“Lòng Các Ngươi Chớ Hề Bối Rối”

Chương này dựa trên Giăng 13:31-38; Giăng 14; Giăng 15; Giăng 16; Giăng 17. DA 662.1

Nhìn các môn đồ với tình yêu thương thiêng liêng và niềm thương cảm dịu dàng nhất, Đấng Christ phán: “Hiện bây giờ Con người được vinh hiển, và Đức Chúa Trời được vinh hiển nơi Con người.” Giu-đa đã rời khỏi phòng cao, và Đấng Christ chỉ còn lại một mình với mười một môn đồ. Ngài sắp nói về sự chia ly đang đến gần giữa Ngài với họ; nhưng trước khi làm điều này, Ngài chỉ cho họ thấy mục đích lớn lao của sứ mạng Ngài. Đây chính là điều mà Ngài luôn giữ trước mắt mình. Niềm vui của Ngài là tất cả sự hạ mình và đau khổ của Ngài sẽ làm vinh hiển danh Đức Chúa Cha. Ngài hướng những tư tưởng của các môn đồ đến điều này trước tiên. DA 662.2

Rồi xưng họ bằng danh hiệu trìu mến, “Hỡi các con trẻ,” Ngài phán: “Ta còn ở với các ngươi một ít lâu nữa. Các ngươi sẽ tìm Ta, và như Ta đã nói với người Giu-đa rằng: Các ngươi không thể đến nơi Ta đi, thì bây giờ Ta cũng nói với các ngươi như vậy.” DA 662.3

Các môn đồ không thể vui mừng khi nghe điều này. Nỗi sợ hãi ập đến trên họ. Họ vây quanh thật gần bên Đấng Cứu Thế. Thầy và Chúa của họ, vị Giáo sư và người Bạn yêu dấu của họ, Ngài quý báu đối với họ hơn cả mạng sống. Họ đã trông cậy nơi Ngài để được giúp đỡ trong mọi khó khăn, để được an ủi trong những nỗi buồn và thất vọng. Bây giờ Ngài sắp lìa bỏ họ, một nhóm người cô đơn và lệ thuộc. Những điềm báo đen tối tràn ngập tâm hồn họ. DA 662.4

Nhưng những lời của Đấng Cứu Thế phán cùng họ đầy hy vọng. Ngài biết rằng họ sẽ bị kẻ thù tấn công, và rằng mưu kế của Sa-tan thành công nhất đối với những người bị áp bức bởi khó khăn. Vì vậy Ngài hướng họ ra khỏi “những sự thấy được” mà nhìn đến “những sự không thấy được.” 2 Cô-rinh-tô 4:18. Từ chốn lưu đày trần thế, Ngài hướng tư tưởng họ đến quê hương thiên đàng. DA 662.5

“Lòng các ngươi chớ hề bối rối,” Ngài phán; “hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin Ta nữa. Trong nhà Cha Ta có nhiều chỗ ở; bằng chẳng vậy, Ta đã nói cho các ngươi rồi. Ta đi sắm sẵn cho các ngươi một chỗ. Khi Ta đã đi, và đã sắm sẵn cho các ngươi một chỗ rồi, Ta sẽ trở lại đem các ngươi đi với Ta, hầu cho Ta ở đâu thì các ngươi cũng ở đó. Các ngươi biết Ta đi đâu, và biết đường đi nữa.” Vì các ngươi mà Ta đã đến trong thế gian. Ta đang làm việc thay cho các ngươi. Khi Ta ra đi, Ta vẫn sẽ làm việc cách sốt sắng cho các ngươi. Ta đã đến thế gian để bày tỏ chính mình Ta cho các ngươi, hầu cho các ngươi tin. Ta đi đến cùng Cha để cộng tác với Ngài thay cho các ngươi. Mục đích sự ra đi của Đấng Christ trái ngược với điều các môn đồ lo sợ. Nó không có nghĩa là một sự chia ly cuối cùng. Ngài đi sắm sẵn một chỗ cho họ, để Ngài có thể trở lại và đem họ về với chính mình Ngài. Trong khi Ngài đang xây dựng những chỗ ở cho họ, thì họ phải xây dựng tánh hạnh theo hình ảnh thiêng liêng. DA 663.1

Tuy nhiên các môn đồ vẫn còn bối rối. Thô-ma, người luôn bị nghi ngờ giày vò, nói: “Lạy Chúa, chúng tôi chẳng biết Chúa đi đâu; làm sao biết đường được? Vậy Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Ta là đường đi, lẽ thật, và sự sống; chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha. Ví bằng các ngươi biết Ta, thì cũng biết Cha Ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài.” DA 663.2

Không có nhiều con đường lên thiên đàng. Mỗi người không thể tự chọn con đường của riêng mình. Đấng Christ phán: “Ta là đường đi:… chẳng bởi Ta thì không ai được đến cùng Cha.” Kể từ khi bài giảng tin lành đầu tiên được rao truyền, khi tại Ê-đen có lời tuyên bố rằng dòng dõi người nữ sẽ giày đạp đầu con rắn, Đấng Christ đã được tôn cao là đường đi, lẽ thật, và sự sống. Ngài là đường đi khi A-đam còn sống, khi A-bên dâng lên Đức Chúa Trời huyết của con chiên bị giết, tượng trưng cho huyết của Đấng Cứu Chuộc. Đấng Christ là con đường mà nhờ đó các tổ phụ và các tiên tri được cứu. Ngài là con đường duy nhất mà nhờ đó chúng ta có thể đến gần Đức Chúa Trời. DA 663.3

“Ví bằng các ngươi biết Ta,” Đấng Christ phán, “thì cũng biết Cha Ta; và từ bây giờ các ngươi biết và đã thấy Ngài.” Nhưng các môn đồ vẫn chưa hiểu. “Lạy Chúa, xin chỉ Cha cho chúng tôi,” Phi-líp kêu lên, “thì đủ rồi.” DA 663.4

Ngạc nhiên trước sự chậm hiểu của ông, Đấng Christ hỏi với nỗi ngạc nhiên đau đớn: “Hỡi Phi-líp, Ta ở cùng các ngươi đã lâu thay, mà ngươi chưa biết Ta!” Có lẽ nào ngươi không thấy Cha trong những công việc Ngài làm qua Ta sao? Ngươi không tin rằng Ta đến để làm chứng về Cha sao? “Sao ngươi lại nói rằng: Xin chỉ Cha cho chúng tôi?” “Ai đã thấy Ta, tức là đã thấy Cha.” Đấng Christ không hề thôi là Đức Chúa Trời khi Ngài trở nên người. Dù Ngài đã hạ mình xuống làm người, thần tính vẫn thuộc về Ngài. Chỉ một mình Đấng Christ có thể bày tỏ Đức Chúa Cha cho nhân loại, và các môn đồ đã được đặc ân chiêm ngưỡng sự bày tỏ này trong hơn ba năm. DA 663.5

“Hãy tin Ta rằng Ta ở trong Cha và Cha ở trong Ta; bằng chẳng, hãy tin bởi công việc Ta.” Đức tin của họ có thể an toàn nương cậy trên bằng chứng đã được ban cho trong các công việc của Đấng Christ, những công việc mà không người nào tự mình từng làm hoặc có thể làm được. Công việc của Đấng Christ làm chứng cho thần tính của Ngài. Qua Ngài, Đức Chúa Cha đã được bày tỏ. DA 664.1

Nếu các môn đồ tin vào mối liên hệ thiết yếu này giữa Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con, thì đức tin của họ sẽ không lìa bỏ họ khi họ thấy sự đau khổ và sự chết của Đấng Christ để cứu một thế gian đang hư mất. Đấng Christ tìm cách dẫn dắt họ ra khỏi tình trạng đức tin thấp kém của họ để đến với kinh nghiệm mà họ có thể nhận được nếu họ thật sự nhận biết Ngài là ai, — Đức Chúa Trời trong xác thịt loài người. Ngài mong muốn họ thấy rằng đức tin của họ phải hướng lên Đức Chúa Trời, và được neo chặt nơi đó. Đấng Cứu Thế đầy lòng thương xót của chúng ta đã sốt sắng và kiên trì biết bao trong việc tìm cách chuẩn bị cho các môn đồ Ngài đối diện cơn bão cám dỗ sắp giáng xuống trên họ. Ngài muốn họ được ẩn náu với Ngài trong Đức Chúa Trời. DA 664.2

Trong khi Đấng Christ phán những lời này, sự vinh hiển của Đức Chúa Trời chiếu rạng từ gương mặt Ngài, và tất cả những người hiện diện đều cảm thấy một sự kính sợ thánh khiết khi họ chăm chú lắng nghe những lời Ngài. Lòng họ được kéo đến với Ngài cách quả quyết hơn; và khi họ được kéo đến với Đấng Christ trong tình yêu lớn hơn, họ cũng được kéo lại gần nhau. Họ cảm thấy thiên đàng rất gần, và rằng những lời họ đang nghe là một sứ điệp đến với họ từ Cha trên trời của họ. DA 664.3

“Quả thật, quả thật, Ta nói cùng các ngươi,” Đấng Christ tiếp tục, “kẻ nào tin Ta, cũng sẽ làm việc Ta làm.” Đấng Cứu Thế hết sức tha thiết muốn các môn đồ Ngài hiểu vì mục đích gì mà thần tính của Ngài đã kết hợp với nhân tính. Ngài đến thế gian để bày tỏ sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho con người được nâng cao bởi quyền năng phục hồi của nó. Đức Chúa Trời được tỏ ra trong Ngài hầu cho Ngài có thể được tỏ ra trong họ. Đức Chúa Giê-su không bày tỏ phẩm chất nào, cũng không vận dụng quyền năng nào mà con người không thể có được qua đức tin nơi Ngài. Nhân tính trọn vẹn của Ngài là điều mà tất cả những người theo Ngài có thể có được, nếu họ thuận phục Đức Chúa Trời như Ngài đã thuận phục. DA 664.4

“Và cũng làm việc lớn hơn nữa, vì Ta đi về cùng Cha.” Qua điều này, Đấng Christ không có ý nói rằng công việc của các môn đồ sẽ có tánh chất cao trọng hơn công việc của Ngài, mà rằng nó sẽ có phạm vi lớn hơn. Ngài không chỉ đề cập đến việc làm phép lạ, mà đến tất cả những gì sẽ xảy ra dưới sự vận hành của Đức Thánh Linh. DA 664.5

Sau khi Chúa thăng thiên, các môn đồ nhận biết sự ứng nghiệm lời hứa của Ngài. Những cảnh tượng về sự đóng đinh, sự sống lại, và sự thăng thiên của Đấng Christ là một thực tại sống động đối với họ. Họ thấy rằng các lời tiên tri đã được ứng nghiệm theo nghĩa đen. Họ tra xem Kinh Thánh, và tiếp nhận sự dạy dỗ của nó với một đức tin và sự xác tín chưa từng biết đến trước đây. Họ biết rằng vị Giáo sư thiêng liêng đúng là tất cả những gì Ngài đã tuyên bố. Khi họ thuật lại kinh nghiệm của mình, và tôn cao tình yêu thương của Đức Chúa Trời, lòng người ta được tan chảy và chinh phục, và vô số người đã tin nơi Đức Chúa Giê-su. DA 667.1

Lời hứa của Đấng Cứu Thế cho các môn đồ là một lời hứa cho Hội Thánh Ngài cho đến tận thế. Đức Chúa Trời không định rằng kế hoạch tuyệt diệu của Ngài để cứu chuộc loài người chỉ đạt được những kết quả nhỏ nhặt. Tất cả những ai chịu bắt tay vào việc, không tin cậy nơi điều chính mình họ có thể làm, mà nơi điều Đức Chúa Trời có thể làm cho và qua họ, chắc chắn sẽ nhận biết sự ứng nghiệm lời hứa của Ngài. “Các ngươi sẽ làm việc lớn hơn nữa,” Ngài tuyên bố; “vì Ta đi về cùng Cha.” DA 667.2

Cho đến lúc ấy, các môn đồ vẫn chưa biết đến nguồn năng quyền và tài nguyên vô hạn của Đấng Cứu Thế. Ngài phán với họ rằng:

“Đến bây giờ, các ngươi chưa từng nhân danh ta mà cầu xin điều chi hết. Hãy cầu xin đi, các ngươi sẽ được, hầu cho sự vui mừng các ngươi được trọn vẹn.” (Giăng 16:24)

Ngài giải thích rằng bí quyết thành công của họ nằm ở việc cầu xin sức mạnh và ân điển trong danh Ngài. Ngài sẽ hiện diện trước mặt Đức Chúa Cha để cầu xin cho họ. Lời cầu nguyện của kẻ khiêm nhường nài xin được Ngài dâng lên như chính ước muốn của Ngài thay cho linh hồn ấy. Mọi lời cầu nguyện chân thành đều được nghe ở thiên đàng. Lời ấy có thể không được diễn đạt trôi chảy; nhưng nếu tấm lòng đặt vào đó, lời ấy sẽ bay lên đền thánh nơi Đức Chúa Giê-su đang phục vụ, và Ngài sẽ trình dâng lên Đức Chúa Cha mà không có một lời vụng về hay lắp bắp nào, đẹp đẽ và thơm ngát với hương của sự trọn vẹn của chính Ngài. DA 667.3

Con đường chân thành và liêm chính không phải là con đường không có chướng ngại, nhưng trong mỗi khó khăn, chúng ta phải xem đó là lời kêu gọi đến cầu nguyện. Không một ai đang sống mà có được năng quyền nào lại không phải nhận từ Đức Chúa Trời, và nguồn ban năng quyền ấy luôn mở ra cho người yếu đuối nhất trong loài người. Đức Chúa Giê-su phán:

“Các ngươi nhân danh ta mà cầu xin điều chi mặc dầu, ta sẽ làm cho, để Cha được sáng danh nơi Con. Nếu các ngươi nhân danh ta xin điều chi, ta sẽ làm cho.” (Giăng 14:13-14)

DA 667.4

Đấng Christ truyền cho các môn đồ Ngài hãy cầu nguyện “trong danh Ta.” Trong danh Đấng Christ mà những người theo Ngài đứng trước mặt Đức Chúa Trời. Nhờ giá trị của sự hy sinh được thực hiện cho họ, họ trở nên có giá trị trong mắt Chúa. Vì sự công bình của Đấng Christ được kể cho họ mà họ được xem là quý báu. Vì cớ Đấng Christ mà Chúa tha thứ cho những kẻ kính sợ Ngài. Ngài không nhìn thấy nơi họ sự nhơ nhuốc của tội nhân. Ngài nhận ra nơi họ hình ảnh giống Con Ngài, là Đấng họ tin cậy. DA 667.5

Chúa thất vọng khi dân Ngài đánh giá thấp chính mình. Ngài mong muốn cơ nghiệp được chọn của Ngài tự đánh giá bản thân theo cái giá mà Ngài đã đặt trên họ. Đức Chúa Trời muốn có họ, nếu không Ngài đã chẳng sai Con Ngài thực hiện một sứ mạng tốn kém đến thế để cứu chuộc họ. Ngài có việc dùng đến họ, và Ngài rất đẹp lòng khi họ đưa ra những đòi hỏi cao nhất nơi Ngài, để họ làm vinh hiển danh Ngài. Họ có thể trông đợi những điều lớn lao nếu họ có đức tin nơi các lời hứa của Ngài. DA 668.1

Nhưng cầu nguyện trong danh Đấng Christ mang ý nghĩa rất lớn. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải tiếp nhận tính cách của Ngài, bày tỏ tinh thần của Ngài, và làm các công việc của Ngài. Lời hứa của Đấng Cứu Thế được ban ra với điều kiện. Ngài phán: “Nếu các ngươi yêu mến Ta, thì giữ gìn các điều răn Ta.” Ngài cứu loài người, không phải cứu họ trong tội lỗi, mà cứu khỏi tội lỗi; và những ai yêu mến Ngài sẽ bày tỏ tình yêu của họ bằng sự vâng lời. DA 668.2

Mọi sự vâng lời chân thật đều xuất phát từ tấm lòng. Đối với Đấng Christ, đó là công việc của tấm lòng. Và nếu chúng ta thuận lòng, Ngài sẽ đồng hóa chính Ngài với những tư tưởng và mục đích của chúng ta đến mức hòa hợp tấm lòng và tâm trí chúng ta vào sự thuận phục ý muốn Ngài, đến nỗi khi vâng lời Ngài, chúng ta chỉ đơn thuần là làm theo những thôi thúc của chính mình. Ý chí, khi được tinh luyện và thánh hóa, sẽ tìm thấy niềm vui cao quý nhất trong việc phục vụ Ngài. Khi chúng ta biết Đức Chúa Trời như đặc ân được biết Ngài, đời sống chúng ta sẽ là một đời sống vâng lời liên tục. Qua sự trân trọng tính cách của Đấng Christ, qua sự thông công với Đức Chúa Trời, tội lỗi sẽ trở nên đáng ghê tởm đối với chúng ta. DA 668.3

Như Đấng Christ đã sống trọn luật pháp trong thân xác loài người, chúng ta cũng có thể làm như vậy nếu chúng ta nắm lấy Đấng Toàn Năng để được sức mạnh. Nhưng chúng ta không nên đặt trách nhiệm về bổn phận của mình lên người khác và chờ họ bảo chúng ta phải làm gì. Chúng ta không thể trông cậy vào loài người để được khuyên bảo. Chúa sẽ dạy chúng ta bổn phận của mình một cách sẵn lòng hệt như Ngài dạy người khác. Nếu chúng ta đến với Ngài bằng đức tin, Ngài sẽ phán những điều mầu nhiệm của Ngài cho cá nhân chúng ta. Lòng chúng ta thường sẽ nóng nảy bên trong khi Đấng ấy đến gần để thông công với chúng ta như Ngài đã làm với Hê-nóc. Những ai quyết định không làm bất cứ điều gì khiến Đức Chúa Trời không đẹp lòng, sau khi trình dâng trường hợp của mình trước Ngài, sẽ biết chính xác phải theo đường lối nào. Và họ sẽ nhận được không chỉ sự khôn ngoan mà còn cả sức mạnh. Năng lực để vâng lời, để phục vụ, sẽ được ban cho họ, như Đấng Christ đã hứa. Bất cứ điều gì được ban cho Đấng Christ—“mọi sự” để cung ứng nhu cầu của loài người sa ngã—đều được ban cho Ngài với tư cách là đầu và đại diện của nhân loại. Và

“và chúng ta xin điều gì mặc dầu, thì nhận được điều ấy, bởi chúng ta vâng giữ các điều răn của Ngài và làm những điều đẹp ý Ngài.” (I Giăng 3:22)

DA 668.4

Trước khi dâng chính mình làm sinh tế hy sinh, Đấng Christ đã tìm kiếm món quà thiết yếu và trọn vẹn nhất để ban cho những người theo Ngài, một món quà sẽ đem nguồn tài nguyên ân điển vô hạn đến trong tầm tay họ. Ngài phán:

“Ta lại sẽ nài xin Cha, Ngài sẽ ban cho các ngươi một Đấng Yên ủi khác, để ở với các ngươi đời đời, tức là Thần lẽ thật, mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi. Ta không để cho các ngươi mồ côi đâu, ta sẽ đến cùng các ngươi.” (Giăng 14:16-18)

DA 668.5

Trước thời điểm này, Thánh Linh đã ở trong thế gian; từ chính lúc khởi đầu công cuộc cứu chuộc, Ngài đã cảm động lòng người. Nhưng trong khi Đấng Christ còn ở trên đất, các môn đồ không hề mong ước một Đấng giúp đỡ nào khác. Mãi cho đến khi họ bị tước mất sự hiện diện của Ngài, họ mới cảm thấy nhu cầu cần đến Thánh Linh, và bấy giờ Ngài sẽ đến. DA 669.1

Đức Thánh Linh là đại diện của Đấng Christ, nhưng đã được tách khỏi nhân tính cá thể của con người, và độc lập với nó. Bị ràng buộc bởi thân xác loài người, Đấng Christ không thể đích thân hiện diện ở mọi nơi. Vì vậy, vì lợi ích của họ mà Ngài phải đi đến cùng Đức Chúa Cha, và sai Thánh Linh đến để làm Đấng kế nhiệm Ngài trên đất. Khi ấy, không một ai có lợi thế hơn nhờ vị trí của mình hay sự tiếp xúc cá nhân với Đấng Christ. Nhờ Thánh Linh, Đấng Cứu Thế sẽ đến gần được với tất cả mọi người. Theo nghĩa này, Ngài sẽ gần gũi với họ hơn so với khi Ngài chưa thăng thiên. DA 669.2

“Ai yêu mến Ta sẽ được Cha Ta yêu lại, Ta cũng sẽ yêu người, và tỏ chính mình Ta cho người.” Đức Chúa Giê-su đã đọc thấy tương lai của các môn đồ Ngài. Ngài thấy một người bị đưa lên đoạn đầu đài, một người lên thập tự giá, một người bị lưu đày giữa những hòn đá cô quạnh ngoài biển khơi, những người khác chịu bắt bớ và cái chết. Ngài khích lệ họ bằng lời hứa rằng trong mọi thử thách Ngài sẽ ở cùng họ. Lời hứa ấy chẳng hề mất đi chút sức mạnh nào. Chúa biết tường tận về những tôi tớ trung thành của Ngài, những người vì cớ Ngài mà đang nằm trong ngục tù hoặc bị đày ra những hòn đảo cô quạnh. Ngài an ủi họ bằng chính sự hiện diện của Ngài. Khi vì cớ lẽ thật mà người tin Chúa đứng trước vành móng ngựa của những tòa án bất công, Đấng Christ đứng bên cạnh người. Mọi lời sỉ nhục giáng xuống người đều giáng xuống Đấng Christ. Đấng Christ một lần nữa bị kết án trong con người của môn đồ Ngài. Khi một người bị giam trong những bức tường ngục tù, Đấng Christ làm say đắm tấm lòng người bằng tình yêu của Ngài. Khi một người chịu chết vì cớ Ngài, Đấng Christ phán:

“là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ.” (Khải-huyền 1:18)

Sự sống đã hy sinh vì Ta sẽ được gìn giữ cho vinh quang đời đời. DA 669.3

Trong mọi thời điểm và mọi nơi chốn, trong mọi nỗi buồn và mọi cơn hoạn nạn, khi viễn cảnh dường như tăm tối và tương lai bối rối, và khi chúng ta cảm thấy bất lực và cô đơn, Đấng An Ủi sẽ được sai đến để đáp lại lời cầu nguyện bằng đức tin. Hoàn cảnh có thể chia cách chúng ta khỏi mọi người bạn nơi trần thế; nhưng không một hoàn cảnh nào, không một khoảng cách nào, có thể chia cách chúng ta khỏi Đấng An Ủi từ trời. Dù chúng ta ở đâu, dù chúng ta đi đến nơi nào, Ngài luôn ở bên tay phải chúng ta để nâng đỡ, gìn giữ, chống đỡ, và làm vui lòng chúng ta. DA 669.4

Các môn đồ vẫn chưa hiểu được lời của Đấng Christ theo nghĩa thuộc linh, và một lần nữa Ngài giải thích ý nghĩa của Ngài. Ngài phán rằng nhờ Thánh Linh, Ngài sẽ tỏ chính mình Ngài cho họ. “Đấng An Ủi, tức là Đức Thánh Linh, mà Cha sẽ nhân danh Ta sai đến, Đấng ấy sẽ dạy dỗ các ngươi mọi sự.” Các ngươi sẽ không còn nói rằng: Tôi không thể hiểu được. Các ngươi sẽ không còn thấy mờ mờ như trong gương nữa. Các ngươi sẽ

“để anh em khi đã đâm rễ vững nền trong sự yêu thương, được hiệp cùng các thánh đồ mà hiểu thấu bề rộng, bề dài, bề cao, bề sâu của nó là thể nào, và được biết sự yêu thương của Đấng Cơ-đốc, là sự trổi hơn mọi sự thông biết, hầu cho anh em được đầy dẫy mọi sự dư dật của Đức Chúa Trời.” (Ê-phê-sô 3:18-19)

DA 670.1

Các môn đồ phải làm chứng về cuộc đời và công việc của Đấng Christ. Qua lời họ, Ngài sẽ phán với tất cả mọi người trên mặt đất. Nhưng trong sự sỉ nhục và cái chết của Đấng Christ, họ sẽ phải chịu thử thách và thất vọng lớn lao. Để sau trải nghiệm này lời họ có thể chính xác, Đức Chúa Giê-su đã hứa rằng Đấng An Ủi sẽ “nhắc lại cho các ngươi nhớ mọi điều Ta đã phán cùng các ngươi.” DA 670.2

“Ta còn có nhiều chuyện nói với các ngươi nữa,” Ngài tiếp tục, “nhưng bây giờ các ngươi không thể bằng lòng nghe được. Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến, thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật; vì Ngài không nói tự mình, nhưng nói mọi điều mình đã nghe, và tỏ bày cho các ngươi những sự sẽ đến. Ấy chính Ngài sẽ làm sáng danh ta, vì Ngài sẽ lấy điều thuộc về ta mà rao bảo cho các ngươi.” Đức Chúa Giê-su đã mở ra trước mặt các môn đồ một vùng lẽ thật rộng lớn. Nhưng họ khó lòng phân biệt được những bài học của Ngài với những truyền thống và châm ngôn của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si. Họ đã được giáo dục để chấp nhận sự dạy dỗ của các thầy ra-bi như tiếng phán của Đức Chúa Trời, và điều đó vẫn nắm giữ quyền lực trên tâm trí họ và uốn nắn tình cảm của họ. Những ý tưởng trần tục, những sự đời tạm bợ, vẫn còn chiếm một chỗ rộng lớn trong tâm tư họ. Họ không hiểu được bản chất thuộc linh của nước Đấng Christ, dù Ngài đã nhiều lần giải thích cho họ. Tâm trí họ đã trở nên rối loạn. Họ không nhận thức được giá trị của những Kinh Thánh mà Đấng Christ đã trình bày. Nhiều bài học của Ngài dường như gần như mất hết tác dụng đối với họ. Đức Chúa Giê-su thấy rằng họ không nắm bắt được ý nghĩa thật sự của lời Ngài. Với lòng thương xót, Ngài hứa rằng Đức Thánh Linh sẽ nhắc lại những lời này cho tâm trí họ. Và Ngài đã để lại nhiều điều chưa nói ra mà các môn đồ chưa thể hiểu được. Những điều này cũng sẽ được Đức Thánh Linh mở ra cho họ. Đức Thánh Linh sẽ làm sống động sự hiểu biết của họ, để họ có thể trân trọng những điều thuộc về trời. “Lúc nào Thần lẽ thật sẽ đến,” Đức Chúa Giê-su phán, “thì Ngài dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật.” DA 670.3

Đấng Yên Ủi được gọi là “Thần lẽ thật.” Công việc của Ngài là xác định và gìn giữ lẽ thật. Trước hết Ngài ngự trong lòng như Thần lẽ thật, và như vậy Ngài trở thành Đấng Yên Ủi. Có sự an ủi và bình an trong lẽ thật, nhưng không thể tìm được sự bình an hay an ủi thật sự trong điều dối trá. Chính qua những lý thuyết và truyền thống sai lạc mà Sa-tan giành được quyền lực trên tâm trí. Bằng cách hướng con người đến những tiêu chuẩn sai lạc, hắn làm méo mó tánh nết. Qua Kinh Thánh, Đức Thánh Linh phán với tâm trí, và in sâu lẽ thật vào lòng. Như vậy Ngài vạch trần sai lầm, và trục xuất nó khỏi linh hồn. Chính nhờ Thần lẽ thật, hành động qua Lời Đức Chúa Trời, mà Đấng Christ chinh phục dân được chọn của Ngài về với chính Ngài. DA 671.1

Khi mô tả cho các môn đồ về công việc của Đức Thánh Linh, Đức Chúa Giê-su tìm cách truyền cho họ niềm vui và hy vọng đã khích lệ tấm lòng của chính Ngài. Ngài vui mừng vì sự trợ giúp dồi dào mà Ngài đã ban cho Hội Thánh của Ngài. Đức Thánh Linh là món quà cao quý nhất trong mọi món quà mà Ngài có thể nài xin nơi Đức Chúa Cha cho sự tôn cao của dân Ngài. Đức Thánh Linh được ban cho như một tác nhân tái tạo, và nếu không có Ngài thì sự hy sinh của Đấng Christ sẽ trở nên vô ích. Quyền lực của sự dữ đã được củng cố trong nhiều thế kỷ, và sự khuất phục của con người trước sự giam cầm của Sa-tan thật đáng kinh ngạc. Tội lỗi chỉ có thể được chống cự và đắc thắng nhờ tác nhân quyền năng là Ngôi Thứ Ba của Đức Chúa Trời Ba Ngôi, là Đấng đến không phải với năng lực bị giảm bớt, nhưng với sự trọn vẹn của quyền năng thiêng liêng. Chính Đức Thánh Linh làm cho có hiệu lực những gì Đấng Cứu Chuộc của thế gian đã hoàn thành. Chính nhờ Đức Thánh Linh mà tấm lòng được thanh tẩy. Qua Đức Thánh Linh, người tin Chúa trở nên người dự phần vào bản tánh thiêng liêng. Đấng Christ đã ban Thánh Linh của Ngài như một quyền năng thiêng liêng để đắc thắng mọi khuynh hướng hướng về điều ác, dù là do di truyền hay do tập nhiễm, và để in dấu tánh nết của chính Ngài lên Hội Thánh Ngài. DA 671.2

Về Đức Thánh Linh, Đức Chúa Giê-su phán, “Ngài sẽ làm sáng danh ta.” Đấng Cứu Thế đến để làm sáng danh Đức Chúa Cha bằng cách bày tỏ tình yêu thương của Ngài; cũng vậy, Đức Thánh Linh sẽ làm sáng danh Đấng Christ bằng cách bày tỏ ân điển của Ngài cho thế gian. Chính hình ảnh của Đức Chúa Trời sẽ được tái tạo trong nhân loại. Vinh hiển của Đức Chúa Trời, vinh hiển của Đấng Christ, có liên quan đến sự trọn vẹn của tánh nết nơi dân Ngài. DA 671.3

“Khi Ngài [Thần lẽ thật] đến thì sẽ khiến thế gian tự cáo về tội lỗi, về sự công bình và về sự phán xét.” Sự rao giảng lời Chúa sẽ vô ích nếu thiếu sự hiện diện và trợ giúp liên tục của Đức Thánh Linh. Đây là Đấng giáo sư hữu hiệu duy nhất của lẽ thật thiêng liêng. Chỉ khi lẽ thật được Đức Thánh Linh đem vào tận lòng thì nó mới làm sống động lương tâm hoặc biến đổi đời sống. Người ta có thể trình bày văn tự của Lời Đức Chúa Trời, có thể am tường mọi mạng lịnh và lời hứa trong đó; nhưng nếu Đức Thánh Linh không khắc sâu lẽ thật vào lòng, thì sẽ không có linh hồn nào ngã trên Hòn Đá và được tan vỡ. Không có học vấn cao đến đâu, không có lợi thế lớn đến mức nào, có thể khiến một người trở thành ống dẫn ánh sáng mà thiếu sự cộng tác của Thần Đức Chúa Trời. Việc gieo hạt giống tin lành sẽ không thành công nếu hạt giống không được làm sống động bởi sương móc của trời. Trước khi một quyển sách nào trong Tân Ước được viết ra, trước khi một bài giảng tin lành nào được rao giảng sau khi Đấng Christ thăng thiên, Đức Thánh Linh đã giáng trên các sứ đồ đang cầu nguyện. Bấy giờ lời chứng của kẻ thù họ là, “Các ngươi đã làm cho thành Giê-ru-sa-lem đầy dẫy đạo giáo mình.”

“Chúng ta đã cấm ngặt các ngươi, không cho lấy danh đó mà dạy dỗ, song các ngươi lại làm cho thành Giê-ru-sa-lem đầy dẫy đạo giáo mình. Vậy, các ngươi muốn khiến máu người ấy đổ lại trên chúng ta sao!” (Công-vụ các Sứ-đồ 5:28)

DA 671.4

Đấng Christ đã hứa ban tặng phẩm là Đức Thánh Linh cho Hội Thánh Ngài, và lời hứa đó thuộc về chúng ta cũng như đã thuộc về các môn đồ đầu tiên. Nhưng cũng như mọi lời hứa khác, nó được ban với những điều kiện. Có nhiều người tin và xưng rằng mình nhận lãnh lời hứa của Chúa; họ nói về Đấng Christ và về Đức Thánh Linh, nhưng chẳng nhận được ích lợi gì. Họ không phó dâng linh hồn mình để được các tác nhân thiêng liêng dẫn dắt và điều khiển. Chúng ta không thể sử dụng Đức Thánh Linh. Đức Thánh Linh phải sử dụng chúng ta. Qua Đức Thánh Linh, Đức Chúa Trời hành động trong dân Ngài “vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.”

“Vì ấy chính Đức Chúa Trời cảm động lòng anh em vừa muốn vừa làm theo ý tốt Ngài.” (Phi-líp 2:13)

Nhưng nhiều người không chịu thuận phục điều này. Họ muốn tự quản lấy mình. Đó là lý do họ không nhận được tặng phẩm thiên thượng. Chỉ những ai khiêm nhường trông đợi nơi Đức Chúa Trời, ai chờ mong sự dẫn dắt và ân điển của Ngài, mới được ban cho Đức Thánh Linh. Quyền năng của Đức Chúa Trời chờ đợi họ cầu xin và tiếp nhận. Phước hạnh đã hứa này, khi được nhận lãnh bởi đức tin, sẽ kéo theo mọi phước hạnh khác. Nó được ban theo sự giàu có của ân điển Đấng Christ, và Ngài sẵn sàng cung ứng cho mỗi linh hồn tùy theo khả năng tiếp nhận. DA 672.1

Trong bài giảng cho các môn đồ, Đức Chúa Giê-su không hề nhắc đến cách bi thảm về sự đau khổ và cái chết của chính Ngài. Di sản cuối cùng Ngài để lại cho họ là di sản của sự bình an. Ngài phán, “Ta để sự bình an lại cho các ngươi; ta ban sự bình an ta cho các ngươi; ta cho các ngươi sự bình an chẳng phải như thế gian cho. Lòng các ngươi chớ bối rối và đừng sợ hãi.” DA 672.2

Trước khi rời căn phòng trên gác, Đấng Cứu Thế dẫn các môn đồ hát một bài ca ngợi khen. Tiếng Ngài cất lên, không phải trong những giai điệu của một bài ai ca buồn thảm, nhưng trong những âm điệu vui mừng của bài tán tụng lễ Vượt Qua: DA 672.3

“Hỡi các nước, hãy ngợi khen Đức Giê-hô-va; Hỡi các dân, khá ca tụng Ngài! Vì sự nhân từ Ngài rất lớn cho chúng ta; Sự chân thật Đức Giê-hô-va còn đến đời đời. Ha-lê-lu-gia!” (Thi-thiên 117:1-2) DA 672.4

Sau bài thánh ca, họ đi ra. Họ băng qua những con đường đông đúc, ra khỏi cổng thành tiến về núi Ô-li-ve. Họ chậm rãi tiến bước, mỗi người mải miết với những ý tưởng riêng của mình. Khi họ bắt đầu đi xuống hướng núi, Đức Chúa Giê-su phán, với giọng buồn bã sâu xa nhất, “Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tản lạc.”

“Ngài bèn phán rằng: Đêm nay các ngươi sẽ đều vấp phạm vì cớ ta, như có chép rằng: Ta sẽ đánh kẻ chăn chiên, thì chiên trong bầy sẽ bị tan lạc.” (Ma-thi-ơ 26:31)

Các môn đồ lắng nghe trong nỗi buồn rầu và kinh ngạc. Họ nhớ lại làm thế nào trong nhà hội tại Ca-bê-na-um, khi Đấng Christ nói về chính mình là bánh sự sống, nhiều người đã vấp phạm và lìa bỏ Ngài. Nhưng mười hai môn đồ đã không tỏ ra bất trung. Phi-e-rơ, thay mặt cho anh em mình, đã tuyên bố lòng trung thành đối với Đấng Christ. Bấy giờ Đấng Cứu Thế đã phán, “Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ!”

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Ta há chẳng đã chọn các ngươi là mười hai sứ đồ sao? Mà một người trong các ngươi là quỉ!” (Giăng 6:70)

Trong căn phòng trên gác, Đức Chúa Giê-su đã phán rằng một trong mười hai môn đồ sẽ phản Ngài, và Phi-e-rơ sẽ chối Ngài. Nhưng giờ đây lời của Ngài bao gồm tất cả họ. DA 673.1

Bây giờ người ta nghe tiếng Phi-e-rơ kịch liệt phản đối:

“Phi-e-rơ thưa rằng: Dầu mọi người vấp phạm vì cớ thầy, nhưng tôi chẳng hề làm vậy.” (Mác 14:29)

Trong phòng cao, ông đã tuyên bố: “Tôi sẽ liều sự sống tôi vì cớ Chúa.” Đức Chúa Giê-su đã cảnh báo ông rằng chính trong đêm ấy ông sẽ chối Đấng Cứu Thế của mình. Bây giờ Đấng Christ lặp lại lời cảnh báo:

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Quả thật, ta nói cùng ngươi, hôm nay, cũng trong đêm nay, trước khi gà gáy hai lượt, ngươi sẽ chối ta ba lần.” (Mác 14:30)

Nhưng Phi-e-rơ chỉ

“Nhưng Phi-e-rơ lại thưa cách quả quyết hơn rằng: Dầu tôi phải chết cùng thầy, tôi cũng chẳng chối thầy đâu. Hết thảy các môn đồ khác cũng đều nói như vậy.” (Mác 14:31)

Trong sự tự tin của mình, họ chối bỏ lời tuyên bố được lặp lại của Đấng biết rõ mọi sự. Họ chưa sẵn sàng cho thử thách; khi cám dỗ ập đến, họ mới hiểu được sự yếu đuối của chính mình. DA 673.2

Khi Phi-e-rơ nói rằng ông sẽ theo Chúa mình vào tù và đến cõi chết, ông thật lòng, từng lời một; nhưng ông không hiểu rõ chính mình. Ẩn giấu trong lòng ông là những yếu tố của điều ác mà hoàn cảnh sẽ thổi bùng lên. Trừ phi được làm cho ý thức về sự nguy hiểm của mình, những điều ấy sẽ chứng tỏ là sự hủy diệt đời đời của ông. Đấng Cứu Thế nhìn thấy nơi ông một lòng yêu bản thân và sự tự tin đến nỗi có thể lấn át cả tình yêu của ông dành cho Đấng Christ. Trong từng trải của ông đã bộc lộ nhiều sự yếu đuối, tội lỗi chưa được chế ngự, tinh thần bất cẩn, tính khí chưa được thánh hóa, sự khinh suất khi bước vào cám dỗ. Lời cảnh báo nghiêm trọng của Đấng Christ là một lời kêu gọi tra xét tấm lòng. Phi-e-rơ cần phải nghi ngờ chính mình, và có một đức tin sâu sắc hơn nơi Đấng Christ. Nếu ông đã hạ mình tiếp nhận lời cảnh báo, hẳn ông đã kêu cầu Đấng Chăn Chiên gìn giữ bầy chiên của Ngài. Khi sắp chìm trên Biển Ga-li-lê, ông đã kêu lên,

“Song khi thấy gió thổi, thì Phi-e-rơ sợ hãi, hòng sụp xuống nước, bèn la lên rằng: Chúa ơi, xin cứu lấy tôi!” (Ma-thi-ơ 14:30)

Bấy giờ tay của Đấng Christ đã đưa ra để nắm lấy tay ông. Cũng vậy, nếu lúc này ông kêu cầu Đức Chúa Giê-su rằng: Xin cứu con khỏi chính con, thì ông đã được gìn giữ. Nhưng Phi-e-rơ cảm thấy mình bị nghi ngờ, và ông cho điều đó là tàn nhẫn. Ông đã sẵn phật lòng, và càng trở nên cố chấp hơn trong sự tự tin của mình. DA 673.3

Đức Chúa Giê-su nhìn các môn đồ Ngài với lòng thương xót. Ngài không thể cứu họ khỏi thử thách, nhưng Ngài không để họ vô phương an ủi. Ngài quả quyết với họ rằng Ngài sẽ bẻ gãy xiềng xích của mồ mả, và tình yêu của Ngài dành cho họ sẽ không hề thất bại. Ngài phán:

“Song sau khi ta sống lại rồi, ta sẽ đi đến xứ Ga-li-lê trước các ngươi.” (Ma-thi-ơ 26:32)

Trước khi xảy ra sự chối Chúa, họ đã có lời bảo đảm về sự tha thứ. Sau khi Ngài chết và sống lại, họ biết rằng họ đã được tha thứ, và rất được yêu quý trong lòng Đấng Christ. DA 674.1

Đức Chúa Giê-su và các môn đồ đang trên đường đến Ghết-sê-ma-nê, dưới chân núi Ô-li-ve, một nơi vắng vẻ mà Ngài thường lui tới để suy gẫm và cầu nguyện. Đấng Cứu Thế đã giải thích cho các môn đồ về sứ mạng của Ngài đối với thế gian, và mối liên hệ thuộc linh mà họ phải gìn giữ với Ngài. Bây giờ Ngài minh họa bài học ấy. Mặt trăng đang chiếu sáng, và làm cho Ngài trông thấy một cây nho sum suê. Lưu ý các môn đồ về cây nho ấy, Ngài dùng nó làm một biểu tượng. DA 674.2

Ngài phán: “Ta là gốc nho thật.” Thay vì chọn cây kè duyên dáng, cây bá hương cao vút, hay cây sồi vững chắc, Đức Chúa Giê-su lấy gốc nho với những tua bám của nó để tượng trưng cho chính Ngài. Cây kè, cây bá hương và cây sồi đứng một mình. Chúng chẳng cần chống đỡ. Nhưng gốc nho thì quấn quanh giàn, và nhờ đó vươn lên trời. Cũng vậy, trong nhân tánh của Ngài, Đấng Christ đã nương cậy nơi quyền năng thiêng liêng. Ngài tuyên bố:

“Ta không thể tự mình làm nổi việc gì; ta xét đoán theo điều ta nghe, và sự xét đoán ta là công bình, vì ta chẳng tìm ý muốn của ta, nhưng tìm ý muốn của Đấng đã sai ta.” (Giăng 5:30)

DA 674.3

“Ta là gốc nho thật.” Người Do Thái luôn xem cây nho là loài cây cao quý nhất, và là hình bóng của tất cả những gì đầy quyền năng, ưu việt và sai trái. Y-sơ-ra-ên đã được ví như một cây nho mà Đức Chúa Trời đã trồng trong Đất Hứa. Người Do Thái đặt hy vọng cứu rỗi của họ trên sự kiện rằng họ thuộc về Y-sơ-ra-ên. Nhưng Đức Chúa Giê-su phán: Ta là gốc nho thật. Đừng tưởng rằng nhờ mối liên hệ với Y-sơ-ra-ên mà các ngươi có thể trở nên kẻ dự phần vào sự sống của Đức Chúa Trời, và là kẻ thừa hưởng lời hứa của Ngài. Chỉ qua một mình Ta mà sự sống thuộc linh được tiếp nhận. DA 675.1

“Ta là gốc nho thật, Cha ta là người trồng nho.” Trên các đồi của xứ Pa-lét-tin, Cha thiên thượng của chúng ta đã trồng cây nho tốt đẹp này, và chính Ngài là người trồng nho. Nhiều người đã bị thu hút bởi vẻ đẹp của cây nho này, và tuyên bố nguồn gốc thiên thượng của nó. Nhưng đối với các nhà lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên, nó dường như là một cái rễ ra từ đất khô. Họ lấy cây ấy, dập nát nó, và giày đạp nó dưới gót chân ô uế của họ. Ý họ là hủy diệt nó vĩnh viễn. Nhưng Đấng Trồng Nho thiên thượng không bao giờ rời mắt khỏi cây của Ngài. Sau khi loài người tưởng họ đã giết nó, Ngài lấy nó, và trồng lại bên kia bức tường. Gốc nho không còn được thấy nữa. Nó được giấu khỏi những cuộc tấn công thô bạo của loài người. Nhưng các nhánh của cây nho thì rủ qua bức tường. Chúng phải tượng trưng cho cây nho. Qua chúng, những cành ghép vẫn có thể được kết hiệp với cây nho. Từ chúng, trái đã được sinh ra. Đã có một mùa gặt mà khách qua đường đã hái lấy. DA 675.2

Đấng Christ phán với các môn đồ: “Ta là gốc nho, các ngươi là nhánh.” Dù Ngài sắp lìa khỏi họ, sự hiệp một thuộc linh của họ với Ngài sẽ không thay đổi. Ngài phán, sự gắn kết của nhánh với gốc nho tượng trưng cho mối liên hệ mà các ngươi phải gìn giữ với Ta. Chồi non được ghép vào cây nho sống, và từng thớ một, từng mạch một, nó lớn lên trong gốc nho. Sự sống của gốc nho trở thành sự sống của nhánh. Cũng vậy, linh hồn đã chết trong sự vi phạm và tội lỗi nhận được sự sống qua mối liên kết với Đấng Christ. Bởi đức tin nơi Ngài là Đấng Cứu Thế của riêng mình mà sự hiệp một được hình thành. Tội nhân kết hiệp sự yếu đuối của mình với sức mạnh của Đấng Christ, sự trống không của mình với sự đầy trọn của Đấng Christ, sự mỏng manh của mình với quyền năng bền vững của Đấng Christ. Bấy giờ người ấy có tâm trí của Đấng Christ. Nhân tánh của Đấng Christ đã chạm đến nhân tánh của chúng ta, và nhân tánh của chúng ta đã chạm đến thần tánh. Như vậy, qua sự tác động của Đức Thánh Linh, con người trở nên kẻ dự phần bản tánh thiêng liêng. Người ấy được tiếp nhận trong Đấng Yêu Dấu. DA 675.3

Sự hiệp một với Đấng Christ này, một khi đã được hình thành, phải được duy trì. Đấng Christ phán: “Hãy cứ ở trong Ta, thì Ta sẽ ở trong các ngươi. Như nhánh nho, nếu không dính vào gốc nho, thì không tự mình kết quả được; cũng một lẽ ấy, nếu các ngươi chẳng cứ ở trong Ta, thì cũng không kết quả được.” Đây không phải là một cái chạm thoáng qua, không phải là một mối liên kết lúc có lúc không. Nhánh trở nên một phần của gốc nho sống. Sự truyền sự sống, sức mạnh và sự kết quả từ rễ đến các nhánh là không bị cản trở và liên tục. Tách rời khỏi gốc nho, nhánh không thể sống. Đức Chúa Giê-su phán, cũng vậy, các ngươi không thể sống tách rời khỏi Ta. Sự sống mà các ngươi đã nhận được từ Ta chỉ có thể được giữ gìn bằng sự thông công liên tục. Nếu không có Ta, các ngươi không thể thắng được một tội lỗi, hay chống cự một cám dỗ nào. DA 676.1

“Hãy cứ ở trong Ta, thì Ta sẽ ở trong các ngươi.” Ở trong Đấng Christ có nghĩa là liên tục tiếp nhận Thần Ngài, một đời sống hoàn toàn dâng mình cho sự phục vụ Ngài. Kênh thông công giữa con người và Đức Chúa Trời của mình phải luôn rộng mở. Như nhánh nho không ngừng rút nhựa sống từ gốc nho sống, chúng ta cũng phải bám lấy Đức Chúa Giê-su, và bởi đức tin nhận lãnh từ Ngài sức mạnh và sự trọn vẹn của chính bản tánh Ngài. DA 676.2

Rễ truyền sự nuôi dưỡng của nó qua nhánh đến tận cành nhỏ ngoài cùng. Cũng vậy, Đấng Christ truyền dòng sức mạnh thuộc linh đến mỗi tín hữu. Hễ linh hồn còn được kết hiệp với Đấng Christ, thì không có nguy cơ nó sẽ héo úa hay tàn lụi. DA 676.3

Sự sống của gốc nho sẽ được tỏ ra trong những trái thơm ngon trên các nhánh. Đức Chúa Giê-su phán: “Ai cứ ở trong Ta và Ta trong họ thì sinh ra lắm trái; vì ngoài Ta, các ngươi chẳng làm chi được.” Khi chúng ta sống bởi đức tin nơi Con Đức Chúa Trời, thì các trái của Thánh Linh sẽ được thấy trong đời sống chúng ta; không thiếu một trái nào. DA 676.4

“Cha ta là người trồng nho. Hễ nhánh nào trong Ta mà không kết quả thì Ngài chặt hết.” Trong khi cành ghép bề ngoài kết hiệp với gốc nho, có thể không hề có sự liên kết sống động bên trong. Bấy giờ sẽ không có sự tăng trưởng hay kết quả. Cũng vậy, có thể có một sự liên kết bề ngoài với Đấng Christ mà không có sự hiệp một thật bởi đức tin với Ngài. Việc xưng nhận đạo đặt người ta vào Hội Thánh, nhưng bản tánh và hành vi mới cho thấy họ có liên kết với Đấng Christ hay không. Nếu họ không kết trái, thì họ là những nhánh giả. Sự tách rời khỏi Đấng Christ của họ kéo theo một sự hủy diệt trọn vẹn như được tượng trưng bởi nhánh đã chết. Đấng Christ phán: “Nếu ai chẳng cứ ở trong Ta thì phải ném ra ngoài, cũng như nhánh nho; nhánh khô đi, người ta lượm lấy, quăng vào lửa, thì nó cháy.” DA 676.5

“Còn hễ nhánh nào kết quả, thì Ngài tỉa sửa cho được sai trái hơn.” Trong số mười hai người được chọn đã theo Đức Chúa Giê-su, có một người như nhánh khô sắp bị cất đi; những người còn lại phải trải qua lưỡi dao tỉa của thử thách cay đắng. Với sự dịu dàng trang nghiêm, Đức Chúa Giê-su giải thích mục đích của người trồng nho. Việc tỉa sửa sẽ gây đau đớn, nhưng chính Đức Chúa Cha là Đấng dùng con dao. Ngài không làm việc với bàn tay bừa bãi hay tấm lòng thờ ơ. Có những nhánh bò lan trên mặt đất; những nhánh này phải được cắt rời khỏi những chỗ tựa trần tục mà tua chúng đang bám vào. Chúng phải vươn lên trời và tìm chỗ tựa nơi Đức Chúa Trời. Những lá quá rậm rạp rút mất dòng sống khỏi trái cây thì phải được tỉa bỏ. Phần mọc um tùm phải được cắt đi, để dành chỗ cho những tia chữa lành của Mặt Trời Công Bình. Người trồng nho tỉa bỏ những phần mọc có hại, để trái cây được sai và dồi dào hơn. DA 676.6

Đức Chúa Giê-su phán: “Nầy, Cha ta sẽ được sáng danh là thể nào: ấy là các ngươi được kết nhiều quả.” Đức Chúa Trời muốn bày tỏ qua bạn sự thánh khiết, lòng nhân từ và sự thương xót thuộc về bản tánh của chính Ngài. Tuy nhiên, Đấng Cứu Thế không bảo các môn đồ phải lao nhọc để kết quả. Ngài bảo họ hãy cứ ở trong Ngài. Ngài phán: “Ví bằng các ngươi cứ ở trong ta, và những lời ta ở trong các ngươi, hãy cầu xin mọi điều mình muốn, thì sẽ được điều đó.” Chính nhờ lời mà Đấng Christ ở trong những kẻ theo Ngài. Đây cũng chính là sự liên hiệp sống động được tượng trưng bằng việc ăn thịt và uống huyết Ngài. Lời của Đấng Christ là thần linh và sự sống. Tiếp nhận những lời ấy, bạn tiếp nhận sự sống của Gốc Nho. Bạn sống “nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.”

“Đức Chúa Giê-su đáp: Có lời chép rằng: Người ta sống chẳng phải chỉ nhờ bánh mà thôi, song nhờ mọi lời nói ra từ miệng Đức Chúa Trời.” (Ma-thi-ơ 4:4)

Sự sống của Đấng Christ trong bạn sanh ra cùng một thứ trái như trong Ngài. Sống trong Đấng Christ, gắn bó với Đấng Christ, được Đấng Christ nâng đỡ, rút lấy chất nuôi dưỡng từ Đấng Christ, bạn kết quả giống như Đấng Christ. DA 677.1

Trong lần gặp gỡ cuối cùng này với các môn đồ, điều ước ao lớn lao mà Đấng Christ bày tỏ cho họ là họ phải yêu thương nhau như Ngài đã yêu thương họ. Ngài đã nói đi nói lại điều này. Ngài nhiều lần phán: “Ta truyền cho các ngươi những điều răn đó, đặng các ngươi yêu mến nhau.” Mệnh lệnh đầu tiên của Ngài khi ở riêng với họ trong phòng cao là: “Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, nghĩa là các ngươi phải yêu nhau; như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy.” Đối với các môn đồ, điều răn này là mới; vì họ chưa hề yêu thương nhau như Đấng Christ đã yêu thương họ. Ngài thấy rằng những tư tưởng và động cơ mới phải chi phối họ; những nguyên tắc mới phải được họ thực hành; qua sự sống và sự chết của Ngài, họ phải tiếp nhận một quan niệm mới về tình yêu thương. Mệnh lệnh phải yêu thương nhau mang một ý nghĩa mới dưới ánh sáng sự hy sinh của Ngài. Toàn bộ công cuộc ân điển là một sự phục vụ liên tục bằng tình yêu thương, bằng nỗ lực quên mình và hy sinh. Trong mỗi giờ Đấng Christ tạm ngụ trên đất, tình yêu thương của Đức Chúa Trời tuôn chảy từ Ngài thành những dòng không thể kìm hãm được. Hết thảy những ai được thấm nhuần Thánh Linh của Ngài sẽ yêu thương như Ngài đã yêu thương. Chính nguyên tắc đã thúc đẩy Đấng Christ sẽ thúc đẩy họ trong mọi cách cư xử với nhau. DA 677.2

Tình yêu thương này là bằng chứng về tư cách môn đồ của họ. Đức Chúa Giê-su phán: “Nếu các ngươi yêu nhau, thì ấy là tại điều đó mà thiên hạ sẽ nhận biết các ngươi là môn đồ ta.” Khi người ta được kết hiệp với nhau, không phải bởi sức mạnh hay tư lợi, mà bởi tình yêu thương, thì họ bày tỏ sự vận hành của một ảnh hưởng vượt trên mọi ảnh hưởng của loài người. Nơi nào có sự hiệp một này, thì đó là bằng chứng rằng ảnh hưởng tượng của Đức Chúa Trời đang được phục hồi nơi loài người, rằng một nguyên tắc sống mới đã được gieo trồng. Nó cho thấy rằng trong bản tánh thiêng liêng có quyền năng chống lại các thế lực siêu nhiên của điều ác, và rằng ân điển của Đức Chúa Trời chế ngự lòng vị kỷ vốn có trong tấm lòng tự nhiên. DA 678.1

Tình yêu thương này, được bày tỏ trong Hội Thánh, chắc chắn sẽ khơi dậy cơn thạnh nộ của Sa-tan. Đấng Christ không vạch ra cho các môn đồ một con đường dễ dàng. Ngài phán: “Ví bằng người đời ghét các ngươi, thì hãy biết rằng họ đã ghét ta trước các ngươi. Nếu các ngươi thuộc về thế gian, thì người đời sẽ yêu kẻ thuộc về mình; nhưng vì các ngươi không thuộc về thế gian, và ta đã lựa chọn các ngươi giữa thế gian, bởi cớ đó người đời ghét các ngươi. Hãy nhớ lời ta đã nói cùng các ngươi: Đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình. Nếu họ đã bắt bớ ta, ắt cũng bắt bớ các ngươi; bằng họ đã giữ lời ta, ắt cũng giữ lời các ngươi. Nhưng họ sẽ vì danh ta mà đãi các ngươi dường ấy, nhân họ không biết Đấng đã sai ta đến.” Tin lành phải được tiến hành bằng cuộc chiến tấn công, giữa sự chống đối, hiểm nguy, mất mát và đau khổ. Nhưng những người làm công việc này chỉ đang bước theo dấu chân của Thầy mình. DA 678.2

Là Đấng Cứu Chuộc của thế gian, Đấng Christ luôn luôn phải đương đầu với điều dường như là thất bại. Ngài, sứ giả của lòng thương xót cho thế gian chúng ta, dường như chỉ làm được rất ít công việc Ngài hằng ao ước làm trong việc nâng đỡ và cứu rỗi. Các ảnh hưởng của Sa-tan luôn luôn hoạt động để chống lại đường lối của Ngài. Nhưng Ngài không nản lòng. Qua lời tiên tri của Ê-sai, Ngài tuyên bố: “Ta đã làm việc luống công, đã hao sức vô ích và không kết quả; song lẽ ngay thẳng của ta ở nơi Đức Giê-hô-va, sự ban thưởng cho ta ở nơi Đức Chúa Trời ta… Dầu Y-sơ-ra-ên chưa được nhóm lại, ta sẽ được tôn trọng trước mắt Đức Giê-hô-va, và Đức Chúa Trời ta sẽ là sức mạnh ta.” Lời hứa được ban cho chính Đấng Christ: “Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu Chuộc Y-sơ-ra-ên, và Đấng Thánh của Ngài, phán cùng người bị loài người khinh dể, bị dân nầy gớm ghiếc… Đức Giê-hô-va phán như vầy:… Ta sẽ gìn giữ ngươi, phó ngươi làm giao ước của dân, đặng lập lại xứ nầy và chia đất hoang vu làm sản nghiệp cho; đặng bảo kẻ bị trói rằng: Hãy ra, và bảo kẻ ở trong nơi tối tăm rằng: Hãy tỏ mình!… Họ sẽ không đói không khát, hơi nắng chẳng đốt đến, khí nóng mặt trời cũng không hề khảm tới; vì Đấng thương xót họ sẽ dắt dẫn, đem họ đến gần suối nước.”

“Ta có nói rằng: Ta đã làm việc luống công, đã hao sức vô ích và không kết quả. Song lẽ ngay thẳng của ta ở nơi Đức Giê-hô-va, sự ban thưởng cho ta ở nơi Đức Chúa Trời ta. Bây giờ, Đức Giê-hô-va là Đấng đã lập ta làm tôi tớ Ngài từ trong bụng mẹ, có khiến ta dẫn Gia-cốp đến cùng Ngài, và nhóm Y-sơ-ra-ên về cùng Ngài; vì ta được tôn trọng trước mắt Đức Giê-hô-va, và Đức Chúa Trời ta là sức mạnh ta. Đức Giê-hô-va, Đấng Cứu chuộc Y-sơ-ra-ên, và Đấng Thánh của Ngài, phán cùng người bị loài người khinh dể, bị dân này gớm ghiếc, là người làm tôi kẻ có quyền thế, như vầy: Các vua sẽ thấy và đứng dậy; các quan trưởng sẽ quì lạy, vì cớ Đức Giê-hô-va là Đấng thành tín, tức là Đấng Thánh của Y-sơ-ra-ên, là Đấng đã chọn ngươi. Đức Giê-hô-va phán như vầy: Ta đã nhậm lời ngươi trong kỳ thuận tiện, đã vùa giúp ngươi trong ngày cứu rỗi. Ta sẽ gìn giữ ngươi, phó ngươi làm giao ước của dân, đặng lập lại xứ này và chia đất hoang vu làm sản nghiệp cho; đặng bảo kẻ bị trói rằng: Hãy ra, và bảo kẻ ở trong nơi tối tăm rằng: Hãy tỏ mình! Họ sẽ chăn thả trên đường, và đồng cỏ họ sẽ ở trên các núi trọi. Họ sẽ không đói không khát, hơi nắng chẳng đốt đến, khí nóng mặt trời chẳng phạm đến nữa; vì Đấng thương xót họ sẽ dắt dẫn, đem họ đến gần suối nước.” (Ê-sai 49:4,5,7-10)

DA 678.3

Trên lời này, Đức Chúa Giê-su an nghỉ, và Ngài không cho Sa-tan một cơ hội nào. Khi những bước cuối cùng của sự hạ mình của Đấng Christ sắp được thực hiện, khi nỗi buồn sâu thẳm nhất đang vây phủ linh hồn Ngài, Ngài phán cùng các môn đồ: “Vua chúa thế gian nầy hầu đến; người chẳng có chi hết nơi ta.” “Vua chúa thế gian nầy đã bị đoán xét.” Hiện bây giờ nó sẽ bị quăng ra.

“Ta sẽ chẳng nói chi với các ngươi nữa, vì vua chúa thế gian này hầu đến; người chẳng có chi hết nơi ta.” (Giăng 14:30)

“về sự phán xét, vì vua chúa thế gian này đã bị đoán xét.” (Giăng 16:11)

“Hiện bây giờ, có sự phán xét thế gian này, và hiện nay vua chúa của thế gian này phải bị xua đuổi.” (Giăng 12:31)

Với con mắt tiên tri, Đấng Christ nhìn thấy những cảnh sẽ diễn ra trong cuộc xung đột lớn cuối cùng của Ngài. Ngài biết rằng khi Ngài kêu lên “Mọi việc đã được trọn”, thì cả thiên đàng sẽ khải hoàn. Tai Ngài nghe được âm nhạc vang xa và những tiếng reo mừng chiến thắng trong các sân thiên đàng. Ngài biết rằng tiếng chuông báo tử của vương quốc Sa-tan bấy giờ sẽ vang lên, và danh Đấng Christ sẽ được truyền rao từ thế giới này đến thế giới khác khắp cả vũ trụ. DA 679.1

Đấng Christ vui mừng vì Ngài có thể làm cho những kẻ theo Ngài nhiều hơn điều họ có thể cầu xin hay suy tưởng. Ngài nói với sự quả quyết, biết rằng một sắc lệnh toàn năng đã được ban ra trước khi thế gian được dựng nên. Ngài biết rằng lẽ thật, được trang bị bằng quyền năng vô hạn của Đức Thánh Linh, sẽ đắc thắng trong cuộc tranh đấu với điều ác; và rằng lá cờ nhuốm máu sẽ phất phới đắc thắng trên những kẻ theo Ngài. Ngài biết rằng đời sống của những môn đồ tin cậy Ngài sẽ giống như đời sống Ngài, một chuỗi những chiến thắng không gián đoạn, không được nhìn nhận như vậy tại đây, nhưng được công nhận như vậy trong cõi đời sau vĩ đại. DA 679.2

Ngài phán: “Ta đã bảo các ngươi những điều đó, hầu cho các ngươi có lòng bình yên trong ta. Các ngươi sẽ có sự hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy cứ vững lòng, ta đã thắng thế gian rồi.” Đấng Christ không hề thất bại, cũng không hề nản lòng, và những kẻ theo Ngài phải bày tỏ một đức tin cũng có bản chất bền bỉ như vậy. Họ phải sống như Ngài đã sống, và làm việc như Ngài đã làm việc, bởi vì họ nương cậy nơi Ngài là Đại Công Nhân. Họ phải có lòng can đảm, nghị lực và sự kiên trì. Dù những điều dường như bất khả thi cản trở đường lối họ, nhờ ân điển Ngài họ phải tiến tới. Thay vì than van về những khó khăn, họ được kêu gọi vượt qua chúng. Họ chẳng nên tuyệt vọng về điều gì, và phải hy vọng mọi điều. Bằng dây xích vàng của tình yêu thương vô song của Ngài, Đấng Christ đã buộc họ vào ngôi của Đức Chúa Trời. Mục đích của Ngài là ảnh hưởng cao cả nhất trong vũ trụ, phát ra từ nguồn của mọi quyền năng, sẽ thuộc về họ. Họ phải có quyền năng để chống lại điều ác, quyền năng mà cả đất, sự chết, lẫn âm phủ đều không thắng nổi, quyền năng giúp họ đắc thắng như Đấng Christ đã đắc thắng. DA 679.3

Đấng Christ thiết kế rằng trật tự của thiên đàng, kế hoạch cai trị của thiên đàng, sự hòa hợp thiêng liêng của thiên đàng, sẽ được thể hiện trong Hội Thánh Ngài trên đất. Như vậy, Ngài được tôn vinh trong dân sự Ngài. Qua họ, Mặt Trời Công Bình sẽ chiếu sáng với ánh quang không hề lu mờ cho thế gian. Đấng Christ đã ban cho Hội Thánh Ngài những phương tiện dồi dào, để Ngài có thể nhận được nguồn vinh hiển lớn lao từ cơ nghiệp đã được cứu chuộc và mua chuộc của Ngài. Ngài đã ban cho dân sự Ngài những khả năng và phước lành để họ có thể thể hiện sự đầy đủ của chính Ngài. Hội Thánh, được trang bị bằng sự công bình của Đấng Christ, là kho tàng của Ngài, nơi mà sự giàu có về lòng thương xót, ân điển và tình yêu của Ngài sẽ được tỏ bày cách trọn vẹn và sau cùng. Đấng Christ nhìn xem dân sự Ngài trong sự tinh sạch và toàn hảo của họ, như phần thưởng cho sự hạ mình của Ngài, và là phần bổ sung cho vinh hiển của Ngài,—Đấng Christ, Trung Tâm vĩ đại, từ đó tỏa ra mọi vinh hiển. DA 680.1

Bằng những lời mạnh mẽ và đầy hy vọng, Đấng Cứu Thế kết thúc lời dạy dỗ của Ngài. Rồi Ngài tuôn đổ gánh nặng của linh hồn Ngài trong lời cầu nguyện cho các môn đồ. Ngước mắt lên trời, Ngài phán:

“Đức Chúa Giê-su phán như vậy, đoạn, ngước mắt lên trời mà rằng: Thưa Cha, giờ đã đến; xin làm vinh hiển Con, hầu cho Con cũng làm vinh hiển Cha, và nhân quyền phép Cha đã ban cho Con cai trị loài xác thịt, Con được ban sự sống đời đời cho những kẻ mà Cha đã giao phó cho Con. Vả, sự sống đời đời là nhìn biết Cha, tức là Đức Chúa Trời có một và thật, cùng Giê-su Cơ-đốc, là Đấng Cha đã sai đến.” (Giăng 17:1-3)

DA 680.2

Đấng Christ đã hoàn thành công việc được giao cho Ngài làm. Ngài đã làm vinh hiển Đức Chúa Trời trên đất. Ngài đã bày tỏ danh của Đức Chúa Cha. Ngài đã quy tụ những người sẽ tiếp tục công việc của Ngài giữa loài người. Và Ngài phán:

“Phàm mọi điều thuộc về Con tức là thuộc về Cha, mọi điều thuộc về Cha tức là thuộc về Con, và Con nhân họ được tôn vinh. Con không ở thế gian nữa, nhưng họ còn ở thế gian, và Con về cùng Cha. Lạy Cha thánh, xin gìn giữ họ trong danh Cha, là danh Cha đã ban cho Con, để họ cũng hiệp làm một như chúng ta vậy.” (Giăng 17:10-11)

“Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến. Con đã ban cho họ sự vinh hiển mà Cha đã ban cho Con, để hiệp làm một cũng như chúng ta vẫn là một: Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để cho họ toàn vẹn hiệp làm một, và cho thế gian biết chính Cha đã sai Con đến, và Cha đã yêu thương họ cũng như Cha đã yêu thương Con.” (Giăng 17:20-23)

DA 680.3

Như vậy, bằng ngôn ngữ của Đấng có thẩm quyền thiêng liêng, Đấng Christ giao phó Hội Thánh được tuyển chọn của Ngài vào vòng tay của Đức Chúa Cha. Như một thầy tế lễ thượng phẩm đã được biệt riêng, Ngài cầu thay cho dân sự Ngài. Như một người chăn trung tín, Ngài quy tụ bầy chiên của Ngài dưới bóng của Đấng Toàn Năng, trong nơi ẩn náu vững chắc và chắc chắn. Trận chiến cuối cùng với Sa-tan đang chờ đợi Ngài, và Ngài bước ra để nghênh chiến. DA 680.4