Những Lời Khốn Cho Người Pha-ri-si
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 23; Mác 12:41-44; Lu-ca 20:45-47; Lu-ca 21:1-4. DA 610.1
Đó là ngày cuối cùng Đấng Christ giảng dạy trong đền thờ. Trong số những đám đông khổng lồ tụ họp tại Giê-ru-sa-lem, sự chú ý của hết thảy đều bị thu hút về phía Ngài; dân chúng chen chúc trong các hành lang đền thờ, theo dõi cuộc tranh luận đang diễn ra, và họ háo hức bắt lấy từng lời thốt ra từ môi Ngài. Chưa bao giờ người ta được chứng kiến một cảnh tượng như vậy. Tại đó đứng một người trẻ tuổi xứ Ga-li-lê, không mang một danh dự trần gian hay phù hiệu hoàng gia nào. Bao quanh Ngài là các thầy tế lễ trong phẩm phục lộng lẫy, các nhà cầm quyền với áo choàng và phù hiệu tượng trưng cho địa vị cao trọng của họ, và các thầy thông giáo cầm những cuộn sách trong tay mà họ thường xuyên tra cứu. Đức Chúa Giê-su đứng điềm tĩnh trước mặt họ, với phẩm cách của một vị vua. Như một Đấng được trao thẩm quyền của thiên đàng, Ngài nhìn không nao núng vào những kẻ thù nghịch mình, là những kẻ đã chối bỏ và khinh dể những lời dạy dỗ của Ngài, và là những kẻ khát khao lấy mạng sống của Ngài. Họ đã công kích Ngài với số đông, nhưng những âm mưu gài bẫy và kết án Ngài đều vô ích. Hết thách thức này đến thách thức khác Ngài đều đáp lại, trình bày lẽ thật tinh sạch, sáng láng trái ngược với sự tối tăm và những sai lầm của các thầy tế lễ và người Pha-ri-si. Ngài đã đặt trước mặt các nhà lãnh đạo này tình trạng thực sự của họ, và sự báo trả chắc chắn sẽ đến nếu họ ngoan cố trong những việc làm gian ác. Lời cảnh báo đã được ban ra cách trung tín. Tuy nhiên còn một công việc nữa Đấng Christ phải làm. Còn một mục đích nữa cần được hoàn thành. DA 610.2
Sự quan tâm của dân chúng đối với Đấng Christ và công việc của Ngài đã không ngừng gia tăng. Họ bị mê hoặc bởi sự giảng dạy của Ngài, nhưng họ cũng vô cùng bối rối. Họ đã kính trọng các thầy tế lễ và các thầy ra-bi vì sự khôn ngoan và vẻ tin kính bề ngoài của họ. Trong mọi vấn đề tôn giáo, họ luôn vâng phục thẩm quyền của những người ấy cách tuyệt đối. Vậy mà giờ đây họ thấy những người này đang cố làm mất uy tín của Đức Chúa Giê-su, một thầy giáo mà đức hạnh và sự hiểu biết càng tỏa sáng rực rỡ hơn sau mỗi cuộc công kích. Họ nhìn vào những gương mặt sa sầm của các thầy tế lễ và các trưởng lão, và thấy ở đó sự bại trận cùng bối rối. Họ kinh ngạc rằng các nhà cầm quyền lại không tin nơi Đức Chúa Giê-su, khi những lời dạy dỗ của Ngài quá rõ ràng và đơn sơ. Chính họ cũng không biết phải theo đường lối nào. Với nỗi lo âu khắc khoải, họ theo dõi từng động thái của những người mà họ luôn nghe theo lời khuyên bảo. DA 611.1
Trong những ẩn dụ mà Đấng Christ đã phán, mục đích của Ngài vừa cảnh báo các nhà cầm quyền vừa dạy dỗ dân chúng là những người sẵn lòng được dạy dỗ. Nhưng còn cần phải nói rõ ràng hơn nữa. Qua sự tôn sùng truyền thống và đức tin mù quáng nơi một hàng tế lễ thối nát, dân chúng đã bị nô lệ hóa. Những xiềng xích này Đấng Christ phải bẻ gãy. Bản chất của các thầy tế lễ, các nhà cầm quyền, và người Pha-ri-si phải được phơi bày đầy đủ hơn. DA 611.2
Ngài phán: “Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si ngồi trên ngôi của Môi-se: vậy, hễ điều gì họ bảo các ngươi giữ, thì hãy giữ và làm theo; song chớ bắt chước việc làm của họ: vì họ nói mà không làm.” Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si tuyên bố rằng mình được trao thẩm quyền thiêng liêng tương tự như Môi-se. Họ tự cho mình thay thế chỗ của ông như những người giải thích luật pháp và xét đoán dân chúng. Với tư cách đó, họ đòi hỏi nơi dân chúng sự kính nể và vâng phục tột bậc. Đức Chúa Giê-su truyền cho những người nghe Ngài làm theo những điều các thầy ra-bi dạy phù hợp với luật pháp, nhưng chớ noi theo gương của họ. Chính họ không thực hành sự dạy dỗ của mình. DA 612.1
Và họ dạy nhiều điều trái với Kinh Thánh. Đức Chúa Giê-su phán: “Họ buộc những gánh nặng khó chịu, để trên vai người ta; nhưng chính mình họ thì không muốn lấy một ngón tay mà động đến.” Người Pha-ri-si áp đặt vô số quy định, dựa trên truyền thống, và hạn chế quyền tự do cá nhân một cách vô lý. Và họ giải thích một số phần của luật pháp theo cách áp đặt trên dân chúng những điều phải tuân giữ mà chính họ thì âm thầm phớt lờ, và khi có lợi cho họ, họ còn thực sự đòi được miễn trừ. DA 612.2
Mục tiêu thường xuyên của họ là phô trương sự tin kính của mình. Không có gì được xem là quá thánh thiêng đến nỗi không thể bị lợi dụng cho mục đích này. Đức Chúa Trời đã phán cùng Môi-se về các điều răn của Ngài: “Ngươi khá buộc nó trên tay mình như một dấu, và nó sẽ ở giữa hai con mắt ngươi như ấn chí.” Phục truyền luật lệ ký 6:8. Những lời này có ý nghĩa sâu xa. Khi lời Đức Chúa Trời được suy gẫm và thực hành, toàn bộ con người sẽ được cao quý hóa. Trong cách cư xử công bình và nhân từ, đôi tay sẽ bày tỏ, như một dấu ấn, những nguyên tắc của luật pháp Đức Chúa Trời. Chúng sẽ được giữ sạch khỏi của hối lộ, và khỏi mọi điều thối nát và lừa dối. Chúng sẽ năng nổ trong những việc yêu thương và trắc ẩn. Đôi mắt, hướng về một mục đích cao thượng, sẽ trong sáng và chân thật. Gương mặt biểu cảm, đôi mắt biết nói, sẽ làm chứng cho bản tánh không chỗ trách được của người yêu mến và tôn kính lời Đức Chúa Trời. Nhưng đối với người Do Thái thời Đấng Christ, hết thảy những điều này đều không được nhận ra. Mạng lệnh ban cho Môi-se bị giải thích thành một chỉ thị rằng các giới luật của Kinh Thánh phải được đeo trên thân thể. Theo đó, chúng được viết trên những dải da, và buộc một cách phô trương quanh đầu và cổ tay. Nhưng điều này không khiến luật pháp Đức Chúa Trời bám chắc hơn vào tâm trí và tấm lòng. Những dải da này được đeo chỉ như những phù hiệu, để thu hút sự chú ý. Người ta cho rằng chúng đem lại cho người đeo một vẻ sùng đạo khiến dân chúng phải tôn kính. Đức Chúa Giê-su giáng một đòn vào thói giả hình rỗng tuếch này: DA 612.3
“Nhưng họ làm mọi việc chỉ để cho người ta thấy: họ đeo những thẻ kinh rộng, may những tua áo dài, ưa ngồi chỗ cao nhất trong các đám tiệc, và ngồi đầu trong các nhà hội, thích người ta chào mình giữa chợ, và xưng mình bằng thầy. Nhưng các ngươi đừng chịu người ta gọi mình bằng thầy: vì các ngươi chỉ có một Thầy, là Đấng Christ; còn các ngươi hết thảy đều là anh em. Cũng đừng gọi ai dưới đất là cha mình: vì các ngươi chỉ có một Cha, là Đấng ở trên trời. Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ: vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ.” Bằng những lời rõ ràng như vậy, Đấng Cứu Thế đã vạch trần tham vọng ích kỷ luôn vươn tới địa vị và quyền lực, phô bày một sự khiêm nhường giả tạo, trong khi tấm lòng đầy dẫy lòng tham lam và ganh tị. Khi người ta được mời dự tiệc, các khách được sắp xếp chỗ ngồi theo thứ bậc, và những ai được cho chỗ danh dự nhất thì nhận được sự chú ý đầu tiên cùng những đặc ân riêng. Người Pha-ri-si luôn mưu toan để giành được những vinh dự này. Đức Chúa Giê-su quở trách thói quen này. DA 613.1
Ngài cũng khiển trách sự hư vinh thể hiện trong việc thèm muốn danh hiệu ra-bi, hay thầy. Ngài tuyên bố rằng danh hiệu như vậy không thuộc về loài người, nhưng thuộc về Đấng Christ. Các thầy tế lễ, các thầy thông giáo, và các nhà cầm quyền, những người giải thích và thi hành luật pháp, hết thảy đều là anh em, con cái của một Cha. Đức Chúa Giê-su nhấn mạnh với dân chúng rằng họ không nên ban cho ai một danh hiệu vinh dự ngụ ý người ấy nắm quyền kiểm soát lương tâm hay đức tin của họ. DA 613.2
Nếu Đấng Christ ở trên đất ngày nay, vây quanh bởi những kẻ mang danh hiệu “Mục sư Khả kính” hay “Đức Cha Đáng kính”, chẳng phải Ngài sẽ lặp lại lời mình rằng: “Cũng đừng chịu ai gọi mình là chủ: vì các ngươi chỉ có một Chủ, là Đấng Christ” sao? Kinh Thánh tuyên bố về Đức Chúa Trời: “Danh Ngài là thánh và đáng kính sợ.” Thi thiên 111:9. Danh hiệu như vậy thích hợp với người phàm nào? Con người bày tỏ ít ỏi làm sao sự khôn ngoan và công bình mà danh hiệu ấy ngụ ý! Biết bao kẻ tự nhận danh hiệu này đang trình bày sai trật danh xưng và bản tánh của Đức Chúa Trời! Than ôi, biết bao lần tham vọng thế gian, sự chuyên quyền, và những tội lỗi đê hèn nhất đã được giấu kín dưới chiếc áo thêu của một chức vị cao trọng và thánh thiêng! Đấng Cứu Thế phán tiếp: DA 613.3
“Song ai lớn hơn hết trong các ngươi, thì sẽ làm đầy tớ các ngươi. Kẻ nào tôn mình lên thì sẽ bị hạ xuống, còn kẻ nào hạ mình xuống thì sẽ được tôn lên.” Hết lần này đến lần khác Đấng Christ đã dạy rằng sự cao trọng thật được đo bằng giá trị đạo đức. Theo sự đánh giá của thiên đàng, sự cao trọng của bản tánh nằm ở chỗ sống vì phúc lợi của đồng loại, ở việc làm những công việc yêu thương và nhân từ. Đấng Christ là Vua vinh hiển đã làm đầy tớ cho loài người sa ngã. DA 613.4
Đức Chúa Giê-su phán: “Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi đóng nước thiên đàng trước mặt người ta: các ngươi không vào đó bao giờ, mà có ai muốn vào, thì lại ngăn trở.” Bằng cách xuyên tạc Kinh Thánh, các thầy tế lễ và các thầy dạy luật làm mù lòng những người đáng lẽ đã tiếp nhận sự hiểu biết về nước Đấng Christ, và sự sống thiêng liêng nội tâm vốn thiết yếu cho sự thánh khiết chân thật. DA 614.1
“Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi nuốt nhà đàn bà góa, mà giả bộ làm bộ cầu nguyện dài: vì cớ đó, các ngươi sẽ bị đoán phạt nặng hơn.” Người Pha-ri-si có ảnh hưởng lớn trên dân chúng, và họ lợi dụng điều này để phục vụ tư lợi của mình. Họ chiếm được lòng tin của các bà góa sùng đạo, rồi trình bày rằng việc dâng tài sản cho mục đích tôn giáo là một bổn phận của họ. Sau khi đã nắm được quyền kiểm soát tiền bạc của họ, những kẻ mưu mô gian xảo này dùng nó cho lợi ích riêng. Để che đậy sự bất lương của mình, họ cầu nguyện dài dòng nơi công cộng và phô trương lòng sùng đạo cách rầm rộ. Đấng Christ tuyên bố rằng sự giả hình này sẽ đem lại cho họ sự đoán phạt nặng hơn. Cũng lời quở trách ấy giáng trên nhiều người trong thời đại chúng ta, là những kẻ tự xưng có lòng sùng đạo cao trọng. Đời sống họ bị vấy bẩn bởi tính ích kỷ và tham lam, nhưng họ khoác lên tất cả một tấm áo dường như thanh sạch, và nhờ đó tạm thời lừa dối được đồng loại. Nhưng họ không thể lừa dối Đức Chúa Trời. Ngài thấu suốt mọi ý định của tấm lòng, và sẽ phán xét mỗi người tùy theo việc làm của họ. DA 614.2
Đấng Christ lên án thẳng tay những sự lạm dụng, nhưng Ngài cẩn thận không làm giảm bớt bổn phận. Ngài quở trách tính ích kỷ đã bóc lột và lạm dụng những của dâng của bà góa. Đồng thời Ngài khen ngợi bà góa đã đem của lễ mình dâng vào kho của Đức Chúa Trời. Sự lạm dụng của loài người đối với của dâng không thể làm cho phước lành của Đức Chúa Trời lìa khỏi người dâng. DA 614.3
Đức Chúa Giê-su đang ở trong sân nơi đặt những rương đựng tiền dâng, và Ngài quan sát những người đến bỏ của dâng vào. Nhiều người giàu có đem những số tiền lớn, và họ dâng cách phô trương rầm rộ. Đức Chúa Giê-su buồn bã nhìn họ, nhưng không bình luận gì về những của dâng hào phóng ấy. Bỗng nhiên gương mặt Ngài bừng sáng khi thấy một bà góa nghèo rụt rè bước đến, dường như sợ bị người ta để ý. Khi những kẻ giàu sang và kiêu hãnh lướt qua để bỏ của dâng, bà co rúm lại như chẳng dám tiến tới thêm. Nhưng bà vẫn khao khát làm một điều gì đó, dầu ít ỏi đến đâu, cho công việc mà bà yêu mến. Bà nhìn của dâng trong tay mình. Nó thật nhỏ bé so với của dâng của những người xung quanh, nhưng đó là tất cả những gì bà có. Chờ đúng lúc, bà vội vàng bỏ vào hai đồng tiền nhỏ của mình, rồi quay đi để mau chóng rời khỏi. Nhưng khi làm vậy, bà bắt gặp ánh mắt của Đức Chúa Giê-su, đang chăm chú nhìn bà cách tha thiết. DA 614.4
Đấng Cứu Thế gọi các môn đồ đến gần Ngài, và bảo họ hãy chú ý đến sự nghèo khó của bà góa. Rồi những lời khen ngợi của Ngài lọt vào tai bà: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, bà góa nghèo nầy đã bỏ vào nhiều hơn hết thảy mọi người khác.” Nước mắt vui mừng tràn đầy đôi mắt bà khi bà cảm thấy hành động của mình được thấu hiểu và trân trọng. Nhiều người hẳn đã khuyên bà giữ lại chút tiền ít ỏi ấy để dùng cho riêng mình; khi trao vào tay những thầy tế lễ no đủ, nó sẽ bị lu mờ giữa biết bao của dâng quý giá khác đem vào kho. Nhưng Đức Chúa Giê-su hiểu được động cơ của bà. Bà tin rằng công việc của đền thờ là do Đức Chúa Trời chỉ định, và bà tha thiết làm hết sức mình để duy trì nó. Bà đã làm điều bà có thể làm, và hành động của bà sẽ là một đài kỷ niệm cho bà qua mọi thời đại, và là niềm vui của bà trong cõi đời đời. Tấm lòng bà gửi gắm cùng với của dâng; giá trị của nó không được đánh giá bằng giá trị của đồng tiền, mà bằng lòng yêu mến Đức Chúa Trời và sự quan tâm đến công việc Ngài đã thúc đẩy nên hành động ấy. DA 615.1
Đức Chúa Giê-su nói về bà góa nghèo rằng, bà “đã bỏ vào nhiều hơn hết thảy mọi người khác.” Những người giàu đã dâng ra từ sự dư dật của họ, nhiều người trong số họ để được người ta thấy và tôn trọng. Những món quyên góp lớn lao của họ chẳng làm họ mất đi một sự tiện nghi nào, thậm chí cả sự xa hoa; chúng chẳng đòi hỏi sự hy sinh nào, và không thể nào sánh được về giá trị với hai đồng tiền của bà góa. DA 615.2
Chính động cơ mới định tính chất cho hành động của chúng ta, ghi dấu chúng bằng sự nhuốc nhơ hay bằng giá trị đạo đức cao thượng. Đức Chúa Trời không kể những việc lớn lao mà mọi mắt đều thấy và mọi miệng đều khen là quý giá nhất. Những bổn phận nhỏ được làm cách vui vẻ, những của dâng nhỏ chẳng phô trương, và đối với mắt người dường như chẳng đáng gì, thường lại đứng cao nhất trong mắt Ngài. Một tấm lòng đầy đức tin và tình yêu thương thì quý báu đối với Đức Chúa Trời hơn của dâng đắt tiền nhất. Bà góa nghèo đã dâng cả sự sống của mình để làm điều nhỏ bé mà bà đã làm. Bà nhịn ăn để dâng hai đồng tiền ấy cho công việc mà bà yêu mến. Và bà đã làm điều đó trong đức tin, tin rằng Cha trên trời sẽ không bỏ qua nhu cầu lớn lao của bà. Chính tinh thần vô kỷ và đức tin trẻ thơ này đã được Đấng Cứu Thế khen ngợi. DA 615.3
Trong vòng những người nghèo có nhiều người khao khát bày tỏ lòng biết ơn đối với Đức Chúa Trời vì ân điển và lẽ thật của Ngài. Họ rất ao ước được cùng những anh em sung túc hơn của mình chung tay duy trì công việc của Ngài. Những linh hồn này không nên bị khước từ. Hãy để họ tích trữ những đồng tiền nhỏ của mình trong ngân hàng thiên đàng. Nếu được dâng từ một tấm lòng đầy tình yêu mến Đức Chúa Trời, những điều dường như nhỏ nhặt này trở thành những của dâng được biệt riêng ra thánh, những của lễ vô giá, mà Đức Chúa Trời mỉm cười và ban phước. DA 615.4
Khi Đức Chúa Giê-su nói về bà góa rằng, bà “đã bỏ vào nhiều hơn hết thảy mọi người khác,” lời Ngài là chân thật, không chỉ về động cơ, mà còn về kết quả của của dâng bà. “Hai đồng tiền ăn một phần tư xu” đã đem vào kho của Đức Chúa Trời một số tiền lớn hơn nhiều so với những món đóng góp của những người Do Thái giàu có ấy. Ảnh hưởng của của dâng nhỏ bé ấy giống như một dòng suối, ban đầu nhỏ bé, nhưng càng chảy qua các thời đại lại càng mở rộng và sâu thẳm hơn. Bằng ngàn cách, nó đã góp phần cứu trợ người nghèo và truyền bá tin lành. Tấm gương hy sinh của bà đã tác động và lan tỏa đến hàng ngàn tấm lòng ở mọi xứ và mọi thời đại. Nó đã chạm đến cả người giàu lẫn người nghèo, và những của dâng của họ đã làm tăng thêm giá trị của của dâng bà. Phước lành của Đức Chúa Trời trên hai đồng tiền của bà góa đã khiến nó trở thành nguồn của những kết quả lớn lao. Cũng vậy với mỗi của dâng được ban ra và mỗi việc làm được thực hiện với lòng chân thành mong muốn làm vinh hiển Đức Chúa Trời. Nó được liên kết với những mục đích của Đấng Toàn Năng. Không ai có thể đo lường được những kết quả tốt lành của nó. DA 616.1
Đấng Cứu Thế tiếp tục lên án các thầy thông giáo và người Pha-ri-si: “Khốn cho các ngươi, là kẻ dẫn đường mù quáng, các ngươi nói rằng: Hễ ai chỉ đền thờ mà thề, thì không can chi; song chỉ vàng của đền thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy! Hỡi kẻ dại và mù, vì vàng, và đền thờ làm cho vàng nên thánh, cái nào trọng hơn? Lại các ngươi nói rằng: Hễ ai chỉ bàn thờ mà thề, thì không can chi; song ai chỉ của lễ trên bàn thờ mà thề, thì phải mắc lời thề ấy. Hỡi kẻ mù kia, của lễ, và bàn thờ làm cho của lễ nên thánh, cái nào trọng hơn?” Các thầy tế lễ giải nghĩa những đòi hỏi của Đức Chúa Trời theo tiêu chuẩn sai lạc và hẹp hòi của riêng họ. Họ tự cho mình quyền phân biệt tỉ mỉ về mức độ tội lỗi của các tội khác nhau, xem nhẹ một số tội, và đối xử với những tội khác có lẽ ít hệ trọng hơn như thể không thể tha thứ được. Vì một số tiền, họ miễn cho người ta khỏi những lời thề nguyện. Và vì những số tiền lớn, đôi khi họ bỏ qua những tội ác trầm trọng. Đồng thời, trong những trường hợp khác, các thầy tế lễ và những người cai trị này lại tuyên bố sự phán xét nghiêm khắc cho những lỗi lầm vặt vãnh. DA 616.2
“Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi nộp một phần mười bạc hà, hồi hương, cùng rau cần, mà bỏ điều hệ trọng hơn hết trong luật pháp, là sự công bình, thương xót và trung tín; đó là những điều các ngươi phải làm, mà cũng không nên bỏ sót những điều kia.” Trong những lời này, Đấng Christ lại lên án sự lạm dụng bổn phận thiêng liêng. Chính bổn phận ấy thì Ngài không hủy bỏ. Hệ thống nộp một phần mười là do Đức Chúa Trời chỉ định, và đã được tuân giữ từ thuở xa xưa nhất. Áp-ra-ham, tổ phụ của những người có đức tin, đã nộp một phần mười của tất cả những gì ông sở hữu. Những người cai trị Do Thái công nhận bổn phận nộp một phần mười, và điều này là đúng; nhưng họ không để cho dân chúng làm theo niềm tin xác tín về bổn phận của chính mình. Những quy luật độc đoán được đặt ra cho mọi trường hợp. Những đòi hỏi đã trở nên phức tạp đến nỗi không thể nào thực hiện được. Không ai biết khi nào thì bổn phận của mình đã được làm trọn. Như Đức Chúa Trời đã ban cho, hệ thống ấy là công bằng và hợp lý; nhưng các thầy tế lễ và thầy thông giáo đã biến nó thành một gánh nặng mệt nhọc. DA 616.3
Tất cả những gì Đức Chúa Trời truyền dạy đều có ý nghĩa. Đấng Christ công nhận việc nộp phần mười là một bổn phận; nhưng Ngài cho thấy điều này không thể bào chữa cho việc sao lãng những bổn phận khác. Người Pha-ri-si rất tỉ mỉ trong việc nộp phần mười các loại rau cỏ trong vườn, như bạc hà, hồi hương và rau tần; điều này tốn kém ít, nhưng đem lại cho họ tiếng là người chính xác và thánh thiện. Đồng thời, những điều luật vô ích của họ đè nặng trên dân chúng và phá hủy lòng tôn kính đối với hệ thống thiêng liêng do chính Đức Chúa Trời chỉ định. Họ làm cho tâm trí con người bận rộn với những sự phân biệt nhỏ nhặt, và làm cho sự chú ý của họ xa rời khỏi những lẽ thật thiết yếu. Những điều trọng yếu hơn của luật pháp—sự công bình, lòng thương xót và lẽ thật—đều bị sao lãng. Đấng Christ phán: “Các ngươi phải làm những điều ấy, mà cũng đừng bỏ qua những điều kia.” DA 617.1
Các thầy ra-bi cũng đã làm sai lệch những luật khác theo cách tương tự. Trong các chỉ dẫn được ban qua Môi-se, việc ăn bất cứ vật gì ô uế đều bị cấm. Việc dùng thịt heo, và thịt của một số loài thú khác, đều bị cấm vì có thể làm cho dòng máu đầy những chất dơ bẩn và rút ngắn đời sống. Nhưng người Pha-ri-si không để các luật cấm này như Đức Chúa Trời đã ban. Họ đi đến những chỗ cực đoan vô lý. Trong số những điều khác, dân chúng buộc phải lọc tất cả nước được dùng, kẻo trong đó có con côn trùng nhỏ nhất, vốn có thể bị xếp vào loài thú ô uế. Đức Chúa Giê-su, đối chiếu những đòi hỏi nhỏ nhặt này với mức độ to lớn của tội lỗi thật sự của họ, đã phán cùng người Pha-ri-si: “Hỡi kẻ mù dẫn đường, các ngươi lọc con ruồi nhỏ mà nuốt con lạc đà!” DA 617.2
“Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi giống như mồ mả tô trắng bề ngoài cho đẹp, mà bề trong thì đầy xương người chết và mọi thứ dơ dáy.” Như ngôi mộ được tô trắng và trang trí đẹp đẽ che giấu xác chết thối rữa bên trong, thì sự thánh thiện bề ngoài của các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền cũng che giấu sự gian ác. Đức Chúa Giê-su tiếp tục: DA 617.3
“Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là kẻ giả hình! vì các ngươi xây đắp mồ mả của các tiên tri, trang sức mồ mả của những người công bình, và nói rằng: Nếu chúng ta ở vào thời của tổ phụ, thì không có chung phần làm đổ máu các tiên tri vậy. Ấy đó, các ngươi tự làm chứng cho mình rằng các ngươi là con cháu của những kẻ giết các tiên tri.” Để tỏ lòng kính trọng các tiên tri đã chết, người Do Thái rất sốt sắng làm đẹp mồ mả của họ; nhưng họ không nhờ những lời dạy dỗ ấy mà được lợi ích, cũng không lưu ý đến những lời khiển trách của các tiên tri. DA 617.4
Trong thời Đấng Christ, người ta nuôi dưỡng một lòng tôn kính mê tín đối với nơi an nghỉ của người chết, và những số tiền lớn được tiêu phí vào việc trang trí. Trước mắt Đức Chúa Trời, đây là sự thờ hình tượng. Trong sự tôn kính quá đáng đối với người chết, con người tỏ ra rằng họ không yêu mến Đức Chúa Trời trên hết mọi sự, cũng không yêu người lân cận như mình. Cũng sự thờ hình tượng ấy được đẩy đến mức cực đoan ngày nay. Nhiều người mắc tội sao lãng người góa bụa và kẻ mồ côi, người đau yếu và kẻ nghèo khó, để xây những đài kỷ niệm đắt tiền cho người chết. Thì giờ, tiền bạc và công sức được tiêu xài rộng rãi cho mục đích này, trong khi những bổn phận đối với người sống—những bổn phận mà Đấng Christ đã truyền dạy rõ ràng—lại bị bỏ qua. DA 618.1
Người Pha-ri-si xây đắp mồ mả của các tiên tri, trang trí mộ phần của họ, và nói cùng nhau rằng: Nếu chúng ta sống vào thời tổ phụ, thì không bao giờ chung phần với họ làm đổ máu các tôi tớ Đức Chúa Trời. Đồng thời họ đang mưu toan giết hại Con của Ngài. Điều này phải là một bài học cho chúng ta. Nó phải mở mắt chúng ta thấy quyền lực của Sa-tan trong việc lừa dối tâm trí kẻ xây bỏ ánh sáng của lẽ thật. Nhiều người đi theo lối mòn của người Pha-ri-si. Họ tôn kính những người đã chết vì đức tin của họ. Họ ngạc nhiên về sự mù quáng của người Do Thái trong việc chối bỏ Đấng Christ. Họ tuyên bố rằng: Nếu chúng ta sống vào thời Ngài, hẳn chúng ta đã vui mừng tiếp nhận lời dạy của Ngài; chúng ta sẽ không bao giờ chung phần trong tội lỗi của những kẻ chối bỏ Đấng Cứu Thế. Nhưng khi sự vâng lời Đức Chúa Trời đòi hỏi phải từ bỏ chính mình và hạ mình xuống, thì chính những người này lại bóp nghẹt sự cảm nhận lương tâm của mình và chối từ vâng lời. Như thế họ bày tỏ cùng một tinh thần như người Pha-ri-si mà Đấng Christ đã lên án. DA 618.2
Người Do Thái ít nhận thức được trách nhiệm khủng khiếp gắn liền với việc chối bỏ Đấng Christ. Từ khi máu vô tội đầu tiên bị đổ ra, khi A-bên công bình ngã xuống bởi tay Ca-in, thì cũng một lịch sử ấy đã được lặp lại, với tội lỗi ngày càng gia tăng. Trong mọi thời đại, các tiên tri đã cất tiếng chống lại tội lỗi của các vua, các nhà cầm quyền và dân chúng, nói ra những lời Đức Chúa Trời ban cho họ, và vâng theo ý muốn Ngài dù phải liều mạng sống. Từ đời này sang đời khác, một hình phạt khủng khiếp đã chồng chất lên những kẻ chối bỏ ánh sáng và lẽ thật. Điều này, các kẻ thù của Đấng Christ giờ đây đang kéo xuống chính trên đầu mình. Tội của các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền lớn hơn tội của bất cứ thế hệ nào trước đó. Bởi việc chối bỏ Đấng Cứu Thế, họ tự làm cho mình phải chịu trách nhiệm về máu của mọi người công bình đã bị giết từ A-bên cho đến Đấng Christ. Họ sắp sửa làm cho ly tội ác của mình tràn đầy. Và chẳng bao lâu nữa nó sẽ được đổ trên đầu họ trong sự báo trả công bình. Về điều này, Đức Chúa Giê-su đã cảnh báo họ: DA 618.3
“Hầu cho hết thảy máu vô tội bị tràn ra trên mặt đất, đổ về các ngươi, từ máu A-bên là người công bình cho đến máu Xa-cha-ri là con của Ba-ra-chi, mà các ngươi đã giết ở giữa khoảng đền thờ và bàn thờ. Quả thật, ta nói cùng các ngươi, mọi điều đó sẽ xảy đến cho dòng dõi này.” DA 619.1
Các thầy thông giáo và người Pha-ri-si nghe Đức Chúa Giê-su đều biết lời Ngài là thật. Họ biết tiên tri Xa-cha-ri đã bị giết như thế nào. Trong khi những lời cảnh báo từ Đức Chúa Trời còn ở trên môi ông, một cơn cuồng nộ của Sa-tan đã chiếm lấy vị vua bội đạo, và theo lệnh người ấy tiên tri đã bị giết chết. Máu của ông đã in trên chính những phiến đá của sân đền thờ, và không thể tẩy xóa được; nó vẫn còn đó để làm chứng nghịch lại Y-sơ-ra-ên bội đạo. Bao lâu đền thờ còn đứng vững, thì sẽ còn vết của dòng máu công bình ấy, kêu thấu Đức Chúa Trời đòi báo thù. Khi Đức Chúa Giê-su đề cập đến những tội lỗi kinh khiếp này, một sự rùng mình khiếp hãi lan khắp đám đông. DA 619.2
Hướng về tương lai, Đức Chúa Giê-su tuyên bố rằng sự cứng lòng của người Do Thái và sự cố chấp của họ đối với các tôi tớ của Đức Chúa Trời trong tương lai cũng sẽ y như trong quá khứ: DA 619.3
“Vậy nên, này, ta sai các tiên tri, các người khôn ngoan và các thầy thông giáo đến cùng các ngươi; trong những người ấy, kẻ thì các ngươi sẽ giết và đóng đinh trên thập tự giá, kẻ thì các ngươi sẽ đánh đập trong nhà hội mình, và các ngươi sẽ đuổi bắt từ thành này đến thành kia.” Các tiên tri và những người khôn ngoan, đầy dẫy đức tin và Đức Thánh Linh—Ê-tiên, Gia-cơ và nhiều người khác—sẽ bị kết án và bị giết. Với bàn tay giơ lên trời, và một luồng ánh sáng thiêng liêng bao phủ thân Ngài, Đấng Christ phán như một vị quan án với những kẻ đứng trước mặt Ngài. Tiếng Ngài, vốn thường được nghe trong sự dịu dàng và nài nỉ, giờ đây được nghe trong sự khiển trách và lên án. Những người nghe phải rùng mình. Không bao giờ ấn tượng do lời Ngài và cái nhìn của Ngài tạo nên có thể bị xóa nhòa. DA 619.4
Sự phẫn nộ của Đấng Christ nhắm vào sự giả hình, những tội lỗi trắng trợn mà bởi đó con người đang hủy hoại chính linh hồn mình, lừa dối dân chúng và làm ô danh Đức Chúa Trời. Trong sự lý luận xảo trá, lừa dối của các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền, Ngài nhận ra hoạt động của các thế lực Sa-tan. Lời tố cáo tội lỗi của Ngài sắc bén và thấu suốt; nhưng Ngài không thốt ra một lời báo thù. Ngài có một cơn thạnh nộ thánh khiết nghịch cùng chúa của sự tối tăm; nhưng Ngài không tỏ ra một tâm tánh cáu kỉnh. Cũng vậy, người Cơ-đốc sống hòa hợp với Đức Chúa Trời, sở hữu những đức tánh ngọt ngào của tình yêu thương và lòng thương xót, sẽ cảm thấy một sự phẫn nộ công bình nghịch cùng tội lỗi; nhưng người ấy sẽ không bị cơn nóng giận thôi thúc để mắng nhiếc những kẻ mắng nhiếc mình. Ngay cả khi đối diện với những kẻ bị một quyền lực từ bên dưới xui khiến để duy trì sự dối trá, trong Đấng Christ người ấy vẫn sẽ giữ được sự bình tĩnh và tự chủ. DA 619.5
Lòng thương xót thiêng liêng hiện rõ trên gương mặt Con Đức Chúa Trời khi Ngài đưa một cái nhìn lưu luyến cuối cùng về phía đền thờ rồi nhìn những người nghe Ngài. Với giọng nói nghẹn ngào bởi nỗi đau sâu thẳm trong lòng và những giọt nước mắt đắng cay, Ngài thốt lên: “Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con cái ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng khứng!” Đây là cuộc tranh đấu của sự chia ly. Trong lời than khóc của Đấng Christ, chính tấm lòng của Đức Chúa Trời đang tuôn đổ chính mình ra. Đó là lời từ biệt huyền nhiệm của tình yêu nhịn nhục của Đấng Thần Linh. DA 620.1
Người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê đều bị buộc phải im lặng. Đức Chúa Giê-su gọi các môn đồ Ngài, và chuẩn bị rời khỏi đền thờ, không như một kẻ bị đánh bại và bị buộc phải lui khỏi sự hiện diện của những kẻ thù nghịch mình, nhưng như một Đấng đã hoàn thành công việc của mình. Ngài rút lui như một người chiến thắng khỏi cuộc tranh đấu. DA 620.2
Những viên ngọc lẽ thật rơi ra từ môi miệng Đấng Christ trong ngày trọng đại ấy đã được gìn giữ như báu vật trong nhiều tấm lòng. Đối với họ, những tư tưởng mới được khơi dậy, những khát vọng mới được đánh thức, và một lịch sử mới bắt đầu. Sau khi Đấng Christ chịu đóng đinh và sống lại, những người này đã bước ra phía trước, hoàn thành sứ mạng thiêng liêng của mình với một sự khôn ngoan và lòng nhiệt thành tương xứng với sự cao cả của công việc. Họ mang đến một thông điệp đánh động lòng người, làm suy yếu những điều mê tín cũ kỹ đã từ lâu kìm hãm đời sống của hàng ngàn người. Trước lời chứng của họ, những lý thuyết và triết học của loài người trở nên như những truyện ngụ ngôn vô bổ. Lớn lao thay là những kết quả tuôn chảy từ lời của Đấng Cứu Thế đối với đám đông kinh ngạc, sững sờ trong đền thờ tại Giê-ru-sa-lem. DA 620.3
Nhưng dân Y-sơ-ra-ên với tư cách là một quốc gia đã tự cắt đứt mình khỏi Đức Chúa Trời. Những nhánh tự nhiên của cây ô-li-ve đã bị bẻ gãy. Nhìn lần cuối cùng vào bên trong đền thờ, Đức Chúa Giê-su phán với giọng buồn thảm xót xa:
“Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang! Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!” (Ma-thi-ơ 23:38-39)
Cho đến lúc ấy Ngài vẫn gọi đền thờ là nhà của Cha Ngài; nhưng giờ đây, khi Con Đức Chúa Trời bước ra khỏi những bức tường ấy, sự hiện diện của Đức Chúa Trời sẽ vĩnh viễn rút khỏi đền thờ được xây dựng cho sự vinh hiển của Ngài. Từ nay về sau những nghi lễ của nó sẽ trở nên vô nghĩa, các sự thờ phượng của nó chỉ là một trò nhạo báng. DA 620.4