Đền Thờ Lại Được Tẩy Sạch
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 21:12-16, 23-46; Mác 11:15-19, 27-33; Mác 12:1-12; Lu-ca 19:45-48; Lu-ca 20:1-19. DA 589.1
Vào lúc khởi đầu chức vụ của mình, Đấng Christ đã đuổi ra khỏi đền thờ những kẻ làm ô uế nó bằng việc buôn bán bất khiết của họ; và phong thái nghiêm nghị và thiêng liêng của Ngài đã khiến lòng những kẻ buôn bán đầy mưu mô phải kinh hãi. Vào lúc kết thúc sứ mạng, Ngài lại đến đền thờ và thấy nó vẫn còn bị làm nhơ nhuốc như trước. Tình trạng còn tồi tệ hơn trước nữa. Sân ngoài của đền thờ giống như một bãi nhốt súc vật rộng lớn. Cùng với tiếng kêu của thú vật và tiếng leng keng chát chúa của tiền bạc là âm thanh của những cuộc cãi vã giận dữ giữa các con buôn, và giữa họ người ta còn nghe thấy tiếng của những người giữ chức vụ thánh. Chính các quan chức của đền thờ cũng tham gia vào việc mua bán và đổi tiền. Họ bị lòng tham lợi điều khiển trọn vẹn đến nỗi trong mắt Đức Chúa Trời họ chẳng khá gì hơn quân trộm cướp. DA 589.2
Các thầy tế lễ và các quan trưởng hầu như chẳng nhận biết được tính chất trọng đại của công việc mà họ phải thi hành. Tại mỗi lễ Vượt Qua và lễ Lều Tạm, hàng ngàn con thú bị giết, và huyết của chúng được các thầy tế lễ hứng lấy và đổ trên bàn thờ. Người Do Thái đã trở nên quen thuộc với việc dâng huyết, và gần như đánh mất nhận thức rằng chính tội lỗi đã khiến tất cả việc đổ huyết của thú vật này trở nên cần thiết. Họ không nhận ra rằng nó tượng trưng cho huyết của Con yêu dấu của Đức Chúa Trời, là Đấng sẽ đổ huyết ra vì sự sống của thế gian, và rằng qua việc dâng của lễ, con người phải được hướng về một Đấng Cứu Chuộc bị đóng đinh. DA 589.3
Đức Chúa Giê-su nhìn vào những con sinh tế vô tội, và thấy người Do Thái đã biến những cuộc nhóm họp trọng đại này thành cảnh đổ máu và tàn nhẫn như thế nào. Thay vì khiêm nhường ăn năn tội lỗi, họ lại gia tăng việc dâng tế thú vật, như thể Đức Chúa Trời có thể được tôn kính bằng một sự thờ phượng không có tấm lòng. Các thầy tế lễ và các quan trưởng đã làm cứng lòng mình qua tánh ích kỷ và tham lam. Chính những biểu tượng chỉ về Chiên Con của Đức Chúa Trời mà họ đã biến thành phương tiện kiếm lợi. Vì vậy trong mắt dân chúng, tính thánh khiết của việc thờ phượng bằng của lễ đã bị hủy hoại phần lớn. Lòng phẫn nộ của Đức Chúa Giê-su bị khuấy động; Ngài biết rằng huyết Ngài, chẳng bao lâu nữa sẽ đổ ra vì tội lỗi của thế gian, sẽ ít được các thầy tế lễ và các trưởng lão quý trọng cũng như họ chẳng quý trọng huyết của thú vật mà họ không ngừng khiến tuôn chảy. DA 590.1
Chống lại những việc làm này, Đấng Christ đã phán qua các tiên tri. Sa-mu-ên đã nói:
“Sa-mu-ên nói: Đức Giê-hô-va há đẹp lòng của lễ thiêu và của lễ thù ân bằng sự vâng theo lời phán của Ngài ư? Vả, sự vâng lời tốt hơn của tế lễ; sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực;” (I Sa-mu-ên 15:22)
Và Ê-sai, trong khải tượng tiên tri thấy được sự bội đạo của người Do Thái, đã gọi họ là những kẻ cai trị thành Sô-đôm và Gô-mô-rơ:
“Hỡi các quan trưởng Sô-đôm, hãy nghe lời của Đức Giê-hô-va. Hỡi dân Gô-mô-rơ, hãy để tai vào luật pháp của Đức Chúa Trời chúng ta! Đức Giê-hô-va phán: Muôn vàn của lễ các ngươi nào có can hệ gì đến ta? Ta đã chán chê của lễ thiêu bằng chiên đực và mỡ của bò con mập. Ta chẳng đẹp lòng về huyết của bò đực, chiên con và dê đực đâu. Khi các ngươi đến chầu trước mặt ta, ai khiến các ngươi giày đạp hành lang ta?” (Ê-sai 1:10-12)
“Hãy rửa đi, hãy làm cho sạch! Hãy tránh những việc ác khỏi trước mắt ta. Đừng làm dữ nữa. Hãy học làm lành, tìm kiếm sự công bình; hãy đỡ đần kẻ bị hà hiếp, làm công bình cho kẻ mồ côi, binh vực lẽ của người góa bụa.” (Ê-sai 1:16,17)
DA 590.2
Đấng mà chính Ngài đã ban những lời tiên tri này nay lặp lại lời cảnh báo lần cuối cùng. Để ứng nghiệm lời tiên tri, dân chúng đã tôn xưng Đức Chúa Giê-su làm vua của Y-sơ-ra-ên. Ngài đã nhận sự tôn kính của họ, và tiếp nhận chức vị vua. Trong cương vị này Ngài phải hành động. Ngài biết rằng những nỗ lực cải cách chức tế lễ thối nát sẽ là vô ích; tuy nhiên công việc của Ngài phải được thực hiện; bằng chứng về sứ mạng thiêng liêng của Ngài phải được ban cho một dân tộc vô tín. DA 590.3
Một lần nữa cái nhìn xuyên thấu của Đức Chúa Giê-su quét qua sân đền thờ đã bị làm nhơ nhuốc. Mọi con mắt đều hướng về Ngài. Thầy tế lễ và quan trưởng, người Pha-ri-si và dân ngoại, đều ngạc nhiên và kinh sợ nhìn Đấng đang đứng trước họ với sự uy nghi của Vua thiên đàng. Thần tánh chiếu sáng qua nhân tánh, mặc cho Đấng Christ một vẻ tôn nghiêm và vinh hiển mà Ngài chưa từng biểu lộ trước đó. Những người đứng gần Ngài nhất đã lùi ra xa hết mức mà đám đông cho phép. Ngoại trừ một vài môn đồ của Ngài, Đấng Cứu Thế đứng một mình. Mọi âm thanh đều lặng đi. Sự im lặng sâu thẳm dường như không thể chịu nổi. Đấng Christ phán với một quyền năng làm rúng động dân chúng như một cơn bão mạnh mẽ: “Có lời chép rằng, Nhà ta sẽ gọi là nhà cầu nguyện; nhưng các ngươi đã làm cho thành ra hang trộm cướp.” Tiếng Ngài vang lên như tiếng kèn xuyên qua đền thờ. Sự bất bình trên gương mặt Ngài dường như ngọn lửa thiêu nuốt. Với quyền uy, Ngài truyền lệnh:
“Ngài phán cùng kẻ bán bồ câu rằng: Hãy cất bỏ đồ đó khỏi đây, đừng làm cho nhà Cha ta thành ra nhà buôn bán.” (Giăng 2:16)
DA 590.4
Ba năm trước, các quan trưởng của đền thờ đã hổ thẹn vì sự chạy trốn của họ trước mệnh lệnh của Đức Chúa Giê-su. Từ đó họ kinh ngạc về chính nỗi sợ hãi của mình, và sự vâng phục không thắc mắc đối với một Người khiêm nhường đơn độc. Họ đã cảm thấy rằng sự đầu hàng nhục nhã của họ không thể nào lặp lại. Thế nhưng giờ đây họ còn kinh hãi hơn trước, và vội vàng hơn để vâng theo mệnh lệnh của Ngài. Không ai dám chất vấn thẩm quyền của Ngài. Các thầy tế lễ và các con buôn chạy trốn khỏi sự hiện diện của Ngài, lùa súc vật đi trước họ. DA 591.1
Trên đường rời khỏi đền thờ, họ gặp một đám đông kéo đến với những người bệnh của họ để tìm Đấng Đại Y Sư. Lời thuật lại của những kẻ đang chạy trốn khiến một số người trong đám đông này quay trở lại. Họ sợ phải gặp một Đấng quyền năng đến thế, mà chỉ một cái nhìn đã đuổi các thầy tế lễ và các quan trưởng khỏi sự hiện diện của Ngài. Nhưng một số đông chen qua đám đông đang vội vã, khao khát đến với Đấng là hy vọng duy nhất của họ. Khi đoàn dân chạy trốn khỏi đền thờ, nhiều người vẫn ở lại. Giờ đây họ được những người mới đến nhập vào. Một lần nữa sân đền thờ đầy những người bệnh và người sắp chết, và một lần nữa Đức Chúa Giê-su chăm sóc họ. DA 592.1
Sau một thời gian, các thầy tế lễ và các quan trưởng dám trở lại đền thờ. Khi cơn hoảng loạn đã lắng dịu, họ bị nỗi lo lắng chiếm lấy, muốn biết Đức Chúa Giê-su sẽ làm gì tiếp theo. Họ tưởng Ngài sẽ lên ngôi của Đa-vít. Lặng lẽ trở về đền thờ, họ nghe tiếng của những người nam, người nữ và trẻ em ca ngợi Đức Chúa Trời. Khi bước vào, họ đứng sững sờ trước cảnh tượng tuyệt diệu. Họ thấy người bệnh được chữa lành, người mù được sáng mắt, người điếc được nghe, và người què nhảy lên vì vui mừng. Trẻ em dẫn đầu trong sự vui mừng. Đức Chúa Giê-su đã chữa lành tật bệnh của chúng; Ngài đã ôm chúng vào tay, nhận những cái hôn yêu thương đầy biết ơn của chúng, và một số đứa đã ngủ thiếp đi trên ngực Ngài trong khi Ngài dạy dỗ dân chúng. Giờ đây với những giọng nói vui mừng, các trẻ em vang lên lời ca ngợi Ngài. Chúng lặp lại lời tung hô Hô-sa-na của ngày hôm trước, và phất những nhành chà là đắc thắng trước Đấng Cứu Thế. Đền thờ vang dội và vang dội lại với những tiếng reo hò của chúng:
“Đáng ngợi khen đấng nhân danh Đức Giê-hô-va mà đến! Từ nơi nhà Đức Giê-hô-va chúng tôi đã chúc tụng người.” (Thi-thiên 118:26)
“Hỡi con gái Si-ôn, hãy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy trổi tiếng reo vui! Nầy, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái.” (Xa-cha-ri 9:9)
“Hô-sa-na cho Con vua Đa-vít!” DA 592.2
Âm thanh của những giọng nói vui sướng, hồn nhiên này là điều xúc phạm đối với các quan trưởng của đền thờ. Họ tìm cách chấm dứt những biểu lộ như vậy. Họ trình bày với dân chúng rằng nhà của Đức Chúa Trời đã bị làm nhơ nhuốc bởi bước chân của trẻ em và những tiếng reo hò vui mừng. Thấy lời mình chẳng tác động gì đến dân chúng, các quan trưởng quay sang chất vấn Đấng Christ: “Ngài có nghe điều chúng nó nói không? Đức Chúa Giê-su đáp cùng họ rằng, Có; các ngươi chưa hề đọc lời này sao: Chúa đã được ngợi khen bởi miệng con trẻ và con đương bú sao?” Lời tiên tri đã báo trước rằng Đấng Christ sẽ được tôn xưng làm vua, và lời ấy phải được ứng nghiệm. Các thầy tế lễ và các quan trưởng của Y-sơ-ra-ên từ chối loan báo vinh hiển của Ngài, và Đức Chúa Trời đã cảm động các trẻ em làm chứng nhân của Ngài. Nếu tiếng của các trẻ em im lặng, thì chính những cây cột của đền thờ sẽ vang lên lời ca ngợi Đấng Cứu Thế. DA 592.3
Người Pha-ri-si vô cùng bối rối và mất tinh thần. Một Đấng mà họ không thể đe dọa đang nắm quyền điều khiển. Đức Chúa Giê-su đã đảm nhận vị trí là người bảo vệ đền thờ. Chưa bao giờ trước đây Ngài thể hiện một uy quyền vương giả như vậy. Chưa bao giờ trước đây lời nói và việc làm của Ngài có quyền năng lớn lao đến thế. Ngài đã làm những việc kỳ diệu khắp thành Giê-ru-sa-lem, nhưng chưa bao giờ trong một cách thức trang nghiêm và gây ấn tượng đến vậy. Trước mặt dân chúng đã chứng kiến các việc lạ lùng của Ngài, các thầy tế lễ và những kẻ cầm quyền không dám tỏ ra thù địch công khai với Ngài. Dẫu giận dữ và bối rối bởi câu trả lời của Ngài, ngày hôm đó họ không thể làm được gì thêm. DA 593.1
Sáng hôm sau, Tòa Công Luận lại bàn tính xem nên có hành động gì đối với Đức Chúa Giê-su. Ba năm trước, họ đã đòi Ngài một dấu hiệu chứng tỏ Ngài là Đấng Mê-si. Kể từ thời gian đó, Ngài đã làm những việc quyền năng khắp xứ. Ngài đã chữa lành kẻ bệnh, hóa bánh nuôi hàng ngàn người cách lạ lùng, đi trên sóng nước, và phán bình an cho biển động. Ngài đã nhiều lần đọc thấu lòng người như một quyển sách mở; Ngài đã đuổi quỷ và làm cho kẻ chết sống lại. Những kẻ cầm quyền đã có trước mắt mọi bằng chứng về địa vị Đấng Mê-si của Ngài. Bấy giờ họ quyết định không đòi dấu hiệu nào về uy quyền của Ngài nữa, nhưng cố gài cho Ngài thừa nhận hay tuyên bố điều gì đó để có thể lên án Ngài. DA 593.2
Đi đến đền thờ là nơi Ngài đang giảng dạy, họ tiến đến và chất vấn Ngài: “Bởi quyền phép nào mà Thầy làm những điều này? Ai đã ban cho Thầy quyền phép ấy?” Họ trông đợi Ngài tuyên bố rằng uy quyền của Ngài đến từ Đức Chúa Trời. Một lời khẳng định như vậy thì họ định sẽ phủ nhận. Nhưng Đức Chúa Giê-su đáp lại họ bằng một câu hỏi xem ra thuộc về một đề tài khác, và Ngài đặt điều kiện cho lời đáp của mình tùy theo việc họ trả lời câu hỏi này. Ngài phán: “Phép báp-têm của Giăng đến từ đâu? Từ trên trời hay từ loài người?” DA 593.3
Các thầy tế lễ thấy mình rơi vào thế tiến thoái lưỡng nan mà không một lời ngụy biện nào có thể gỡ họ ra được. Nếu họ nói rằng phép báp-têm của Giăng đến từ trời, thì sự mâu thuẫn của họ sẽ bị phơi bày. Đấng Christ sẽ phán: Vậy tại sao các ngươi không tin người? Giăng đã làm chứng về Đấng Christ rằng:
“Qua ngày sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê-su đến cùng mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” (Giăng 1:29)
Nếu các thầy tế lễ tin lời chứng của Giăng, làm sao họ có thể phủ nhận địa vị Đấng Mê-si của Đấng Christ? Còn nếu họ công bố niềm tin thật của mình, rằng chức vụ của Giăng đến từ loài người, thì họ sẽ chuốc lấy một cơn phẫn nộ; vì dân chúng tin Giăng là một tiên tri. DA 593.4
Với mối quan tâm sâu sắc, đoàn dân chờ đợi quyết định. Họ biết rằng các thầy tế lễ đã từng tuyên bố chấp nhận chức vụ của Giăng, và họ trông đợi các thầy ấy thừa nhận không chút nghi ngờ rằng Giăng được Đức Chúa Trời sai đến. Nhưng sau khi bàn bạc kín với nhau, các thầy tế lễ quyết định không cam kết điều gì. Giả vờ không biết cách đạo đức giả, họ nói: “Chúng tôi không biết.” Đấng Christ phán: “Ta cũng không nói cho các ngươi bởi quyền phép nào ta làm những điều này.” DA 594.1
Các thầy thông giáo, các thầy tế lễ và những kẻ cầm quyền đều phải im lặng. Bị bối rối và thất vọng, họ đứng đó với vẻ mặt cau có, không dám chất vấn Đấng Christ thêm nữa. Bởi sự hèn nhát và do dự của mình, họ đã đánh mất phần lớn sự kính trọng của dân chúng, là những người đang đứng quanh đó, lấy làm thích thú khi thấy những kẻ kiêu ngạo, tự cho mình là công bình ấy bị thất bại. DA 594.2
Tất cả những lời nói và việc làm này của Đấng Christ đều quan trọng, và ảnh hưởng của chúng sẽ được cảm nhận với mức độ ngày càng tăng sau khi Ngài chịu đóng đinh và thăng thiên. Nhiều người trong số những kẻ đã lo lắng chờ đợi kết quả của cuộc chất vấn Đức Chúa Giê-su rốt cuộc sẽ trở thành môn đồ của Ngài, ban đầu được lôi cuốn đến với Ngài bởi những lời Ngài phán trong ngày trọng đại đó. Cảnh tượng trong sân đền thờ sẽ không bao giờ phai mờ khỏi tâm trí họ. Sự tương phản giữa Đức Chúa Giê-su và thầy tế lễ thượng phẩm khi họ nói chuyện với nhau thật rõ nét. Vị chức sắc kiêu ngạo của đền thờ mặc áo lễ sang trọng và đắt tiền. Trên đầu ông là một chiếc mão lấp lánh. Phong thái của ông đường bệ, mái tóc và bộ râu dài của ông đã bạc trắng theo tuổi tác. Diện mạo của ông khiến những người ngắm xem phải kính nể. Trước con người uy nghi này đứng Đấng Cao Cả của trời, không có sự trang điểm hay phô trương nào. Áo của Ngài lấm bụi đường; gương mặt Ngài tái nhợt, biểu lộ một nỗi buồn nhẫn nại; nhưng trên đó cũng ghi khắc sự cao quý và lòng nhân từ, tương phản kỳ lạ với vẻ kiêu ngạo, tự tin và giận dữ của thầy tế lễ thượng phẩm. Nhiều người trong số những kẻ chứng kiến lời nói và việc làm của Đức Chúa Giê-su trong đền thờ từ thời điểm đó đã tôn Ngài trong lòng họ như một tiên tri của Đức Chúa Trời. Nhưng khi cảm tình của dân chúng nghiêng về phía Ngài, lòng căm ghét của các thầy tế lễ đối với Đức Chúa Giê-su càng gia tăng. Sự khôn ngoan mà nhờ đó Ngài thoát khỏi những cạm bẫy giăng cho chân mình, là một bằng chứng mới về thần tính của Ngài, càng đổ thêm dầu vào cơn giận của họ. DA 594.3
Trong cuộc tranh luận với các thầy ra-bi, mục đích của Đấng Christ không phải là làm nhục những kẻ chống đối mình. Ngài không vui khi thấy họ ở vào thế khó. Ngài có một bài học quan trọng để dạy dỗ. Ngài đã làm cho kẻ thù mình hổ thẹn bằng cách để cho họ vướng vào chính cái lưới họ đã giăng cho Ngài. Sự thừa nhận của họ rằng họ không biết về tính chất của phép báp-têm của Giăng đã cho Ngài một cơ hội để lên tiếng, và Ngài đã tận dụng cơ hội ấy bằng cách trình bày trước mặt họ vị trí thật của họ, thêm vào một lời cảnh báo nữa cho nhiều lời đã ban ra trước đó. DA 594.4
Ngài phán: “Các ngươi nghĩ làm sao? Một người kia có hai con trai; người đến cùng đứa thứ nhất mà nói rằng: Con ơi, bữa nay con hãy ra làm vườn nho. Đứa ấy thưa rằng: Tôi không muốn đi: nhưng sau ăn năn rồi đi. Đoạn, người đến cùng đứa thứ hai cũng nói như vậy. Đứa này thưa rằng: Tôi đi, thưa cha: nhưng nó không đi. Trong hai con trai đó, đứa nào làm theo ý muốn của cha?” DA 595.1
Câu hỏi đột ngột này khiến những người nghe Ngài mất cảnh giác. Họ đã theo dõi ví dụ cách chăm chú, và bấy giờ lập tức trả lời: “Đứa thứ nhất.” Chăm chú nhìn họ, Đức Chúa Giê-su đáp lại bằng giọng nghiêm khắc và trang trọng: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm sẽ được vào nước Đức Chúa Trời trước các ngươi. Vì Giăng đã theo đường công bình đến cùng các ngươi, nhưng các ngươi không tin người; còn những kẻ thâu thuế và phường đĩ điếm đã tin người; và các ngươi, khi đã thấy điều ấy, sau cũng không ăn năn đặng tin người.” DA 595.2
Các thầy tế lễ và những kẻ cầm quyền không thể không đưa ra câu trả lời đúng cho câu hỏi của Đấng Christ, và như vậy Ngài có được ý kiến của họ nghiêng về đứa con thứ nhất. Đứa con này tượng trưng cho những kẻ thâu thuế, là những người bị người Pha-ri-si khinh bỉ và ghét bỏ. Những kẻ thâu thuế đã từng vô cùng vô luân. Họ quả thật đã từng vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, bày tỏ trong đời sống một sự chống cự tuyệt đối với những đòi hỏi của Ngài. Họ đã từng vô ơn và bất khiết; khi được bảo hãy đi làm việc trong vườn nho của Chúa, họ đã từ chối cách khinh thường. Nhưng khi Giăng đến, rao giảng sự ăn năn và phép báp-têm, những kẻ thâu thuế đã tiếp nhận sứ điệp của ông và chịu báp-têm. DA 595.3
Đứa con thứ hai tượng trưng cho những người lãnh đạo của dân tộc Do Thái. Một số người Pha-ri-si đã ăn năn và nhận phép báp-têm của Giăng; nhưng các nhà lãnh đạo thì không chịu thừa nhận rằng ông đến từ Đức Chúa Trời. Những lời cảnh báo và quở trách của ông không dẫn họ đến sự cải cách. Họ “chê bỏ ý chỉ Đức Chúa Trời đối với mình, không chịu Giăng làm phép báp-têm.”
“Song người Pha-ri-si cùng các thầy dạy luật không chịu Giăng làm phép báp-têm, nên chê bỏ ý Đức Chúa Trời định về mình.” (Lu-ca 7:30)
Họ đối xử với sứ điệp của ông bằng sự khinh miệt. Giống như đứa con thứ hai, khi được gọi thì nói: “Tôi đi, thưa cha,” nhưng lại không đi, các thầy tế lễ và những kẻ cầm quyền tuyên xưng sự vâng phục, nhưng hành động bất tuân. Họ phô trương lớn về lòng đạo đức, họ tự nhận đang vâng giữ luật pháp Đức Chúa Trời, nhưng họ chỉ thể hiện một sự vâng phục giả dối. Những kẻ thâu thuế bị người Pha-ri-si tố cáo và rủa sả như những kẻ vô tín; nhưng họ đã chứng tỏ qua đức tin và việc làm của mình rằng họ đang vào nước thiên đàng trước những người tự cho mình là công bình kia, là những kẻ đã được ban cho ánh sáng lớn, nhưng việc làm của họ lại không tương ứng với sự tuyên xưng lòng tin kính. DA 595.4
Các thầy tế lễ và những kẻ cầm quyền không muốn chịu đựng những lẽ thật dò xét này; tuy nhiên, họ vẫn giữ im lặng, hy vọng rằng Đức Chúa Giê-su sẽ nói điều gì đó mà họ có thể dùng để chống lại Ngài; nhưng họ còn phải chịu đựng nhiều hơn nữa. DA 596.1
“Hãy nghe một thí dụ khác,” Đấng Christ phán: “Có người chủ nhà kia, trồng một vườn nho, rào chung quanh, ở trong đào một cái hầm ép rượu, và cất một cái tháp; rồi cho những kẻ trồng nho mướn, và đi qua xứ khác. Đến mùa hái trái, người chủ sai đầy tớ đến cùng bọn trồng nho, đặng thâu hoa lợi. Bọn trồng nho bắt các đầy tớ, đánh người nầy, giết người kia, và ném đá người nọ. Người chủ lại sai đầy tớ khác đông hơn khi trước; thì họ cũng đối đãi một cách. Sau hết, người chủ sai chính con trai mình đến cùng họ, vì nói rằng: Chúng nó sẽ kính trọng con ta. Nhưng khi bọn trồng nho thấy con đó, thì nói với nhau rằng: Người nầy là kẻ kế nghiệp; hè! hãy giết nó đi, và chiếm lấy phần gia tài nó. Họ bèn bắt con ấy, quăng ra ngoài vườn nho, và giết đi. Vậy, khi người chủ vườn nho đến, thì sẽ xử với bọn trồng nho ấy thể nào?” DA 596.2
Đức Chúa Giê-su ngỏ lời cùng tất cả những người có mặt; nhưng các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền lại trả lời. Họ nói: “Người chủ sẽ diệt đồ hung ác ấy cách khổ sở, và cho bọn trồng nho khác mướn vườn ấy, là kẻ sẽ nộp hoa lợi lúc đến mùa.” Lúc đầu những kẻ phát ngôn ấy chưa nhận ra ý nghĩa của thí dụ, nhưng giờ đây họ thấy rằng họ đã tự tuyên án cho chính mình. Trong thí dụ, người chủ nhà tượng trưng cho Đức Chúa Trời, vườn nho tượng trưng cho dân tộc Do Thái, và hàng rào tượng trưng cho luật pháp thiêng liêng vốn là sự bảo vệ của họ. Cái tháp là biểu tượng của đền thờ. Người chủ vườn nho đã làm mọi điều cần thiết cho sự thịnh vượng của nó. Ngài phán:
“Có điều chi nên làm cho vườn nho ta mà ta không làm cho nó chăng? Cớ sao khi ta mong sanh trái nho, thì nó lại sanh trái nho hoang vậy?” (Ê-sai 5:4)
Như vậy đã miêu tả sự chăm sóc không mỏi mệt của Đức Chúa Trời đối với dân Y-sơ-ra-ên. Và như bọn trồng nho phải nộp lại cho người chủ phần hoa lợi xứng đáng của vườn nho, thì dân sự của Đức Chúa Trời cũng phải tôn vinh Ngài bằng một đời sống tương xứng với những đặc ân thánh của họ. Nhưng như bọn trồng nho đã giết các đầy tớ mà người chủ sai đến để thâu hoa lợi, thì người Do Thái cũng đã giết hại các tiên tri mà Đức Chúa Trời sai đến kêu gọi họ ăn năn. Sứ giả nầy nối tiếp sứ giả khác đã bị giết. Đến đây, sự áp dụng của thí dụ không thể bị nghi ngờ, và điều theo sau đó cũng không kém phần rõ ràng. Trong người con yêu dấu mà người chủ vườn nho cuối cùng sai đến với những đầy tớ bất tuân của mình, và là người mà họ đã bắt lấy và giết đi, các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền thấy một bức tranh rõ ràng về Đức Chúa Giê-su và số phận sắp đến của Ngài. Họ đã đang mưu tính giết hại Đấng mà Đức Chúa Cha sai đến với họ như một lời kêu gọi cuối cùng. Trong sự báo trả giáng xuống trên những kẻ trồng nho vô ơn ấy đã miêu tả số phận của những kẻ sẽ giết hại Đấng Christ. DA 596.3
Nhìn họ với lòng thương xót, Đấng Cứu Thế tiếp tục: “Các ngươi há chưa hề đọc lời trong Kinh Thánh: Hòn đá đã bị người xây nhà bỏ ra, trở nên đá đầu góc nhà; ấy là một sự lạ trước mắt chúng ta, hay sao? Bởi vậy, ta phán cùng các ngươi, nước Đức Chúa Trời sẽ cất khỏi các ngươi, và cho một dân khác là dân sẽ có kết quả của nước đó. Kẻ nào rơi trên hòn đá ấy sẽ bị giập nát, còn kẻ nào bị đá ấy rớt nhằm thì sẽ tan tành như bụi.” DA 597.1
Lời tiên tri nầy người Do Thái thường lặp lại trong các nhà hội, áp dụng nó cho Đấng Mê-si hầu đến. Đấng Christ là đá góc nhà của cả thể chế Do Thái, và của toàn bộ kế hoạch cứu rỗi. Nay những người xây nhà Do Thái, các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền của Y-sơ-ra-ên, đang chối bỏ hòn đá nền nầy. Đấng Cứu Thế kêu gọi sự chú ý của họ đến những lời tiên tri có thể chỉ cho họ thấy nguy cơ của mình. Bằng mọi cách trong quyền năng của Ngài, Ngài tìm cách làm cho họ hiểu rõ bản chất của hành động mà họ sắp làm. DA 597.2
Và lời Ngài còn có một mục đích khác. Khi hỏi câu, “Vậy, khi người chủ vườn nho đến, thì sẽ xử với bọn trồng nho ấy thể nào?” Đấng Christ chủ ý để người Pha-ri-si trả lời như họ đã trả lời. Ngài chủ ý để họ tự kết án chính mình. Những lời cảnh báo của Ngài, không khuấy động được họ ăn năn, sẽ đóng ấn số phận của họ, và Ngài muốn họ thấy rằng chính họ đã chuốc lấy sự hủy diệt cho mình. Ngài chủ ý chỉ cho họ thấy sự công bình của Đức Chúa Trời trong việc rút lại những đặc ân quốc gia của họ, là điều đã bắt đầu rồi, và sẽ kết thúc, không những trong sự hủy phá đền thờ và thành của họ, mà còn trong sự tản lạc của cả dân tộc. DA 597.3
Những người nghe nhận ra lời cảnh báo. Nhưng dù họ đã tự tuyên ra bản án ấy, các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền vẫn sẵn sàng hoàn tất bức tranh bằng cách nói rằng, “Người nầy là kẻ kế nghiệp; hè! hãy giết nó đi.” “Song khi họ tìm cách bắt Ngài, thì lại sợ dân chúng,” vì dư luận quần chúng nghiêng về phía Đấng Christ. DA 597.4
Khi trích dẫn lời tiên tri về hòn đá bị chối bỏ, Đấng Christ đề cập đến một sự kiện có thật trong lịch sử của Y-sơ-ra-ên. Sự việc nầy gắn liền với việc xây cất đền thờ thứ nhất. Tuy nó có một sự áp dụng đặc biệt vào thời sự giáng sinh lần thứ nhất của Đấng Christ, và lẽ ra phải tác động mạnh mẽ cách đặc biệt đến người Do Thái, nhưng nó cũng có một bài học cho chúng ta. Khi đền thờ của Sa-lô-môn được dựng nên, những hòn đá khổng lồ cho các bức tường và nền móng đều được chuẩn bị trọn vẹn tại mỏ đá; sau khi chúng được đem đến nơi xây cất, không một dụng cụ nào được dùng đến chúng nữa; thợ chỉ việc đặt chúng vào vị trí. Để dùng cho nền móng, một hòn đá có kích thước khác thường và hình dạng kỳ lạ đã được đem đến; nhưng thợ không tìm được chỗ nào cho nó, và không chịu nhận nó. Nó là một sự phiền toái cho họ khi nằm vô dụng cản đường họ. Lâu ngày nó vẫn là một hòn đá bị bỏ ra. Nhưng khi những người thợ xây đến lúc đặt đá góc nhà, họ tìm kiếm rất lâu để có được một hòn đá đủ kích thước và đủ sức bền, và có hình dạng thích hợp, để đặt vào chỗ đặc biệt ấy, và chịu được sức nặng lớn sẽ đè lên nó. Nếu họ chọn lựa thiếu khôn ngoan cho chỗ quan trọng nầy, sự an toàn của toàn bộ tòa nhà sẽ bị nguy hiểm. Họ phải tìm một hòn đá có khả năng chống lại sự tác động của mặt trời, của sương giá, và của bão tố. Nhiều hòn đá đã được chọn vào những thời điểm khác nhau, nhưng dưới sức ép của những khối nặng khổng lồ, chúng đã vỡ vụn ra từng mảnh. Những hòn khác không thể chịu nổi sự thử nghiệm của những thay đổi đột ngột của khí quyển. Nhưng cuối cùng người ta chú ý đến hòn đá đã bị bỏ ra lâu nay. Nó đã bị phơi ra ngoài không khí, dưới ánh nắng và giông bão, mà không lộ ra một vết nứt nhỏ nào. Những người thợ xây xem xét hòn đá nầy. Nó đã chịu được mọi sự thử nghiệm chỉ trừ một. Nếu nó có thể chịu được sự thử nghiệm về sức ép nặng nề, họ quyết định sẽ nhận nó làm đá góc nhà. Cuộc thử nghiệm được tiến hành. Hòn đá được chấp nhận, đem đến vị trí được chỉ định, và thấy rằng nó vừa khít một cách hoàn hảo. Trong sự hiện thấy tiên tri, Ê-sai được chỉ cho thấy rằng hòn đá nầy là biểu tượng của Đấng Christ. Ông nói: DA 597.5
“Hãy tôn Đức Giê-hô-va vạn quân là thánh; các ngươi chỉ nên sợ Ngài và kinh hãi Ngài. Ngài sẽ là nơi thánh, nhưng cũng là hòn đá vấp ngã, vầng đá vướng mắc cho cả hai nhà Y-sơ-ra-ên, và là bẫy cùng lưới cho dân cư thành Giê-ru-sa-lem vậy. Nhiều người trong bọn họ sẽ vấp chân; sẽ té và giập nát; sẽ sa vào lưới và bị bắt.” (Ê-sai 8:13-15)
Được đưa xuống trong sự hiện thấy tiên tri đến thời sự giáng sinh lần thứ nhất, vị tiên tri được chỉ cho thấy rằng Đấng Christ phải chịu những thử thách và thử nghiệm mà cách đối xử với đá góc nhà chính trong đền thờ của Sa-lô-môn là biểu tượng.
“Vậy nên, Chúa Giê-hô-va phán như vầy: Nầy, ta đặt tại Si-ôn một hòn đá để làm nền, là đá đã thử nghiệm, là đá góc quí báu, làm nền bền vững: ai tin sẽ chẳng gấp rút.” (Ê-sai 28:16)
DA 598.1
Trong sự khôn ngoan vô hạn, Đức Chúa Trời đã chọn hòn đá nền, và chính Ngài đặt nó. Ngài gọi nó là “một nền móng vững chắc.” Cả thế gian có thể đặt lên nó những gánh nặng và sầu khổ của mình; nó có thể chịu đựng tất cả. Họ có thể xây dựng trên nó với sự an toàn hoàn toàn. Đấng Christ là “một hòn đá đã thử nghiệm.” Những ai tin cậy nơi Ngài, Ngài không bao giờ làm cho thất vọng. Ngài đã chịu được mọi sự thử nghiệm. Ngài đã mang lấy sức ép của tội lỗi A-đam, và tội lỗi của dòng dõi người, và đã đắc thắng hơn cả các thế lực của sự ác. Ngài đã mang lấy những gánh nặng mà mỗi tội nhân ăn năn đặt trên Ngài. Trong Đấng Christ, tấm lòng tội lỗi đã tìm được sự nhẹ nhõm. Ngài là nền móng vững chắc. Tất cả những ai nương dựa vào Ngài đều an nghỉ trong sự an toàn trọn vẹn. DA 598.2
Trong lời tiên tri của Ê-sai, Đấng Christ được tuyên bố vừa là nền móng vững chắc vừa là hòn đá vấp chân. Sứ đồ Phi-e-rơ, viết bởi sự cảm thúc của Đức Thánh Linh, đã chỉ rõ Đấng Christ là hòn đá nền cho ai, và là hòn đá vấp chân cho ai: DA 599.1
“Nếu anh em đã nếm biết Chúa là ngọt ngào. Hãy đến gần Ngài, là hòn đá sống, bị người ta loại ra, song được chọn và quí trước mặt Đức Chúa Trời, và anh em cũng như đá sống, được xây nên nhà thiêng liêng, làm chức tế lễ thánh, đặng dâng của tế lễ thiêng liêng, nhờ Đức Chúa Giê-su mà đẹp ý Đức Chúa Trời. Vì trong Kinh Thánh có chép rằng: Nầy, ta đặt tại Si-ôn hòn đá góc nhà đã chọn lựa và quí báu; ai tin đến đá ấy sẽ không bị xấu hổ. Vậy nên, cho anh em là kẻ đã tin, thì là đá quí; nhưng cho những kẻ không tin, thì hòn đá mà người xây nhà loại ra, bèn trở nên đá góc nhà, là đá gây cho vấp váp, là đá lớn làm cho sa ngã; họ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Đạo.” 1 Phi-e-rơ 2:3-8. DA 599.2
Đối với những ai tin, thì Đấng Christ là nền tảng vững chắc. Ấy là những kẻ ngã trên Vầng Đá và bị giập. Sự đầu phục Đấng Christ và đức tin nơi Ngài được biểu thị ở đây. Ngã trên Vầng Đá và bị giập tức là từ bỏ sự tự xưng công bình của chính mình mà đến cùng Đấng Christ với lòng khiêm nhường như một đứa trẻ, ăn năn những vi phạm của mình, và tin nơi tình yêu tha thứ của Ngài. Và cũng vậy, ấy là bởi đức tin và sự vâng lời mà chúng ta xây dựng trên Đấng Christ làm nền tảng của chúng ta. DA 599.3
Trên hòn đá sống nầy, người Do Thái và dân ngoại đều có thể xây dựng như nhau. Đây là nền tảng duy nhất mà trên đó chúng ta có thể xây dựng cách an toàn. Nó đủ rộng cho hết thảy, và đủ mạnh để chịu sức nặng và gánh nặng của cả thế gian. Và bởi sự liên kết với Đấng Christ, là hòn đá sống, mọi kẻ xây dựng trên nền tảng nầy đều trở nên những hòn đá sống. Nhiều người bởi sự cố gắng của chính mình mà được đẽo gọt, mài giũa, và làm cho đẹp đẽ; nhưng họ không thể trở nên “những hòn đá sống,” vì họ không được liên kết với Đấng Christ. Không có sự liên kết nầy, không một người nào có thể được cứu. Không có sự sống của Đấng Christ ở trong chúng ta, chúng ta không thể đứng vững trước những cơn bão cám dỗ. Sự an toàn đời đời của chúng ta tùy thuộc vào việc chúng ta xây dựng trên nền tảng vững chắc. Ngày nay vô số người đang xây dựng trên những nền tảng chưa được thử nghiệm. Khi mưa sa, bão táp nổi lên, và nước lụt đến, nhà của họ sẽ sụp đổ, bởi vì nó không được xây trên Vầng Đá đời đời, là hòn đá góc nhà, Đức Chúa Giê-su. DA 599.4
“Đối với những kẻ bị vấp đá đó, vì không vâng phục Đạo,” thì Đấng Christ là hòn đá gây vấp váp. Nhưng “hòn đá mà người xây nhà loại ra, bèn trở nên đá góc nhà.” Giống như hòn đá bị loại bỏ, Đấng Christ trong sứ mạng trần thế của Ngài đã chịu sự khinh dể và lăng nhục. Ngài “bị người ta khinh dể và chán bỏ, từng trải sự buồn bực, biết sự đau ốm… bị khinh như kẻ mà người ta che mặt chẳng thèm xem; chúng ta cũng chẳng coi Ngài ra gì.” Ê-sai 53:3. Nhưng đã gần đến lúc Ngài sẽ được vinh hiển. Bởi sự sống lại từ kẻ chết, Ngài sẽ được tỏ ra là “Con Đức Chúa Trời cách quyền năng.” Rô-ma 1:4. Khi Ngài tái lâm, Ngài sẽ được hiện ra là Chúa của trời và đất. Những kẻ bấy giờ sắp đóng đinh Ngài sẽ nhìn nhận sự cao trọng của Ngài. Trước cả vũ trụ, hòn đá bị loại bỏ sẽ trở nên đá góc nhà. DA 600.1
Và “hễ ai mà đá ấy rớt nhằm, thì giập nát người ấy đi.” Dân chúng đã chối bỏ Đấng Christ chẳng bao lâu sẽ thấy thành mình và dân tộc mình bị hủy diệt. Vinh quang của họ sẽ bị tan vỡ, và tản lạc như tro bụi trước gió. Và điều gì đã hủy diệt người Do Thái? Ấy là hòn đá mà, nếu họ đã xây dựng trên đó, hẳn đã là sự an toàn của họ. Ấy là lòng nhân từ của Đức Chúa Trời bị khinh dể, sự công bình bị chối bỏ, lòng thương xót bị xem thường. Loài người đã tự đặt mình chống nghịch Đức Chúa Trời, và tất cả những gì lẽ ra đã là sự cứu rỗi của họ thì lại trở thành sự hủy diệt của họ. Tất cả những gì Đức Chúa Trời đã định cho sự sống, họ đều thấy trở thành sự chết. Trong việc người Do Thái đóng đinh Đấng Christ đã bao gồm sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem. Huyết đã đổ ra trên đồi Gô-gô-tha là sức nặng đã nhận chìm họ vào sự hủy diệt cho đời nầy và cho đời sau. Trong ngày sau cùng vĩ đại cũng sẽ như vậy, khi sự phán xét giáng trên những kẻ chối bỏ ân điển của Đức Chúa Trời. Đấng Christ, là hòn đá gây vấp váp của họ, bấy giờ sẽ hiện ra với họ như một ngọn núi báo thù. Vinh quang trên gương mặt Ngài, là sự sống đối với người công bình, sẽ là ngọn lửa thiêu nuốt đối với kẻ ác. Bởi tình yêu bị chối bỏ, ân điển bị khinh dể, kẻ tội lỗi sẽ bị hủy diệt. DA 600.2
Bằng nhiều ví dụ và những lời cảnh báo lặp đi lặp lại, Đức Chúa Giê-su đã chỉ cho thấy hậu quả sẽ giáng trên người Do Thái vì sự chối bỏ Con Đức Chúa Trời. Trong những lời nầy, Ngài đang phán cùng hết thảy mọi người trong mọi thời đại đều từ chối tiếp nhận Ngài làm Đấng Cứu Chuộc của mình. Mọi lời cảnh báo đều dành cho họ. Đền thờ bị làm ô uế, đứa con không vâng lời, những kẻ trồng nho gian ác, những người xây dựng đầy khinh miệt, đều có sự tương ứng trong kinh nghiệm của mỗi kẻ tội lỗi. Trừ phi người ấy ăn năn, số phận mà những điều đó đã báo trước sẽ là số phận của người. DA 600.3