Trước Mặt An-ne Và Tòa Án Cai-phe
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 26:57-75; Ma-thi-ơ 27:1; Mác 14:53-72; Mác 15:1; Lu-ca 22:54-71; Giăng 18:13-27. DA 698.1
Băng qua khe Xết-rôn, đi ngang những khu vườn và rừng ô-li-ve, rồi qua những con đường im lìm của thành phố đang ngủ yên, chúng vội vã giải Đức Chúa Giê-su đi. Lúc ấy đã quá nửa đêm, và tiếng la ó của đám đông hung hăng đi theo Ngài vang lên chát chúa giữa bầu không khí tĩnh mịch. Đấng Cứu Thế bị trói và bị canh giữ nghiêm ngặt, Ngài bước đi cách đau đớn. Nhưng trong sự hối hả nôn nóng, những kẻ bắt Ngài giải Ngài đến dinh của An-ne, vị thầy tế lễ thượng phẩm tiền nhiệm. DA 698.2
An-ne là người đứng đầu gia tộc thầy tế lễ đang hành sự, và vì kính nể tuổi tác của ông, dân chúng công nhận ông là thầy tế lễ thượng phẩm. Lời khuyên bảo của ông được tìm kiếm và thi hành như tiếng phán của Đức Chúa Trời. Trước hết, ông phải thấy Đức Chúa Giê-su làm tù nhân của quyền lực các thầy tế lễ. Ông phải hiện diện trong cuộc tra hỏi tù nhân, vì sợ rằng Cai-phe ít kinh nghiệm hơn có thể không đạt được mục đích mà họ đang theo đuổi. Mưu mô, sự xảo quyệt và tinh ranh của ông phải được sử dụng trong dịp này; bởi vì, dù thế nào đi nữa, việc kết án Đấng Christ phải được bảo đảm. DA 698.3
Đấng Christ sẽ bị xét xử cách chính thức trước Tòa Công Luận; nhưng trước An-ne thì Ngài phải chịu một cuộc xét xử sơ bộ. Dưới sự cai trị của La-mã, Tòa Công Luận không thể thi hành án tử hình. Họ chỉ có thể tra hỏi một tù nhân và đưa ra phán quyết, để được nhà chức trách La-mã chuẩn y. Vì vậy, cần phải đưa ra những lời cáo buộc chống lại Đấng Christ mà người La-mã xem là phạm tội. Cũng phải tìm ra một lời tố cáo có thể kết án Ngài dưới mắt người Do Thái. Không ít người trong vòng các thầy tế lễ và các quan trưởng đã bị sự dạy dỗ của Đấng Christ thuyết phục, và chỉ vì sợ bị khai trừ khỏi nhà hội mà họ không dám xưng nhận Ngài. Các thầy tế lễ vẫn nhớ rõ câu hỏi của Ni-cô-đem,
“Luật chúng ta há bắt tội một người nào chưa tra hỏi đến, và chưa biết điều người ấy đã làm, hay sao?” (Giăng 7:51)
Câu hỏi này lúc bấy giờ đã làm gián đoạn cuộc họp của hội đồng và phá vỡ kế hoạch của họ. Bây giờ Giô-sép người A-ri-ma-thê và Ni-cô-đem không bị triệu tập, nhưng có những người khác có thể dám lên tiếng bênh vực công lý. Cuộc xét xử phải được tiến hành sao cho khiến các thành viên của Tòa Công Luận hiệp lại chống Đấng Christ. Có hai lời cáo buộc mà các thầy tế lễ muốn giữ vững. Nếu có thể chứng minh Đức Chúa Giê-su là kẻ phạm thượng, Ngài sẽ bị người Do Thái kết án. Nếu Ngài bị kết tội phản loạn, điều đó sẽ bảo đảm việc người La-mã kết án Ngài. An-ne trước tiên cố gắng xác lập lời cáo buộc thứ hai. Ông tra hỏi Đức Chúa Giê-su về các môn đồ và đạo lý của Ngài, hy vọng tù nhân sẽ nói điều gì đó cho ông có chứng cứ để dựa vào. Ông nghĩ sẽ moi được lời nào đó chứng minh rằng Ngài đang tìm cách lập một hội kín, với mục đích dựng lên một vương quốc mới. Khi ấy các thầy tế lễ có thể giao Ngài cho người La-mã như một kẻ phá rối trật tự và kích động nổi loạn. DA 698.4
Đấng Christ đọc thấy ý đồ của thầy tế lễ như một quyển sách mở. Như thể đọc thấu tận đáy lòng kẻ tra hỏi mình, Ngài phủ nhận rằng giữa Ngài và những kẻ theo Ngài có bất cứ mối liên kết bí mật nào, hay rằng Ngài tụ họp họ cách kín đáo trong bóng tối để che giấu mưu đồ của Ngài. Ngài không có điều gì bí mật về mục đích hay đạo lý của Ngài. Ngài đáp: “Ta từng nói rõ ràng cùng thiên hạ; ta thường dạy dỗ trong nhà hội và đền thờ, là nơi hết thảy dân Do Thái nhóm lại, chớ ta chẳng từng nói kín giấu điều gì.” DA 699.1
Đấng Cứu Thế đối chiếu cách làm việc của chính Ngài với phương cách của những kẻ tố cáo Ngài. Suốt nhiều tháng họ đã săn lùng Ngài, tìm cách gài bẫy Ngài và đem Ngài ra trước một tòa án bí mật, nơi họ có thể dùng lời khai dối để đạt được điều mà bằng phương tiện chính đáng họ không thể nào đạt được. Bây giờ họ đang thực hiện ý đồ của mình. Việc bắt giữ lúc nửa đêm bởi một đám đông, sự nhạo báng và ngược đãi trước khi Ngài bị kết án, hay thậm chí trước khi bị buộc tội, đó là cách làm việc của họ, chứ không phải của Ngài. Hành động của họ vi phạm luật pháp. Chính luật lệ của họ tuyên bố rằng mọi người phải được coi là vô tội cho đến khi bị chứng minh là có tội. Theo chính luật lệ của họ, các thầy tế lễ đáng bị kết án. DA 699.2
Quay sang kẻ tra hỏi mình, Đức Chúa Giê-su phán: “Sao ngươi gạn hỏi ta?” Chẳng phải các thầy tế lễ và các quan trưởng đã sai do thám rình theo dõi mọi hành động của Ngài và báo cáo từng lời Ngài nói sao? Chẳng phải những kẻ này đã có mặt trong mọi cuộc nhóm họp của dân chúng, và đem về cho các thầy tế lễ thông tin về mọi lời nói và việc làm của Ngài sao? Đức Chúa Giê-su đáp: “Hãy hỏi những kẻ đã nghe ta nói điều chi với họ; những kẻ đó biết điều ta đã nói.” DA 699.3
An-ne nín lặng trước câu trả lời dứt khoát. Sợ rằng Đấng Christ sẽ nói điều gì đó về cách hành xử của mình mà ông muốn che giấu, ông không nói thêm gì với Ngài lúc bấy giờ. Một viên chức của ông, đầy giận dữ khi thấy An-ne bị làm cho nín lặng, đã đánh vào mặt Đức Chúa Giê-su, mà rằng: “Ngươi dám đối đáp cùng thầy tế lễ thượng phẩm như vậy sao?” DA 700.1
Đấng Christ điềm tĩnh đáp: “Ví thử ta nói quấy, hãy chỉ chỗ quấy cho ta xem; nhược bằng ta nói phải, làm sao ngươi đánh ta?” Ngài không thốt ra lời nóng nảy báo thù nào. Câu trả lời điềm tĩnh của Ngài đến từ một tấm lòng vô tội, nhẫn nại và dịu dàng, không hề bị chọc giận. DA 700.2
Đấng Christ chịu đau đớn cùng tột dưới sự ngược đãi và sỉ nhục. Từ tay những kẻ mà chính Ngài đã tạo nên, và vì họ Ngài đang dâng một sự hy sinh vô hạn, Ngài nhận lãnh mọi sự lăng nhục. Và Ngài chịu khổ tương xứng với sự trọn vẹn của sự thánh khiết Ngài và sự gớm ghét của Ngài đối với tội lỗi. Việc Ngài bị xét xử bởi những kẻ hành động như loài quỷ dữ là một sự hy sinh không ngừng đối với Ngài. Bị vây quanh bởi những con người dưới sự điều khiển của Sa-tan là điều ghê tởm đối với Ngài. Và Ngài biết rằng chỉ trong khoảnh khắc, bằng sự lóe sáng của quyền năng thiêng liêng, Ngài có thể đánh ngã những kẻ hành hạ tàn nhẫn xuống bụi đất. Điều này khiến sự thử thách càng khó chịu đựng hơn. DA 700.3
Người Do Thái mong chờ một Đấng Mê-si sẽ tỏ mình ra trong sự phô trương bên ngoài. Họ trông đợi Ngài, bằng một sự lóe sáng của ý chí áp đảo, sẽ thay đổi dòng tư tưởng của loài người và buộc họ phải thừa nhận quyền tối thượng của Ngài. Họ tin rằng nhờ vậy Ngài sẽ bảo đảm sự tôn cao chính mình và thỏa mãn những hy vọng đầy tham vọng của họ. Vậy nên khi Đấng Christ bị đối xử cách khinh miệt, một cám dỗ mạnh mẽ đến với Ngài để bày tỏ bản tánh thiêng liêng của Ngài. Bằng một lời, một cái nhìn, Ngài có thể buộc những kẻ bắt bớ Ngài phải thừa nhận rằng Ngài là Chúa cao hơn các vua chúa và các quan trưởng, các thầy tế lễ và đền thờ. Nhưng nhiệm vụ khó khăn của Ngài là giữ vững vị trí mà Ngài đã chọn, là làm một với nhân loại. DA 700.4
Các thiên sứ trên trời chứng kiến từng hành động chống lại Đấng Thống Lãnh yêu dấu của họ. Họ khao khát giải cứu Đấng Christ. Dưới quyền Đức Chúa Trời, các thiên sứ là toàn năng. Có một lần, vâng theo mạng lệnh của Đấng Christ, họ đã giết một trăm tám mươi lăm ngàn người trong quân đội A-si-ri chỉ trong một đêm. Các thiên sứ, khi nhìn thấy cảnh sỉ nhục trong cuộc xét xử Đấng Christ, có thể dễ dàng biết bao bày tỏ sự phẫn nộ của họ bằng cách tiêu diệt những kẻ thù của Đức Chúa Trời! Nhưng họ không được lệnh làm như vậy. Đấng có thể đã định cho kẻ thù của Ngài phải chết lại nhẫn nhịn trước sự tàn nhẫn của họ. Tình yêu của Ngài dành cho Đức Chúa Cha, và lời hứa của Ngài, đã lập từ buổi sáng thế, rằng sẽ trở nên Đấng Mang Tội Lỗi, đã khiến Ngài chịu đựng không một lời than vãn sự đối xử thô bạo của những kẻ mà Ngài đã đến để cứu. Một phần sứ mạng của Ngài là gánh chịu, trong nhân tánh của Ngài, mọi lời chế nhạo và ngược đãi mà loài người có thể chất chồng trên Ngài. Niềm hy vọng duy nhất của nhân loại nằm trong sự phục tùng này của Đấng Christ đối với mọi điều mà Ngài có thể chịu đựng từ tay và lòng của loài người. DA 700.5
Đấng Christ không hề nói điều gì có thể tạo lợi thế cho những kẻ tố cáo Ngài; thế mà Ngài vẫn bị trói, để tỏ ra rằng Ngài đã bị kết án. Tuy nhiên, phải có một vẻ giả vờ về công lý. Cần phải có hình thức của một cuộc xét xử hợp pháp. Nhà chức trách quyết tâm xúc tiến điều này cho nhanh. Họ biết lòng kính trọng mà dân chúng dành cho Đức Chúa Giê-su, và sợ rằng nếu tin về việc bắt giữ lan ra, người ta sẽ tìm cách giải cứu Ngài. Lại nữa, nếu cuộc xét xử và hành hình không được tiến hành ngay lập tức, sẽ có sự trì hoãn một tuần lễ vì lễ Vượt Qua đang được cử hành. Điều này có thể làm hỏng kế hoạch của họ. Trong việc bảo đảm sự kết án Đức Chúa Giê-su, họ phần lớn trông cậy vào tiếng la ó của đám đông, nhiều người trong số đó là đám hạ lưu của thành Giê-ru-sa-lem. Nếu phải trì hoãn một tuần lễ, sự kích động sẽ lắng xuống, và một phản ứng ngược có thể xảy ra. Phần tử tốt hơn trong dân chúng sẽ được thức tỉnh để bênh vực Đấng Christ; nhiều người sẽ tiến lên làm chứng minh oan cho Ngài, đem ra ánh sáng những công việc lớn lao Ngài đã làm. Điều này sẽ khơi dậy sự phẫn nộ của dân chúng chống lại Tòa Công Luận. Hành động của họ sẽ bị lên án, và Đức Chúa Giê-su sẽ được trả tự do, để nhận lãnh sự tôn kính mới từ quần chúng. Vì vậy các thầy tế lễ và các quan trưởng quyết định rằng trước khi ý đồ của họ bị bại lộ, Đức Chúa Giê-su phải bị nộp vào tay người La-mã. DA 703.1
Nhưng trước tiên, họ cần phải tìm ra một lời buộc tội. Cho đến lúc này họ vẫn chưa đạt được gì cả. An-ne ra lệnh giải Đức Chúa Giê-su đến cho Cai-phe. Cai-phe thuộc phái Sa-đu-sê, một số người trong phái này nay là những kẻ thù căm phẫn nhất của Đức Chúa Giê-su. Bản thân Cai-phe, dù thiếu sức mạnh về tính cách, nhưng cũng hoàn toàn khắc nghiệt, vô tâm và bất chấp như An-ne vậy. Ông sẽ không bỏ qua bất cứ phương cách nào để tiêu diệt Đức Chúa Giê-su. Bấy giờ là lúc rạng sáng, trời còn rất tối; dưới ánh đuốc và đèn lồng, toán lính có vũ trang cùng với người tù của họ tiến về cung điện thầy tế lễ thượng phẩm. Tại đây, trong khi các thành viên của Tòa Công Luận đang tụ họp lại, An-ne và Cai-phe lại tra hỏi Đức Chúa Giê-su, nhưng không thành công. DA 703.2
Khi hội đồng đã nhóm họp trong phòng xử án, Cai-phe ngồi vào ghế chủ tọa. Hai bên là các quan tòa, cùng những người đặc biệt quan tâm đến phiên xét xử. Các binh lính La-mã được bố trí trên bục bên dưới ngai. Dưới chân ngai là Đức Chúa Giê-su đang đứng. Ánh mắt của cả đám đông đều đổ dồn vào Ngài. Sự kích động dâng cao tột độ. Trong toàn thể đám đông, chỉ một mình Ngài là bình tĩnh và an nhiên. Chính bầu không khí bao quanh Ngài dường như thấm đẫm một ảnh hưởng thánh khiết. DA 703.3
Cai-phe vẫn xem Đức Chúa Giê-su là đối thủ của mình. Sự háo hức của dân chúng muốn nghe Đấng Cứu Thế, và sự sẵn lòng dường như thấy được của họ để tiếp nhận lời dạy của Ngài, đã khơi dậy lòng ganh tị cay đắng nơi thầy tế lễ thượng phẩm. Nhưng khi Cai-phe giờ đây nhìn vào người tù, ông sửng sốt với lòng cảm phục trước phong thái cao quý và uy nghi của Ngài. Một niềm xác tín dâng lên trong lòng ông rằng Người này có cùng bản tính với Đức Chúa Trời. Ngay khoảnh khắc sau đó, ông khinh miệt xua đuổi ý nghĩ ấy. Lập tức người ta nghe giọng ông cất lên với những âm điệu chế giễu, kiêu ngạo, đòi Đức Chúa Giê-su phải làm một trong những phép lạ vĩ đại của Ngài trước mặt họ. Nhưng lời ông rơi vào tai Đấng Cứu Thế như thể Ngài chẳng nghe thấy. Dân chúng so sánh thái độ kích động và hiểm độc của An-ne và Cai-phe với phong thái điềm tĩnh, uy nghiêm của Đức Chúa Giê-su. Ngay cả trong tâm trí của đám đông chai lì ấy cũng nảy lên câu hỏi: Lẽ nào người có dáng vẻ tựa như thần thánh này lại bị kết án như một kẻ tội phạm? DA 704.1
Cai-phe, nhận thấy ảnh hưởng đang lan rộng, vội vàng thúc đẩy phiên xét xử. Những kẻ thù của Đức Chúa Giê-su rơi vào tình thế hết sức bối rối. Chúng quyết tâm bảo đảm việc kết án Ngài, nhưng lại không biết phải làm thế nào để đạt được điều đó. Các thành viên của hội đồng chia rẽ giữa phái Pha-ri-si và phái Sa-đu-sê. Giữa họ tồn tại sự thù địch cay đắng và tranh cãi; có những điểm tranh chấp nhất định mà họ không dám đụng đến vì sợ gây ra cãi vã. Chỉ với vài lời, Đức Chúa Giê-su có thể đã kích động thành kiến của họ chống lại nhau, và như vậy đã có thể chuyển hướng cơn thịnh nộ của họ khỏi chính Ngài. Cai-phe biết điều này, và ông muốn tránh khuấy động một cuộc tranh chấp. Có vô số nhân chứng để chứng minh rằng Đấng Christ đã lên án các thầy tế lễ và các thầy thông giáo, rằng Ngài đã gọi họ là kẻ giả hình và kẻ giết người; nhưng đưa ra lời chứng này là không có lợi. Người Sa-đu-sê trong những cuộc tranh chấp gay gắt với người Pha-ri-si cũng đã dùng những lời lẽ tương tự với họ. Và lời chứng như vậy chẳng có chút trọng lượng nào đối với người La-mã, là những kẻ vốn cũng ghê tởm sự khoe khoang của người Pha-ri-si. Có nhiều bằng chứng dồi dào rằng Đức Chúa Giê-su đã coi thường những truyền thống của người Do Thái, và đã nói một cách bất kính về nhiều nghi lễ của họ; nhưng về vấn đề truyền thống thì người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê lại đối nghịch nhau gay gắt; và bằng chứng này cũng chẳng có trọng lượng gì đối với người La-mã. Những kẻ thù của Đấng Christ không dám buộc tội Ngài phạm ngày Sa-bát, e rằng một cuộc tra xét sẽ phơi bày tính chất công việc của Ngài. Nếu những phép lạ chữa lành của Ngài được đưa ra ánh sáng, thì chính mục đích của các thầy tế lễ sẽ bị phá hỏng. DA 705.1
Những nhân chứng giả đã được mua chuộc để buộc tội Đức Chúa Giê-su xúi giục nổi loạn và tìm cách thiết lập một chính quyền riêng. Nhưng lời chứng của họ hóa ra mơ hồ và mâu thuẫn. Khi bị tra xét, chính họ lại nói trái với lời khai của mình. DA 705.2
Vào lúc đầu chức vụ của Ngài, Đấng Christ đã phán: “Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại.” Trong ngôn ngữ ẩn dụ của lời tiên tri, Ngài đã báo trước về sự chết và sự sống lại của chính Ngài như vậy.
“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Hãy phá đền thờ này đi, trong ba ngày ta sẽ dựng lại! Nhưng Ngài nói về đền thờ của thân thể mình.” (Giăng 2:19,21)
Những lời này người Do Thái đã hiểu theo nghĩa đen, như chỉ về đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. Trong tất cả những điều Đấng Christ đã phán, các thầy tế lễ không thể tìm được gì để dùng chống lại Ngài ngoài lời này. Bằng cách xuyên tạc những lời này, họ hy vọng giành được lợi thế. Người La-mã đã tham gia vào việc xây dựng lại và trang hoàng đền thờ, và họ rất tự hào về nó; bất cứ sự khinh thường nào tỏ ra đối với đền thờ chắc chắn sẽ khơi dậy sự phẫn nộ của họ. Trên điểm này, người La-mã và người Do Thái, người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê, có thể gặp nhau; vì tất cả đều hết sức tôn kính đền thờ. Về điểm này, người ta tìm được hai nhân chứng mà lời chứng không mâu thuẫn như những kẻ khác. Một trong số họ, kẻ đã được mua chuộc để buộc tội Đức Chúa Giê-su, tuyên bố: “Người này nói: Ta có thể phá đền thờ của Đức Chúa Trời, rồi xây lại trong ba ngày.” Lời của Đấng Christ đã bị xuyên tạc như vậy. Nếu chúng được thuật lại chính xác như Ngài đã phán, thì chúng sẽ không đủ để kết án Ngài, ngay cả bởi Tòa Công Luận. Giả sử Đức Chúa Giê-su chỉ là một con người thuần túy, như người Do Thái khẳng định, thì lời tuyên bố của Ngài chỉ tỏ ra một tinh thần vô lý, khoác lác, nhưng không thể bị diễn giải thành lời phạm thượng. Ngay cả khi bị các nhân chứng giả xuyên tạc, lời của Ngài cũng chẳng chứa điều gì để người La-mã xem là một tội đáng chết. DA 705.3
Đức Chúa Giê-su kiên nhẫn lắng nghe những lời chứng mâu thuẫn nhau. Ngài chẳng thốt một lời nào để tự bào chữa. Cuối cùng, những kẻ tố cáo Ngài rối bời, lúng túng, và phát điên lên. Phiên xét xử chẳng tiến triển được gì; dường như những mưu toan của chúng sắp thất bại. Cai-phe tuyệt vọng. Còn lại một phương sách cuối cùng; Đấng Christ phải bị buộc tự kết án chính mình. Thầy tế lễ thượng phẩm bật dậy khỏi ghế xử án, mặt méo xệch vì giận dữ, giọng nói và cử chỉ của ông tỏ rõ rằng nếu được, ông sẽ đánh ngã người tù đứng trước mặt mình. Ông kêu lên: “Ngươi chẳng đáp lại gì sao? Những người này làm chứng nghịch cùng ngươi là sao?” DA 706.1
Đức Chúa Giê-su nín lặng.
“Người bị hiếp đáp, nhưng khi chịu sự khốn khổ chẳng hề mở miệng. Như chiên con bị dắt đến hàng làm thịt, như chiên câm ở trước mặt kẻ hớt lông, người chẳng từng mở miệng.” (Ê-sai 53:7)
DA 706.2
Cuối cùng, Cai-phe, giơ tay phải lên trời, nói với Đức Chúa Giê-su bằng hình thức một lời thề trọng thể: “Ta khiến ngươi chỉ Đức Chúa Trời hằng sống mà thề, hãy nói cho chúng ta biết ngươi có phải là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời chăng?” DA 706.3
Trước lời kêu gọi này, Đấng Christ không thể giữ im lặng. Có lúc nên nín lặng, và có lúc nên lên tiếng. Ngài đã không nói cho đến khi bị tra hỏi trực tiếp. Ngài biết rằng trả lời lúc này sẽ khiến sự chết của Ngài trở nên chắc chắn. Nhưng lời kêu gọi được đưa ra bởi thẩm quyền cao nhất được công nhận của dân tộc, và nhân danh Đấng Chí Cao. Đấng Christ sẽ không bỏ qua việc tỏ lòng tôn trọng đúng mực đối với luật pháp. Hơn nữa, chính mối quan hệ của Ngài với Đức Chúa Cha đã bị đặt thành nghi vấn. Ngài phải tuyên bố rõ ràng về bản tính và sứ mạng của Ngài. Đức Chúa Giê-su đã phán cùng các môn đồ Ngài:
“Bởi đó, ai xưng ta ra trước mặt thiên hạ, thì ta cũng sẽ xưng họ trước mặt Cha ta ở trên trời;” (Ma-thi-ơ 10:32)
Giờ đây, bằng chính tấm gương của mình, Ngài lặp lại bài học ấy. DA 706.4
Mọi tai đều lắng nghe, và mọi mắt đều dán vào gương mặt Ngài khi Ngài đáp: “Thật như lời.” Một luồng ánh sáng thiên thượng dường như chiếu rọi gương mặt nhợt nhạt của Ngài khi Ngài nói thêm: “Vả lại, ta nói cùng các ngươi, về sau các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.” DA 707.1
Trong một khoảnh khắc, thần tánh của Đấng Christ lóe sáng xuyên qua lớp vỏ nhân tánh của Ngài. Thầy tế lễ thượng phẩm run sợ trước ánh mắt thấu suốt của Đấng Cứu Thế. Cái nhìn ấy dường như đọc thấu những ý nghĩ thầm kín của ông, và thiêu đốt vào tận tâm can. Suốt quãng đời sau này, ông không bao giờ quên được cái nhìn dò xét ấy của Con Đức Chúa Trời bị bắt bớ. DA 707.2
Đức Chúa Giê-su phán: “Về sau các ngươi sẽ thấy Con Người ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời, và ngự trên mây từ trời mà xuống.” Trong những lời này, Đấng Christ đã trình bày sự đảo ngược của cảnh tượng đang diễn ra lúc bấy giờ. Ngài, là Chúa của sự sống và vinh hiển, sẽ ngồi bên hữu Đức Chúa Trời. Ngài sẽ là quan án của cả trái đất, và từ phán quyết của Ngài sẽ không có sự kháng cáo nào. Bấy giờ mọi điều bí ẩn sẽ được đặt dưới ánh sáng từ gương mặt Đức Chúa Trời, và sự phán xét sẽ giáng trên mỗi người tùy theo việc làm của họ. DA 707.3
Những lời của Đấng Christ làm thầy tế lễ thượng phẩm giật mình. Ý tưởng rằng sẽ có sự sống lại của kẻ chết, khi mọi người sẽ đứng trước tòa án của Đức Chúa Trời để được thưởng tùy theo việc làm của mình, là một ý tưởng kinh hoàng đối với Cai-phe. Ông không muốn tin rằng trong tương lai mình sẽ nhận lấy bản án tùy theo việc làm của mình. Trước tâm trí ông hiện lên như một bức tranh toàn cảnh những khung cảnh của sự phán xét cuối cùng. Trong một thoáng, ông thấy cảnh tượng đáng sợ của những ngôi mộ trả lại người chết, cùng với những điều bí mật mà ông đã hy vọng sẽ được giấu kín mãi mãi. Trong một thoáng, ông cảm thấy như đang đứng trước Đấng Phán Xét đời đời, mà con mắt thấy mọi sự đang đọc thấu linh hồn ông, đem ra ánh sáng những điều huyền bí tưởng chừng đã được chôn vùi cùng với kẻ chết. DA 708.1
Khung cảnh ấy biến khỏi tầm nhìn của thầy tế lễ. Những lời của Đấng Christ cắt sâu vào lòng ông, một người Sa-đu-sê. Cai-phe đã chối bỏ giáo lý về sự sống lại, sự phán xét, và một đời sống tương lai. Giờ đây ông phát điên bởi cơn cuồng nộ của Sa-tan. Lẽ nào người này, một tù nhân đứng trước ông, lại dám công kích những lý thuyết mà ông yêu chuộng nhất? Xé áo mình ra để dân chúng có thể thấy nỗi kinh hoàng giả vờ của ông, ông đòi rằng không cần thủ tục gì thêm, hãy kết tội tù nhân vì tội phạm thượng. Ông nói:
“Bấy giờ thầy cả thượng phẩm xé áo mình ra mà rằng: Chúng ta có cần kiếm chứng cớ khác nữa làm chi? Các ngươi có nghe lời lộng ngôn chăng? Các ngươi nghĩ thế nào: Ai nấy đều đoán Ngài đáng chết.” (Mác 14:63-64)
Và tất cả họ đều kết án Ngài. DA 708.2
Sự xác tín hòa lẫn với cơn thịnh nộ đã khiến Cai-phe làm điều ông đã làm. Ông giận dữ với chính mình vì đã tin những lời của Đấng Christ, và thay vì xé lòng mình trong cảm thức sâu sắc về lẽ thật, và thừa nhận Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si, ông lại xé áo tế lễ của mình trong sự chống cự quyết liệt. Hành động này mang ý nghĩa sâu xa. Cai-phe chẳng mấy nhận thức được ý nghĩa của nó. Trong hành động này, làm ra để tác động đến các quan xét và bảo đảm sự kết án Đấng Christ, thầy tế lễ thượng phẩm đã tự kết án chính mình. Theo luật pháp Đức Chúa Trời, ông đã bị truất khỏi chức tế lễ. Ông đã tự tuyên án tử hình cho chính mình. DA 708.3
Một thầy tế lễ thượng phẩm không được xé áo mình. Theo luật pháp Lê-vi, điều này bị cấm dưới hình phạt tử hình. Trong bất cứ hoàn cảnh nào, vào bất cứ dịp nào, thầy tế lễ cũng không được xé áo mình. Theo phong tục giữa vòng người Do Thái, người ta xé áo khi có bạn hữu qua đời, nhưng các thầy tế lễ không được giữ phong tục này. Đấng Christ đã ban mạng lệnh rõ ràng cho Môi-se về điều này.
“Đoạn, Môi-se nói cùng A-rôn, Ê-lê-a-sa và Y-tha-ma, hai con trai người, mà rằng: Các ngươi chớ để đầu trần và chớ xé áo mình, e khi phải chết và Đức Giê-hô-va nổi giận cùng cả hội chúng chăng; nhưng anh em các ngươi, là cả nhà Y-sơ-ra-ên, phải nên khóc vì cớ lửa thiêu hóa mà Đức Giê-hô-va nổi phừng lên.” (Lê-vi Ký 10:6)
DA 708.4
Mọi thứ mà thầy tế lễ mặc phải nguyên vẹn và không tì vết. Qua những bộ lễ phục đẹp đẽ ấy, tính cách của Đấng phản ảnh vĩ đại là Đức Chúa Giê-su Christ được tiêu biểu. Không gì khác ngoài sự trọn vẹn, trong trang phục và thái độ, trong lời nói và tinh thần, có thể được Đức Chúa Trời chấp nhận. Ngài là thánh, và sự vinh hiển cùng sự trọn vẹn của Ngài phải được tiêu biểu bằng sự phục vụ ở trần gian. Không gì khác ngoài sự trọn vẹn có thể tiêu biểu cách xứng đáng cho sự thánh khiết của sự phục vụ trên trời. Con người hữu hạn có thể xé lòng mình bằng cách bày tỏ một tinh thần ăn năn và khiêm nhường. Điều này Đức Chúa Trời sẽ thấy rõ. Nhưng không được xé áo tế lễ, vì điều này sẽ làm hư hỏng sự tiêu biểu cho những điều thuộc về trời. Thầy tế lễ thượng phẩm nào dám xuất hiện trong chức vụ thánh, và tham gia vào sự phục vụ nơi đền thánh, với chiếc áo bị xé, thì bị xem như đã tự cắt đứt mình khỏi Đức Chúa Trời. Bằng việc xé áo mình, ông tự cắt mình khỏi tư cách của một người tiêu biểu. Ông không còn được Đức Chúa Trời chấp nhận như một thầy tế lễ đang thi hành chức vụ. Cách hành xử này, như Cai-phe đã bày tỏ, cho thấy dục vọng con người, sự bất toàn của con người. DA 709.1
Bằng việc xé áo mình, Cai-phe đã làm cho luật pháp Đức Chúa Trời ra vô hiệu, để theo truyền thống của loài người. Một luật lệ do con người đặt ra quy định rằng trong trường hợp phạm thượng, thầy tế lễ có thể xé áo mình trong sự kinh hoàng trước tội lỗi, và không bị kể là có tội. Như vậy, luật pháp Đức Chúa Trời đã bị làm cho vô hiệu bởi luật lệ của loài người. DA 709.2
Mỗi hành động của thầy tế lễ thượng phẩm đều được dân chúng chăm chú theo dõi; và Cai-phe nghĩ rằng để gây ấn tượng, ông sẽ phô bày lòng kính sợ của mình. Nhưng trong hành động này, được thiết kế như một lời tố cáo chống lại Đấng Christ, ông đang lăng mạ Đấng mà Đức Chúa Trời đã phán:
“Trước mặt người, ngươi khá giữ mình, phải nghe theo lời, chớ nên phản nghịch; người sẽ chẳng tha tội ngươi đâu, vì danh ta ngự trong mình người.” (Xuất Ê-díp-tô Ký 23:21)
Chính ông đang phạm tội phạm thượng. Đứng dưới sự kết án của Đức Chúa Trời, ông tuyên án Đấng Christ là kẻ phạm thượng. DA 709.3
Khi Cai-phe xé áo mình, hành động ấy biểu thị vị trí mà dân tộc Do Thái với tư cách một dân tộc từ đó về sau sẽ chiếm giữ đối với Đức Chúa Trời. Dân tộc một thời được Đức Chúa Trời yêu thích đang tự tách mình khỏi Ngài, và đang nhanh chóng trở thành một dân tộc bị Đức Giê-hô-va từ bỏ. Khi Đấng Christ trên thập tự giá kêu lớn: “Mọi việc đã được trọn”
“Khi Đức Chúa Giê-su chịu lấy giấm ấy rồi, bèn phán rằng: Mọi việc đã được trọn; rồi Ngài gục đầu mà trút linh hồn.” (Giăng 19:30)
và bức màn của đền thờ bị xé làm hai, Đấng Quan Phòng Thánh tuyên bố rằng dân Do Thái đã khước từ Đấng là sự phản ảnh của mọi hình bóng của họ, là thực chất của mọi điều mờ ảo của họ. Y-sơ-ra-ên bị lìa khỏi Đức Chúa Trời. Lúc ấy, Cai-phe quả có lý do để xé chiếc áo chức vụ của mình, vốn biểu thị rằng ông tự nhận là người tiêu biểu cho Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm vĩ đại; vì giờ đây những chiếc áo ấy không còn ý nghĩa gì đối với ông hay đối với dân chúng. Thầy tế lễ thượng phẩm quả có lý do để xé áo mình trong sự kinh hoàng cho chính ông và cho dân tộc. DA 709.4
Tòa Công Luận đã tuyên bố Đức Chúa Giê-su đáng tội chết; nhưng việc xét xử một tù nhân vào ban đêm là trái với luật pháp Do Thái. Trong sự kết án hợp pháp, không gì có thể được thực hiện ngoại trừ giữa ban ngày và trước một phiên họp đầy đủ của hội đồng. Mặc dầu vậy, Đấng Cứu Thế giờ đây bị đối xử như một tội phạm đã bị kết án, và bị giao cho những kẻ thấp hèn và đê tiện nhất của loài người ngược đãi. Dinh của thầy tế lễ thượng phẩm bao quanh một sân lộ thiên nơi quân lính và đám đông đã tụ tập. Băng qua sân này, Đức Chúa Giê-su bị dẫn đến phòng canh gác, khắp tứ phía gặp phải sự chế nhạo về việc Ngài xưng mình là Con Đức Chúa Trời. Chính những lời của Ngài: “ngồi bên hữu quyền phép” và “ngự trên mây trời mà đến” bị lặp lại cách giễu cợt. Trong khi ở phòng canh gác, chờ đợi cuộc xét xử hợp pháp, Ngài không được bảo vệ. Đám đông dốt nát đã thấy sự tàn nhẫn mà Ngài bị đối xử trước hội đồng, và từ đó họ tự cho phép mình bày tỏ tất cả những yếu tố ma quỷ trong bản chất họ. Chính sự cao quý và phong thái như Đức Chúa Trời của Đấng Christ đã chọc tức họ đến điên cuồng. Sự nhu mì của Ngài, sự vô tội của Ngài, sự nhẫn nại uy nghiêm của Ngài, đã làm cho họ tràn đầy lòng căm ghét bắt nguồn từ Sa-tan. Lòng thương xót và sự công bình bị chà đạp. Chưa từng có tội phạm nào bị đối xử cách vô nhân đạo như Con Đức Chúa Trời. DA 710.1
Nhưng một nỗi đau đớn cay nghiệt hơn xé nát lòng Đức Chúa Giê-su; cú đánh gây ra nỗi đau sâu xa nhất không bàn tay kẻ thù nào có thể giáng xuống. Trong khi Ngài đang chịu sự nhạo báng của một cuộc thẩm vấn trước Cai-phe, Đấng Christ đã bị chối bỏ bởi một trong các môn đồ của chính Ngài. DA 710.2
Sau khi bỏ Thầy mình trong vườn, hai môn đồ đã liều theo dõi từ xa đám đông đang áp giải Đức Chúa Giê-su. Hai môn đồ này là Phi-e-rơ và Giăng. Các thầy tế lễ nhận ra Giăng là một môn đồ nổi tiếng của Đức Chúa Giê-su, và cho ông vào sảnh đường, hy vọng rằng khi ông chứng kiến sự sỉ nhục của Lãnh Tụ mình, ông sẽ khinh thường ý tưởng rằng một người như vậy lại là Con Đức Chúa Trời. Giăng nói giúp cho Phi-e-rơ, và xin được cho ông cũng vào. DA 710.3
Trong sân người ta đã nhóm một đám lửa; vì đó là giờ lạnh nhất của đêm, ngay trước lúc rạng đông. Một nhóm người quây quần bên đám lửa, và Phi-e-rơ đã ngạo mạn chen vào ngồi với họ. Ông không muốn bị nhận ra là môn đồ của Đức Chúa Giê-su. Bằng cách lẫn lộn cách thờ ơ với đám đông, ông hy vọng được xem như một trong những người đã dẫn Đức Chúa Giê-su đến sảnh đường. DA 710.4
Nhưng khi ánh lửa lóe lên mặt Phi-e-rơ, người đàn bà canh cửa nhìn ông cách dò xét. Bà đã để ý thấy ông vào cùng với Giăng, bà nhận thấy vẻ chán nản trên mặt ông, và nghĩ rằng có lẽ ông là một môn đồ của Đức Chúa Giê-su. Bà là một trong những đầy tớ trong nhà Cai-phe, và bà tò mò muốn biết. Bà nói với Phi-e-rơ: “Ngươi cũng há chẳng phải là một trong các môn đồ của người ấy sao?” Phi-e-rơ giật mình và bối rối; ánh mắt của cả nhóm người lập tức đổ dồn vào ông. Ông giả vờ không hiểu bà; nhưng bà cứ khăng khăng, và nói với những người chung quanh rằng người này đã từng ở với Đức Chúa Giê-su. Phi-e-rơ cảm thấy buộc phải trả lời, và giận dữ nói: “Hỡi đàn bà kia, ta không biết người đó.” Đây là lời chối thứ nhất, và lập tức gà gáy. Ôi Phi-e-rơ, sao chóng hổ thẹn về Thầy mình đến vậy! Sao chóng chối Chúa mình đến vậy! DA 710.5
Môn đồ Giăng, khi bước vào dinh xử án, không cố che giấu sự thật rằng ông là một người theo Đức Chúa Giê-su. Ông không hòa lẫn với đám đông thô lỗ đang phỉ báng Thầy mình. Ông không bị tra hỏi, vì ông không giả vờ làm một con người khác để rồi tự đặt mình vào vòng nghi ngờ. Ông tìm một góc khuất, an toàn khỏi sự chú ý của đám đông, nhưng càng gần Đức Chúa Giê-su càng tốt. Tại đây ông có thể nhìn thấy và nghe được tất cả những gì xảy ra trong phiên xử Chúa mình. DA 711.1
Phi-e-rơ đã không có ý để cho người ta biết bản chất thật của mình. Khi giả vờ thờ ơ, ông đã đặt mình trên lãnh địa của kẻ thù, và ông trở thành miếng mồi dễ dàng cho sự cám dỗ. Nếu được gọi để chiến đấu cho Thầy mình, ông sẽ là một chiến sĩ dũng cảm; nhưng khi ngón tay khinh bỉ chỉ vào ông, ông tự chứng tỏ mình là kẻ hèn nhát. Nhiều người không e ngại tham gia cuộc chiến tích cực cho Chúa mình lại bị sự nhạo báng đẩy đến chỗ chối bỏ đức tin của mình. Bằng cách kết giao với những người mà họ nên tránh xa, họ tự đặt mình vào con đường cám dỗ. Họ mời kẻ thù đến cám dỗ mình, và bị dẫn dắt đến chỗ nói và làm những điều mà trong hoàn cảnh khác họ sẽ không bao giờ phạm phải. Người môn đồ của Đấng Christ ngày nay che giấu đức tin của mình vì sợ đau khổ hay sỉ nhục thì cũng đang chối bỏ Chúa mình thật như Phi-e-rơ đã làm trong dinh xử án. DA 712.1
Phi-e-rơ cố tỏ vẻ không quan tâm đến phiên xử Thầy mình, nhưng lòng ông quặn thắt đau đớn khi nghe những lời chế nhạo tàn nhẫn và thấy sự ngược đãi mà Ngài phải chịu. Hơn thế nữa, ông ngạc nhiên và tức giận rằng Đức Chúa Giê-su lại tự hạ mình và làm nhục những người theo Ngài bằng cách chịu đựng sự đối xử như vậy. Để che giấu cảm xúc thật của mình, ông cố gắng hùa theo những kẻ bắt bớ Đức Chúa Giê-su trong những lời giễu cợt không phải lúc của họ. Nhưng dáng vẻ của ông không tự nhiên. Ông đang sống trong sự dối trá, và trong khi cố nói chuyện một cách thờ ơ, ông không thể kìm nén những lời tỏ ra phẫn nộ trước sự ngược đãi đổ trên Thầy mình. DA 712.2
Người ta lại chú ý đến ông lần thứ hai, và ông lại bị buộc tội là một người theo Đức Chúa Giê-su. Bấy giờ ông thề mà tuyên bố rằng: “Ta không biết Người đó.” Vậy mà ông còn được ban cho một cơ hội nữa. Một giờ đã trôi qua, khi một đầy tớ của thầy tế lễ thượng phẩm, là bà con gần của người mà Phi-e-rơ đã chém đứt tai, hỏi ông rằng: “Há chẳng phải ta đã thấy ngươi ở trong vườn với Người sao?” “Chắc thật ngươi cũng là một trong bọn đó, vì ngươi là người Ga-li-lê, và tiếng nói của ngươi cũng giống vậy.” Nghe thế Phi-e-rơ nổi giận. Các môn đồ của Đức Chúa Giê-su nổi tiếng về sự trong sạch trong lời nói, và để lừa dối hoàn toàn những kẻ tra hỏi và biện minh cho con người giả tạo của mình, Phi-e-rơ bấy giờ chối bỏ Thầy mình mà rủa sả và thề thốt. Gà lại gáy. Lúc đó Phi-e-rơ nghe thấy, và ông nhớ lại lời Đức Chúa Giê-su đã phán:
“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.” (Mác 14:30)
DA 712.3
Trong khi những lời thề nguyền hèn hạ còn nóng hổi trên môi Phi-e-rơ, và tiếng gà gáy lảnh lót vẫn còn vang trong tai ông, Đấng Cứu Thế quay khỏi những vị quan tòa đang cau mày và nhìn thẳng vào người môn đồ tội nghiệp của Ngài. Cùng lúc ấy mắt Phi-e-rơ cũng hướng về Thầy mình. Trên gương mặt dịu hiền ấy, ông đọc thấy lòng thương xót sâu sắc và nỗi buồn, nhưng không hề có sự giận dữ. DA 712.4
Cái nhìn về gương mặt tái nhợt đau khổ ấy, đôi môi run rẩy ấy, cái nhìn đầy trắc ẩn và tha thứ ấy, xuyên thấu tim ông như một mũi tên. Lương tâm được đánh thức. Ký ức sống lại. Phi-e-rơ nhớ lại lời hứa chỉ vài giờ ngắn ngủi trước đó rằng ông sẽ cùng Chúa mình vào tù và đến cõi chết. Ông nhớ lại nỗi đau buồn của mình khi Đấng Cứu Thế phán với ông trong phòng cao rằng ông sẽ chối Chúa mình ba lần trong chính đêm ấy. Phi-e-rơ vừa mới tuyên bố rằng ông không biết Đức Chúa Giê-su, nhưng giờ đây ông nhận ra trong nỗi đau đắng cay rằng Chúa mình biết rõ ông đến nhường nào, và Ngài đã đọc thấu lòng ông chính xác đến mức nào, một tấm lòng giả dối mà ngay cả chính ông cũng chẳng hay biết. DA 713.1
Một dòng thác ký ức ùa về trong ông. Lòng nhân từ dịu dàng của Đấng Cứu Thế, sự tử tế và nhịn nhục của Ngài, sự hiền lành và kiên nhẫn của Ngài đối với những môn đồ lầm lỗi — tất cả đều được nhớ lại. Ông nhớ đến lời cảnh báo:
“Hỡi Si-môn, Si-môn, này, quỉ Sa-tan đã đòi sàng sảy ngươi như lúa mì. Song ta đã cầu nguyện cho ngươi, hầu cho đức tin ngươi không thiếu thốn. Vậy, đến khi ngươi đã hối cải, hãy làm cho vững chí anh em mình.” (Lu-ca 22:31,32)
Ông kinh hoàng suy nghĩ về sự vô ơn của chính mình, sự dối trá của mình, lời thề bội ước của mình. Một lần nữa ông nhìn Thầy mình, và thấy một bàn tay phạm thượng giơ lên tát vào mặt Ngài. Không còn chịu đựng nổi cảnh tượng ấy, ông tan nát cõi lòng mà lao ra khỏi dinh. DA 713.2
Ông cứ tiến bước trong cô đơn và tăm tối, chẳng biết và cũng chẳng màng đến mình đang đi đâu. Cuối cùng ông thấy mình ở trong vườn Ghết-sê-ma-nê. Cảnh tượng vài giờ trước hiện về sống động trong tâm trí ông. Gương mặt đau khổ của Chúa mình, đẫm mồ hôi như giọt máu và co quắp trong nỗi thống khổ, hiện lên trước ông. Ông nhớ lại trong sự ăn năn đắng cay rằng Đức Chúa Giê-su đã khóc và vật vã trong lời cầu nguyện một mình, trong khi những kẻ lẽ ra phải hiệp với Ngài trong giờ phút thử thách ấy lại ngủ. Ông nhớ lại lời căn dặn nghiêm trang của Ngài:
“Hãy thức canh và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ; tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.” (Ma-thi-ơ 26:41)
Ông lại chứng kiến cảnh tượng trong dinh xử án. Thật là cực hình cho tấm lòng rỉ máu của ông khi biết rằng mình đã chất thêm gánh nặng nề nhất vào sự sỉ nhục và nỗi đau buồn của Đấng Cứu Thế. Ngay tại chính nơi Đức Chúa Giê-su đã trút linh hồn trong nỗi thống khổ với Cha Ngài, Phi-e-rơ sấp mặt xuống đất và ước rằng mình có thể chết đi. DA 713.3
Chính vì ngủ khi Đức Chúa Giê-su truyền cho ông phải thức canh và cầu nguyện mà Phi-e-rơ đã dọn đường cho tội lỗi lớn của mình. Tất cả các môn đồ, vì ngủ trong giờ phút nguy cấp ấy, đã chịu một tổn thất lớn lao. Đấng Christ biết cuộc thử lửa cay nghiệt mà họ sắp phải trải qua. Ngài biết Sa-tan sẽ hành động thế nào để làm tê liệt giác quan của họ để họ không sẵn sàng cho cuộc thử thách. Bởi vậy mà Ngài đã cảnh báo họ. Giá như những giờ trong vườn ấy được dùng để thức canh và cầu nguyện, thì Phi-e-rơ đã không bị bỏ mặc phải nương cậy vào sức yếu đuối của riêng mình. Ông đã không chối Chúa mình. Giá như các môn đồ đã thức canh với Đấng Christ trong cơn thống khổ của Ngài, thì họ đã sẵn sàng để chứng kiến sự đau khổ của Ngài trên thập tự giá. Họ hẳn đã hiểu phần nào bản chất nỗi thống khổ áp đảo của Ngài. Họ hẳn đã có thể nhớ lại những lời Ngài đã báo trước về sự đau khổ, sự chết và sự sống lại của Ngài. Giữa bóng tối của giờ phút thử thách nặng nề nhất, vài tia hy vọng hẳn đã rọi sáng bóng tối và nâng đỡ đức tin của họ. DA 713.4
Vừa rạng sáng, Tòa Công Luận lại nhóm họp, và Đức Chúa Giê-su lại bị giải vào phòng nghị án. Ngài đã tuyên bố mình là Con Đức Chúa Trời, và họ đã diễn giải lời Ngài thành một lời buộc tội Ngài. Nhưng họ không thể kết án Ngài về điều này, vì nhiều người trong bọn họ đã không có mặt trong phiên họp đêm, và họ chưa nghe lời Ngài nói. Và họ biết rằng tòa án La-mã sẽ chẳng tìm thấy trong đó điều gì đáng tội chết. Nhưng nếu từ chính miệng Ngài mà tất cả họ có thể nghe được những lời ấy lặp lại, thì mục đích của họ có thể đạt được. Họ có thể diễn giải lời Ngài tự xưng là Đấng Mê-si thành một lời tuyên bố chính trị nổi loạn. DA 714.1
“Ngươi có phải là Đấng Christ không?” họ nói, “hãy nói cho chúng ta biết.” Nhưng Đấng Christ vẫn lặng thinh. Họ tiếp tục dồn dập tra hỏi Ngài. Cuối cùng, với giọng bi thương ai oán, Ngài đáp: “Nếu ta nói cho các ngươi, các ngươi cũng chẳng tin; còn nếu ta hỏi, các ngươi cũng chẳng trả lời ta, và cũng chẳng tha ta đi.” Nhưng để họ không còn cớ chữa mình, Ngài thêm lời cảnh báo nghiêm trang: “Từ nay về sau, Con Người sẽ ngồi bên hữu quyền phép Đức Chúa Trời.” DA 714.2
“Vậy ngươi là Con Đức Chúa Trời sao?” họ đồng thanh hỏi. Ngài đáp cùng họ: “Chính các ngươi nói ta là Con Ngài.” Họ kêu lên: “Chúng ta nào có cần chứng cớ nữa làm chi? vì chính chúng ta đã nghe từ miệng Người nói ra.” DA 714.3
Và như thế, qua lời kết án thứ ba của các nhà cầm quyền Do Thái, Đức Chúa Giê-su phải chết. Họ nghĩ rằng tất cả những gì cần thiết bây giờ chỉ là người La-mã phê chuẩn lời kết án này và giao nộp Ngài vào tay họ. DA 714.4
Rồi đến cảnh ngược đãi và chế nhạo lần thứ ba, còn tệ hơn cả những gì Ngài đã nhận từ đám đông dốt nát. Việc này diễn ra ngay trước mặt các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền, với sự chuẩn thuận của họ. Mọi cảm xúc thương cảm hay tình người đã rời khỏi lòng họ. Nếu lập luận của họ yếu kém và không làm cho tiếng nói của Ngài im lặng được, thì họ còn có những vũ khí khác, như những vũ khí đã được dùng trong mọi thời đại để bịt miệng những kẻ dị giáo — đau khổ, bạo lực và cái chết. DA 714.5
Khi sự kết án Đức Chúa Giê-su được các quan án tuyên bố, một cơn cuồng nộ của Sa-tan đã chiếm lấy dân chúng. Tiếng gào thét vang lên như tiếng của những con thú dữ. Đám đông xông tới chỗ Đức Chúa Giê-su, la lên rằng: Hắn có tội, hãy giết hắn đi! Nếu không nhờ những lính La-mã, Đức Chúa Giê-su đã không còn sống để bị đóng đinh trên thập tự giá ở Gô-gô-tha. Ngài hẳn đã bị xé ra từng mảnh ngay trước mặt các quan án, nếu chính quyền La-mã không can thiệp và dùng vũ lực để ngăn chặn sự hung bạo của đám đông. DA 715.1
Những người ngoại đạo đã tức giận trước cách đối xử tàn bạo đối với một người mà không có điều gì được chứng minh chống lại Ngài. Các sĩ quan La-mã tuyên bố rằng người Do Thái khi tuyên án kết tội Đức Chúa Giê-su là đang xâm phạm quyền lực La-mã, và rằng việc kết án tử hình một người dựa trên lời chứng của chính người đó thậm chí còn trái với luật pháp Do Thái. Sự can thiệp này đã đem lại một khoảnh khắc lắng dịu trong tiến trình xét xử; nhưng các nhà lãnh đạo Do Thái đã chai lì với cả lòng thương xót lẫn sự hổ thẹn. DA 715.2
Các thầy tế lễ và các quan trưởng quên đi phẩm giá chức vụ của mình, và lăng mạ Con Đức Chúa Trời bằng những lời lẽ tục tĩu. Họ chế nhạo Ngài về gốc gác của Ngài. Họ tuyên bố rằng sự cả gan của Ngài khi tự xưng mình là Đấng Mê-si khiến Ngài đáng chịu cái chết nhục nhã nhất. Những kẻ phóng đãng nhất tham gia vào việc nhục mạ Đấng Cứu Thế cách bỉ ổi. Một chiếc áo cũ được trùm lên đầu Ngài, và những kẻ bắt bớ Ngài đánh vào mặt Ngài, nói rằng: “Hỡi Đấng Christ, hãy nói tiên tri cho chúng ta, ai là kẻ đánh ngươi?” Khi chiếc áo được lấy ra, một kẻ khốn nạn đáng thương phun nước miếng vào mặt Ngài. DA 715.3
Các thiên sứ của Đức Chúa Trời trung thành ghi lại từng cái nhìn, lời nói và hành động lăng nhục đối với Đấng Chỉ Huy yêu dấu của họ. Một ngày kia, những kẻ hèn hạ đã khinh chê và phun nước miếng vào gương mặt điềm tĩnh, xanh xao của Đấng Christ sẽ nhìn thấy gương mặt ấy trong sự vinh hiển, chiếu sáng rực rỡ hơn cả mặt trời. DA 715.4