Một Dân Bị Định Tội

Chương này dựa theo Mác 11:11-14, 20, 21; Ma-thi-ơ 21:17-19. DA 580.1

Cuộc tiến vào thành Giê-ru-sa-lem cách khải hoàn của Đấng Christ là hình bóng mờ nhạt về sự giáng lâm của Ngài trên các đám mây trời với quyền năng và vinh hiển, giữa sự khải hoàn của các thiên sứ và sự vui mừng của các thánh đồ. Bấy giờ những lời của Đấng Christ phán cùng các thầy tế lễ và người Pha-ri-si sẽ được ứng nghiệm:

“Vì, ta bảo, các ngươi sẽ không thấy ta nữa, cho đến lúc các ngươi sẽ nói rằng: Phước cho Đấng nhân danh Chúa mà đến!” (Ma-thi-ơ 23:39)

Trong sự hiện thấy tiên tri, Xa-cha-ri đã được tỏ cho thấy ngày khải hoàn cuối cùng ấy; và ông cũng nhìn thấy số phận của những kẻ đã chối bỏ Đấng Christ trong lần giáng lâm thứ nhất:

“Ta sẽ đổ thần của ơn phước và của sự nài xin ra trên nhà Đa-vít, và trên dân cư Giê-ru-sa-lem; chúng nó sẽ nhìn xem ta là Đấng chúng nó đã đâm; và chúng nó sẽ thương khóc, như là thương khóc con trai một, sẽ ở trong sự cay đắng, như khi người ta ở trong sự cay đắng vì cớ con đầu lòng.” (Xa-cha-ri 12:10)

Đấng Christ đã thấy trước cảnh tượng nầy khi Ngài nhìn thành và khóc về nó. Trong sự sụp đổ tạm thời của thành Giê-ru-sa-lem, Ngài thấy sự hủy diệt sau cùng của dân tộc đã phạm tội làm đổ huyết Con Đức Chúa Trời. DA 580.2

Các môn đồ thấy lòng thù ghét của người Do Thái đối với Đấng Christ, nhưng họ chưa thấy điều đó sẽ dẫn đến đâu. Họ chưa hiểu tình trạng thật của dân Y-sơ-ra-ên, cũng không nhận thức được sự báo trả sẽ giáng trên thành Giê-ru-sa-lem. Đấng Christ đã mở lòng họ về điều nầy qua một bài học bằng hình ảnh đầy ý nghĩa. DA 580.3

Lời kêu gọi cuối cùng đối với thành Giê-ru-sa-lem đã trở nên vô ích. Các thầy tế lễ và các quan trưởng đã nghe tiếng nói tiên tri của quá khứ được đoàn dân vang vọng lại để đáp lời câu hỏi: “Người nầy là ai?” nhưng họ không tiếp nhận đó là tiếng nói của sự Cảm thúc. Trong cơn giận dữ và kinh ngạc, họ cố làm cho dân chúng im lặng. Trong đám đông có những sĩ quan La-mã, và những kẻ thù của Đức Chúa Giê-su tố cáo Ngài với họ là kẻ cầm đầu một cuộc nổi loạn. Họ trình bày rằng Ngài sắp chiếm lấy đền thờ và trị vì như một vua tại thành Giê-ru-sa-lem. DA 580.4

Nhưng tiếng phán điềm tĩnh của Đức Chúa Giê-su trong giây lát đã làm im bặt đoàn dân ồn ào khi Ngài lại tuyên bố rằng Ngài không đến để thiết lập một sự cai trị tạm thời; chẳng bao lâu Ngài sẽ thăng thiên về cùng Cha Ngài, và những kẻ buộc tội Ngài sẽ không còn thấy Ngài nữa cho đến khi Ngài tái lâm trong vinh hiển. Bấy giờ, quá trễ cho sự cứu rỗi của họ, họ sẽ thừa nhận Ngài. Đức Chúa Giê-su phán những lời nầy với nỗi buồn và với một quyền năng phi thường. Các sĩ quan La-mã im lặng và bị chinh phục. Tấm lòng họ, dầu xa lạ với ảnh hưởng thiêng liêng, đã được cảm động như chưa từng được cảm động bao giờ. Trong gương mặt điềm tĩnh, trang nghiêm của Đức Chúa Giê-su, họ đọc thấy tình yêu thương, lòng nhân từ và phẩm cách trầm tĩnh. Họ xúc động bởi một niềm thương cảm mà chính họ không thể hiểu. Thay vì bắt giữ Đức Chúa Giê-su, họ lại thiên về việc tỏ lòng tôn kính Ngài. Quay sang các thầy tế lễ và các quan trưởng, họ cáo buộc những người ấy đã gây ra sự rối loạn. Những kẻ lãnh đạo nầy, xấu hổ và thất bại, quay sang dân chúng với những lời than phiền, và tranh cãi nhau cách giận dữ. DA 581.1

Trong khi đó, Đức Chúa Giê-su đi vào đền thờ mà không ai để ý đến. Mọi sự ở đó đều yên tĩnh, vì cảnh tượng trên núi Ô-li-ve đã lôi cuốn dân chúng đi nơi khác. Trong một thời gian ngắn, Đức Chúa Giê-su ở lại đền thờ, nhìn ngắm nó với đôi mắt buồn bã. Rồi Ngài lui đi với các môn đồ, và trở về làng Bê-tha-ni. Khi dân chúng tìm kiếm Ngài để tôn Ngài lên ngôi, thì không thấy Ngài đâu cả. DA 581.2

Đức Chúa Giê-su dành trọn đêm để cầu nguyện, và đến sáng Ngài lại đến đền thờ. Trên đường đi, Ngài đi ngang qua một vườn cây vả. Ngài đói, “vừa thấy đàng xa một cây vả có lá, Ngài đến đó xem hoặc có chi chăng; song tới gần, chỉ thấy những lá mà thôi, vì bấy giờ không phải mùa vả.” DA 581.3

Bấy giờ không phải mùa vả chín, ngoại trừ ở vài nơi nào đó; và trên những vùng cao quanh thành Giê-ru-sa-lem, có thể nói thật rằng, “Bấy giờ không phải mùa vả.” Nhưng trong vườn mà Đức Chúa Giê-su đến, có một cây dường như đi trước tất cả các cây khác. Nó đã phủ đầy lá. Đặc tính của cây vả là trước khi lá nở ra thì trái đang phát triển đã xuất hiện. Vì vậy cây nầy đầy lá hứa hẹn có trái phát triển tốt. Nhưng vẻ ngoài của nó là lừa dối. Khi tìm kiếm trên các cành của nó, từ cành thấp nhất đến chồi cao nhất, Đức Chúa Giê-su chỉ thấy “những lá mà thôi.” Đó chỉ là một khối lá khoa trương, không có gì hơn. DA 581.4

Đấng Christ đã thốt ra lời rủa sả làm khô héo nó. Ngài phán: “Chẳng hề có ai ăn trái của mầy nữa!” Sáng hôm sau, khi Đấng Cứu Thế và các môn đồ lại đang trên đường đến thành, những cành khô và lá rũ xuống thu hút sự chú ý của họ. Phi-e-rơ thưa: “Thầy, coi kìa! Cây vả mà thầy đã rủa nay đã chết khô rồi.” DA 582.1

Hành động rủa sả cây vả của Đấng Christ đã làm các môn đồ kinh ngạc. Đối với họ, điều đó dường như không giống với những đường lối và việc làm của Ngài. Họ thường nghe Ngài tuyên bố rằng Ngài đến không phải để lên án thế gian, nhưng để thế gian nhờ Ngài mà được cứu. Họ nhớ lời Ngài phán: “Con người đã đến chẳng phải để diệt linh hồn người ta, song để cứu lấy.” Lu-ca 9:56. Những việc làm kỳ diệu của Ngài đã được thực hiện để phục hồi, chưa từng để hủy diệt. Các môn đồ chỉ biết Ngài là Đấng Phục hồi, Đấng Chữa lành. Hành động nầy thật khác thường. Họ thắc mắc, mục đích của nó là gì? DA 582.2

Đức Chúa Trời “lấy lòng nhân từ làm vui thích.” “Chúa Giê-hô-va phán: Thật như ta hằng sống, ta chẳng lấy sự kẻ dữ chết làm vui.” Mi-chê 7:18; Ê-xê-chi-ên 33:11. Đối với Ngài, công việc hủy diệt và sự tuyên án phán xét là một “công việc lạ.” Ê-sai 28:21. Nhưng chính trong lòng thương xót và tình yêu thương mà Ngài vén bức màn che tương lai, và bày tỏ cho loài người thấy hậu quả của một con đường tội lỗi. DA 582.3

Sự rủa sả cây vả là một thí dụ được diễn ra bằng hành động. Cây không trái ấy, phô trương đám lá khoa trương ngay trước mặt Đấng Christ, là biểu tượng của dân tộc Do Thái. Đấng Cứu Thế muốn làm rõ cho các môn đồ về nguyên nhân và sự chắc chắn của số phận dân Y-sơ-ra-ên. Vì mục đích nầy, Ngài đã ban cho cây những phẩm chất đạo đức, và biến nó thành đấng giải bày lẽ thật thiêng liêng. Người Do Thái nổi bật khác hẳn mọi dân tộc khác, xưng mình trung thành với Đức Chúa Trời. Họ đã được Ngài đặc biệt ưu đãi, và họ tự cho mình là công bình hơn mọi dân tộc khác. Nhưng họ đã bị bại hoại bởi lòng yêu mến thế gian và sự tham lam lợi lộc. Họ khoe khoang về sự hiểu biết của mình, nhưng họ lại không biết những đòi hỏi của Đức Chúa Trời, và đầy dẫy sự giả hình. Giống như cây không trái, họ dang những cành khoa trương lên cao, sum suê vẻ ngoài, và đẹp mắt, nhưng họ chỉ sinh ra “những lá mà thôi.” Tôn giáo Do Thái, với đền thờ tráng lệ, các bàn thờ thánh, các thầy tế lễ đội mão và những nghi lễ ấn tượng, quả thật đẹp đẽ bên ngoài, nhưng lại thiếu sự khiêm nhường, tình yêu thương và lòng nhân từ. DA 582.4

Tất cả các cây trong vườn vả đều không có trái; nhưng những cây không lá không gây nên kỳ vọng nào, và chẳng gây nên sự thất vọng nào. Bằng những cây nầy, dân ngoại được tiêu biểu. Họ cũng thiếu lòng tin kính như người Do Thái; nhưng họ không xưng mình hầu việc Đức Chúa Trời. Họ không khoe khoang phô trương về sự tốt lành. Họ mù lòa đối với các việc làm và đường lối của Đức Chúa Trời. Đối với họ, mùa vả chưa đến. Họ vẫn còn đang chờ đợi một ngày sẽ đem đến cho họ ánh sáng và hy vọng. Người Do Thái, là kẻ đã nhận được những phước lành lớn hơn từ Đức Chúa Trời, phải chịu trách nhiệm về sự lạm dụng các ân tứ nầy. Những đặc ân mà họ khoe khoang chỉ làm tăng thêm tội lỗi của họ. DA 583.1

Đức Chúa Giê-su đã đến cây vả khi đói, để tìm thức ăn. Cũng vậy, Ngài đã đến với dân Y-sơ-ra-ên, khao khát tìm thấy nơi họ trái của sự công bình. Ngài đã ban dồi dào cho họ các ân tứ của Ngài, hầu cho họ có thể sinh trái để ban phước cho thế gian. Mỗi cơ hội và đặc ân đều đã được ban cho họ, và đáp lại, Ngài tìm kiếm niềm thương cảm và sự cộng tác của họ trong công việc ân điển của Ngài. Ngài khao khát thấy nơi họ sự hy sinh và lòng trắc ẩn, lòng sốt sắng vì Đức Chúa Trời, và một khao khát sâu xa trong linh hồn cho sự cứu rỗi đồng loại của họ. Nếu họ đã giữ luật pháp Đức Chúa Trời, hẳn họ đã làm công việc vị tha y như Đấng Christ đã làm. Nhưng tình yêu thương đối với Đức Chúa Trời và loài người đã bị che khuất bởi sự kiêu ngạo và tánh tự mãn. Họ tự chuốc lấy sự sụp đổ cho mình bằng cách từ chối phục vụ kẻ khác. Họ đã không trao cho thế gian những kho tàng lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã ủy thác cho họ. Trong cây không trái, họ có thể đọc thấy cả tội lỗi của mình lẫn hình phạt của nó. Khô héo dưới lời rủa sả của Đấng Cứu Thế, đứng trơ trọi khô cằn và tàn úa, héo khô từ tận gốc rễ, cây vả tỏ cho thấy dân Do Thái sẽ ra sao khi ân điển của Đức Chúa Trời bị cất khỏi họ. Khước từ ban phát phước lành, họ sẽ không còn nhận được nó nữa. Chúa phán: “Hỡi Y-sơ-ra-ên, sự bại hoại của ngươi, ấy là tại ngươi.” Ô-sê 13:9. DA 583.2

Lời cảnh báo ấy dành cho mọi thời đại. Hành động của Đấng Christ khi rủa sả cây mà chính quyền năng Ngài đã tạo nên đứng như một lời cảnh báo cho tất cả các Hội Thánh và cho tất cả những người Cơ-đốc. Không ai có thể sống theo luật pháp của Đức Chúa Trời mà không phục vụ người khác. Nhưng có nhiều người không sống theo đời sống nhân từ, vị tha của Đấng Christ. Một số người tự cho mình là những người Cơ-đốc xuất sắc lại không hiểu điều gì cấu thành nên sự phục vụ Đức Chúa Trời. Họ trù tính và nghiên cứu để làm vui lòng chính mình. Họ hành động chỉ vì bản thân. Thời gian chỉ có giá trị đối với họ khi họ có thể thâu trữ cho riêng mình. Trong mọi việc của đời sống, đây là mục tiêu của họ. Họ phục vụ không phải vì người khác mà vì chính mình. Đức Chúa Trời đã tạo dựng họ để sống trong một thế giới nơi phải thực hiện sự phục vụ vị tha. Ngài đã định cho họ giúp đỡ đồng loại bằng mọi cách có thể. Nhưng cái tôi quá lớn đến nỗi họ không thể thấy gì khác. Họ không tiếp xúc với nhân loại. Những ai sống cho bản thân như vậy thì giống như cây vả, làm ra vẻ bề ngoài nhưng lại không có trái. Họ tuân giữ các hình thức thờ phượng, nhưng không có sự ăn năn hay đức tin. Trên danh nghĩa họ tôn vinh luật pháp của Đức Chúa Trời, nhưng lại thiếu sự vâng lời. Họ nói, nhưng không làm. Trong bản án tuyên trên cây vả, Đấng Christ chứng minh sự giả dối hão huyền này đáng ghê tởm dường nào trong mắt Ngài. Ngài tuyên bố rằng kẻ phạm tội công khai còn ít tội hơn kẻ xưng mình phục vụ Đức Chúa Trời, nhưng không kết trái nào cho sự vinh hiển của Ngài. DA 584.1

Ngụ ngôn về cây vả, được phán ra trước khi Đấng Christ vào thành Giê-ru-sa-lem, có một mối liên hệ trực tiếp với bài học Ngài dạy khi rủa sả cây không trái. Đối với cây không trái trong ngụ ngôn, người làm vườn đã nài xin: Xin hãy để lại năm nay nữa, đến khi tôi đào đất chung quanh và đổ phân vào; nếu nó có trái thì tốt; bằng không, năm sau ông sẽ đốn nó đi. Cây không trái sẽ được chăm sóc nhiều hơn. Nó sẽ có mọi lợi thế. Nhưng nếu nó vẫn không có trái, thì không gì có thể cứu nó khỏi sự hủy diệt. Trong ngụ ngôn, kết quả của công việc người làm vườn không được báo trước. Nó tùy thuộc vào dân tộc mà lời của Đấng Christ được phán cho. Họ được tượng trưng bởi cây không trái, và việc quyết định số phận của chính họ nằm trong tay họ. Mọi lợi thế mà Thiên đàng có thể ban cho đều đã được ban cho họ, nhưng họ không hưởng lợi từ những phước lành gia tăng của mình. Qua hành động của Đấng Christ khi rủa sả cây vả không trái, kết quả đã được tỏ ra. Họ đã tự định đoạt sự hủy diệt của chính mình. DA 584.2

Suốt hơn một ngàn năm, dân tộc Do Thái đã lạm dụng lòng thương xót của Đức Chúa Trời và chuốc lấy sự phán xét của Ngài. Họ đã chối bỏ những lời cảnh báo của Ngài và giết hại các tiên tri của Ngài. Vì những tội này, dân chúng vào thời Đấng Christ đã tự gánh lấy trách nhiệm bằng cách đi theo con đường tương tự. Trong sự chối bỏ những lòng thương xót và những lời cảnh báo hiện tại của họ chứa đựng tội lỗi của thế hệ ấy. Những xiềng xích mà dân tộc này đã rèn đúc suốt nhiều thế kỷ, dân chúng vào thời Đấng Christ đang tự xiết chặt lên chính mình. DA 584.3

Trong mọi thời đại, loài người được ban cho ngày ánh sáng và đặc ân của mình, một thời kỳ ân điển trong đó họ có thể được hòa thuận lại với Đức Chúa Trời. Nhưng có một giới hạn cho ân điển này. Lòng thương xót có thể nài xin trong nhiều năm và bị xem thường và chối bỏ; nhưng có một lúc đến khi lòng thương xót đưa ra lời nài xin cuối cùng. Tấm lòng trở nên chai cứng đến nỗi không còn đáp ứng với Thánh Linh của Đức Chúa Trời nữa. Bấy giờ tiếng nói dịu dàng, lôi cuốn không còn nài nỉ kẻ phạm tội nữa, và những sự quở trách và cảnh báo chấm dứt. DA 587.1

Ngày ấy đã đến với Giê-ru-sa-lem. Đức Chúa Giê-su khóc trong đau đớn trên thành phố bị diệt vong, nhưng Ngài không thể giải cứu nó. Ngài đã dùng hết mọi phương cách. Trong sự chối bỏ những lời cảnh báo của Thánh Linh Đức Chúa Trời, Y-sơ-ra-ên đã chối bỏ phương tiện cứu giúp duy nhất. Không có quyền năng nào khác có thể giải cứu họ. DA 587.2

Dân tộc Do Thái là một biểu tượng của những người trong mọi thời đại khinh dể những lời nài xin của Tình Yêu Vô Hạn. Những giọt nước mắt của Đấng Christ khi Ngài khóc trên Giê-ru-sa-lem là cho tội lỗi của mọi thời đại. Trong những sự phán xét tuyên trên Y-sơ-ra-ên, những ai chối bỏ những sự quở trách và cảnh báo của Đức Thánh Linh của Đức Chúa Trời có thể đọc thấy sự kết án của chính mình. DA 587.3

Trong thế hệ này có nhiều người đang giẫm trên cùng một mảnh đất như những người Do Thái không tin. Họ đã chứng kiến sự biểu lộ quyền năng của Đức Chúa Trời; Đức Thánh Linh đã phán với tấm lòng họ; nhưng họ bám lấy sự vô tín và sự chống cự của mình. Đức Chúa Trời gửi đến cho họ những lời cảnh báo và quở trách, nhưng họ không sẵn lòng thú nhận lỗi lầm của mình, và họ chối bỏ sứ điệp của Ngài cùng sứ giả của Ngài. Chính những phương tiện Ngài dùng để phục hồi họ lại trở thành cho họ một hòn đá vấp chân. DA 587.4

Các tiên tri của Đức Chúa Trời bị Y-sơ-ra-ên bội đạo ghét bỏ vì qua họ những tội lỗi giấu kín của họ bị đưa ra ánh sáng. A-háp xem Ê-li là kẻ thù của mình vì vị tiên tri trung tín quở trách những điều gian ác bí mật của vua. Cũng vậy ngày nay đầy tớ của Đấng Christ, người quở trách tội lỗi, gặp phải sự khinh dể và chối bỏ. Lẽ thật Kinh Thánh, tôn giáo của Đấng Christ, đấu tranh chống lại dòng chảy mạnh mẽ của sự ô uế đạo đức. Thành kiến trong lòng người ngày nay thậm chí còn mạnh hơn vào thời Đấng Christ. Đấng Christ không đáp ứng những kỳ vọng của loài người; đời sống Ngài là một lời quở trách tội lỗi của họ, và họ chối bỏ Ngài. Cũng vậy ngày nay lẽ thật của Lời Đức Chúa Trời không hòa hợp với những thực hành của loài người và khuynh hướng tự nhiên của họ, và hàng ngàn người chối bỏ ánh sáng của nó. Loài người bị Sa-tan xúi giục gieo nghi ngờ trên Lời Đức Chúa Trời, và chọn vận dụng phán đoán độc lập của mình. Họ chọn sự tối tăm thay vì ánh sáng, nhưng họ làm điều đó với nguy cơ cho linh hồn mình. Những ai bắt bẻ lời của Đấng Christ đã tìm thấy nguyên cớ ngày càng nhiều để bắt bẻ, cho đến khi họ quay lưng khỏi Lẽ Thật và Sự Sống. Ngày nay cũng vậy. Đức Chúa Trời không định loại bỏ mọi sự phản đối mà tấm lòng xác thịt có thể đưa ra chống lại lẽ thật của Ngài. Đối với những ai từ chối những tia sáng quý báu có thể soi sáng sự tối tăm, những điều mầu nhiệm trong Lời Đức Chúa Trời mãi mãi vẫn như vậy. Lẽ thật bị giấu khỏi họ. Họ bước đi cách mù lòa, và không biết đến sự hủy diệt trước mặt mình. DA 587.5

Đấng Christ nhìn bao quát thế giới và mọi thời đại từ trên đỉnh Ô-li-ve; và lời Ngài áp dụng cho mọi linh hồn khinh dể những lời nài xin của lòng thương xót thiên thượng. Hỡi kẻ chế nhạo tình yêu Ngài, hôm nay Ngài phán với ngươi. Chính là “ngươi, phải, ngươi,” là kẻ đáng lẽ phải biết những điều thuộc về sự bình an của mình. Đấng Christ đang đổ những giọt nước mắt cay đắng cho ngươi, kẻ không có nước mắt để đổ cho chính mình. Sự chai cứng tấm lòng chí tử đã hủy diệt người Pha-ri-si đã hiện ra trong ngươi rồi. Và mọi bằng chứng về ân điển của Đức Chúa Trời, mọi tia sáng thiên thượng, hoặc làm tan chảy và chinh phục linh hồn, hoặc khiến nó vững chắc trong sự cứng lòng vô vọng. DA 588.1

Đấng Christ đã thấy trước rằng Giê-ru-sa-lem sẽ vẫn cứng cỏi và không ăn năn; thế nhưng tất cả tội lỗi, tất cả hậu quả của lòng thương xót bị chối bỏ, đều nằm tại cửa của chính nó. Cũng vậy sẽ xảy ra cho mọi linh hồn đi theo cùng một con đường. Chúa phán:

“Hỡi Y-sơ-ra-ên, sự bại hoại của ngươi, ấy là tại ngươi dấy loạn nghịch cùng ta, tức là Đấng giúp ngươi.” (Ô-sê 13:9)

“Hỡi đất, hãy nghe: Nầy, ta sẽ khiến tai vạ đến trên dân này, tức là quả báo của ý tưởng nó, vì nó chẳng chăm nghe lời ta, và đã bỏ luật pháp ta.” (Giê-rê-mi 6:19)

DA 588.2