Ghết-sê-ma-nê

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 26:36-56; Mác 14:32-50; Lu-ca 22:39-53; Giăng 18:1-12. DA 685.1

Cùng với các môn đồ, Đấng Cứu Thế thong thả đi đến vườn Ghết-sê-ma-nê. Mặt trăng của lễ Vượt Qua, rộng và tròn, chiếu sáng từ bầu trời không một gợn mây. Thành phố của những lều trại hành hương đã lặng yên trong tĩnh mịch. DA 685.2

Đức Chúa Giê-su đã trò chuyện sốt sắng với các môn đồ và dạy dỗ họ; nhưng khi đến gần Ghết-sê-ma-nê, Ngài trở nên lặng lẽ một cách kỳ lạ. Ngài đã thường đến nơi này để suy gẫm và cầu nguyện; nhưng chưa bao giờ với một tấm lòng nặng trĩu đau buồn như trong đêm thống khổ cuối cùng này. Suốt cả cuộc đời Ngài trên đất, Ngài đã bước đi trong ánh sáng của sự hiện diện của Đức Chúa Trời. Khi xung đột với những kẻ bị chính tinh thần của Sa-tan thúc đẩy, Ngài có thể nói rằng, “Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình; vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.” Giăng 8:29. Nhưng giờ đây dường như Ngài bị khép ra khỏi ánh sáng của sự hiện diện nâng đỡ của Đức Chúa Trời. Giờ đây Ngài bị kể vào hàng những kẻ phạm tội. Ngài phải mang lấy tội lỗi của nhân loại sa ngã. Tội ác của hết thảy chúng ta phải đặt trên Đấng vốn không hề biết đến tội lỗi. Tội lỗi hiện ra với Ngài kinh khủng biết bao, gánh nặng tội lỗi mà Ngài phải mang lấy nặng nề biết bao, đến nỗi Ngài bị cám dỗ mà sợ rằng nó sẽ vĩnh viễn khép Ngài ra khỏi tình yêu thương của Cha Ngài. Cảm nhận được cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng sự vi phạm khủng khiếp dường nào, Ngài kêu lên, “Linh hồn ta buồn bực cho đến chết.” DA 685.3

Khi họ đến gần khu vườn, các môn đồ đã nhận thấy sự thay đổi xảy đến trên Thầy mình. Chưa bao giờ trước đó họ thấy Ngài buồn rầu và im lặng đến thế. Khi Ngài tiếp tục bước đi, nỗi buồn lạ lùng này càng sâu thẳm thêm; tuy nhiên họ không dám hỏi Ngài về nguyên do. Thân hình Ngài lảo đảo như sắp ngã quỵ. Khi đến khu vườn, các môn đồ lo lắng tìm chỗ Ngài thường lui về, hầu cho Thầy mình có thể nghỉ ngơi. Mỗi bước Ngài đi lúc này đều là một sự gắng sức nhọc nhằn. Ngài rên rỉ thành tiếng, như đang đau đớn dưới sức ép của một gánh nặng khủng khiếp. Hai lần các bạn đồng hành đã đỡ lấy Ngài, nếu không Ngài hẳn đã ngã xuống đất. DA 685.4

Gần lối vào khu vườn, Đức Chúa Giê-su để lại tất cả các môn đồ chỉ trừ ba người, dặn họ cầu nguyện cho chính mình và cho Ngài. Cùng với Phi-e-rơ, Gia-cơ và Giăng, Ngài đi vào nơi sâu kín hẻo lánh ấy. Ba môn đồ này là những bạn đồng hành thân cận nhất của Đấng Christ. Họ đã chiêm ngưỡng vinh quang của Ngài trên núi hóa hình; họ đã thấy Môi-se và Ê-li đàm đạo với Ngài; họ đã nghe tiếng nói từ trời; giờ đây trong cuộc tranh chiến lớn lao của mình, Đấng Christ mong muốn họ ở gần bên Ngài. Họ đã thường trải qua đêm với Ngài tại nơi ẩn dật này. Vào những dịp ấy, sau một thời gian canh thức và cầu nguyện, họ thường ngủ yên ổn cách Thầy mình một khoảng nhỏ, cho đến khi Ngài đánh thức họ vào buổi sáng để cùng ra đi lao động trở lại. Nhưng giờ đây Ngài mong muốn họ trải qua đêm trong sự cầu nguyện với Ngài. Tuy nhiên Ngài không thể chịu nổi khi để cho ngay cả họ chứng kiến nỗi thống khổ mà Ngài sắp phải gánh chịu. DA 686.1

Ngài phán: “Hãy ở đây và tỉnh thức với ta.” DA 686.2

Ngài đi khỏi họ một khoảng nhỏ — không xa đến nỗi họ không thể vừa thấy vừa nghe Ngài — và sấp mặt xuống đất. Ngài cảm thấy rằng vì tội lỗi mà Ngài đang bị phân cách khỏi Cha Ngài. Vực thẳm ấy rộng lớn, đen tối và sâu thẳm đến nỗi tâm linh Ngài run rẩy trước nó. Ngài không được dùng quyền năng thiêng liêng của mình để thoát khỏi nỗi thống khổ này. Là con người, Ngài phải chịu lấy hậu quả của tội lỗi loài người. Là con người, Ngài phải chịu đựng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng sự vi phạm. DA 686.3

Đấng Christ giờ đây đang ở trong một tư thế khác hẳn với mọi tư thế Ngài từng có trước đó. Sự đau khổ của Ngài được miêu tả rõ nhất qua lời của tiên tri: “Hỡi gươm, hãy thức dậy nghịch cùng kẻ chăn của ta, và nghịch cùng người làm bạn hữu ta, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy.” Xa-cha-ri 13:7. Là Đấng thay thế và bảo lãnh cho loài người tội lỗi, Đấng Christ đang chịu khổ dưới sự công bình thiêng liêng. Ngài thấy sự công bình có nghĩa là gì. Cho đến lúc ấy Ngài đã là Đấng cầu thay cho người khác; giờ đây Ngài khao khát có một Đấng cầu thay cho chính mình. DA 686.4

Khi Đấng Christ cảm thấy sự hiệp một của Ngài với Cha bị phá vỡ, Ngài lo sợ rằng trong bản tánh con người của mình, Ngài sẽ không thể chịu đựng nổi cuộc tranh chiến sắp đến với các thế lực tối tăm. Trong đồng vắng cám dỗ, số phận của nhân loại đã bị đặt vào nguy cơ. Lúc bấy giờ Đấng Christ là Đấng đắc thắng. Giờ đây kẻ cám dỗ đã đến cho cuộc tranh chiến khủng khiếp cuối cùng. Hắn đã chuẩn bị cho điều này suốt ba năm chức vụ của Đấng Christ. Tất cả mọi điều đối với hắn đều bị đặt vào nguy cơ. Nếu hắn thất bại ở đây, niềm hy vọng làm chủ của hắn sẽ tan biến; các nước trên thế gian cuối cùng sẽ trở thành của Đấng Christ; chính hắn sẽ bị lật đổ và đuổi ra. Nhưng nếu Đấng Christ có thể bị khuất phục, thì trái đất sẽ trở thành vương quốc của Sa-tan, và nhân loại sẽ mãi mãi nằm trong quyền lực của hắn. Với những hậu quả của cuộc tranh chiến bày ra trước mặt, linh hồn của Đấng Christ tràn đầy nỗi kinh hãi về sự phân cách với Đức Chúa Trời. Sa-tan bảo Ngài rằng nếu Ngài trở nên Đấng bảo lãnh cho một thế gian tội lỗi, thì sự phân cách sẽ là vĩnh viễn. Ngài sẽ bị đồng nhất với vương quốc của Sa-tan, và sẽ chẳng bao giờ còn được hiệp một với Đức Chúa Trời nữa. DA 686.5

Và sự hy sinh này sẽ đạt được điều gì? Tội lỗi và lòng vô ơn của con người hiện ra vô vọng biết bao! Bằng những nét gay gắt nhất, Sa-tan ép buộc tình cảnh ấy lên Đấng Cứu Chuộc: Dân tộc tự xưng là vượt trên hết thảy mọi dân khác về những ưu thế thuộc thể lẫn thuộc linh đã chối bỏ Ngài. Họ đang tìm cách hủy diệt Ngài, là nền tảng, là trung tâm và ấn chứng của những lời hứa ban cho họ như một dân riêng. Một trong các môn đồ của chính Ngài, kẻ đã nghe lời Ngài dạy dỗ, và đã đứng vào hàng đầu trong các hoạt động của Hội Thánh, sẽ phản Ngài. Một trong những kẻ theo Ngài sốt sắng nhất sẽ chối Ngài. Hết thảy sẽ lìa bỏ Ngài. Toàn bản thể của Đấng Christ ghê tởm ý tưởng ấy. Việc những kẻ mà Ngài đã đảm nhận để cứu rỗi, những kẻ mà Ngài yêu thương dường ấy, lại hùa theo những âm mưu của Sa-tan, điều này đâm thấu linh hồn Ngài. Cuộc tranh chiến thật khủng khiếp. Quy mô của nó là tội lỗi của dân tộc Ngài, của những kẻ buộc tội và phản bội Ngài, là tội lỗi của một thế gian nằm trong sự gian ác. Tội lỗi của loài người đè nặng trên Đấng Christ, và cảm giác về cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời nghịch cùng tội lỗi đang nghiền nát sự sống của Ngài. DA 687.1

Hãy nhìn xem Ngài đang suy ngẫm về cái giá phải trả cho linh hồn con người. Trong cơn thống khổ, Ngài bám lấy mặt đất lạnh lẽo, như để ngăn mình khỏi bị kéo xa hơn ra khỏi Đức Chúa Trời. Sương đêm giá buốt rơi trên thân hình sấp mình của Ngài, nhưng Ngài chẳng màng đến. Từ đôi môi tái nhợt của Ngài thốt ra tiếng kêu cay đắng, “Cha ơi! nếu có thể được, xin cho chén này lìa khỏi Con.” Tuy nhiên ngay cả lúc này Ngài vẫn thêm rằng, “Song không theo ý muốn Con, mà theo ý muốn Cha.” DA 687.2

Lòng người khao khát sự cảm thông trong đau khổ. Đấng Christ cảm nhận sự khao khát này tận đáy bản thể của Ngài. Trong cơn thống khổ tột cùng của linh hồn mình, Ngài đến cùng các môn đồ với một niềm mong mỏi tha thiết được nghe đôi lời an ủi từ những kẻ mà Ngài đã thường ban phước và an ủi, và che chở trong cơn buồn rầu khốn khổ. Đấng vốn luôn có những lời cảm thông cho họ giờ đây đang chịu nỗi thống khổ siêu phàm, và Ngài khao khát được biết rằng họ đang cầu nguyện cho Ngài và cho chính họ. Sự độc ác của tội lỗi hiện ra tăm tối biết bao! Khủng khiếp thay là cơn cám dỗ để mặc nhân loại gánh chịu hậu quả của tội lỗi mình, trong khi Ngài đứng vô tội trước Đức Chúa Trời. Nếu Ngài chỉ có thể biết rằng các môn đồ hiểu và trân trọng điều này, thì Ngài đã được thêm sức. DA 687.3

Gắng sức đứng dậy cách đau đớn, Ngài lảo đảo bước đến chỗ Ngài đã để lại các bạn đồng hành. Nhưng Ngài “thấy môn đồ ngủ.” Nếu Ngài thấy họ đang cầu nguyện, hẳn Ngài đã được nhẹ nhõm. Nếu họ đang tìm nơi nương náu trong Đức Chúa Trời, hầu cho các thế lực của Sa-tan không thắng được họ, hẳn Ngài đã được an ủi bởi đức tin vững vàng của họ. Nhưng họ đã không lưu tâm đến lời cảnh báo được lặp đi lặp lại, “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện.” Ban đầu họ rất bối rối khi thấy Thầy mình, vốn thường điềm tĩnh và uy nghi, lại vật lộn với một nỗi buồn vượt quá sự hiểu biết. Họ đã cầu nguyện khi nghe những tiếng kêu lớn của Đấng chịu khổ. Họ không có ý lìa bỏ Chúa mình, nhưng dường như họ bị tê liệt bởi một cơn mê ngủ mà lẽ ra họ đã có thể rũ bỏ nếu cứ tiếp tục nài xin Đức Chúa Trời. Họ không nhận thức được sự cần thiết của việc tỉnh thức và cầu nguyện sốt sắng để chống cự lại cám dỗ. DA 688.1

Ngay trước khi bước chân vào vườn, Đức Chúa Giê-su đã phán cùng các môn đồ: “Đêm nay hết thảy các ngươi sẽ vấp phạm vì cớ ta.” Họ đã quả quyết với Ngài một cách mạnh mẽ nhất rằng họ sẽ cùng Ngài vào tù và chịu chết. Và Phi-e-rơ tội nghiệp, tự mãn, đã thêm rằng, “Dầu mọi người vấp phạm, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.” Mác 14:27, 29. Nhưng các môn đồ lại cậy vào chính mình. Họ không hướng về Đấng Cứu Giúp quyền năng như Đấng Christ đã khuyên bảo họ. Vì thế, khi Đấng Cứu Thế cần đến sự thông cảm và lời cầu nguyện của họ nhất, thì lại thấy họ đang ngủ. Ngay cả Phi-e-rơ cũng đang ngủ. DA 688.2

Và Giăng, người môn đồ yêu dấu đã từng dựa đầu vào ngực Đức Chúa Giê-su, cũng đang ngủ. Chắc chắn rằng tình yêu thương của Giăng đối với Thầy mình lẽ ra phải giữ ông tỉnh thức. Những lời cầu nguyện tha thiết của ông lẽ ra phải hòa cùng lời cầu nguyện của Đấng Cứu Thế yêu dấu của ông trong giờ phút Ngài chịu nỗi đau buồn tột cùng. Đấng Cứu Chuộc đã từng thức trọn những đêm dài để cầu nguyện cho các môn đồ Ngài, hầu cho đức tin của họ không bị thất bại. Nếu giờ đây Đức Chúa Giê-su đặt cho Gia-cơ và Giăng câu hỏi mà Ngài đã từng hỏi họ, “Các ngươi uống được chén mà ta hầu uống, cùng chịu được phép báp-têm mà ta hầu chịu chăng?” thì họ sẽ chẳng dám trả lời, “Chúng tôi chịu được.” Ma-thi-ơ 20:22. DA 689.1

Các môn đồ tỉnh dậy khi nghe tiếng Đức Chúa Giê-su, nhưng họ khó nhận ra Ngài, vì gương mặt Ngài đã biến đổi quá nhiều bởi cơn thống khổ. Hướng về Phi-e-rơ, Đức Chúa Giê-su phán, “Si-môn, ngủ ư? Ngươi không thức được một giờ sao? Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ. Tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.” Sự yếu đuối của các môn đồ đã khơi dậy lòng thương cảm của Đức Chúa Giê-su. Ngài lo ngại rằng họ sẽ không thể chịu nổi cuộc thử thách sẽ đến với họ trong sự phản bội và sự chết của Ngài. Ngài không quở trách họ, nhưng phán, “Hãy tỉnh thức và cầu nguyện, kẻo các ngươi sa vào chước cám dỗ.” Ngay cả trong cơn đau đớn lớn lao của Ngài, Ngài vẫn tìm cách bào chữa cho sự yếu đuối của họ. Ngài phán, “Tâm thần thì muốn lắm, mà xác thịt thì yếu đuối.” DA 689.2

Một lần nữa, Con Đức Chúa Trời lại bị bao trùm bởi cơn thống khổ siêu phàm, và trong tình trạng ngất xỉu, kiệt sức, Ngài loạng choạng quay lại nơi Ngài đã từng vật lộn trước đó. Sự đau đớn của Ngài còn lớn hơn lúc trước. Khi cơn thống khổ của tâm hồn ập đến trên Ngài, “mồ hôi trở nên như giọt máu lớn rơi xuống đất.” Những cây trắc bá và cây cọ là những nhân chứng thầm lặng cho cơn thống khổ của Ngài. Từ những cành lá của chúng, những giọt sương nặng nhỏ xuống trên thân thể đau đớn của Ngài, dường như thiên nhiên đang khóc thương Đấng Tạo Hóa của mình đang một mình vật lộn với các thế lực của bóng tối. DA 689.3

Một thời gian ngắn trước đó, Đức Chúa Giê-su đã đứng vững như một cây bá hương hùng vĩ, chống chọi với cơn bão chống đối trút cơn thịnh nộ của nó trên Ngài. Những ý chí ngoan cố, và những tấm lòng đầy hiểm độc và xảo trá, đã cố sức làm cho Ngài bối rối và áp đảo Ngài, nhưng vô ích. Ngài đứng đó trong sự uy nghi thiêng liêng với tư cách là Con Đức Chúa Trời. Giờ đây Ngài giống như một cây sậy bị cơn bão dữ dội đánh đập và uốn cong. Ngài đã đến gần sự hoàn thành công việc của mình như một người chiến thắng, từng bước một giành được chiến thắng trên các thế lực của bóng tối. Như một Đấng đã được vinh hiển, Ngài đã tuyên xưng sự hiệp một với Đức Chúa Trời. Bằng giọng nói không lay chuyển, Ngài đã tuôn đổ những bài ca ngợi khen. Ngài đã nói với các môn đồ bằng những lời can đảm và dịu dàng. Giờ đây giờ phút quyền lực của bóng tối đã đến. Giờ đây tiếng Ngài vang lên trong bầu không khí yên tĩnh của buổi chiều, không phải bằng những âm điệu khải hoàn, mà đầy nỗi thống khổ của con người. Những lời của Đấng Cứu Thế lọt vào tai các môn đồ đang ngái ngủ, “Lạy Cha, nếu chén này không thể lìa khỏi con được mà con phải uống, thì xin ý Cha được nên.” DA 689.4

Phản ứng đầu tiên của các môn đồ là muốn đến với Ngài; nhưng Ngài đã bảo họ ở lại đó, tỉnh thức mà cầu nguyện. Khi Đức Chúa Giê-su đến với họ, Ngài thấy họ vẫn còn đang ngủ. Một lần nữa Ngài đã cảm thấy khao khát có người bầu bạn, có vài lời từ các môn đồ Ngài để đem lại sự an ủi, và phá vỡ bùa chú của bóng tối gần như áp đảo Ngài. Nhưng mắt họ nặng nề; “không biết trả lời cùng Ngài thể nào.” Sự hiện diện của Ngài đánh thức họ. Họ thấy gương mặt Ngài in dấu mồ hôi máu của cơn thống khổ, và họ tràn ngập sợ hãi. Họ không thể hiểu được nỗi thống khổ trong tâm trí Ngài. “Mặt mày Ngài xài xể lắm, hơn mọi người, hình dung Ngài khác hẳn loài người.” Ê-sai 52:14. DA 690.1

Quay đi, Đức Chúa Giê-su lại tìm đến nơi ẩn náu của Ngài, và ngã sấp mặt xuống đất, bị chế ngự bởi nỗi kinh hoàng của một sự tối tăm khủng khiếp. Nhân tính của Con Đức Chúa Trời run rẩy trong giờ phút thử thách đó. Giờ đây Ngài không cầu nguyện cho các môn đồ Ngài để đức tin của họ không bị thất bại, nhưng cầu nguyện cho chính tâm hồn bị cám dỗ và thống khổ của Ngài. Giờ phút khủng khiếp đã đến—giờ phút sẽ quyết định số phận của thế gian. Vận mệnh của nhân loại đang chao đảo trên cán cân. Đấng Christ ngay cả lúc này vẫn có thể từ chối uống chén dành cho con người tội lỗi. Vẫn chưa quá muộn. Ngài có thể lau đi mồ hôi máu trên trán Ngài, và để mặc con người hư mất trong sự gian ác của mình. Ngài có thể phán, Hãy để kẻ phạm tội nhận lấy hình phạt của tội lỗi mình, còn ta sẽ trở về cùng Cha ta. Con Đức Chúa Trời có chịu uống chén đắng của sự sỉ nhục và thống khổ chăng? Đấng vô tội có chịu lấy hậu quả của sự rủa sả của tội lỗi, để cứu kẻ có tội chăng? Những lời ấy run rẩy thoát ra từ đôi môi nhợt nhạt của Đức Chúa Giê-su, “Lạy Cha, nếu chén này không thể lìa khỏi con được mà con phải uống, thì xin ý Cha được nên.” DA 690.2

Ba lần Ngài đã thốt lên lời cầu nguyện đó. Ba lần nhân tính đã rút lui khỏi sự hy sinh cuối cùng, tột đỉnh ấy. Nhưng giờ đây lịch sử của loài người hiện ra trước mắt Đấng Cứu Chuộc thế gian. Ngài thấy rằng những kẻ vi phạm luật pháp, nếu bị bỏ mặc cho chính mình, ắt phải hư mất. Ngài thấy sự bất lực của con người. Ngài thấy quyền lực của tội lỗi. Những tai họa và tiếng than khóc của một thế gian bị định tội hiện lên trước mặt Ngài. Ngài nhìn thấy số phận sắp đến của nó, và quyết định của Ngài đã được định. Ngài sẽ cứu con người bằng mọi giá đối với chính Ngài. Ngài chấp nhận phép báp-têm bằng huyết của mình, để qua Ngài hàng triệu người đang hư mất có thể nhận được sự sống đời đời. Ngài đã rời khỏi các cung điện thiên đàng, nơi mọi sự đều tinh sạch, hạnh phúc, và vinh hiển, để cứu con chiên lạc duy nhất, thế gian duy nhất đã sa ngã bởi sự vi phạm. Và Ngài sẽ không quay lưng khỏi sứ mệnh của mình. Ngài sẽ trở thành của lễ chuộc tội cho một dòng giống đã cố tình phạm tội. Lời cầu nguyện của Ngài giờ đây chỉ còn thở ra sự thuận phục: “Nếu chén này không thể lìa khỏi con được mà con phải uống, thì xin ý Cha được nên.” DA 690.3

Sau khi đã đưa ra quyết định, Ngài ngã xuống đất trong tình trạng hấp hối từ nơi Ngài đã gượng dậy được phần nào. Lúc này các môn đồ Ngài ở đâu, để dịu dàng đặt tay nâng đầu Thầy mình đang ngất xỉu, và lau cái trán đã thật sự xài xể hơn các con loài người? Đấng Cứu Thế đã một mình đạp bàn ép rượu, và trong vòng dân sự chẳng có ai ở cùng Ngài. DA 693.1

Nhưng Đức Chúa Trời cùng chịu đau khổ với Con Ngài. Các thiên sứ nhìn thấy cơn thống khổ của Đấng Cứu Thế. Họ thấy Chúa mình bị vây quanh bởi vô số lực lượng của Sa-tan, bản tánh Ngài trĩu nặng bởi một nỗi kinh hãi rùng rợn, huyền bí. Trên thiên đàng yên lặng. Không có đàn cầm nào được gảy. Nếu loài người hữu tử có thể chứng kiến sự kinh ngạc của đạo thiên binh khi họ trong nỗi đau buồn thầm lặng nhìn xem Đức Chúa Cha rút những tia sáng, tình yêu thương, và vinh hiển của Ngài ra khỏi Con yêu dấu của mình, thì họ sẽ hiểu rõ hơn tội lỗi đáng ghê tởm dường nào trước mắt Ngài. DA 693.2

Các thế giới chưa sa ngã và các thiên sứ trên trời đã chăm chú theo dõi với sự quan tâm mãnh liệt khi cuộc chiến tiến đến hồi kết. Sa-tan cùng liên minh ác độc của hắn, các đạo binh bội đạo, đã chăm chú theo dõi cơn khủng hoảng lớn lao này trong công cuộc cứu chuộc. Các thế lực thiện và ác chờ đợi xem lời cầu nguyện được lặp lại ba lần của Đấng Christ sẽ được đáp lại ra sao. Các thiên sứ đã ao ước được mang đến sự khuây khỏa cho Đấng Chịu Khổ thiêng liêng, nhưng điều này không thể được. Không có lối thoát nào được tìm thấy cho Con Đức Chúa Trời. Trong cơn khủng hoảng kinh hoàng này, khi mọi sự đều lâm nguy, khi chén bí ẩn run rẩy trong tay Đấng Chịu Khổ, các tầng trời mở ra, một ánh sáng chiếu rọi giữa bóng tối bão tố của giờ phút khủng hoảng, và thiên sứ quyền năng đứng trước mặt Đức Chúa Trời, chiếm giữ vị trí mà từ đó Sa-tan đã sa ngã, đến bên cạnh Đấng Christ. Thiên sứ ấy đến không phải để cất chén khỏi tay Đấng Christ, nhưng để thêm sức cho Ngài uống chén ấy, với sự bảo đảm về tình yêu thương của Đức Chúa Cha. Thiên sứ đến để ban quyền năng cho Đấng cầu xin vừa thiêng liêng vừa làm người. Thiên sứ chỉ cho Ngài các tầng trời rộng mở, nói cho Ngài về những linh hồn sẽ được cứu nhờ kết quả của sự chịu khổ của Ngài. Thiên sứ bảo đảm với Ngài rằng Cha Ngài lớn hơn và quyền năng hơn Sa-tan, rằng cái chết của Ngài sẽ dẫn đến sự thảm bại hoàn toàn của Sa-tan, và rằng vương quốc của thế gian này sẽ được ban cho các thánh đồ của Đấng Chí Cao. Thiên sứ bảo Ngài rằng Ngài sẽ thấy kết quả của sự đau khổ trong linh hồn mình và được thỏa lòng, vì Ngài sẽ thấy vô số người trong loài người được cứu, được cứu đời đời. DA 693.3

Cơn thống khổ của Đấng Christ không hề chấm dứt, nhưng sự buồn nản và ngã lòng đã rời khỏi Ngài. Cơn bão không hề giảm bớt chút nào, nhưng Đấng là mục tiêu của nó được thêm sức để đối diện với cơn cuồng nộ của nó. Ngài bước ra điềm tĩnh và thanh thản. Một sự bình an thiên thượng ngự trên khuôn mặt vấy máu của Ngài. Ngài đã gánh chịu điều mà không một con người nào có thể gánh chịu được; vì Ngài đã nếm sự đau khổ của cái chết thay cho mọi người. DA 694.1

Các môn đồ đang ngủ bỗng bị đánh thức bởi ánh sáng bao quanh Đấng Cứu Thế. Họ thấy thiên sứ cúi xuống trên Thầy mình đang nằm phục xuống. Họ thấy thiên sứ nâng đầu Đấng Cứu Thế lên ngực mình và chỉ về phía trời. Họ nghe tiếng thiên sứ, như âm nhạc êm dịu nhất, nói những lời an ủi và hy vọng. Các môn đồ nhớ lại cảnh tượng trên núi hóa hình. Họ nhớ lại sự vinh hiển đã bao quanh Đức Chúa Giê-su trong đền thờ, và tiếng Đức Chúa Trời phán ra từ đám mây. Giờ đây cũng chính sự vinh hiển ấy lại được tỏ ra, và họ không còn sợ hãi cho Thầy mình nữa. Ngài đang ở dưới sự chăm sóc của Đức Chúa Trời; một thiên sứ quyền năng đã được sai đến để bảo vệ Ngài. Một lần nữa các môn đồ trong cơn mệt mỏi lại buông mình theo sự mê man kỳ lạ đang chế ngự họ. Một lần nữa Đức Chúa Giê-su thấy họ đang ngủ. DA 694.2

Buồn rầu nhìn họ, Ngài phán: “Bây giờ các ngươi cứ ngủ và nghỉ ngơi đi: nầy, giờ đã gần tới, Con người sẽ bị nộp trong tay kẻ có tội.” DA 694.3

Ngay khi Ngài đang phán những lời này, Ngài nghe tiếng bước chân của đám đông đang tìm kiếm Ngài, và phán: “Hãy chờ dậy, đi hè: kìa, kẻ phản Ta đến kia.” DA 694.4

Không còn dấu vết nào của cơn thống khổ vừa qua khi Đức Chúa Giê-su bước ra gặp kẻ phản Ngài. Đứng trước các môn đồ, Ngài phán: “Các ngươi tìm ai?” Họ đáp: “Tìm Giê-su người Na-xa-rét.” Đức Chúa Giê-su trả lời: “Chính Ta đây.” Khi những lời này được phán ra, thiên sứ vừa mới phụng sự Đức Chúa Giê-su di chuyển vào giữa Ngài và đám đông. Một ánh sáng thiêng liêng chiếu sáng khuôn mặt Đấng Cứu Thế, và một hình dạng như chim bồ câu bao phủ Ngài. Trước sự hiện diện của sự vinh hiển thiêng liêng này, đám đông khát máu không thể đứng vững được dù chỉ một khoảnh khắc. Chúng loạng choạng lùi lại. Các thầy tế lễ, các trưởng lão, quân lính, và ngay cả Giu-đa, đều ngã xuống đất như những kẻ chết. DA 694.5

Thiên sứ rút lui, và ánh sáng tan biến đi. Đức Chúa Giê-su có cơ hội để trốn thoát, nhưng Ngài vẫn ở lại, điềm tĩnh và tự chủ. Như một Đấng được vinh hiển, Ngài đứng giữa đám người chai lì ấy, giờ đây đang nằm phục bất lực dưới chân Ngài. Các môn đồ nhìn xem, im lặng trong sự kinh ngạc và kính sợ. DA 694.6

Nhưng cảnh tượng nhanh chóng thay đổi. Đám đông vùng dậy. Quân lính La-mã, các thầy tế lễ và Giu-đa, vây quanh Đấng Christ. Chúng dường như xấu hổ vì sự yếu đuối của mình, và sợ rằng Ngài vẫn sẽ trốn thoát. Một lần nữa Đấng Cứu Chuộc lại hỏi: “Các ngươi tìm ai?” Chúng đã có bằng chứng rằng Đấng đứng trước chúng là Con Đức Chúa Trời, nhưng chúng không chịu tin. Trước câu hỏi “Các ngươi tìm ai?”, chúng lại đáp: “Tìm Giê-su người Na-xa-rét.” Đấng Cứu Thế bèn phán: “Ta đã nói với các ngươi rằng chính Ta đây: vậy nếu các ngươi tìm Ta, thì hãy để cho những kẻ nầy đi”—chỉ về các môn đồ. Ngài biết đức tin của họ yếu đuối biết bao, và Ngài tìm cách che chở họ khỏi sự cám dỗ và thử thách. Vì họ, Ngài sẵn sàng hy sinh chính mình. DA 695.1

Giu-đa kẻ phản bội không quên vai trò mà hắn phải đóng. Khi đám đông tiến vào vườn, hắn đã dẫn đường, theo sát phía sau là thầy cả thượng phẩm. Hắn đã cho những kẻ truy đuổi Đức Chúa Giê-su một dấu hiệu, rằng:

“Đứa phản Ngài đã trao cho bọn đó dấu này: Người nào mà tôi sẽ hôn, ấy là người đó, hãy bắt lấy.” (Ma-thi-ơ 26:48)

Giờ đây hắn giả vờ không có phần gì với chúng. Đến gần Đức Chúa Giê-su, hắn nắm tay Ngài như một người bạn thân thiết. Với lời: “Lạy thầy,” hắn hôn Ngài nhiều lần, và tỏ ra khóc lóc như thể thương cảm cho Ngài trong cơn nguy hiểm. DA 695.2

Đức Chúa Giê-su phán cùng hắn: “Bạn ơi, vậy thì vì việc gì mà ngươi đến đây?” Giọng Ngài run rẩy vì buồn rầu khi Ngài nói thêm: “Hỡi Giu-đa, ngươi lấy cái hôn để phản Con người sao?” Lời kêu gọi này lẽ ra đã đánh thức lương tâm của kẻ phản bội, và chạm đến tấm lòng cứng cỏi của hắn; nhưng danh dự, lòng trung thành, và sự dịu dàng của con người đã rời bỏ hắn. Hắn đứng đó dạn dĩ và thách thức, không tỏ ra chút khuynh hướng mềm lòng nào. Hắn đã phó mình cho Sa-tan, và hắn không có quyền năng để chống lại hắn. Đức Chúa Giê-su không từ chối cái hôn của kẻ phản bội. DA 696.1

Đám đông trở nên dạn dĩ khi chúng thấy Giu-đa chạm vào thân thể của Đấng vừa mới được vinh hiển trước mắt chúng. Giờ đây chúng bắt lấy Đức Chúa Giê-su, và tiến hành trói buộc đôi bàn tay quý báu vốn luôn được dùng để làm điều lành. DA 696.2

Các môn đồ đã tưởng rằng Thầy mình sẽ không để mình bị bắt. Vì cũng chính quyền năng đã khiến đám đông ngã xuống như những kẻ chết có thể giữ chúng bất lực, cho đến khi Đức Chúa Giê-su và các bạn đồng hành của Ngài trốn thoát. Họ thất vọng và phẫn nộ khi thấy những sợi dây được mang đến để trói tay Đấng họ yêu thương. Phi-e-rơ trong cơn giận dữ vội vàng rút gươm và cố bảo vệ Thầy mình, nhưng ông chỉ chém đứt một tai của đầy tớ thầy cả thượng phẩm. Khi Đức Chúa Giê-su thấy việc đã làm, Ngài giải thoát đôi tay mình, dù bị quân lính La-mã giữ chặt, và phán: “Hãy để cho họ đến thế,” Ngài chạm vào cái tai bị thương, và lập tức nó được lành lặn. Rồi Ngài phán cùng Phi-e-rơ: “Hãy nạp gươm vào vỏ; vì hễ ai cầm gươm thì sẽ bị chết vì gươm. Ngươi tưởng Ta không có thể nài xin Cha Ta, lập tức cho Ta hơn mười hai đạo thiên sứ sao?"—một đạo thay cho mỗi một môn đồ. Ôi, các môn đồ nghĩ, tại sao Ngài không cứu chính mình và chúng ta? Đáp lại ý nghĩ thầm kín của họ, Ngài nói thêm: “Nhưng nếu vậy, thế nào cho ứng nghiệm lời Kinh Thánh đã chép rằng việc nầy tất phải xảy đến?” “Ta há chẳng uống chén mà Cha đã ban cho Ta uống sao?” DA 696.3

Phẩm vị chức quyền của các nhà lãnh đạo Do Thái đã không ngăn họ tham gia vào cuộc truy đuổi Đức Chúa Giê-su. Việc bắt giữ Ngài là vấn đề quá quan trọng để giao phó cho thuộc hạ; các thầy tế lễ và trưởng lão xảo quyệt đã cùng với lính canh đền thờ và đám dân ô hợp đi theo Giu-đa đến Ghết-sê-ma-nê. Một đoàn người mà những kẻ quyền quý này hùa theo—một đám đông háo hức tìm kiếm sự kích động, và trang bị đủ mọi loại khí giới, như thể đang truy đuổi một con thú dữ! DA 696.4

Quay sang các thầy tế lễ và trưởng lão, Đấng Christ ghim cái nhìn dò xét của Ngài vào họ. Những lời Ngài phán họ sẽ không bao giờ quên được bao lâu họ còn sống. Những lời ấy như những mũi tên sắc bén của Đấng Toàn Năng. Với vẻ uy nghi Ngài phán: Các ngươi cầm gươm và gậy ra bắt Ta như bắt kẻ trộm hay kẻ cướp. Ngày qua ngày Ta ngồi giảng dạy trong đền thờ. Các ngươi đã có mọi cơ hội để tra tay trên Ta, mà các ngươi đã chẳng làm gì. Ban đêm thích hợp hơn cho công việc của các ngươi. “Nhưng nầy là giờ của các ngươi, và quyền của sự tối tăm.” DA 697.1

Các môn đồ kinh hãi khi thấy Đức Chúa Giê-su để cho mình bị bắt và bị trói. Họ phẫn nộ vì Ngài chịu sự sỉ nhục này cho chính Ngài và cho họ. Họ không thể hiểu nổi hành động của Ngài, và họ trách Ngài vì đã chịu khuất phục trước đám đông. Trong cơn phẫn nộ và sợ hãi, Phi-e-rơ đề nghị họ tự cứu lấy mình. Theo lời đề nghị này, “hết thảy đều bỏ Ngài mà trốn đi.” Nhưng Đấng Christ đã báo trước sự bỏ rơi này, Ngài đã phán: “Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình đâu, vì Cha ở cùng ta.”

“Nầy, giờ đến, đã đến rồi, là khi các ngươi sẽ tản lạc, ai đi đường nấy, và để ta lại một mình; nhưng ta không ở một mình, vì Cha ở cùng ta.” (Giăng 16:32)

DA 697.2