Cuộc Tranh Luận

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 22:15-46; Mác 12:13-40; Lu-ca 20:20-47 DA 601.1

Các thầy tế lễ và những người cai trị đã im lặng lắng nghe những lời quở trách thẳng thắn của Đấng Christ. Họ không thể bác bỏ những lời cáo buộc của Ngài. Nhưng họ chỉ càng quyết tâm gài bẫy Ngài, và với mục đích đó họ đã sai đến cùng Ngài những kẻ do thám, “giả làm người hiền lành, để bắt lấy lời nói Ngài, hầu cho nộp Ngài cho kẻ cầm quyền và phục dưới quyền quan tổng đốc.” Họ không sai những người Pha-ri-si già nua mà Đức Chúa Giê-su đã thường gặp, nhưng những thanh niên hăng hái và nhiệt thành, mà họ nghĩ rằng Đấng Christ không biết. Những người này được đi cùng với một số người thuộc phe Hê-rốt, là những kẻ phải nghe lời Đấng Christ, để có thể làm chứng nghịch cùng Ngài tại phiên tòa xử Ngài. Người Pha-ri-si và người thuộc phe Hê-rốt vốn là kẻ thù không đội trời chung, nhưng giờ đây họ hợp làm một trong sự thù ghét Đấng Christ. DA 601.2

Người Pha-ri-si luôn bực bội dưới ách thuế khóa mà người La-mã đặt ra. Họ cho rằng việc nộp thuế là trái với luật pháp Đức Chúa Trời. Giờ đây họ thấy cơ hội để giăng bẫy Đức Chúa Giê-su. Những kẻ do thám đến cùng Ngài, với vẻ thành thật bề ngoài, như thể muốn biết bổn phận của họ, mà nói rằng, “Thưa thầy, chúng tôi biết thầy nói và dạy dỗ theo lẽ ngay thẳng, không tây vị ai, lấy lẽ thật mà dạy đạo Đức Chúa Trời. Chúng tôi có nên nộp thuế cho Sê-sa hay không?” DA 601.3

Những lời, “Chúng tôi biết thầy nói và dạy dỗ theo lẽ ngay thẳng,” nếu chúng được nói ra cách chân thành, hẳn là một lời thừa nhận lạ lùng. Nhưng chúng được nói ra để lừa dối; tuy nhiên lời chứng của họ là sự thật. Người Pha-ri-si quả thật biết rằng Đấng Christ nói và dạy dỗ cách ngay thẳng, và họ sẽ bị phán xét bởi chính lời chứng của mình. DA 602.1

Những kẻ đặt câu hỏi cho Đức Chúa Giê-su nghĩ rằng họ đã che giấu mục đích của mình đủ kín đáo; nhưng Đức Chúa Giê-su đọc thấu tấm lòng họ như một quyển sách mở, và dò xét sự giả hình của họ. “Sao các ngươi thử ta?” Ngài phán; như vậy đã ban cho họ một dấu hiệu mà họ không cầu xin, bằng cách tỏ ra rằng Ngài đọc thấu mục đích kín giấu của họ. Họ càng bối rối hơn khi Ngài thêm rằng, “Hãy đưa cho ta xem một đồng đơ-ni-ê.” Họ đưa cho Ngài, rồi Ngài hỏi họ, “Hình và hiệu nầy của ai? Họ thưa rằng: Của Sê-sa.” Chỉ vào dòng chữ khắc trên đồng tiền, Đức Chúa Giê-su phán, “Vậy, hãy trả cho Sê-sa vật gì của Sê-sa; và trả cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời.” DA 602.2

Những kẻ do thám đã trông đợi Đức Chúa Giê-su trả lời câu hỏi của họ một cách trực tiếp, theo cách này hay cách khác. Nếu Ngài nói rằng, Nộp thuế cho Sê-sa là trái luật, thì Ngài sẽ bị tố cáo với nhà cầm quyền La-mã và bị bắt vì xúi giục nổi loạn. Nhưng nếu Ngài tuyên bố rằng nộp thuế là hợp pháp, thì họ định tố cáo Ngài trước dân chúng là kẻ chống lại luật pháp Đức Chúa Trời. Giờ đây họ cảm thấy mình bị bối rối và thất bại. Các kế hoạch của họ bị đảo lộn. Cách thức dứt khoát mà câu hỏi của họ được giải quyết khiến họ chẳng còn gì để nói thêm. DA 602.3

Câu trả lời của Đấng Christ không phải là sự né tránh, mà là một lời đáp thẳng thắn cho câu hỏi. Cầm trong tay đồng tiền La-mã, trên đó có khắc tên và hình của Sê-sa, Ngài tuyên bố rằng vì họ đang sống dưới sự bảo hộ của quyền lực La-mã, nên họ phải cung cấp cho quyền lực ấy sự ủng hộ mà nó đòi hỏi, miễn là điều này không xung đột với một bổn phận cao cả hơn. Nhưng dù vâng phục cách hòa thuận các luật lệ của xứ sở, họ phải luôn dành lòng trung thành trước hết cho Đức Chúa Trời. DA 602.4

Lời của Đấng Cứu Thế, “Hãy trả… cho Đức Chúa Trời vật gì của Đức Chúa Trời,” là một lời quở trách nghiêm khắc dành cho những người Do Thái mưu mô. Nếu họ đã trung tín làm trọn bổn phận của mình đối với Đức Chúa Trời, thì họ đã chẳng trở thành một dân tộc tan vỡ, phục dưới một quyền lực ngoại bang. Sẽ chẳng có cờ La-mã phất phới trên thành Giê-ru-sa-lem, chẳng có lính canh La-mã đứng tại các cổng thành, chẳng có quan tổng đốc La-mã cai trị trong các bức tường thành. Dân Do Thái lúc bấy giờ đang trả giá cho sự bội đạo của mình đối với Đức Chúa Trời. DA 602.5

Khi người Pha-ri-si nghe câu trả lời của Đấng Christ, “họ bèn lấy làm lạ, để Ngài lại mà đi.” Ngài đã quở trách sự giả hình và sự tự phụ của họ, và khi làm điều này Ngài đã nêu lên một nguyên tắc lớn, một nguyên tắc xác định rõ ràng giới hạn bổn phận của con người đối với chính quyền dân sự và bổn phận của họ đối với Đức Chúa Trời. Trong nhiều tâm trí, một câu hỏi gây bối rối đã được giải quyết. Từ đó về sau họ giữ vững nguyên tắc đúng đắn. Và dù nhiều người ra về không thỏa lòng, họ thấy rằng nguyên tắc nằm dưới câu hỏi đã được trình bày rõ ràng, và họ kinh ngạc trước sự sáng suốt nhìn xa trông rộng của Đấng Christ. DA 602.6

Người Pha-ri-si vừa mới bị làm cho nín lặng thì người Sa-đu-sê liền bước tới với những câu hỏi xảo trá của họ. Hai phe phái này đối nghịch nhau cách cay đắng. Người Pha-ri-si bám chặt vào truyền thống một cách cứng nhắc. Họ tỉ mỉ trong các nghi lễ bề ngoài, siêng năng trong việc rửa ráy, kiêng ăn, và cầu nguyện dài dòng, và phô trương trong việc bố thí. Nhưng Đấng Christ tuyên bố rằng họ đã làm cho luật pháp Đức Chúa Trời ra vô hiệu khi lấy các điều răn của loài người mà dạy dỗ như là giáo lý. Xét như một tầng lớp thì họ cố chấp và giả hình; song giữa vòng họ cũng có những người thật lòng tin kính, là những kẻ đã tiếp nhận lời dạy của Đấng Christ và trở nên môn đồ của Ngài. Người Sa-đu-sê thì bác bỏ các truyền thống của người Pha-ri-si. Họ xưng nhận rằng tin phần lớn Kinh Thánh, và xem đó là quy tắc hành động; nhưng trên thực tế họ là những kẻ hoài nghi và duy vật. DA 603.1

Người Sa-đu-sê chối bỏ sự hiện hữu của các thiên sứ, sự sống lại của kẻ chết, và giáo lý về một đời sống tương lai, với những phần thưởng và hình phạt của nó. Trên tất cả những điểm này họ bất đồng với người Pha-ri-si. Giữa hai phe phái, sự sống lại đặc biệt là một đề tài tranh luận. Người Pha-ri-si vốn tin chắc vào sự sống lại, nhưng trong những cuộc tranh luận này quan điểm của họ về trạng thái tương lai trở nên rối rắm. Sự chết trở thành một điều bí ẩn không thể giải thích được đối với họ. Việc họ không thể đối đáp lại những lập luận của người Sa-đu-sê làm nảy sinh sự bực bội liên tục. Những cuộc tranh luận giữa hai phe phái thường dẫn đến những cuộc cãi vã giận dữ, khiến họ càng xa cách nhau hơn trước. DA 603.2

Về số lượng, người Sa-đu-sê thua kém xa các đối thủ của họ, và họ không có ảnh hưởng mạnh trên dân thường; nhưng nhiều người trong số họ giàu có, và họ có thứ ảnh hưởng mà sự giàu sang đem lại. Trong hàng ngũ của họ bao gồm phần lớn các thầy tế lễ, và thầy tế lễ thượng phẩm thường được chọn từ giữa vòng họ. Tuy nhiên, điều này đi kèm với điều kiện rõ ràng rằng các quan điểm hoài nghi của họ không được làm cho nổi bật. Vì số lượng và sự được lòng dân của người Pha-ri-si, người Sa-đu-sê buộc phải nhượng bộ bề ngoài đối với các giáo lý của họ khi đảm nhận bất kỳ chức vụ tế lễ nào; nhưng chính sự kiện rằng họ đủ điều kiện cho những chức vụ như vậy đã đem ảnh hưởng đến các sai lầm của họ. DA 604.1

Người Sa-đu-sê chối bỏ sự dạy dỗ của Đức Chúa Giê-su; Ngài được thúc đẩy bởi một thần linh mà họ không chịu thừa nhận là tỏ ra như vậy; và lời dạy của Ngài về Đức Chúa Trời và đời sống tương lai mâu thuẫn với các học thuyết của họ. Họ tin Đức Chúa Trời là Đấng duy nhất cao trọng hơn con người; nhưng họ lập luận rằng một sự quan phòng tể trị và một sự thấy trước thiêng liêng sẽ tước đoạt khỏi con người quyền tự do đạo đức, và hạ thấp con người xuống địa vị một nô lệ. Họ tin rằng, sau khi đã tạo dựng con người, Đức Chúa Trời đã để mặc con người tự lo liệu, độc lập với một ảnh hưởng cao hơn. Họ cho rằng con người được tự do điều khiển đời sống của chính mình và định hình các biến cố của thế giới; rằng số phận của con người nằm trong tay chính con người. Họ chối bỏ rằng Thần Linh của Đức Chúa Trời hành động qua những nỗ lực của con người hay qua các phương tiện tự nhiên. Tuy vậy họ vẫn cho rằng, qua sự sử dụng đúng đắn các năng lực tự nhiên của mình, con người có thể trở nên cao quý và được khai sáng; rằng bằng những đòi hỏi nghiêm ngặt và khắc khổ, đời sống của con người có thể được tinh luyện. DA 604.2

Những ý niệm của họ về Đức Chúa Trời đã nhào nặn nên chính nhân cách họ. Như theo quan điểm của họ thì Ngài chẳng quan tâm gì đến con người, nên họ cũng ít quan tâm đến nhau; giữa họ có ít sự hiệp một. Vì từ chối thừa nhận ảnh hưởng của Đức Thánh Linh trên hành động của con người, họ thiếu quyền năng của Ngài trong đời sống mình. Giống như những người Do Thái khác, họ khoe khoang nhiều về quyền làm con của Áp-ra-ham theo huyết thống, và về sự tuân giữ nghiêm ngặt các đòi hỏi của luật pháp; nhưng họ thiếu vắng tinh thần chân thật của luật pháp cùng đức tin và lòng nhân từ của Áp-ra-ham. Những thiện cảm tự nhiên của họ bị thu hẹp trong một phạm vi chật hẹp. Họ tin rằng tất cả mọi người đều có thể đạt được những tiện nghi và phước lành của đời sống; và lòng họ không động lòng trước những nhu cầu và đau khổ của kẻ khác. Họ sống cho chính mình. DA 604.3

Bằng lời nói và việc làm của Ngài, Đấng Christ đã làm chứng về một quyền năng thiêng liêng tạo nên những kết quả siêu nhiên, về một đời sống tương lai vượt khỏi hiện tại, về Đức Chúa Trời như một Người Cha của con cái loài người, luôn luôn chăm sóc đến lợi ích thật của họ. Ngài bày tỏ sự vận hành của quyền năng thiêng liêng trong lòng nhân từ và thương xót, là điều quở trách tính ích kỷ hẹp hòi của người Sa-đu-sê. Ngài dạy rằng vì cả lợi ích đời này lẫn lợi ích đời đời của con người, Đức Chúa Trời cảm động lòng người bởi Đức Thánh Linh. Ngài chỉ ra sự sai lầm của việc trông cậy nơi quyền lực của con người để biến đổi tâm tánh, là điều chỉ có thể được thực hiện bởi Thần của Đức Chúa Trời mà thôi. DA 605.1

Người Sa-đu-sê quyết tâm làm mất uy tín lời dạy này. Khi tìm cách tranh luận với Đức Chúa Giê-su, họ tự tin rằng sẽ làm cho Ngài mất danh dự, dù họ không thể bảo đảm việc kết tội Ngài. Sự sống lại là đề tài họ chọn để chất vấn Ngài. Nếu Ngài đồng ý với họ, Ngài sẽ càng xúc phạm thêm người Pha-ri-si. Nếu Ngài bất đồng với họ, họ định đem lời dạy của Ngài ra chế giễu. DA 605.2

Người Sa-đu-sê lý luận rằng nếu thân thể trong trạng thái bất tử được cấu tạo bởi cùng những hạt vật chất như trong trạng thái hay chết, thì khi được sống lại từ kẻ chết nó phải có thịt và huyết, và phải tiếp tục trong thế giới đời đời cái đời sống đã bị gián đoạn trên đất. Trong trường hợp đó, họ kết luận rằng các mối liên hệ trần gian sẽ được tiếp tục, vợ chồng sẽ được tái hợp, hôn nhân được hoàn thành, và mọi sự sẽ diễn tiến y như trước khi chết, những sự yếu đuối và dục vọng của đời này được kéo dài sang đời sống bên kia. DA 605.3

Để trả lời các câu hỏi của họ, Đức Chúa Giê-su đã vén bức màn che đời sống tương lai. Ngài phán:

“Vì đến khi sống lại, người ta không cưới vợ, cũng không lấy chồng, song những kẻ sống lại là như thiên sứ trên trời vậy.” (Ma-thi-ơ 22:30)

Ngài chỉ ra rằng người Sa-đu-sê đã sai lầm trong niềm tin của họ. Tiền đề của họ là sai. Ngài thêm rằng:

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Các ngươi lầm, vì không hiểu Kinh thánh, và cũng không hiểu quyền phép Đức Chúa Trời thể nào.” (Ma-thi-ơ 22:29)

Ngài không buộc tội họ là giả hình như Ngài đã buộc tội người Pha-ri-si, nhưng là sai lầm trong đức tin. DA 605.4

Người Sa-đu-sê tự khen mình rằng trong tất cả mọi người họ là những kẻ bám sát Kinh Thánh nghiêm ngặt nhất. Nhưng Đức Chúa Giê-su chỉ ra rằng họ đã không hiểu ý nghĩa thật của Kinh Thánh. Sự hiểu biết đó phải được đem đến tận lòng bởi sự soi sáng của Đức Thánh Linh. Ngài tuyên bố rằng sự dốt nát của họ về Kinh Thánh và quyền năng của Đức Chúa Trời chính là nguyên nhân của sự rối loạn đức tin và sự tối tăm tâm trí của họ. Họ tìm cách đem những điều mầu nhiệm của Đức Chúa Trời vào trong khuôn khổ của lý luận hữu hạn của họ. Đấng Christ kêu gọi họ mở lòng đón nhận những lẽ thật thiêng liêng có thể mở rộng và củng cố sự hiểu biết. Hàng ngàn người trở thành kẻ vô tín vì tâm trí hữu hạn của họ không thể hiểu thấu những điều mầu nhiệm của Đức Chúa Trời. Họ không thể giải thích sự biểu lộ kỳ diệu của quyền năng thiêng liêng trong sự quan phòng của Ngài, vì vậy họ chối bỏ những bằng chứng của quyền năng ấy, gán chúng cho những tác nhân tự nhiên mà họ lại càng ít hiểu hơn. Chìa khóa duy nhất cho những điều mầu nhiệm bao quanh chúng ta là nhìn nhận trong tất cả mọi sự có sự hiện diện và quyền năng của Đức Chúa Trời. Con người cần nhìn nhận Đức Chúa Trời là Đấng Tạo Hóa của vũ trụ, Đấng truyền lệnh và thi hành mọi sự. Họ cần một cái nhìn rộng hơn về tâm tánh của Ngài và về sự mầu nhiệm của các tác nhân của Ngài. DA 605.5

Đấng Christ tuyên bố với những người nghe Ngài rằng nếu không có sự sống lại của kẻ chết thì Kinh Thánh mà họ xưng là tin sẽ chẳng có giá trị gì. Ngài phán:

“Các ngươi há không đọc lời Đức Chúa Trời phán về sự sống lại của kẻ chết rằng: Ta là Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác, Đức Chúa Trời của Gia-cốp, hay sao? Đức Chúa Trời không phải là Chúa của kẻ chết, nhưng của kẻ sống.” (Ma-thi-ơ 22:31-32)

Đức Chúa Trời kể những điều chưa có như đã có rồi. Ngài thấy cuối cùng từ ban đầu, và Ngài nhìn thấy kết quả của công việc Ngài như thể nó đã hoàn thành ngay bây giờ. Những kẻ chết quý báu, từ A-đam cho đến vị thánh đồ cuối cùng phải chết, sẽ nghe tiếng của Con Đức Chúa Trời, và sẽ ra khỏi mồ mả để đến sự sống bất tử. Đức Chúa Trời sẽ là Đức Chúa Trời của họ, và họ sẽ là dân của Ngài. Sẽ có một mối liên hệ gần gũi và êm dịu giữa Đức Chúa Trời và các thánh đồ được sống lại. Tình trạng này, được dự liệu trong mục đích của Ngài, Ngài nhìn thấy như thể nó đã hiện hữu rồi. Kẻ chết sống đối với Ngài. DA 606.1

Bởi những lời của Đấng Christ, người Sa-đu-sê phải im lặng. Họ không thể trả lời Ngài được. Không một lời nào được nói ra mà họ có thể tận dụng dù chỉ chút ít để kết tội Ngài. Những kẻ chống đối Ngài chẳng được gì ngoài sự khinh thường của dân chúng. DA 606.2

Tuy nhiên, người Pha-ri-si vẫn chưa tuyệt vọng trong việc đẩy Ngài đến chỗ nói ra điều mà họ có thể dùng để chống lại Ngài. Họ thuyết phục được một thầy thông giáo uyên bác chất vấn Đức Chúa Giê-su xem trong mười điều răn của luật pháp, điều nào là quan trọng nhất. DA 606.3

Người Pha-ri-si đã đề cao bốn điều răn đầu, là những điều chỉ ra bổn phận của con người đối với Đấng Tạo Hóa, là quan trọng hơn rất nhiều so với sáu điều răn kia, là những điều định ra bổn phận của con người đối với đồng loại. Kết quả là họ thiếu kém rất nhiều trong sự tin kính thực hành. Đức Chúa Giê-su đã chỉ cho dân chúng thấy sự thiếu sót lớn lao của họ, và đã dạy về sự cần thiết của những việc lành, tuyên bố rằng xem trái thì biết cây. Vì lý do này Ngài đã bị buộc tội là đề cao sáu điều răn sau hơn bốn điều răn đầu. DA 606.4

Người thông giáo đến gần Đức Chúa Giê-su với một câu hỏi thẳng thắn:

“Bấy giờ, có một thầy thông giáo nghe Chúa và người Sa-đu-sê biện luận với nhau, biết Đức Chúa Giê-su đã khéo đáp, bèn đến gần hỏi Ngài rằng: Trong các điều răn, điều nào là đầu hết?” (Mác 12:28)

Câu trả lời của Đấng Christ thẳng thắn và mạnh mẽ:

“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Nầy là điều đầu nhứt: Hỡi Y-sơ-ra-ên, hãy nghe, Chúa, Đức Chúa Trời chúng ta, là Chúa có một. Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn, hết sức mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.” (Mác 12:29-30)

Điều thứ hai cũng giống điều thứ nhất, Đấng Christ phán; vì nó tuôn chảy ra từ điều thứ nhất:

“Nầy là điều thứ hai: Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình. Chẳng có điều răn nào lớn hơn hai điều đó.” (Mác 12:31)

“Hết thảy luật pháp và lời tiên tri đều bởi hai điều răn đó mà ra.” (Ma-thi-ơ 22:40)

DA 607.1

Bốn điều răn đầu trong Mười Điều Răn được tóm lại trong một mệnh lệnh lớn: “Ngươi phải hết lòng kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi.” Sáu điều răn sau được bao gồm trong điều kia: “Ngươi phải yêu kẻ lân cận như mình.” Cả hai điều răn này đều là sự biểu lộ nguyên tắc của tình yêu thương. Không thể giữ điều thứ nhất mà phá điều thứ hai, cũng không thể giữ điều thứ hai trong khi phá điều thứ nhất. Khi Đức Chúa Trời có chỗ chính đáng của Ngài trên ngai của tấm lòng, thì kẻ lân cận chúng ta cũng sẽ được dành cho vị trí đúng đắn. Chúng ta sẽ yêu họ như chính mình. Và chỉ khi chúng ta yêu Đức Chúa Trời trên hết mọi sự thì mới có thể yêu kẻ lân cận một cách không thiên vị. DA 607.2

Và bởi vì tất cả các điều răn đều được tóm lại trong tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời và đối với con người, nên không thể phá vỡ một mệnh lệnh nào mà không vi phạm nguyên tắc này. Như vậy, Đấng Christ dạy những người nghe Ngài rằng luật pháp của Đức Chúa Trời không phải là nhiều mệnh lệnh riêng rẽ, trong đó một số rất quan trọng còn những điều khác thì nhỏ nhặt và có thể bỏ qua mà không bị trừng phạt. Chúa chúng ta trình bày bốn điều răn đầu và sáu điều răn sau như một tổng thể thiêng liêng, và dạy rằng tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời sẽ được tỏ ra bởi sự vâng giữ tất cả các điều răn của Ngài. DA 607.3

Người thông giáo đã chất vấn Đức Chúa Giê-su là người thông thạo luật pháp, và ông kinh ngạc về những lời của Ngài. Ông không ngờ rằng Ngài lại bày tỏ một sự hiểu biết sâu sắc và thấu đáo về Kinh Thánh đến thế. Ông đã có được một cái nhìn rộng hơn về những nguyên tắc nền tảng của các mệnh lệnh thiêng liêng. Trước mặt các thầy tế lễ và các quan trưởng đang nhóm họp, ông đã chân thành thừa nhận rằng Đấng Christ đã giải nghĩa luật pháp một cách đúng đắn, mà rằng: DA 607.4

“Thầy thông giáo trả lời rằng: Thưa thầy, thầy nói phải, hợp lý lắm, thật Đức Chúa Trời là có một, ngoài Ngài chẳng có Chúa nào khác nữa; thật phải kính mến Chúa hết lòng, hết trí, hết sức, và yêu kẻ lân cận như mình, ấy là hơn mọi của lễ thiêu cùng hết thảy các của lễ.” (Mác 12:32-33)

DA 607.5

Sự khôn ngoan trong câu trả lời của Đấng Christ đã thuyết phục thầy thông giáo. Ông biết rằng tôn giáo của người Do Thái cốt ở những lễ nghi bề ngoài hơn là lòng tin kính bên trong. Ông có phần nào nhận thấy sự vô giá trị của những của lễ chỉ là nghi thức, và việc đổ huyết một cách thiếu đức tin để chuộc tội lỗi. Lòng yêu mến và vâng phục Đức Chúa Trời, cùng sự quan tâm vô vị kỷ đối với con người, đối với ông dường như có giá trị hơn tất cả những nghi lễ ấy. Sự sẵn lòng của người này trong việc nhìn nhận tính đúng đắn trong lý luận của Đấng Christ, cùng lời đáp dứt khoát và mau lẹ của ông trước mặt dân chúng, đã bày tỏ một tinh thần hoàn toàn khác với tinh thần của các thầy tế lễ và những kẻ cai trị. Lòng của Đức Chúa Giê-su tràn đầy lòng thương xót đối với thầy thông giáo chân thật này, người đã dám đối mặt với sự cau mày của các thầy tế lễ và sự đe dọa của những kẻ cai trị để nói ra điều mà lòng mình tin chắc.

“Đức Chúa Giê-su thấy người trả lời như người khôn, thì phán rằng: Ngươi chẳng cách xa nước Đức Chúa Trời đâu. Rồi không ai dám hỏi Ngài nữa.” (Mác 12:34)

DA 608.1

Thầy thông giáo đã gần với nước Đức Chúa Trời, ở chỗ ông nhận biết những việc làm công bình thì đẹp lòng Đức Chúa Trời hơn các của lễ thiêu và sinh tế. Nhưng ông cần nhận biết bản tính thiêng liêng của Đấng Christ, và nhờ đức tin nơi Ngài mà nhận lấy quyền năng để làm những việc công bình. Sự thờ phượng theo nghi thức chẳng có giá trị gì, trừ khi được liên kết với Đấng Christ bởi đức tin sống động. Ngay cả luật pháp về đạo đức cũng không đạt được mục đích của nó, trừ khi nó được hiểu trong mối liên hệ với Đấng Cứu Thế. Đấng Christ đã nhiều lần chỉ ra rằng luật pháp của Cha Ngài chứa đựng điều gì đó sâu xa hơn là những mệnh lệnh có thẩm quyền đơn thuần. Trong luật pháp bao hàm chính nguyên tắc được bày tỏ trong tin lành. Luật pháp chỉ ra bổn phận của con người và cho con người thấy tội lỗi mình. Con người phải nhìn xem Đấng Christ để được tha thứ và được quyền năng làm theo điều luật pháp truyền dạy. DA 608.2

Những người Pha-ri-si đã vây quanh Đức Chúa Giê-su khi Ngài trả lời câu hỏi của thầy thông giáo. Bấy giờ, Ngài quay lại và đặt cho họ một câu hỏi: “Các ngươi nghĩ thế nào về Đấng Christ? Ngài là con ai?” Câu hỏi này được dùng để thử nghiệm đức tin của họ về Đấng Mê-si — để cho thấy họ chỉ xem Ngài đơn thuần là một con người hay là Con Đức Chúa Trời. Một loạt tiếng nói đáp lại: “Con vua Đa-vít.” Đây là danh hiệu mà lời tiên tri đã ban cho Đấng Mê-si. Khi Đức Chúa Giê-su bày tỏ thần tính của Ngài qua những phép lạ lớn lao, khi Ngài chữa lành kẻ bệnh và làm cho kẻ chết sống lại, dân chúng đã hỏi nhau: “Há chẳng phải đây là Con vua Đa-vít sao?” Người đàn bà xứ Sy-rô Phê-ni-xi, Ba-ti-mê người mù, và nhiều người khác đã kêu cầu Ngài giúp đỡ: “Lạy Chúa, Con vua Đa-vít, xin thương xót tôi.” Ma-thi-ơ 15:22. Trong khi cỡi vào thành Giê-ru-sa-lem, Ngài đã được đón mừng với tiếng reo vui: “Hô-sa-na con vua Đa-vít! Đáng ngợi khen cho Đấng nhân danh Chúa mà đến.” Ma-thi-ơ 21:9. Và các trẻ nhỏ trong đền thờ ngày hôm ấy cũng đã vang dội lời ca tụng vui mừng đó. Nhưng nhiều người gọi Đức Chúa Giê-su là Con vua Đa-vít lại không nhận biết thần tính của Ngài. Họ không hiểu rằng Con vua Đa-vít cũng là Con Đức Chúa Trời. DA 608.3

Để đáp lại lời tuyên bố rằng Đấng Christ là Con vua Đa-vít, Đức Chúa Giê-su phán: “Vậy, vì cớ nào vua Đa-vít được Đức Thánh Linh [Thần cảm hứng từ Đức Chúa Trời] cảm động, gọi Đấng Christ là Chúa, mà rằng: Chúa phán cùng Chúa tôi: Hãy ngồi bên hữu ta, cho đến khi nào ta để kẻ thù nghịch ngươi dưới chân ngươi? Vậy, nếu vua Đa-vít xưng Ngài là Chúa, thì làm sao Ngài là con vua ấy được? Không ai đáp lại Ngài được lời nào; và từ ngày đó, chẳng ai dám hỏi Ngài điều gì nữa.” DA 609.1