng của dân tộc Do Thái suốt một ngàn tám trăm năm—một nhánh bị cắt lìa khỏi cây nho, một nhánh chết, không kết quả, để bị gom lại và đốt đi. Từ xứ nầy sang xứ khác khắp thế giới, từ thế kỷ nầy sang thế kỷ khác, chết, chết trong sự phạm pháp và tội lỗi! DA 739.2

Lời cầu nguyện ấy sẽ được ứng nghiệm cách khủng khiếp trong ngày phán xét lớn. Khi Đấng Christ trở lại thế gian một lần nữa, người ta sẽ không thấy Ngài như một tù nhân bị đám đông vây quanh. Lúc bấy giờ họ sẽ thấy Ngài là Vua của thiên đàng. Đấng Christ sẽ đến trong vinh quang của chính Ngài, trong vinh quang của Cha Ngài, và vinh quang của các thiên sứ thánh. Muôn muôn ngàn ngàn thiên sứ, là những con trai xinh đẹp và đắc thắng của Đức Chúa Trời, sở hữu vẻ đáng yêu và vinh quang tuyệt vời, sẽ hộ tống Ngài trên đường Ngài đi. Bấy giờ Ngài sẽ ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài, và muôn dân sẽ nhóm lại trước mặt Ngài. Lúc bấy giờ mọi mắt sẽ trông thấy Ngài, cả những kẻ đã đâm Ngài cũng vậy. Thay cho mão gai, Ngài sẽ đội mão vinh hiển—một mão trong mão. Thay cho chiếc áo bào màu tía xưa của vua chúa, Ngài sẽ được mặc bằng y phục trắng tinh, “đến nỗi chẳng có thợ phiếu nào ở thế gian phiếu được trắng như vậy.” Mác 9:3. Và trên áo tơi và trên đùi Ngài, có đề một danh, là “Vua của các vua và Chúa của các chúa.” Khải Huyền 19:16. Những kẻ đã chế nhạo và đánh Ngài sẽ có mặt tại đó. Các thầy tế lễ và các quan trưởng sẽ lại nhìn thấy cảnh tượng trong phòng xét xử. Mọi tình tiết sẽ hiện ra trước mắt họ, như thể được viết bằng những chữ lửa. Bấy giờ những kẻ đã cầu xin rằng, “Xin huyết người lại đổ trên chúng tôi và con cái chúng tôi,” sẽ nhận được lời đáp cho lời cầu xin của họ. Lúc bấy giờ cả thế gian sẽ biết và hiểu. Họ sẽ nhận ra mình—những tạo vật nghèo nàn, yếu đuối, hữu hạn—đã chiến đấu chống lại ai và chống lại điều gì. Trong cơn đau đớn và kinh hoàng khủng khiếp, họ sẽ kêu cùng núi và đá rằng, “Hãy rơi xuống chận trên chúng ta, đặng tránh khỏi mặt của Đấng ngự trên ngôi, và khỏi cơn giận của Chiên Con! Vì ngày thạnh nộ lớn của Ngài đã đến, còn ai đứng nổi?” Khải Huyền 6:16, 17. DA 739.3