Trên Núi Ô-li-ve
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 24; Mác 13; Lu-ca 21:5-38. DA 627.1
Lời của Đấng Christ phán cùng các thầy tế lễ và những người cai trị,
“Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang!” (Ma-thi-ơ 23:38)
đã khiến lòng họ kinh hãi. Họ giả vờ thờ ơ, nhưng câu hỏi về ý nghĩa của những lời này cứ dấy lên trong tâm trí họ. Dường như có một mối nguy hiểm vô hình đang đe dọa họ. Có thể nào ngôi đền nguy nga, vốn là niềm vinh quang của dân tộc, lại sắp sửa trở thành một đống đổ nát chăng? Điềm gở ấy cũng được các môn đồ cảm nhận, và họ lo lắng chờ đợi một lời tuyên bố rõ ràng hơn từ Đức Chúa Giê-su. Khi họ cùng Ngài bước ra khỏi đền thờ, họ kêu Ngài chú ý đến sự vững chắc và vẻ đẹp của nó. Những phiến đá của đền thờ là loại cẩm thạch tinh khiết nhất, trắng toát hoàn hảo, và một số có kích thước gần như khó tin. Một phần của bức tường đã chống chọi được cuộc vây hãm của đạo quân Nê-bu-cát-nết-sa. Với lối ghép đá hoàn hảo, nó trông như một khối đá nguyên vẹn được đào lên từ mỏ đá. Làm thế nào những bức tường vĩ đại ấy có thể bị lật đổ thì các môn đồ không thể hiểu được. DA 627.2
Khi sự chú ý của Đấng Christ hướng về vẻ nguy nga tráng lệ của đền thờ, hẳn những ý nghĩ không nói ra của Đấng Bị Khước Từ ấy phải như thế nào! Quang cảnh trước mắt Ngài quả thật đẹp đẽ, nhưng Ngài buồn bã phán: Ta thấy tất cả. Những tòa nhà này quả thật kỳ diệu. Các ngươi chỉ vào những bức tường này như thể chúng không thể bị phá hủy; nhưng hãy nghe lời Ta: Sẽ đến ngày mà “sẽ không còn một hòn đá nào chồng trên một hòn đá khác mà không bị đổ xuống.” DA 627.3
Lời của Đấng Christ đã được phán ra trước sự nghe thấy của rất đông người; nhưng khi Ngài ở một mình, Phi-e-rơ, Giăng, Gia-cơ và Anh-rê đến cùng Ngài khi Ngài đang ngồi trên núi Ô-li-ve. Họ thưa rằng: “Xin Chúa phán cho chúng tôi biết lúc nào những sự đó sẽ xảy ra? và có điềm gì chỉ về sự Chúa đến và tận thế?” Đức Chúa Giê-su không trả lời các môn đồ bằng cách phân biệt riêng rẽ sự hủy diệt của thành Giê-ru-sa-lem và ngày trọng đại Ngài tái lâm. Ngài hòa lẫn lời mô tả về hai biến cố ấy. Nếu Ngài đã mở ra cho các môn đồ những biến cố tương lai như chính Ngài nhìn thấy, hẳn họ không thể nào chịu đựng nổi cảnh tượng ấy. Vì thương xót họ, Ngài đã hòa quyện lời mô tả về hai cuộc khủng hoảng lớn, để cho các môn đồ tự nghiên cứu ra ý nghĩa cho chính mình. Khi Ngài đề cập đến sự hủy diệt của thành Giê-ru-sa-lem, lời tiên tri của Ngài vượt xa hơn biến cố ấy, đến cơn hỏa hoạn cuối cùng trong ngày mà Chúa sẽ từ nơi Ngài chỗi dậy để hình phạt thế gian vì sự gian ác của họ, khi đất sẽ bày tỏ huyết của mình ra, và sẽ không còn che giấu những kẻ bị giết của mình nữa. Toàn bộ bài giảng này được ban ra, không chỉ cho các môn đồ mà thôi, mà còn cho những người sẽ sống trong những cảnh cuối cùng của lịch sử trái đất này. DA 628.1
Hướng về các môn đồ, Đấng Christ phán: “Hãy giữ, kẻo có kẻ dỗ dành các ngươi. Vì nhiều người sẽ mạo danh Ta đến mà nói rằng: Ta là Đấng Christ; và sẽ dỗ dành nhiều người.” Nhiều đấng mê-si giả sẽ xuất hiện, tuyên bố làm phép lạ, và rao giảng rằng thời kỳ giải cứu dân tộc Do Thái đã đến. Những kẻ ấy sẽ lừa dối nhiều người. Lời của Đấng Christ đã được ứng nghiệm. Giữa khoảng sự chết của Ngài và cuộc vây hãm thành Giê-ru-sa-lem, nhiều đấng mê-si giả đã xuất hiện. Nhưng lời cảnh báo này cũng được ban cho những người sống trong thời đại này của thế gian. Chính những sự lừa dối được thực hiện trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt đã được thực hiện qua các thời đại, và sẽ còn được thực hiện một lần nữa. DA 628.2
“Các ngươi sẽ nghe nói về giặc và tiếng đồn về giặc: hãy giữ mình, đừng bối rối: vì những sự ấy phải đến; song chưa là cuối cùng đâu.” Trước khi thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt, người ta tranh giành quyền tối thượng. Các hoàng đế bị giết. Những kẻ được cho là đứng kề ngai vàng đều bị hạ sát. Có giặc giã và tiếng đồn về giặc giã. Đấng Christ phán: “Những sự ấy phải đến, song chưa là cuối cùng [của dân tộc Do Thái như một quốc gia] đâu. Vì dân nầy sẽ dấy lên nghịch cùng dân khác, nước nọ nghịch cùng nước kia; nhiều chỗ sẽ có đói kém và dịch lệ cùng động đất. Song mọi điều đó chỉ là đầu sự tai hại.” Đấng Christ phán: Khi các thầy ra-bi thấy những điềm này, họ sẽ tuyên bố rằng đó là sự phán xét của Đức Chúa Trời giáng trên các nước vì đã cầm giữ dân được chọn của Ngài trong vòng nô lệ. Họ sẽ tuyên bố rằng những điềm này là dấu hiệu về sự xuất hiện của Đấng Mê-si. Đừng bị lừa dối; chúng là khởi đầu của sự phán xét của Ngài. Dân chúng đã chỉ chăm nhìn vào chính mình. Họ đã không ăn năn và trở lại để Ta chữa lành họ. Những điềm mà họ cho là dấu hiệu giải thoát khỏi xiềng xích lại chính là điềm về sự hủy diệt của họ. DA 628.3
“Bấy giờ, người ta sẽ nộp các ngươi trong sự hoạn nạn và giết đi; các ngươi sẽ bị mọi dân ghen ghét vì danh Ta. Khi ấy cũng có nhiều kẻ sẽ sa vào chước cám dỗ, phản nghịch nhau, và ghen ghét nhau.” Tất cả những điều này, các Cơ-đốc nhân đã phải chịu. Cha mẹ phản bội con cái. Con cái phản bội cha mẹ. Bạn bè nộp bạn mình cho Tòa Công Luận. Những kẻ bắt bớ đã thực hiện mục đích của mình bằng cách giết Ê-tiên, Gia-cơ và những Cơ-đốc nhân khác. DA 629.1
Qua các tôi tớ của Ngài, Đức Chúa Trời đã ban cho dân Do Thái một cơ hội cuối cùng để ăn năn. Ngài đã tỏ chính mình qua các nhân chứng của Ngài trong sự bị bắt giữ, trong sự xét xử, và trong sự cầm tù của họ. Vậy mà các quan án vẫn tuyên án tử hình cho họ. Họ là những người mà thế gian không xứng đáng có, và bằng việc giết họ, người Do Thái lại đóng đinh Con Đức Chúa Trời một lần nữa. Điều đó cũng sẽ tái diễn. Các nhà cầm quyền sẽ đặt ra luật lệ để hạn chế tự do tôn giáo. Họ sẽ nhận lấy quyền vốn chỉ thuộc về Đức Chúa Trời. Họ sẽ nghĩ rằng họ có thể ép buộc lương tâm, là điều mà chỉ một mình Đức Chúa Trời mới được cai quản. Ngay cả bây giờ họ đang khởi sự; công việc này họ sẽ tiếp tục đẩy mạnh cho đến khi họ đạt tới một ranh giới mà họ không thể vượt qua. Đức Chúa Trời sẽ can thiệp vì dân trung thành, giữ điều răn của Ngài. DA 630.1
Trong mỗi dịp bắt bớ xảy ra, những kẻ chứng kiến đều đưa ra quyết định hoặc thuận theo Đấng Christ hoặc chống lại Ngài. Những ai bày tỏ lòng thương cảm với những người bị kết án oan đều biểu lộ sự gắn bó của mình với Đấng Christ. Những kẻ khác thì bị xúc phạm vì các nguyên tắc của lẽ thật đi ngược lại trực tiếp với cách ăn ở của họ. Nhiều người vấp ngã và sa sút, bội đạo khỏi đức tin mà họ từng bênh vực. Những kẻ bội đạo trong cơn thử thách, để bảo toàn an nguy của chính mình, sẽ làm chứng dối và phản bội anh em mình. Đấng Christ đã cảnh báo chúng ta về điều này, để chúng ta không phải kinh ngạc trước con đường tàn nhẫn, trái với lẽ thường của những kẻ chối bỏ ánh sáng. DA 630.2
Đấng Christ ban cho các môn đồ một điềm về sự đổ nát sắp giáng trên thành Giê-ru-sa-lem, và Ngài đã chỉ cho họ cách thoát thân: “Khi các ngươi sẽ thấy thành Giê-ru-sa-lem bị quân lính vây, hãy biết sự tàn phá thành ấy gần đến. Lúc đó, ai ở trong xứ Giu-đê hãy trốn lên núi; ai ở trong thành phải đi ra ngoài; ai ở ngoài đồng đừng trở vào thành. Vì những ngày đó là ngày báo thù, hầu cho mọi lời đã chép được ứng nghiệm.” Lời cảnh báo này được ban ra để được lưu ý bốn mươi năm sau, vào lúc thành Giê-ru-sa-lem bị hủy diệt. Các Cơ-đốc nhân đã vâng theo lời cảnh báo, và không một Cơ-đốc nhân nào bị diệt vong khi thành sụp đổ. DA 630.3
Đấng Christ phán: “Hãy cầu nguyện cho các ngươi khỏi trốn tránh nhằm lúc mùa đông hay là ngày Sa-bát.” Đấng đã lập ngày Sa-bát không hề bãi bỏ nó, đóng đinh nó vào thập tự giá của Ngài. Ngày Sa-bát không bị làm cho vô hiệu lực bởi sự chết của Ngài. Bốn mươi năm sau khi Ngài bị đóng đinh, ngày ấy vẫn còn phải được giữ làm thánh. Trong bốn mươi năm, các môn đồ phải cầu nguyện rằng sự trốn chạy của họ không nhằm vào ngày Sa-bát. DA 630.4
Từ sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem, Đấng Christ tiến nhanh đến biến cố lớn hơn, mắt xích cuối cùng trong chuỗi lịch sử của trái đất này, — sự đến của Con Đức Chúa Trời trong sự uy nghi và vinh hiển. Giữa hai biến cố này, trải dài trước mắt Đấng Christ là những thế kỷ tăm tối, những thế kỷ in dấu bằng máu, nước mắt và sự thống khổ cho Hội Thánh của Ngài. Bấy giờ các môn đồ của Ngài không thể chịu đựng nổi cảnh tượng ấy, và Đức Chúa Giê-su đã lướt qua chúng bằng một lời nhắc ngắn gọn. Ngài phán: “Vì lúc ấy sẽ có hoạn nạn lớn, đến nỗi từ khi mới có trời đất cho đến bây giờ chưa từng có như vậy, mà sau nầy cũng không hề có nữa. Nếu những ngày ấy không giảm bớt, thì chẳng có một người nào được cứu; song vì cớ các ngươi được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt.” Trong hơn một ngàn năm, một cuộc bắt bớ mà thế gian chưa từng biết đến sẽ giáng trên những kẻ theo Đấng Christ. Hàng triệu triệu nhân chứng trung thành của Ngài sẽ bị giết. Nếu bàn tay của Đức Chúa Trời không giang ra để gìn giữ dân Ngài, thì hết thảy đã bị diệt vong. Ngài phán: “Vì cớ các ngươi được chọn, thì những ngày ấy sẽ giảm bớt.” DA 630.5
Giờ đây, bằng ngôn ngữ không thể nhầm lẫn, Chúa chúng ta phán về sự tái lâm của Ngài, và Ngài cảnh báo về những nguy hiểm sẽ xảy đến trước khi Ngài đến với thế gian.
“Khi ấy, nếu có ai nói với các ngươi rằng: Kìa, Đấng Cơ-đốc ở đây, hay là: Ở đó, thì đừng tin. Vì nhiều christ giả và tiên tri giả sẽ dấy lên, làm những dấu lớn, phép lạ, nếu có thể được thì họ cũng đến dỗ dành chính những người được chọn. Nầy, ta đã bảo trước cho các ngươi. Vậy nếu người ta nói với các ngươi rằng: Nầy, Ngài ở trong đồng vắng, thì đừng đi đến; này, Ngài ở trong nhà, thì đừng tin. Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con người đến sẽ cũng thể ấy.” (Ma-thi-ơ 24:23-27)
Là một trong những dấu hiệu về sự hủy diệt của thành Giê-ru-sa-lem, Đấng Christ đã phán,
“Nhiều tiên tri giả sẽ nổi lên và dỗ dành lắm kẻ.” (Ma-thi-ơ 24:11)
Các tiên tri giả quả thật đã dấy lên, lừa dối dân chúng, và dẫn vô số người vào đồng vắng. Những thuật sĩ và phù thủy, tự xưng có quyền phép lạ, đã lôi kéo dân chúng theo họ vào những nơi cô tịch trong rừng núi. Nhưng lời tiên tri này cũng được phán cho những ngày sau rốt. Dấu hiệu này được ban cho như một dấu hiệu của sự tái lâm. Ngay cả bây giờ, các đấng christ giả và các tiên tri giả đang phô bày các dấu lạ và phép kỳ để dụ dỗ các môn đồ Ngài. Chẳng phải chúng ta đang nghe tiếng kêu, “Kìa, Ngài ở trong đồng vắng” sao? Chẳng phải hàng ngàn người đã đi ra đồng vắng, mong tìm được Đấng Christ sao? Và từ hàng ngàn cuộc nhóm họp nơi người ta tự nhận giao tiếp với các linh hồn người chết, chẳng phải tiếng kêu giờ đây cũng đang vang lên, “Kìa, Ngài ở trong phòng kín” sao? Đây chính là điều mà thuyết chiêu hồn rao ra. Nhưng Đấng Christ phán gì? “Đừng tin lời ấy. Vì như chớp phát ra từ phương đông, nháng đến phương tây, thì sự Con Người đến sẽ cũng thể ấy.” DA 631.1
Đấng Cứu Thế ban các dấu hiệu về sự đến của Ngài, và hơn thế nữa, Ngài định rõ thời điểm khi dấu hiệu đầu tiên trong số đó sẽ xuất hiện:
“Sự tai nạn của những ngày đó vừa mới qua, thì mặt trời liền tối tăm, mặt trăng không sáng, các ngôi sao từ trên trời sa xuống, và thế lực của các từng trời rúng động. Khi ấy, điềm Con người sẽ hiện ra ở trên trời, mọi dân tộc dưới đất sẽ đấm ngực, và thấy Con người lấy đại quyền đại vinh ngự trên mây trời mà xuống. Ngài sẽ sai thiên sứ mình dùng tiếng kèn rất lớn mà nhóm lại những kẻ đã được lựa chọn của Ngài ở khắp bốn phương, từ cuối phương trời này cho đến tận phương kia.” (Ma-thi-ơ 24:29-31)
DA 631.2
Vào lúc cuối cuộc bắt bớ lớn của giáo hoàng, Đấng Christ đã tuyên bố rằng mặt trời sẽ tối tăm, và mặt trăng sẽ không chiếu sáng. Kế đến, các ngôi sao sẽ rơi khỏi trời. Và Ngài phán,
“Hãy nghe lời ví dụ về cây vả, vừa lúc nhành non, lá mới đâm, thì các ngươi biết mùa hạ gần tới. Cũng vậy, khi các ngươi thấy mọi điều ấy, khá biết rằng Con người gần đến, Ngài đương ở trước cửa.” (Ma-thi-ơ 24:32-33)
DA 632.1
Đấng Christ đã ban các dấu hiệu về sự đến của Ngài. Ngài tuyên bố rằng chúng ta có thể biết khi Ngài đã gần, ngay tại cửa. Ngài phán về những kẻ thấy các dấu hiệu này rằng, “Dòng dõi này chẳng qua trước khi mọi điều kia chưa xảy đến.” Các dấu hiệu này đã xuất hiện. Giờ đây chúng ta biết chắc chắn rằng sự đến của Chúa đã gần. Ngài phán, “Trời đất sẽ qua đi, song lời ta nói chẳng bao giờ qua đi.” DA 632.2
Đấng Christ đang đến với mây và với đại vinh quang. Một đoàn các thiên sứ sáng láng sẽ theo hầu Ngài. Ngài sẽ đến để làm cho kẻ chết sống lại, và để biến hóa các thánh đồ đang sống từ vinh hiển đến vinh hiển. Ngài sẽ đến để tôn vinh những người đã yêu mến Ngài, và giữ các điều răn Ngài, và để đem họ về với chính Ngài. Ngài chẳng quên họ, cũng chẳng quên lời hứa của Ngài. Sẽ có sự nối lại của sợi dây liên kết gia đình. Khi chúng ta nhìn vào người thân đã khuất, chúng ta có thể nghĩ đến buổi sáng khi tiếng kèn của Đức Chúa Trời vang lên, khi “những kẻ chết đều sống lại không hay hư nát, và chúng ta đều sẽ biến hóa.” 1 Cô-rinh-tô 15:52. Một chút nữa thôi, và chúng ta sẽ thấy Vua trong vẻ đẹp của Ngài. Một chút nữa thôi, và Ngài sẽ lau ráo hết nước mắt khỏi mắt chúng ta. Một chút nữa thôi, và Ngài sẽ trình diện chúng ta “cách rất vui mừng, không chỗ trách được trước mặt vinh hiển của Ngài.” Giu-đe 1:24. Vậy nên, khi Ngài ban các dấu hiệu về sự đến của Ngài, Ngài phán, “Chừng nào các việc đó khởi xảy đến, hãy đứng thẳng lên, ngước đầu lên, vì sự giải cứu của các ngươi gần tới.” DA 632.3
Nhưng ngày và giờ Ngài đến thì Đấng Christ chưa hề tỏ ra. Ngài đã phán rõ ràng với các môn đồ rằng chính Ngài cũng không thể cho biết ngày hay giờ Ngài tái lâm. Nếu Ngài được tự do bày tỏ điều ấy, thì sao Ngài lại cần khuyên giục họ giữ thái độ trông đợi liên tục? Có những kẻ tự nhận biết chính xác ngày và giờ Chúa chúng ta hiện đến. Họ rất sốt sắng vạch ra tương lai. Nhưng Chúa đã cảnh báo họ rời khỏi chỗ họ đang đứng. Thời điểm chính xác của sự tái lâm của Con Người là điều mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. DA 632.4
Đấng Christ tiếp tục, chỉ ra tình trạng của thế gian khi Ngài đến:
“Trong đời Nô-ê thể nào, khi Con người đến cũng thể ấy. Vì trong những ngày trước nước lụt, người ta ăn, uống, cưới, gả như thường cho đến ngày Nô-ê vào tàu, — và người ta không ngờ chi hết cho đến khi nước lụt tới mà đùa đem đi hết thảy, — khi Con người đến cũng như vậy.” (Ma-thi-ơ 24:37-39)
Ở đây Đấng Christ không trình bày về một thiên hi niên trần thế, một ngàn năm mà trong đó mọi người sẽ chuẩn bị cho cõi đời đời. Ngài cho chúng ta biết rằng như trong thời Nô-ê thể nào, thì khi Con Người đến lần nữa cũng sẽ thể ấy. DA 633.1
Trong thời Nô-ê thì như thế nào? “Đức Giê-hô-va thấy sự hung ác của loài người trên mặt đất rất nhiều, và các ý tưởng của lòng họ chỉ là xấu luôn.” Sáng-thế Ký 6:5. Cư dân của thế giới trước cơn Đại hồng thủy đã quay khỏi Đức Giê-hô-va, từ chối làm theo ý thánh của Ngài. Họ chạy theo những tưởng tượng ô uế và những ý niệm sai trái của riêng mình. Chính vì sự hung ác của họ mà họ bị hủy diệt; và ngày nay thế gian đang đi theo con đường giống như vậy. Nó chẳng tỏ ra dấu hiệu hứa hẹn nào về vinh quang thiên hi niên. Những kẻ vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời đang làm cho trái đất đầy dẫy sự gian ác. Sự cá độ, sự đua ngựa, sự cờ bạc, sự trác táng, những thói dâm dục, những dục vọng không kiềm chế của họ đang nhanh chóng làm cho thế gian đầy dẫy sự hung bạo. DA 633.2
Trong lời tiên tri về sự hủy diệt của thành Giê-ru-sa-lem, Đấng Christ đã phán,
“Lại vì cớ tội ác sẽ thêm nhiều, thì lòng yêu mến của phần nhiều người sẽ nguội lần. Nhưng kẻ nào bền chí cho đến cuối cùng, thì sẽ được cứu. Tin lành này về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân. Bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.” (Ma-thi-ơ 24:12-14)
Lời tiên tri này sẽ được ứng nghiệm một lần nữa. Sự gian ác đầy dẫy của thời ấy tìm thấy sự tương ứng trong thế hệ này. Lời tiên đoán về việc rao giảng tin lành cũng vậy. Trước khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, Phao-lô, viết bởi Đức Thánh Linh, đã tuyên bố rằng tin lành đã được giảng cho “mọi vật dựng nên ở dưới trời.” Cô-lô-se 1:23. Cũng vậy, giờ đây, trước khi Con Người đến, tin lành đời đời phải được rao giảng “cho mọi nước, mọi chi phái, mọi tiếng, và mọi dân tộc.” Khải-huyền 14:6, 14. Đức Chúa Trời “đã chỉ định một ngày, khi Ngài sẽ lấy sự công bình đoán xét thế gian.” Công-vụ 17:31. Đấng Christ cho chúng ta biết khi nào ngày ấy sẽ được mở ra. Ngài không phán rằng cả thế gian sẽ được trở lại đạo, nhưng rằng “tin lành này về nước Đức Chúa Trời sẽ được giảng ra khắp đất, để làm chứng cho muôn dân; bấy giờ sự cuối cùng sẽ đến.” Bằng việc đem tin lành đến cho thế gian, chúng ta có quyền năng để làm nhanh sự trở lại của Chúa. Chúng ta không những phải trông đợi mà còn phải làm nhanh sự đến của ngày Đức Chúa Trời. 2 Phi-e-rơ 3:12. Giá như Hội Thánh của Đấng Christ đã làm xong công việc được giao như Chúa đã định, thì cả thế gian này trước nay đã được cảnh báo, và Đức Chúa Giê-su đã đến với trái đất chúng ta trong quyền năng và đại vinh quang. DA 633.3
Sau khi ban cho những dấu hiệu về sự đến của Ngài, Đấng Christ phán: “Khi các ngươi thấy những điều ấy xảy đến, hãy biết rằng nước Đức Chúa Trời đã gần.” “Hãy giữ mình, tỉnh thức và cầu nguyện.” Đức Chúa Trời luôn luôn cảnh cáo loài người về những sự phán xét sắp đến. Những ai có đức tin nơi sứ điệp dành cho thời đại của họ, và sống theo đức tin ấy, vâng giữ các điều răn của Ngài, thì thoát khỏi những sự phán xét giáng trên kẻ bất tuân và chẳng tin. Lời phán đến cùng Nô-ê:
“Đức Giê-hô-va phán cùng Nô-ê rằng: Ngươi và cả nhà ngươi hãy vào tàu, vì về đời này ta thấy ngươi là công bình ở trước mặt ta.” (Sáng-thế Ký 7:1)
Nô-ê vâng lời và được cứu. Sứ điệp đến cùng Lót:
“Lót bèn đi ra và nói cùng rể đã cưới con gái mình rằng: Hãy chỗi dậy, đi ra khỏi chốn này, vì Đức Giê-hô-va sẽ hủy diệt thành. Nhưng các chàng rể tưởng người nói chơi.” (Sáng-thế Ký 19:14)
Lót đặt mình dưới sự gìn giữ của các sứ giả thiên đàng, và được cứu. Cũng vậy, các môn đồ của Đấng Christ được cảnh cáo về sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem. Những ai canh chừng dấu hiệu của sự tàn phá sắp đến, và chạy trốn khỏi thành, thì thoát khỏi sự hủy diệt. Cũng vậy, ngày nay chúng ta được cảnh cáo về sự tái lâm của Đấng Christ và về sự hủy diệt sẽ giáng trên thế gian. Những ai chú ý đến lời cảnh cáo sẽ được cứu. DA 634.1
Vì chúng ta không biết chính xác thời điểm Ngài đến, nên chúng ta được truyền lệnh phải tỉnh thức.
“Phước cho những đầy tớ ấy, khi chủ về thấy họ thức canh! Quả thật, ta nói cùng các ngươi, chủ sẽ thắt lưng mình, cho đầy tớ ngồi bàn mình, và đến hầu việc họ.” (Lu-ca 12:37)
Những ai canh chừng sự đến của Chúa không phải đang chờ đợi trong mong mỏi nhàn rỗi. Sự trông đợi Đấng Christ đến là để khiến loài người kính sợ Chúa, và kính sợ sự phán xét của Ngài đối với tội lỗi vi phạm. Đó là để đánh thức họ nhận ra tội lỗi lớn lao của việc khước từ những lời mời gọi thương xót của Ngài. Những ai đang canh chừng sự đến của Chúa thì làm cho linh hồn mình trong sạch bằng cách vâng theo lẽ thật. Họ kết hợp sự canh chừng tỉnh táo với công việc sốt sắng. Vì biết rằng Chúa đang ở ngoài cửa, lòng sốt sắng của họ được nhen lại để cộng tác với các đấng thông sáng thiên đàng trong công việc cứu rỗi các linh hồn. Đó là những đầy tớ trung tín và khôn ngoan phát cho người nhà của Chúa “phần lương thực đúng giờ” (Lu-ca 12:42). Họ đang công bố lẽ thật đặc biệt thích hợp cho hiện nay. Như Hê-nóc, Nô-ê, Áp-ra-ham và Môi-se, mỗi người đã công bố lẽ thật cho thời đại của mình, thì ngày nay các đầy tớ của Đấng Christ cũng sẽ ban lời cảnh cáo đặc biệt cho thế hệ của họ. DA 634.2
Nhưng Đấng Christ đưa ra một hạng người khác: “Nếu, trái lại, là một đầy tớ xấu, nó nghĩ thầm rằng: Chủ ta đến chậm, bèn đánh kẻ cùng làm việc với mình, và ăn uống với phường say rượu, thì chủ nó sẽ đến trong ngày nó không ngờ.” DA 634.3
Đầy tớ xấu nghĩ thầm trong lòng: “Chủ ta đến chậm.” Nó không nói rằng Đấng Christ sẽ không đến. Nó không nhạo báng ý tưởng về sự tái lâm của Ngài. Nhưng trong lòng cũng như qua hành động và lời nói, nó tuyên bố rằng sự đến của Chúa bị trì hoãn. Nó xua khỏi tâm trí người khác niềm xác tín rằng Chúa sắp đến mau chóng. Ảnh hưởng của nó dẫn dắt loài người đến chỗ tự phụ, chậm trễ cách cẩu thả. Họ càng vững chắc trong tinh thần thế tục và mê muội. Những dục vọng trần gian, những tư tưởng bại hoại chiếm lấy tâm trí. Đầy tớ xấu ăn uống với phường say rượu, hùa theo thế gian trong việc tìm kiếm khoái lạc. Nó đánh kẻ cùng làm việc với mình, cáo gian và lên án những ai trung tín với Chủ mình. Nó hòa lẫn với thế gian. Trong sự vi phạm, đồng loại sinh sôi với đồng loại. Đó là một sự đồng hóa đáng sợ. Cùng với thế gian, nó bị mắc vào bẫy. “Chủ nó sẽ đến… trong giờ nó không ngờ, sẽ phân thây nó ra, đặt nó đồng số phận với kẻ giả hình.” DA 635.1
“Vậy hãy nhớ lại mình đã nhận và nghe đạo thể nào, thì giữ lấy, và ăn năn đi. Nếu ngươi chẳng tỉnh thức, ta sẽ đến như kẻ trộm, và ngươi không biết giờ nào ta đến bắt ngươi thình lình.” (Khải-huyền 3:3)
Sự đến của Đấng Christ sẽ làm cho các giáo sư giả ngạc nhiên. Họ đang nói: “Bình hòa và yên ổn.” Như các thầy tế lễ và các giáo sư trước khi thành Giê-ru-sa-lem sụp đổ, họ trông mong Hội Thánh được hưởng sự thịnh vượng và vinh hiển trần gian. Họ giải thích các dấu hiệu của thời đại là điềm báo cho điều ấy. Nhưng Lời Cảm Thúc phán điều gì?
“Khi người ta sẽ nói rằng: Bình hòa và yên ổn, thì tai họa thình lình vụt đến, như sự đau đớn xảy đến cho người đàn bà có nghén, và người ta chắc không tránh khỏi đâu.” (I Tê-sa-lô-ni-ca 5:3)
Trên hết thảy những ai ở trên mặt đất, trên hết thảy những ai lấy thế gian này làm nhà mình, ngày của Đức Chúa Trời sẽ đến như một cái bẫy. Nó đến với họ như kẻ trộm rình mò. DA 635.2
Thế gian, đầy dẫy sự náo loạn, đầy dẫy khoái lạc vô thần, đang ngủ, ngủ trong sự an toàn xác thịt. Loài người đẩy lùi sự đến của Chúa ra xa. Họ cười nhạo những lời cảnh cáo. Họ kiêu ngạo khoe khoang: “Muôn vật vẫn còn nguyên như lúc bắt đầu sáng thế.” “Ngày mai cũng như ngày nay, lại càng dư dật hơn nhiều.” Chúng ta sẽ càng lún sâu hơn vào sự ham mê khoái lạc. Nhưng Đấng Christ phán: “Kìa, ta đến như kẻ trộm.” Chính vào lúc thế gian đang chế nhạo hỏi rằng: “Chớ nào lời hứa về sự Chúa đến ở đâu?” thì các dấu hiệu đang được ứng nghiệm. Trong khi họ kêu lên: “Bình hòa và yên ổn,” thì sự hủy diệt thình lình đang đến. Khi kẻ nhạo báng, kẻ khước từ lẽ thật, trở nên tự phụ; khi guồng quay công việc trong các ngành kiếm tiền khác nhau được tiến hành mà chẳng đếm xỉa đến nguyên tắc; khi học trò hăm hở tìm kiếm sự hiểu biết về mọi điều ngoại trừ Kinh Thánh của mình, thì Đấng Christ đến như kẻ trộm. DA 635.3
Mọi sự trong thế gian đều ở trong tình trạng xao động. Các dấu hiệu của thời đại thật đáng ngại. Những biến cố sắp đến đã đổ bóng trước. Thần Linh của Đức Chúa Trời đang rút lui khỏi mặt đất, và tai họa nối tiếp tai họa nơi biển cả lẫn đất liền. Có giông tố, động đất, hỏa hoạn, lụt lội, những vụ giết người đủ mọi mức độ. Ai có thể đọc được tương lai? Sự an toàn ở đâu? Chẳng có sự bảo đảm nào trong những điều thuộc về con người hay thuộc về trần gian. Loài người đang nhanh chóng xếp hàng dưới ngọn cờ họ đã chọn. Họ chờ đợi không yên và quan sát những động thái của các lãnh tụ mình. Có những người đang chờ đợi, canh chừng và làm việc cho sự hiện ra của Chúa chúng ta. Một hạng người khác đang xếp hàng dưới quyền chỉ huy của kẻ bội đạo lớn đầu tiên. Ít người tin với hết lòng và hết linh hồn rằng chúng ta có một hỏa ngục phải tránh và một thiên đàng phải đoạt được. DA 636.1
Cuộc khủng hoảng đang lặng lẽ tiến đến trên chúng ta. Mặt trời chiếu sáng trên các tầng trời, đi qua vòng đường thường lệ của nó, và các tầng trời vẫn rao truyền sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Loài người vẫn ăn uống, trồng trọt và xây cất, cưới gả và gả cưới. Các thương gia vẫn mua bán. Loài người vẫn chen lấn nhau, tranh giành địa vị cao nhất. Những kẻ ham mê khoái lạc vẫn chen chúc vào các rạp hát, trường đua ngựa, sòng bạc. Sự kích động cao độ ngự trị khắp nơi, nhưng giờ ân điển đang mau chóng khép lại, và mỗi trường hợp sắp được định đoạt đời đời. Sa-tan thấy rằng thì giờ của nó chẳng còn bao nhiêu. Nó đã sai khiến hết thảy các thế lực của nó hành động hầu cho loài người bị lừa dối, bị mê hoặc, bị bận rộn và mê đắm, cho đến khi ngày ân điển kết thúc, và cánh cửa thương xót đóng lại đời đời. DA 636.2
Trải qua bao thế kỷ, những lời cảnh cáo trọng đại của Chúa chúng ta từ núi Ô-li-ve vọng đến cùng chúng ta cách nghiêm trang: “Vậy, hãy tự giữ lấy mình, e rằng vì sự ăn uống quá độ, sự say sưa và sự lo lắng đời nầy làm cho lòng các ngươi mê mẩn chăng, và e ngày ấy đến thình lình trên các ngươi như lưới bủa.” “Vậy, hãy tỉnh thức luôn và cầu nguyện, để các ngươi được tránh khỏi các tai nạn sẽ xảy ra, và đứng trước mặt Con người.” DA 636.3