Trong Hành Lang Ngoài

Chương này dựa trên Giăng 12:20-42. DA 621.1

“Vả, trong đám đã lên đặng thờ lạy trong kỳ lễ, có mấy người Gờ-réc, đến tìm Phi-líp, là người ở thành Bết-sai-đa, thuộc xứ Ga-li-lê, mà xin rằng: Thưa chúa, chúng tôi muốn ra mắt Đức Chúa Giê-su. Phi-líp đi nói với Anh-rê; rồi Anh-rê với Phi-líp đến thưa cùng Đức Chúa Giê-su.” (Giăng 12:20-22)

DA 621.2

Vào thời điểm này, công việc của Đấng Christ mang dáng vẻ của một sự thất bại đau đớn. Ngài đã chiến thắng trong cuộc tranh luận với các thầy tế lễ và người Pha-ri-si, nhưng rõ ràng là họ sẽ không bao giờ tiếp nhận Ngài là Đấng Mê-si. Sự chia rẽ cuối cùng đã đến. Đối với các môn đồ, tình thế dường như vô vọng. Nhưng Đấng Christ đang tiến gần đến sự hoàn tất công việc của Ngài. Biến cố trọng đại liên quan không chỉ đến dân tộc Do Thái, mà còn đến cả thế gian, sắp diễn ra. Khi Đấng Christ nghe lời thỉnh cầu tha thiết, “Chúng tôi muốn thấy Đức Chúa Giê-su,” vang vọng tiếng kêu khao khát của thế gian, nét mặt Ngài rạng ngời lên, và Ngài phán, “Giờ đã đến, khi Con Người sẽ được vinh hiển.” Trong lời thỉnh cầu của những người Hy Lạp này, Ngài thấy được hoa quả đầu mùa của kết quả từ sự hy sinh cao cả của Ngài. DA 621.3

Những người này từ phương Tây đến để tìm Đấng Cứu Thế vào lúc cuối đời Ngài, cũng như các nhà thông thái đã từ phương Đông đến vào lúc Ngài giáng sinh. Vào thời điểm Đấng Christ ra đời, dân Do Thái mải mê với những kế hoạch đầy tham vọng của riêng họ đến nỗi họ không hề biết về sự giáng lâm của Ngài. Các nhà thông thái từ một xứ ngoại đạo đã đến bên máng cỏ với những lễ vật của mình, để thờ lạy Đấng Cứu Thế. Cũng vậy, những người Hy Lạp này, đại diện cho các quốc gia, các chi tộc, và các dân tộc của thế gian, đã đến để thấy Đức Chúa Giê-su. Cũng vậy, dân chúng của mọi xứ và mọi thời đại sẽ được thu hút đến với thập tự giá của Đấng Cứu Thế. Cũng vậy, nhiều người sẽ

“Ta cũng nói cùng các ngươi, có nhiều người từ đông phương tây phương sẽ đến, ngồi đồng bàn với Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp trong nước thiên đàng.” (Ma-thi-ơ 8:11)

DA 621.4

Những người Hy Lạp đã nghe về việc Đấng Christ tiến vào thành Giê-ru-sa-lem trong sự khải hoàn. Một số người đã cho rằng, và đã loan truyền tin đồn, rằng Ngài đã đuổi các thầy tế lễ và những kẻ cai trị ra khỏi đền thờ, rằng Ngài sẽ chiếm lấy ngôi của Đa-vít, và cai trị như vua của Y-sơ-ra-ên. Những người Hy Lạp khao khát muốn biết sự thật liên quan đến sứ mạng của Ngài. Họ nói, “Chúng tôi muốn thấy Đức Chúa Giê-su.” Ước muốn của họ đã được toại nguyện. Khi lời thỉnh cầu được đưa đến Đức Chúa Giê-su, Ngài đang ở trong phần đền thờ mà tất cả những người không phải Do Thái đều bị cấm vào, nhưng Ngài đã đi ra với những người Hy Lạp tại hành lang bên ngoài, và có một cuộc gặp gỡ riêng với họ. DA 622.1

Giờ vinh hiển của Đấng Christ đã đến. Ngài đang đứng trong bóng của thập tự giá, và lời thỉnh cầu của những người Hy Lạp cho Ngài thấy rằng sự hy sinh mà Ngài sắp thực hiện sẽ đem nhiều con trai và con gái đến với Đức Chúa Trời. Ngài biết rằng những người Hy Lạp này chẳng bao lâu nữa sẽ thấy Ngài trong một tình cảnh mà lúc ấy họ không hề mơ tưởng đến. Họ sẽ thấy Ngài bị đặt bên cạnh Ba-ra-ba, một tên cướp và kẻ sát nhân, kẻ sẽ được chọn để phóng thích thay vì Con Đức Chúa Trời. Họ sẽ nghe dân chúng, bị các thầy tế lễ và những kẻ cai trị xúi giục, đưa ra sự lựa chọn của họ. Và đối với câu hỏi, “Vậy thì ta sẽ xử với Giê-su gọi là Christ thể nào?” câu trả lời sẽ là, “Hãy đóng đinh Ngài trên thập tự giá.”

“Phi-lát nói rằng: Vậy, còn Giê-su gọi là Cơ-đốc, thì ta sẽ xử thế nào? Chúng đều trả lời rằng: Đóng đinh nó trên cây thập tự!” (Ma-thi-ơ 27:22)

Bằng cách thực hiện sự chuộc tội này cho tội lỗi của loài người, Đấng Christ biết rằng vương quốc của Ngài sẽ được kiện toàn, và sẽ lan rộng khắp thế gian. Ngài sẽ làm việc với tư cách là Đấng Phục Hồi, và Thần Linh của Ngài sẽ chiếm ưu thế. Trong một khoảnh khắc, Ngài nhìn vào tương lai, và nghe những tiếng nói tuyên bố khắp mọi nơi trên trái đất, “Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi.”

“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)

Trong những người xa lạ này, Ngài thấy lời hứa về một mùa gặt lớn, khi bức tường ngăn cách giữa người Do Thái và dân ngoại sẽ bị phá đổ, và mọi quốc gia, mọi thứ tiếng, và mọi dân tộc sẽ nghe sứ điệp cứu rỗi. Sự mong đợi điều này, sự hoàn thành những hy vọng của Ngài, được bày tỏ qua những lời, “Giờ đã đến, khi Con Người sẽ được vinh hiển.” Nhưng phương cách mà sự vinh hiển này phải diễn ra chẳng bao giờ vắng bóng khỏi tâm trí Đấng Christ. Sự thu nhóm dân ngoại sẽ tiếp nối sau cái chết sắp đến của Ngài. Chỉ qua sự chết của Ngài mà thế gian mới có thể được cứu. Như một hạt lúa mì, Con Người phải bị gieo xuống đất và chết đi, và bị chôn vùi khuất tầm mắt; nhưng Ngài sẽ sống lại. DA 622.2

Đấng Christ trình bày tương lai của Ngài, minh họa bằng những điều trong thiên nhiên, để các môn đồ có thể hiểu được. Kết quả thật của sứ mạng Ngài sẽ đạt được qua sự chết của Ngài. Ngài phán, “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu hột giống lúa mì kia chẳng chết sau khi gieo xuống đất, thì cứ ở một mình; nhưng nếu chết đi, thì kết quả được nhiều.” Khi hạt lúa mì rơi xuống đất và chết đi, nó nảy mầm, và kết quả. Cũng vậy, sự chết của Đấng Christ sẽ đem lại hoa quả cho nước Đức Chúa Trời. Theo định luật của giới thực vật, sự sống sẽ là kết quả của sự chết của Ngài. DA 623.1

Những người cày cấy đất luôn có hình ảnh minh họa này trước mắt họ. Năm này qua năm khác, con người giữ gìn nguồn cung cấp lúa của mình bằng cách dường như vứt bỏ phần tốt nhất. Trong một thời gian, nó phải được giấu dưới luống cày, để được Chúa trông coi. Rồi xuất hiện lá mạ, rồi đến bông, rồi đến hạt lúa trong bông. Nhưng sự phát triển này không thể diễn ra trừ khi hạt giống được chôn vùi khuất tầm mắt, được giấu kín, và dường như, đã mất đi. DA 623.2

Hạt giống được chôn trong đất sản sinh ra hoa quả, và đến lượt nó, hoa quả này lại được gieo trồng. Như vậy, mùa gặt được nhân lên. Cũng vậy, sự chết của Đấng Christ trên thập tự giá ở đồi Gô-gô-tha sẽ kết quả cho sự sống đời đời. Việc chiêm ngưỡng sự hy sinh này sẽ là vinh quang của những người, là hoa quả của sự hy sinh ấy, sẽ sống qua những thời đại đời đời. DA 623.3

Hạt lúa mì giữ lấy sự sống của chính mình thì không thể sinh ra hoa quả. Nó cứ ở một mình. Đấng Christ có thể, nếu Ngài muốn, tự cứu mình khỏi sự chết. Nhưng nếu Ngài làm điều này, Ngài phải ở một mình. Ngài không thể đem con trai và con gái nào đến với Đức Chúa Trời. Chỉ bằng cách hiến dâng sự sống của Ngài, Ngài mới có thể ban sự sống cho nhân loại. Chỉ bằng cách rơi xuống đất để chết, Ngài mới có thể trở thành hạt giống của mùa gặt bao la ấy—đoàn dân đông đảo từ mọi quốc gia, mọi chi tộc, mọi thứ tiếng, và mọi dân tộc, được cứu chuộc đến với Đức Chúa Trời. DA 623.4

Với chân lý này, Đấng Christ kết nối bài học về sự hy sinh bản thân mà mọi người đều phải học: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất đi, ai ghét sự sống mình trong đời nầy thì sẽ giữ lại đến sự sống đời đời.” Tất cả những ai muốn sinh ra hoa quả với tư cách là những người cùng làm việc với Đấng Christ, trước hết phải rơi xuống đất và chết đi. Sự sống phải được gieo vào luống cày của nhu cầu thế gian. Lòng yêu bản thân, sự tư lợi, phải bị diệt mất. Và định luật của sự hy sinh bản thân là định luật của sự bảo tồn bản thân. Người nông phu giữ gìn hạt lúa của mình bằng cách vứt nó đi. Cũng vậy trong đời sống con người. Cho đi là sống. Sự sống được bảo tồn là sự sống được hiến dâng cách tự nguyện trong việc phục vụ Đức Chúa Trời và loài người. Những ai vì cớ Đấng Christ mà hy sinh sự sống của mình trong đời nầy sẽ giữ lại được đến sự sống đời đời. DA 623.5

Sự sống tiêu phí cho bản thân giống như hạt lúa bị ăn mất. Nó biến đi, nhưng không có sự gia tăng. Một người có thể thu góp tất cả những gì mình có thể cho bản thân; người ấy có thể sống, suy nghĩ, và lập kế hoạch cho bản thân; nhưng đời người ấy qua đi, và người ấy chẳng còn gì cả. Định luật của sự phục vụ bản thân là định luật của sự tự hủy diệt. DA 624.1

Đức Chúa Giê-su phán, “Nếu ai hầu việc ta, thì hãy theo ta, và ta ở đâu, thì kẻ hầu việc ta cũng sẽ ở đó; nếu ai hầu việc ta, thì Cha ta sẽ tôn quí người.” Tất cả những ai đã cùng Đức Chúa Giê-su mang lấy thập tự giá của sự hy sinh sẽ được dự phần vinh quang của Ngài với Ngài. Trong sự sỉ nhục và đau đớn của Đấng Christ, niềm vui của Ngài là các môn đồ sẽ được vinh hiển cùng với Ngài. Họ là hoa quả của sự hy sinh bản thân của Ngài. Việc tánh nết và tâm linh của chính Ngài được hình thành trong họ là phần thưởng của Ngài, và sẽ là niềm vui của Ngài đến đời đời. Niềm vui này họ chia sẻ với Ngài khi hoa quả của sự lao nhọc và hy sinh của họ được thấy trong những tấm lòng và đời sống khác. Họ là những người cùng làm việc với Đấng Christ, và Đức Chúa Cha sẽ tôn quí họ như Ngài tôn quí Con Ngài. DA 624.2

Sứ điệp của những người Hy Lạp, vốn báo trước sự quy tụ của dân ngoại, đã đem đến trong tâm trí Đức Chúa Giê-su toàn bộ sứ mệnh của Ngài. Công cuộc cứu chuộc lướt qua trước mặt Ngài, từ thuở chương trình ấy được lập nên trên thiên đàng, cho đến sự chết giờ đây đã gần kề. Một đám mây huyền bí dường như bao trùm Con Đức Chúa Trời. Sự ảm đạm của nó được cảm nhận bởi những người ở gần Ngài. Ngài ngồi đó, đắm chìm trong suy tư. Cuối cùng sự yên lặng bị phá vỡ bởi giọng nói buồn bã của Ngài: “Hiện nay tâm thần ta bối rối; ta sẽ nói gì? Lạy Cha, xin cứu Con khỏi giờ nầy?” Trong sự dự cảm, Đấng Christ đã uống chén đắng cay rồi. Nhân tánh của Ngài rúng động trước giờ phút bị bỏ rơi, khi mà theo mọi vẻ bề ngoài Ngài sẽ bị ngay cả Đức Chúa Trời lìa bỏ, khi mọi người sẽ thấy Ngài bị đánh, bị Đức Chúa Trời giáng họa, và chịu khốn khổ. Ngài rúng động trước sự phơi bày công khai, trước việc bị đối xử như tên tội phạm tệ hại nhất, trước cái chết nhục nhã và ô nhục. Sự lo sợ về cuộc xung đột của Ngài với các thế lực bóng tối, ý thức về gánh nặng khủng khiếp của sự vi phạm loài người, cùng cơn thạnh nộ của Đức Chúa Cha vì tội lỗi đã khiến tâm thần Đức Chúa Giê-su ngất đi, và sắc tái của sự chết phủ trên gương mặt Ngài. DA 624.3

Rồi đến sự thuận phục thiêng liêng đối với ý muốn của Cha Ngài. Ngài phán: “Ấy cũng vì sự đó mà Con đến giờ nầy. Cha ơi, xin làm sáng danh Cha!” Chỉ qua sự chết của Đấng Christ thì vương quốc của Sa-tan mới có thể bị lật đổ. Chỉ như vậy con người mới có thể được cứu chuộc, và Đức Chúa Trời được làm vinh hiển. Đức Chúa Giê-su ưng thuận sự thống khổ, Ngài chấp nhận sự hi sinh. Đấng Uy Nghi của thiên đàng ưng thuận chịu khổ với tư cách là Đấng Mang Tội. Ngài phán: “Cha ơi, xin làm sáng danh Cha.” Khi Đấng Christ phán những lời nầy, một tiếng đáp đến từ đám mây lơ lửng trên đầu Ngài: “Ta đã làm sáng danh rồi, ta còn làm cho sáng danh nữa!” Cả cuộc đời của Đấng Christ, từ máng cỏ cho đến lúc những lời nầy được phán ra, đã làm vinh hiển Đức Chúa Trời; và trong cuộc thử thách sắp đến, những sự thống khổ của Ngài, vừa thiêng liêng vừa nhân loại, sẽ thật sự làm vinh hiển danh Cha Ngài. DA 624.4

Khi tiếng phán được nghe thấy, một luồng sáng lóe ra từ đám mây, và bao quanh Đấng Christ, như thể cánh tay của Quyền Năng Vô Hạn vây phủ Ngài như một bức tường lửa. Dân chúng chứng kiến cảnh tượng nầy với sự kinh hãi và sửng sốt. Không ai dám lên tiếng. Với đôi môi lặng câm và hơi thở nín lặng, hết thảy đều đứng đó với ánh mắt dán chặt vào Đức Chúa Giê-su. Sau khi lời chứng của Cha đã được ban ra, đám mây cất lên, và tan biến trên các từng trời. Trong giây phút ấy, sự thông công hữu hình giữa Cha và Con đã kết thúc. DA 625.1

“Dân chúng đứng đó nghe tiếng thì nói rằng ấy là tiếng sấm; có kẻ khác nói: Một vị thiên sứ nào nói với Ngài.” Nhưng những người Hy Lạp đang tìm kiếm thì thấy đám mây, nghe tiếng phán, hiểu được ý nghĩa của nó, và nhận biết Đấng Christ thật; đối với họ, Ngài đã được tỏ ra là Đấng Đức Chúa Trời sai đến. DA 625.2

Tiếng của Đức Chúa Trời đã được nghe thấy tại lễ báp-têm của Đức Chúa Giê-su lúc khởi đầu chức vụ Ngài, và một lần nữa tại sự hóa hình của Ngài trên núi. Giờ đây, vào lúc kết thúc chức vụ của Ngài, tiếng ấy được nghe lần thứ ba, bởi một số người đông hơn, và trong những hoàn cảnh đặc biệt. Đức Chúa Giê-su vừa phán lẽ thật trang trọng nhất liên quan đến tình trạng của người Do Thái. Ngài đã đưa ra lời kêu gọi cuối cùng, và tuyên bố số phận của họ. Giờ đây Đức Chúa Trời lại một lần nữa đặt ấn của Ngài trên sứ mệnh của Con Ngài. Ngài nhìn nhận Đấng mà Y-sơ-ra-ên đã chối bỏ. Đức Chúa Giê-su phán: “Ấy chẳng phải vì ta mà tiếng nầy vang ra, nhưng vì các ngươi.” Đó là bằng chứng tột đỉnh về cương vị Đấng Mê-si của Ngài, tín hiệu từ Cha rằng Đức Chúa Giê-su đã phán lẽ thật, và là Con Đức Chúa Trời. DA 625.3

Đấng Christ tiếp tục: “Hiện bây giờ, có sự phán xét thế gian nầy; hiện bây giờ, vua chúa thế gian nầy phải bị xua đuổi. Còn ta, khi ta đã được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta. Ngài phán vậy để chỉ mình phải chết cách nào.” Đây là cơn khủng hoảng của thế gian. Nếu ta trở nên của lễ chuộc tội cho loài người, thế gian sẽ được soi sáng. Quyền nắm giữ của Sa-tan trên linh hồn loài người sẽ bị bẻ gãy. Hình ảnh của Đức Chúa Trời bị làm hoen ố sẽ được phục hồi trong nhân loại, và một gia đình các thánh đồ tin kính cuối cùng sẽ thừa hưởng ngôi nhà thiên đàng. Đây là kết quả của sự chết của Đấng Christ. Đấng Cứu Thế đắm chìm trong sự chiêm ngưỡng cảnh tượng khải hoàn hiện ra trước mặt Ngài. Ngài thấy thập tự giá, cây thập tự tàn nhẫn và nhục nhã, cùng tất cả những nỗi kinh hoàng đi kèm với nó, rực sáng với sự vinh hiển. DA 625.4

Nhưng công cuộc cứu chuộc loài người không phải là tất cả những gì được thực hiện bởi thập tự giá. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời được tỏ ra cho cả vũ trụ. Vua chúa của thế gian nầy bị xua đuổi. Những lời cáo buộc mà Sa-tan đã dấy lên chống nghịch Đức Chúa Trời bị bác bỏ. Sự sỉ nhục mà nó đã ném vào thiên đàng được cất bỏ đời đời. Các thiên sứ cũng như loài người đều được kéo đến cùng Đấng Cứu Chuộc. Ngài phán: “Còn ta, khi ta đã được treo lên khỏi đất, ta sẽ kéo mọi người đến cùng ta.” DA 626.1

Nhiều người vây quanh Đấng Christ khi Ngài phán những lời nầy, và một người nói: “Chúng tôi có học trong luật pháp rằng Đấng Christ còn đời đời, vậy sao thầy nói: Con người phải bị treo lên? Con người đó là ai? Đức Chúa Giê-su bèn đáp rằng: Sự sáng còn ở giữa các ngươi ít lâu; hãy đi trong khi các ngươi còn có sự sáng, e rằng sự tối tăm đến thình lình cùng các ngươi chăng; kẻ đi trong nơi tối tăm thì chẳng biết mình đi đâu. Các ngươi đương có sự sáng, hãy tin sự sáng, hầu cho trở nên con cái của sự sáng.” DA 626.2

“Vả, dẫu Ngài đã làm bấy nhiêu phép lạ trước mặt chúng, họ cũng không tin Ngài.” Họ đã một lần hỏi Đấng Cứu Thế: “Thế thì thầy làm phép lạ gì, để cho chúng tôi thấy và tin?” Giăng 6:30. Vô số dấu lạ đã được ban cho; nhưng họ đã nhắm mắt lại và làm cứng lòng mình. Giờ đây, khi chính Cha đã phán, và họ không thể đòi thêm dấu lạ nào nữa, họ vẫn từ chối tin. DA 626.3

“Nhưng, trong hàng quan trưởng cũng có nhiều người tin Đức Chúa Giê-su; song vì cớ người Pha-ri-si, nên không xưng Ngài ra, sợ bị đuổi khỏi nhà hội chăng.” Họ chuộng sự khen ngợi của loài người hơn là sự chấp thuận của Đức Chúa Trời. Để cứu mình khỏi sự sỉ nhục và xấu hổ, họ chối bỏ Đấng Christ, và khước từ sự ban cho sự sống đời đời. Và biết bao người trải qua mọi thế kỷ kể từ đó đã làm chính điều ấy! Đối với hết thảy họ, những lời cảnh báo của Đấng Cứu Thế đều ứng nghiệm: “Ai yêu sự sống mình thì sẽ mất đi.” Đức Chúa Giê-su phán: “Người nào bỏ ta ra và không nhận lãnh lời ta, đã có kẻ xét đoán rồi; lời ta đã rao giảng, chính lời đó sẽ xét đoán họ nơi ngày sau cùng.” Giăng 12:48. DA 626.4

Khốn thay cho những kẻ chẳng biết kỳ thăm viếng mình! Cách chậm rãi và đầy tiếc nuối, Đấng Christ vĩnh viễn rời khỏi khuôn viên đền thờ. DA 626.5