Một Đầy Tớ Của Các Đầy Tớ

Chương này dựa trên Lu-ca 22:7-18, 24; Giăng 13:1-17. DA 642.1

Trong căn phòng cao của một ngôi nhà tại thành Giê-ru-sa-lem, Đấng Christ đang ngồi nơi bàn ăn với các môn đồ Ngài. Họ đã tụ họp để cử hành lễ Vượt Qua. Đấng Cứu Thế mong muốn giữ kỳ lễ này một mình với mười hai môn đồ. Ngài biết rằng giờ Ngài đã đến; chính Ngài là chiên con thật của lễ Vượt Qua, và vào ngày người ta ăn lễ Vượt Qua thì Ngài phải bị hiến tế. Ngài sắp uống chén thạnh nộ; chẳng bao lâu nữa Ngài phải nhận lấy phép báp-têm cuối cùng của sự đau khổ. Nhưng vẫn còn lại cho Ngài một vài giờ yên tĩnh, và những giờ này sẽ được dùng vì lợi ích của các môn đồ yêu dấu của Ngài. DA 642.2

Cả cuộc đời của Đấng Christ là một cuộc đời phục vụ vô kỷ. “Không phải để người ta hầu việc mình, song để mình hầu việc người ta” (Ma-thi-ơ 20:28), đó là bài học trong mỗi hành động của Ngài. Nhưng các môn đồ vẫn chưa học được bài học đó. Trong bữa ăn lễ Vượt Qua cuối cùng này, Đức Chúa Giê-su lặp lại lời dạy của Ngài bằng một minh họa khắc sâu nó mãi mãi vào tâm trí và lòng họ. DA 642.3

Những lần trò chuyện giữa Đức Chúa Giê-su và các môn đồ thường là những lúc vui mừng êm ả, được tất cả họ rất quý trọng. Những bữa ăn lễ Vượt Qua từng là những khung cảnh đặc biệt đáng quan tâm; nhưng trong dịp này Đức Chúa Giê-su lại bối rối. Lòng Ngài nặng trĩu, và một bóng tối phủ trên gương mặt Ngài. Khi Ngài gặp các môn đồ trong căn phòng cao, họ nhận thấy có điều gì đó đang đè nặng tâm trí Ngài, và mặc dù không biết nguyên do, họ vẫn cảm thông với nỗi buồn của Ngài. DA 642.4

Khi họ quây quần quanh bàn, Ngài phán với giọng buồn bã cảm động:

“Ngài phán rằng: Ta rất muốn ăn lễ Vượt qua này với các ngươi trước khi ta chịu đau đớn. Vì, ta nói cùng các ngươi, ta sẽ không ăn lễ này nữa cho đến khi lễ ấy được trọn trong nước Đức Chúa Trời. Ngài bèn cầm chén, tạ ơn, rồi phán rằng: Hãy lấy cái này phân phát cho nhau. Vì, ta nói cùng các ngươi, từ nay ta sẽ không uống trái nho nữa, cho tới khi nước Đức Chúa Trời đến rồi.” (Lu-ca 22:15-18)

DA 643.1

Đấng Christ biết rằng đã đến lúc Ngài lìa khỏi thế gian mà về cùng Cha Ngài. Và vì đã yêu kẻ thuộc về mình trong thế gian, Ngài cứ yêu cho đến cuối cùng. Bấy giờ Ngài ở dưới bóng của thập tự giá, và nỗi đau đang giày vò lòng Ngài. Ngài biết rằng Ngài sẽ bị bỏ rơi trong giờ phản bội. Ngài biết rằng Ngài sẽ bị xử tử bằng phương cách nhục nhã nhất dành cho những kẻ phạm tội. Ngài biết sự vô ơn và độc ác của những kẻ mà Ngài đến để cứu. Ngài biết sự hy sinh Ngài phải dâng lớn lao biết bao, và đối với bao nhiêu người thì sự ấy sẽ trở nên vô ích. Biết hết mọi sự đang chờ đợi mình, lẽ tự nhiên Ngài có thể bị tràn ngập bởi ý nghĩ về sự sỉ nhục và đau khổ của chính mình. Nhưng Ngài nhìn mười hai môn đồ, là những người đã ở cùng Ngài như thuộc về Ngài, và là những người, sau khi nỗi sỉ nhục, buồn rầu và sự đối xử đau đớn của Ngài chấm dứt, sẽ bị bỏ lại để vật lộn trong thế gian. Những ý nghĩ về điều chính Ngài phải chịu đựng luôn gắn liền với các môn đồ Ngài. Ngài không nghĩ đến bản thân. Sự quan tâm của Ngài dành cho họ là điều cao trọng nhất trong tâm trí Ngài. DA 643.2

Trong buổi tối cuối cùng này với các môn đồ, Đức Chúa Giê-su có nhiều điều muốn nói với họ. Nếu họ đã được chuẩn bị để tiếp nhận điều Ngài khao khát truyền đạt, thì họ đã được cứu khỏi nỗi thống khổ tan nát cõi lòng, khỏi sự thất vọng và lòng vô tín. Nhưng Đức Chúa Giê-su thấy rằng họ không thể chịu nổi điều Ngài muốn nói. Khi Ngài nhìn vào gương mặt họ, những lời cảnh báo và an ủi ngừng lại nơi môi Ngài. Những khoảnh khắc trôi qua trong yên lặng. Đức Chúa Giê-su dường như đang chờ đợi. Các môn đồ không yên lòng. Sự cảm thông và lòng dịu dàng được khơi dậy bởi nỗi buồn của Đấng Christ dường như đã tan biến. Những lời buồn bã của Ngài, chỉ về sự đau khổ của chính Ngài, đã để lại ấn tượng nhỏ nhoi. Những cái liếc nhìn mà họ ném vào nhau nói lên sự ghen tị và tranh cạnh. DA 643.3

Có “sự cãi lẫy nhau, ai trong các môn đồ được coi là lớn hơn hết.” Sự tranh cạnh này, diễn ra ngay trước mặt Đấng Christ, đã làm Ngài buồn phiền và đau lòng. Các môn đồ vẫn bám lấy ý tưởng yêu thích của họ rằng Đấng Christ sẽ tỏ ra quyền năng của Ngài và lấy vị trí của Ngài trên ngôi Đa-vít. Và trong lòng mỗi người vẫn còn ao ước chỗ cao nhất trong vương quốc. Họ đã tự đánh giá mình và đánh giá lẫn nhau, và thay vì xem anh em mình xứng đáng hơn, họ lại đặt mình lên trước. Lời cầu xin của Gia-cơ và Giăng được ngồi bên hữu và bên tả ngôi của Đấng Christ đã khơi dậy sự phẫn nộ của những người kia. Việc hai anh em dám xin chỗ cao nhất đã khiến mười người kia bực bội đến nỗi sự ly gián có nguy cơ xảy ra. Họ cảm thấy mình bị đánh giá sai, rằng lòng trung thành và tài năng của mình không được nhìn nhận. Giu-đa là người gay gắt nhất với Gia-cơ và Giăng. DA 643.4

Khi các môn đồ bước vào phòng dự bữa ăn, lòng họ đầy những cảm giác oán giận. Giu-đa chen vào kế bên Đấng Christ phía bên trái; Giăng ở bên phải. Nếu có một chỗ cao nhất, thì Giu-đa quyết phải có cho được, và chỗ đó được cho là ngồi cạnh Đấng Christ. Vậy mà Giu-đa lại là một kẻ phản bội. DA 644.1

Một nguyên nhân khác gây bất hòa đã nảy sinh. Trong một bữa tiệc, theo thông lệ một người đầy tớ sẽ rửa chân cho các vị khách, và trong dịp này mọi sự đã được chuẩn bị cho việc đó. Bình nước, chậu và khăn đều có đó, sẵn sàng cho việc rửa chân; nhưng không có đầy tớ nào hiện diện, và phần việc đó thuộc về các môn đồ. Nhưng mỗi môn đồ, chiều theo lòng kiêu hãnh bị tổn thương, đều quyết không đóng vai một người đầy tớ. Tất cả đều tỏ ra dửng dưng lạnh lùng, dường như không hề ý thức rằng có việc gì đó cần phải làm. Bằng sự im lặng của mình, họ từ chối hạ mình xuống. DA 644.2

Làm sao Đấng Christ có thể đưa những linh hồn nghèo khổ này đến chỗ mà Sa-tan không thể giành được chiến thắng quyết định trên họ? Làm sao Ngài có thể chỉ cho thấy rằng chỉ xưng mình là môn đồ thôi thì không khiến họ trở thành môn đồ, cũng không bảo đảm cho họ một chỗ trong vương quốc Ngài? Làm sao Ngài có thể chỉ cho thấy rằng chính sự phục vụ đầy yêu thương, lòng khiêm nhường thật, mới làm nên sự cao trọng thật? Làm sao Ngài có thể nhen lên tình yêu thương trong lòng họ, và giúp họ hiểu được điều Ngài khao khát muốn nói với họ? DA 644.3

Các môn đồ chẳng có cử động nào hướng đến việc phục vụ lẫn nhau. Đức Chúa Giê-su chờ đợi một lúc để xem họ sẽ làm gì. Rồi Ngài, Thầy giáo thiên thượng, đứng dậy khỏi bàn ăn. Cởi áo ngoài là thứ có thể cản trở cử động của mình, Ngài lấy một cái khăn và thắt lưng. Các môn đồ kinh ngạc nhìn xem, và trong yên lặng chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. “Kế đó, Ngài đổ nước vào chậu, và rửa chân cho môn đồ, lại lấy khăn mình đã vấn mà lau chân cho.” Hành động này mở mắt các môn đồ. Sự hổ thẹn cay đắng và nỗi nhục nhã tràn ngập lòng họ. Họ hiểu được lời quở trách không thốt nên lời, và thấy chính mình dưới một ánh sáng hoàn toàn mới. DA 644.4

Đấng Christ đã bày tỏ tình yêu thương của Ngài đối với các môn đồ như vậy đó. Tinh thần vị kỷ của họ làm Ngài đầy buồn rầu, nhưng Ngài không tranh luận với họ về sự khó khăn của họ. Thay vào đó, Ngài ban cho họ một tấm gương mà họ sẽ không bao giờ quên. Tình yêu thương của Ngài đối với họ không dễ bị khuấy động hay dập tắt. Ngài biết rằng Cha đã giao mọi sự trong tay Ngài, và rằng Ngài đến từ Đức Chúa Trời và trở về cùng Đức Chúa Trời. Ngài có ý thức trọn vẹn về thần tánh của mình; nhưng Ngài đã đặt qua một bên vương miện và áo bào của vua, mà mang lấy hình thể của một đầy tớ. Một trong những hành động cuối cùng của đời sống Ngài trên đất là thắt lưng như một người đầy tớ và làm phần việc của một đầy tớ. DA 644.5

Trước lễ Vượt Qua, Giu-đa đã gặp các thầy tế lễ và các thầy thông giáo lần thứ hai, và đã ký kết giao kèo để nộp Đức Chúa Giê-su vào tay họ. Thế nhưng sau đó hắn vẫn hòa lẫn với các môn đồ như thể vô tội đối với bất cứ điều sai trái nào, và quan tâm đến công việc chuẩn bị cho bữa tiệc. Các môn đồ chẳng biết gì về mưu định của Giu-đa. Chỉ một mình Đức Chúa Giê-su có thể đọc được điều bí mật của hắn. Thế nhưng Ngài đã không vạch trần hắn. Đức Chúa Giê-su khao khát linh hồn hắn. Ngài cảm thấy gánh nặng cho hắn cũng như cho Giê-ru-sa-lem khi Ngài khóc về thành bị diệt vong. Tấm lòng Ngài đang kêu lên rằng, Làm sao Ta có thể từ bỏ ngươi? Quyền năng cảm hóa của tình yêu thương ấy đã được Giu-đa cảm nhận. Khi đôi tay của Đấng Cứu Thế đang rửa những bàn chân lấm bẩn ấy, và lau chúng bằng khăn, lòng Giu-đa rộn ràng từng hồi với thôi thúc muốn xưng tội ngay tại đó. Nhưng hắn không chịu hạ mình. Hắn làm cứng lòng mình chống lại sự ăn năn; và những thôi thúc cũ, vốn tạm gác qua một bên, lại điều khiển hắn. Bấy giờ Giu-đa lấy làm xúc phạm về hành động của Đấng Christ trong việc rửa chân cho các môn đồ Ngài. Nếu Đức Chúa Giê-su có thể hạ mình đến thế, hắn nghĩ, thì Ngài không thể là vua của Y-sơ-ra-ên được. Mọi hy vọng về vinh dự trần thế trong một vương quốc thế tục đã bị tiêu tan. Giu-đa thỏa mãn rằng theo Đấng Christ thì chẳng được lợi lộc gì. Sau khi thấy Ngài tự hạ thấp mình, theo như hắn nghĩ, hắn càng kiên định trong mưu định chối bỏ Ngài, và thừa nhận rằng mình đã bị lừa dối. Hắn bị quỷ ám, và hắn quyết tâm hoàn thành công việc mà hắn đã đồng ý làm trong việc phản bội Chúa mình. DA 645.1

Giu-đa, khi chọn chỗ ngồi của mình tại bàn, đã cố đặt mình lên trước hết, và Đấng Christ với tư cách là người tôi tớ đã phục vụ hắn trước hết. Giăng, người mà Giu-đa cảm thấy nhiều cay đắng, lại được để đến cuối cùng. Nhưng Giăng đã không xem điều này là sự quở trách hay khinh thị. Khi các môn đồ quan sát hành động của Đấng Christ, họ vô cùng xúc động. Khi đến lượt Phi-e-rơ, ông kinh ngạc thốt lên, “Lạy Chúa, Chúa rửa chân cho tôi sao?” Sự hạ mình của Đấng Christ làm tan vỡ lòng ông. Ông tràn ngập hổ thẹn khi nghĩ rằng không có môn đồ nào thực hiện công việc này. “Hiện nay con chẳng biết điều Ta làm,” Đấng Christ phán, “nhưng về sau sẽ biết.” Phi-e-rơ không thể chịu nổi khi thấy Chúa mình, Đấng mà ông tin là Con Đức Chúa Trời, đóng vai một người tôi tớ. Cả tâm hồn ông nổi dậy chống lại sự hạ mình này. Ông không nhận ra rằng Đấng Christ đã đến thế gian vì điều này. Ông nhấn mạnh thốt lên, “Chúa sẽ chẳng rửa chân tôi bao giờ.” DA 645.2

Đấng Christ trang nghiêm phán với Phi-e-rơ, “Nếu Ta không rửa cho ngươi, ngươi chẳng có phần chi với Ta hết.” Sự phục vụ mà Phi-e-rơ từ chối là hình bóng của một sự tẩy sạch cao hơn. Đấng Christ đã đến để rửa sạch tấm lòng khỏi vết nhơ của tội lỗi. Khi từ chối để Đấng Christ rửa chân mình, Phi-e-rơ đang từ chối sự tẩy sạch cao hơn bao hàm trong điều thấp hơn. Ông thật ra đang chối bỏ Chúa mình. Việc cho phép Chúa làm việc để tẩy sạch chúng ta không phải là điều hạ thấp Đức Thầy. Sự khiêm nhường chân thật nhất là tiếp nhận với tấm lòng biết ơn bất cứ sự cung cấp nào được làm vì chúng ta, và sốt sắng phục vụ Đấng Christ. DA 646.1

Trước những lời, “Nếu Ta không rửa cho ngươi, ngươi chẳng có phần chi với Ta hết,” Phi-e-rơ đã từ bỏ sự kiêu hãnh và ý riêng của mình. Ông không thể chịu nổi ý nghĩ phải lìa xa Đấng Christ; điều đó đối với ông sẽ là cái chết. “Chẳng những rửa chân mà thôi,” ông nói, “lại cũng rửa tay và đầu nữa! Đức Chúa Jêsus đáp rằng: Ai đã tắm rồi, chỉ cần rửa chân, thì được sạch cả.” DA 646.2

Những lời này có ý nghĩa nhiều hơn sự sạch sẽ về thể xác. Đấng Christ vẫn đang nói về sự tẩy sạch cao hơn được minh họa bởi điều thấp hơn. Người vừa tắm xong thì sạch sẽ, nhưng đôi chân mang dép lê chẳng bao lâu sau lại bám bụi, và cần được rửa lại. Cũng vậy, Phi-e-rơ và các anh em ông đã được rửa trong suối lớn được mở ra cho tội lỗi và sự ô uế. Đấng Christ đã nhìn nhận họ là của Ngài. Nhưng sự cám dỗ đã dẫn họ vào điều ác, và họ vẫn cần ân điển tẩy sạch của Ngài. Khi Đức Chúa Giê-su lấy khăn quấn ngang lưng mình để rửa bụi khỏi chân họ, chính bằng hành động ấy Ngài muốn rửa sạch sự xa cách, sự ghen tị, và sự kiêu hãnh khỏi lòng họ. Điều này có hệ trọng hơn nhiều so với việc rửa đôi chân bám bụi của họ. Với tinh thần mà họ đang có bấy giờ, không một ai trong họ được chuẩn bị để thông công với Đấng Christ. Cho đến khi được đưa vào trạng thái khiêm nhường và yêu thương, họ chưa được chuẩn bị để dự bữa tiệc Vượt Qua, hoặc để dự phần trong lễ kỷ niệm mà Đấng Christ sắp thiết lập. Lòng họ phải được tẩy sạch. Sự kiêu hãnh và lòng tư kỷ tạo ra bất hòa và oán ghét, nhưng tất cả những điều này Đức Chúa Giê-su đã rửa sạch khi Ngài rửa chân họ. Một sự thay đổi trong cảm xúc đã được mang đến. Nhìn họ, Đức Chúa Giê-su có thể phán, “Các ngươi đã được tinh sạch.” Bấy giờ có sự hiệp một trong tấm lòng, sự yêu thương lẫn nhau. Họ đã trở nên khiêm nhường và dễ dạy. Ngoại trừ Giu-đa, mỗi người đều sẵn lòng nhường cho người khác chỗ cao nhất. Bấy giờ với những tấm lòng nhu mì và biết ơn, họ có thể tiếp nhận những lời của Đấng Christ. DA 646.3

Giống như Phi-e-rơ và các anh em ông, chúng ta cũng đã được rửa trong huyết của Đấng Christ, thế nhưng thường vì tiếp xúc với điều ác mà sự thanh sạch của tấm lòng bị làm nhơ bẩn. Chúng ta phải đến với Đấng Christ để nhận ân điển tẩy sạch của Ngài. Phi-e-rơ ngần ngại đưa đôi chân lấm bẩn của mình tiếp xúc với đôi tay của Chúa và Thầy mình; nhưng chúng ta thường đem những tấm lòng tội lỗi, ô uế của mình tiếp xúc với tấm lòng của Đấng Christ biết bao! Tính khí xấu xa, sự kiêu căng và kiêu hãnh của chúng ta đau lòng Ngài biết bao! Thế nhưng tất cả sự yếu đuối và ô uế của mình, chúng ta phải đem đến với Ngài. Chỉ một mình Ngài có thể rửa sạch chúng ta. Chúng ta chưa được chuẩn bị để thông công với Ngài trừ khi được tẩy sạch bởi quyền năng của Ngài. DA 646.4

Đức Chúa Giê-su phán với các môn đồ, “Các ngươi đã được tinh sạch, nhưng chưa được tinh sạch hết.” Ngài đã rửa chân Giu-đa, nhưng tấm lòng thì chưa được dâng cho Ngài. Nó chưa được tẩy sạch. Giu-đa chưa thuận phục Đấng Christ. DA 649.1

Sau khi Đấng Christ đã rửa chân các môn đồ, và đã lấy áo mặc lại và ngồi xuống, Ngài phán với họ,

“Sau khi đã rửa chân cho môn đồ, Ngài mặc áo lại; đoạn ngồi vào bàn mà phán rằng: Các ngươi có hiểu điều ta đã làm cho các ngươi chăng? Các ngươi gọi ta bằng Thầy bằng Chúa; các ngươi nói phải, vì ta thật vậy. Vậy, nếu ta là Chúa là Thầy, mà đã rửa chân cho các ngươi thì các ngươi cũng nên rửa chân lẫn cho nhau. Vì ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các ngươi. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình, sứ giả cũng chẳng lớn hơn kẻ sai mình.” (Giăng 13:12-16)

DA 649.2

Đấng Christ muốn các môn đồ Ngài hiểu rằng mặc dù Ngài đã rửa chân họ, điều này chẳng hề làm giảm đi chút nào phẩm vị của Ngài. “Các ngươi gọi Ta bằng Thầy bằng Chúa; các ngươi nói phải, vì Ta thật vậy.” Và vì là Đấng vô cùng cao trọng, Ngài đã ban ân điển và ý nghĩa cho sự phục vụ. Không ai cao trọng như Đấng Christ, thế mà Ngài đã hạ mình xuống bổn phận thấp hèn nhất. Để dân Ngài không bị dẫn dắt sai lạc bởi lòng tư kỷ ngự trong lòng tự nhiên, và là điều được củng cố bởi sự tự phục vụ, chính Đấng Christ đã làm gương về sự khiêm nhường. Ngài không muốn để đề tài lớn lao này cho con người đảm trách. Ngài coi nó hệ trọng đến nỗi chính Ngài, Đấng bình đẳng với Đức Chúa Trời, đã hành động như tôi tớ cho các môn đồ Ngài. Trong khi họ đang tranh giành chỗ cao nhất, thì Đấng mà mọi đầu gối sẽ quỳ trước, Đấng mà các thiên sứ vinh hiển xem việc phục vụ Ngài là một vinh dự, đã cúi xuống rửa chân cho những kẻ gọi Ngài là Chúa. Ngài đã rửa chân cho kẻ phản bội mình. DA 649.3

Trong đời sống và những bài học của Ngài, Đấng Christ đã ban một sự minh họa hoàn hảo về sự phục vụ vị tha có nguồn gốc từ Đức Chúa Trời. Đức Chúa Trời không sống cho chính mình. Bằng việc tạo dựng thế gian, và bằng việc nâng đỡ vạn vật, Ngài đang không ngừng phục vụ cho người khác. “Ngài khiến mặt trời mọc lên soi kẻ dữ cùng kẻ lành, làm mưa cho kẻ công bình cùng kẻ độc ác.” Ma-thi-ơ 5:45. Lý tưởng phục vụ này Đức Chúa Trời đã giao phó cho Con Ngài. Đức Chúa Giê-su được ban cho để đứng đầu nhân loại, hầu cho qua gương Ngài, Ngài có thể dạy ý nghĩa của việc phục vụ. Cả đời sống Ngài ở dưới một luật phục vụ. Ngài phục vụ mọi người, chăm sóc mọi người. Như vậy Ngài đã sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời, và bằng gương mình đã chỉ cho chúng ta cách vâng giữ luật pháp ấy. DA 649.4

Hết lần này đến lần khác Đức Chúa Giê-su đã cố thiết lập nguyên tắc này giữa các môn đồ Ngài. Khi Gia-cơ và Giăng đưa ra lời cầu xin về địa vị cao trọng, Ngài đã phán, “Song ai muốn làm lớn trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi.” Ma-thi-ơ 20:26. Trong vương quốc của Ta, nguyên tắc về sự ưu tiên và quyền tối cao không có chỗ. Sự cao trọng duy nhất là sự cao trọng của lòng khiêm nhường. Sự phân biệt duy nhất được tìm thấy trong sự tận tụy phục vụ người khác. DA 650.1

Bây giờ, sau khi đã rửa chân cho các môn đồ, Ngài phán: “Ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các ngươi.” Qua những lời này, Đấng Christ không chỉ truyền dạy về việc thực hành lòng hiếu khách. Ý nghĩa còn sâu xa hơn việc rửa chân cho khách để loại bỏ bụi đường. Tại đây Đấng Christ đang thiết lập một nghi lễ tôn giáo. Bởi hành động của Chúa chúng ta, nghi thức hạ mình này đã trở thành một lễ nghi thánh khiết. Lễ này phải được các môn đồ tuân giữ, để họ luôn ghi nhớ những bài học của Ngài về sự khiêm nhường và phục vụ. DA 650.2

Nghi lễ này là sự chuẩn bị mà Đấng Christ đã chỉ định cho lễ tiệc thánh. Khi lòng kiêu ngạo, sự bất hòa và việc tranh giành quyền thế còn được nuôi dưỡng, thì tấm lòng không thể bước vào sự thông công với Đấng Christ. Chúng ta chưa được chuẩn bị để dự phần thân thể và huyết của Ngài. Vì vậy mà Đức Chúa Giê-su đã chỉ định lễ kỷ niệm sự hạ mình của Ngài phải được cử hành trước. DA 650.3

Khi đến với nghi lễ này, con cái Đức Chúa Trời phải nhớ lại những lời của Chúa sự sống và vinh quang: “Các ngươi có hiểu điều ta đã làm cho các ngươi chăng? Các ngươi gọi ta bằng Thầy bằng Chúa; các ngươi nói phải, vì ta thật vậy. Vậy, nếu ta là Chúa là Thầy, mà đã rửa chân cho các ngươi, thì các ngươi cũng nên rửa chân lẫn cho nhau. Vì ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các ngươi. Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, đầy tớ chẳng lớn hơn chủ mình, sứ giả cũng chẳng lớn hơn kẻ sai mình. Ví bằng các ngươi biết những sự nầy, thì có phước, miễn là các ngươi làm theo.” Trong con người có khuynh hướng tự xem mình cao trọng hơn anh em mình, làm việc vì bản thân, tìm chỗ cao nhất; và điều này thường dẫn đến những ý tưởng xấu xa và tinh thần cay đắng. Nghi lễ trước Tiệc Thánh là để xóa tan những sự hiểu lầm này, để đưa con người ra khỏi tính ích kỷ, xuống khỏi bệ cao của sự tự tôn, đến với tấm lòng khiêm nhường sẽ dẫn dắt họ phục vụ anh em mình. DA 650.4

Đấng Quan Phòng thánh khiết từ thiên đàng hiện diện trong giờ phút này để biến nó thành thời khắc tra xét tâm hồn, cáo trách tội lỗi, và bảo đảm ơn phước về sự được tha tội. Đấng Christ hiện diện ở đó với ân điển trọn vẹn để thay đổi dòng chảy của những ý tưởng vốn đã trôi theo những kênh rạch ích kỷ. Đức Thánh Linh khơi dậy sự nhạy cảm của những người noi theo gương Chúa mình. Khi nhớ lại sự hạ mình của Đấng Cứu Thế vì chúng ta, ý tưởng nối kết với ý tưởng; một chuỗi ký ức được gợi lên, ký ức về sự nhân từ lớn lao của Đức Chúa Trời và về sự ưu ái cùng dịu dàng của những người bạn nơi trần thế. Những ơn phước bị lãng quên, lòng thương xót bị lạm dụng, những điều tử tế bị xem nhẹ, đều được nhớ lại. Những gốc rễ cay đắng đã lấn át cây tình yêu thương quý báu được phơi bày. Những khuyết điểm trong tính cách, sự xao lãng bổn phận, lòng vô ơn đối với Đức Chúa Trời, sự lạnh nhạt đối với anh em chúng ta, đều được nhớ đến. Tội lỗi được nhìn thấy dưới ánh sáng mà Đức Chúa Trời nhìn nó. Những ý tưởng của chúng ta không phải là ý tưởng tự mãn, mà là sự tự khiển trách nghiêm khắc và hạ mình. Tâm trí được tiếp thêm sức để phá đổ mọi rào cản đã gây ra sự ghẻ lạnh. Những ý nghĩ xấu xa và lời nói độc ác bị loại bỏ. Tội lỗi được xưng ra, chúng được tha thứ. Ân điển khuất phục của Đấng Christ ngự vào tâm hồn, và tình yêu thương của Đấng Christ kéo những tấm lòng lại với nhau trong sự hiệp một phước hạnh. DA 650.5

Khi bài học của nghi lễ chuẩn bị này được học như vậy, lòng khao khát về một đời sống thuộc linh cao hơn được khơi dậy. Đấng Chứng Kiến thiêng liêng sẽ đáp lại lòng khao khát này. Tâm hồn sẽ được nâng cao. Chúng ta có thể dự phần Tiệc Thánh với ý thức rằng tội lỗi đã được tha thứ. Ánh sáng mặt trời của sự công bình Đấng Christ sẽ tràn ngập các căn phòng của tâm trí và đền thờ linh hồn. Chúng ta “Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.”

“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)

DA 651.1

Đối với những ai nhận lãnh tinh thần của nghi lễ này, nó sẽ không bao giờ trở thành một nghi thức đơn thuần. Bài học không ngừng của nó sẽ là, “hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau.”

“Hỡi anh em, anh em đã được gọi đến sự tự do, song chớ lấy sự tự do đó làm dịp cho anh em ăn ở theo tánh xác thịt, nhưng hãy lấy lòng yêu thương làm đầy tớ lẫn nhau.” (Ga-la-ti 5:13)

Khi rửa chân cho các môn đồ, Đấng Christ đã bày tỏ rằng Ngài sẽ làm bất cứ công việc phục vụ nào, dù khiêm hạ đến đâu, để khiến họ trở thành những kẻ đồng kế tự với Ngài về sự giàu có đời đời của kho báu thiên đàng. Các môn đồ của Ngài, khi thực hiện cùng một nghi thức ấy, cũng tự cam kết phục vụ anh em mình theo cách đó. Bất cứ khi nào nghi lễ này được cử hành đúng đắn, con cái Đức Chúa Trời được đưa vào một mối liên hệ thánh khiết, để giúp đỡ và ban phước cho nhau. Họ giao ước rằng đời sống sẽ được hiến dâng cho sự phục vụ vô vị kỷ. Và điều này không chỉ dành cho nhau. Cánh đồng lao tác của họ rộng lớn như cánh đồng của Chúa họ vậy. Thế gian đầy dẫy những người cần sự phục vụ của chúng ta. Người nghèo khó, kẻ không nơi nương tựa, người dốt nát, ở khắp mọi nơi. Những ai đã thông công với Đấng Christ trong căn phòng trên lầu sẽ đi ra để phục vụ như Ngài đã làm. DA 651.2

Đức Chúa Giê-su, Đấng được mọi người phục vụ, đã đến để làm đầy tớ của mọi người. Và vì Ngài đã phục vụ mọi người, nên Ngài sẽ lại được mọi người phục vụ và tôn kính. Và những ai muốn dự phần các thuộc tính thiêng liêng của Ngài, và chia sẻ với Ngài niềm vui được thấy các linh hồn được cứu chuộc, thì phải noi theo gương phục vụ vô vị kỷ của Ngài. DA 651.3

Tất cả những điều này đều bao hàm trong lời của Đức Chúa Giê-su, “Ta đã làm gương cho các ngươi, để các ngươi cũng làm như ta đã làm cho các ngươi.” Đây là chủ đích của nghi lễ mà Ngài thiết lập. Và Ngài phán, “Ví bằng các ngươi biết những sự nầy,” nếu các ngươi biết mục đích của những bài học của Ngài, “thì có phước, miễn là các ngươi làm theo.” DA 651.4