“Vua Ngươi Đến”
Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 21:1-11; Mác 11:1-10; Lu-ca 19:29-44; Giăng 12:12-19. DA 569.1
“Hỡi con gái Si-ôn, hãy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy trổi tiếng reo vui! Nầy, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái.” (Xa-cha-ri 9:9)
DA 569.2
Năm trăm năm trước khi Đấng Christ giáng sinh, tiên tri Xa-cha-ri đã báo trước về sự đến của Vua cho dân Y-sơ-ra-ên như vậy. Lời tiên tri này nay sắp được ứng nghiệm. Đấng đã từ lâu khước từ các vinh dự đế vương nay đến thành Giê-ru-sa-lem như là người thừa kế đã được hứa cho ngôi của Đa-vít. DA 569.3
Ấy là vào ngày thứ nhất trong tuần mà Đấng Christ tiến vào thành Giê-ru-sa-lem trong sự khải hoàn. Đoàn dân đông đã đổ về Bê-tha-ni để thấy Ngài nay cùng đi theo Ngài, háo hức muốn chứng kiến sự tiếp đón Ngài. Nhiều người đang trên đường lên thành để giữ lễ Vượt Qua, và họ nhập vào đoàn dân đông đi theo Đức Chúa Giê-su. Cả thiên nhiên dường như đều vui mừng. Cây cối được khoác lên màu xanh tươi, và hoa của chúng tỏa hương thơm dịu dàng trong không khí. Một sự sống và niềm vui mới làm cho dân chúng phấn chấn. Niềm hy vọng về vương quốc mới lại trỗi dậy. DA 569.4
Có ý định cưỡi vào thành Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Giê-su đã sai hai môn đồ đem cho Ngài một con lừa cái cùng lừa con. Khi giáng sinh, Đấng Cứu Thế đã phải nhờ vào lòng hiếu khách của những người xa lạ. Máng cỏ nơi Ngài nằm là một chỗ nghỉ ngơi mượn tạm. Nay, dầu cho súc vật trên ngàn núi đều thuộc về Ngài, Ngài vẫn phải nhờ vào lòng tốt của một người xa lạ để có một con vật mà cưỡi vào thành Giê-ru-sa-lem với tư cách là Vua của nó. Nhưng một lần nữa thần tánh của Ngài lại được tỏ ra, ngay cả trong những lời chỉ dẫn tỉ mỉ Ngài ban cho các môn đồ về việc này. Y như Ngài đã báo trước, lời thưa rằng: “Chúa cần dùng nó,” liền được chấp thuận. Đức Chúa Giê-su chọn cho mình con lừa con chưa từng có ai cưỡi lên. Các môn đồ, với lòng nhiệt thành vui mừng, trải áo mình trên lưng con vật, và đỡ Thầy mình ngồi lên đó. Trước đây Đức Chúa Giê-su luôn đi bộ, và các môn đồ thoạt đầu lấy làm lạ rằng giờ Ngài lại chọn cưỡi đi. Nhưng niềm hy vọng bừng sáng trong lòng họ với ý nghĩ vui mừng rằng Ngài sắp tiến vào thủ đô, tự xưng mình là Vua, và khẳng định quyền đế vương của Ngài. Trong khi đi làm việc Ngài sai phái, họ truyền đạt những kỳ vọng rực rỡ ấy cho các bạn hữu của Đức Chúa Giê-su, và sự náo nức lan tỏa khắp nơi gần xa, nâng kỳ vọng của dân chúng lên đến tột đỉnh. DA 569.5
Đấng Christ đang làm theo phong tục của người Do Thái về một sự tiến vào đầy vương giả. Con vật Ngài cưỡi là con vật mà các vua Y-sơ-ra-ên thường cưỡi, và lời tiên tri đã báo trước rằng Đấng Mê-si sẽ đến với vương quốc Ngài như vậy. Vừa khi Ngài ngồi lên lưng lừa con thì một tiếng reo khải hoàn vang dội cả không gian. Đoàn dân đông tung hô Ngài là Đấng Mê-si, là Vua của họ. Đức Chúa Giê-su nay nhận lấy sự tôn kính mà trước đó Ngài chưa hề cho phép, và các môn đồ xem đây là bằng chứng rằng những niềm hy vọng vui mừng của họ sắp được hiện thực bằng việc thấy Ngài được lập trên ngôi. Đoàn dân đông tin chắc rằng giờ giải phóng của họ đã gần kề. Trong trí tưởng tượng họ thấy quân đội La-mã bị đuổi khỏi thành Giê-ru-sa-lem, và dân Y-sơ-ra-ên một lần nữa trở thành một quốc gia độc lập. Mọi người đều hân hoan và phấn khích; dân chúng ganh đua nhau tôn kính Ngài. Họ không thể phô bày sự xa hoa lộng lẫy bên ngoài, nhưng họ dâng cho Ngài sự thờ phượng của những tấm lòng vui mừng. Họ không thể tặng Ngài những món quà đắt tiền, nhưng họ trải áo ngoài làm thảm trên đường Ngài đi, và họ cũng rải những nhành cây ô-li-ve và lá kè trên đường. Họ không thể dẫn đầu đoàn diễu hành khải hoàn với những lá cờ vương giả, nhưng họ chặt những nhành lá kè xòe rộng, biểu tượng chiến thắng của thiên nhiên, và vẫy chúng lên cao với những tiếng tung hô và hô-sa-na vang lừng. DA 570.1
Khi họ tiến bước, đoàn dân đông không ngừng gia tăng bởi những người đã nghe tin Đức Chúa Giê-su đến và vội vã nhập vào đoàn diễu hành. Người xem cứ liên tục hòa vào đám đông, và hỏi rằng: Người này là ai? Tất cả sự náo động này có ý nghĩa gì? Họ hết thảy đều đã nghe về Đức Chúa Giê-su, và mong đợi Ngài lên thành Giê-ru-sa-lem; nhưng họ biết rằng trước đây Ngài đã ngăn cản mọi nỗ lực đặt Ngài lên ngôi, nên họ vô cùng kinh ngạc khi biết rằng đây chính là Ngài. Họ tự hỏi điều gì đã gây nên sự thay đổi này nơi Đấng đã tuyên bố rằng vương quốc Ngài chẳng thuộc về thế gian này. DA 570.2
Những câu hỏi của họ bị làm im bặt bởi một tiếng reo khải hoàn. Tiếng ấy được đám đông háo hức lặp đi lặp lại; nó được dân chúng ở đằng xa tiếp nối, và vọng lại từ những đồi núi và thung lũng xung quanh. Và giờ đây đoàn diễu hành được tăng cường bởi đám đông từ thành Giê-ru-sa-lem. Từ những đoàn dân đông tụ họp để dự lễ Vượt Qua, hàng ngàn người đi ra để chào đón Đức Chúa Giê-su. Họ chào mừng Ngài bằng cách vẫy những nhành lá kè và cất lên những bài thánh ca. Các thầy tế lễ tại đền thờ thổi kèn cho buổi nhóm chiều, nhưng có ít người đáp lại, và các nhà cầm quyền hoảng hốt nói với nhau rằng: “Cả thiên hạ đều chạy theo Người.” DA 571.1
Chưa bao giờ trong đời sống trần thế của Ngài, Đức Chúa Giê-su lại cho phép một cuộc biểu dương như vậy. Ngài thấy rõ kết cuộc. Nó sẽ đưa Ngài đến thập tự giá. Nhưng ý định của Ngài là công khai tỏ mình ra như là Đấng Cứu Chuộc. Ngài muốn hướng sự chú ý đến của lễ hy sinh sẽ là tột đỉnh cho sứ mạng của Ngài đối với một thế giới sa ngã. Trong khi dân chúng đang tụ họp tại Giê-ru-sa-lem để cử hành lễ Vượt Qua, thì Ngài, là Chiên Con thật mà hình bóng đã chỉ về, bằng một hành động tự nguyện đã biệt riêng chính mình ra làm của lễ. Hội Thánh của Ngài trong mọi thời đại kế tiếp sẽ cần phải lấy sự chết của Ngài vì tội lỗi của thế gian làm đề tài suy ngẫm và nghiên cứu sâu sắc. Mỗi sự kiện liên quan đến sự chết ấy phải được xác minh không chút nghi ngờ. Vậy, lúc bấy giờ cần phải hướng con mắt của mọi người về Ngài; những biến cố xảy ra trước của lễ hy sinh trọng đại của Ngài phải có tính chất khiến người ta chú ý đến chính của lễ ấy. Sau một cuộc biểu dương như cuộc tiến vào thành Giê-ru-sa-lem của Ngài, mọi con mắt sẽ dõi theo bước tiến nhanh chóng của Ngài đến cảnh tượng cuối cùng. DA 571.2
Những biến cố liên quan đến chuyến cưỡi đi khải hoàn này sẽ là câu chuyện trên môi mọi người, và sẽ đem Đức Chúa Giê-su đến với mọi tâm trí. Sau khi Ngài chịu đóng đinh, nhiều người sẽ nhớ lại những biến cố này trong mối liên hệ với cuộc xét xử và sự chết của Ngài. Họ sẽ được dẫn dắt đến việc tra cứu các lời tiên tri, và sẽ tin chắc rằng Đức Chúa Giê-su là Đấng Mê-si; và ở khắp các xứ, những người trở lại tin theo sẽ được gia tăng bội phần. DA 571.3
Trong cảnh tượng khải hoàn duy nhất này của đời sống trần thế Ngài, Đấng Cứu Thế đáng lẽ có thể xuất hiện với sự hộ tống của các thiên sứ trên trời, và được loan báo bằng tiếng kèn của Đức Chúa Trời; nhưng một cuộc biểu dương như vậy sẽ trái với mục đích của sứ mạng Ngài, trái với luật đã chi phối đời sống Ngài. Ngài vẫn trung thành với phận hèn mọn mà Ngài đã chấp nhận. Ngài phải mang lấy gánh nặng của nhân loại cho đến khi mạng sống Ngài được ban cho vì mạng sống của thế gian. DA 571.4
Ngày này, đối với các môn đồ dường như là ngày vinh quang tột đỉnh của đời họ, đáng lẽ đã bị phủ mờ bởi những đám mây u ám nếu họ biết rằng cảnh tượng vui mừng này chỉ là khúc dạo đầu cho sự đau đớn và sự chết của Thầy mình. Dầu Ngài đã nhiều lần nói với họ về của lễ hy sinh chắc chắn của Ngài, nhưng trong sự khải hoàn vui mừng của hiện tại, họ đã quên đi những lời buồn thảm của Ngài, và trông đợi triều đại thịnh vượng của Ngài trên ngôi Đa-vít. DA 571.5
Đoàn diễu hành cứ liên tục được bổ sung, và, trừ một số ít, hết thảy những người nhập vào đều bắt được nguồn cảm hứng của giờ phút ấy, và góp phần làm cho những tiếng hô-sa-na thêm vang dội, vọng đi vọng lại từ đồi này sang đồi khác và từ thung lũng này sang thung lũng khác. Những tiếng reo không ngớt cất lên: “Hô-sa-na cho Con vua Đa-vít! Đáng ngợi khen cho Đấng nhân danh Chúa mà đến! Hô-sa-na ở trên nơi rất cao!” DA 572.1
Chưa bao giờ thế gian được chứng kiến một đoàn diễu hành khải hoàn như thế. Nó không giống như những cuộc diễu hành của các nhà chinh phục lừng danh trên đất. Không có đoàn tù binh than khóc bị dẫn đi như những chiến lợi phẩm của lòng dũng cảm vương giả tạo nên cảnh tượng ấy. Nhưng chung quanh Đấng Cứu Thế là những chiến lợi phẩm vinh hiển của công lao yêu thương của Ngài dành cho con người tội lỗi. Đó là những kẻ bị giam cầm mà Ngài đã giải cứu khỏi quyền lực của Sa-tan, đang ngợi khen Đức Chúa Trời vì sự giải thoát của họ. Những người mù được Ngài chữa cho sáng mắt đang dẫn đường. Những người câm được Ngài mở lưỡi đang hô vang những lời hô-sa-na lớn nhất. Những người què được Ngài chữa lành đang nhảy nhót vui mừng, và là những người hăng hái nhất trong việc bẻ những nhánh kè và vẫy chúng trước Đấng Cứu Thế. Những người góa bụa và mồ côi đang tôn cao danh Đức Chúa Giê-su vì những việc thương xót Ngài đã làm cho họ. Những người phung được Ngài làm cho sạch đang trải những chiếc áo tinh sạch của họ trên đường đi của Ngài, và tung hô Ngài là Vua vinh hiển. Những người mà tiếng nói của Ngài đã đánh thức khỏi giấc ngủ chết chóc cũng ở trong đám đông ấy. La-xa-rơ, người mà thân thể đã thấy sự hư nát trong mồ mả, nhưng nay đang vui mừng trong sức lực của một con người vinh hiển, đang dắt con vật mà Đấng Cứu Thế cưỡi. DA 572.2
Nhiều người Pha-ri-si chứng kiến cảnh tượng ấy, và lòng cháy bừng ganh tị cùng ác ý, đã tìm cách xoay chuyển dòng cảm xúc của dân chúng. Với tất cả uy quyền của mình, họ cố làm cho dân chúng im lặng; nhưng những lời kêu gọi và đe dọa của họ chỉ càng làm tăng thêm sự nhiệt thành. Họ sợ rằng đám đông này, với sức mạnh của số đông, sẽ tôn Đức Chúa Giê-su làm vua. Như một biện pháp cuối cùng, họ chen qua đám đông đến chỗ Đấng Cứu Thế đang ở, và nói với Ngài bằng những lời quở trách và đe dọa: “Thưa thầy, xin quở trách môn đồ thầy.” Họ tuyên bố rằng những cuộc biểu dương ồn ào như thế là trái luật, và sẽ không được nhà cầm quyền cho phép. Nhưng họ bị làm cho câm lặng bởi lời đáp của Đức Chúa Giê-su: “Ta phán cùng các ngươi, nếu họ nín lặng thì đá sẽ kêu lên.” Cảnh khải hoàn ấy là do chính Đức Chúa Trời chỉ định. Nó đã được tiên tri báo trước, và loài người không có quyền nào để xoay chuyển ý định của Đức Chúa Trời. Nếu loài người không thực hiện được kế hoạch của Ngài, thì Ngài đã ban tiếng nói cho những hòn đá vô tri, và chúng sẽ tung hô Con Ngài bằng những lời ca ngợi. Khi những người Pha-ri-si bị làm cho câm lặng lui ra, thì những lời của Xa-cha-ri được hàng trăm tiếng nói cất lên: “Hỡi con gái Si-ôn, hãy mừng rỡ cả thể! Hỡi con gái Giê-ru-sa-lem, hãy trổi tiếng reo vui! Nầy, Vua ngươi đến cùng ngươi, Ngài là công bình và ban sự cứu rỗi, nhu mì và cỡi lừa, tức là con của lừa cái.” DA 572.3
Khi đoàn diễu hành đến đỉnh đồi, và sắp sửa đi xuống thành, Đức Chúa Giê-su dừng lại, và cả đoàn dân đông cũng dừng lại với Ngài. Trước mặt họ là thành Giê-ru-sa-lem trong vẻ huy hoàng, nay đang được tắm trong ánh sáng của mặt trời đang lặn. Đền thờ thu hút mọi ánh mắt. Trong vẻ uy nghi tráng lệ, nó vượt cao hơn tất cả mọi thứ khác, dường như chỉ lên trời như thể hướng dẫn dân chúng đến cùng Đức Chúa Trời chân thật và hằng sống duy nhất. Đền thờ từ lâu đã là niềm tự hào và vinh quang của dân tộc Do Thái. Người La-mã cũng tự hào về sự nguy nga của nó. Một vị vua được người La-mã bổ nhiệm đã hợp với người Do Thái để xây dựng lại và trang hoàng nó, và hoàng đế La-mã đã làm nó thêm phong phú bằng những món quà của mình. Sự kiên cố, giàu có và nguy nga của nó đã khiến nó trở thành một trong những kỳ quan của thế giới. DA 575.1
Trong khi mặt trời ngả về tây nhuộm màu và mạ vàng bầu trời, ánh vinh quang rực rỡ của nó chiếu sáng lên những bức tường đá cẩm thạch trắng tinh của đền thờ, và lấp lánh trên những cây cột mạ vàng. Từ đỉnh đồi nơi Đức Chúa Giê-su và những kẻ theo Ngài đứng, nó có vẻ như một khối kiến trúc đồ sộ bằng tuyết, được gắn những chóp nhọn bằng vàng. Tại lối vào đền thờ có một cây nho bằng vàng và bạc, với những chiếc lá xanh và những chùm nho đồ sộ do những nghệ nhân tài giỏi nhất tạo nên. Mẫu thiết kế này tượng trưng cho Y-sơ-ra-ên như một cây nho thịnh vượng. Vàng, bạc và màu xanh sống động được kết hợp với khiếu thẩm mỹ hiếm có và tay nghề tinh xảo; khi nó quấn quýt duyên dáng quanh những cây cột trắng và lấp lánh, bám vào những vật trang trí bằng vàng của chúng bằng những tua cuốn sáng chói, nó bắt lấy ánh huy hoàng của mặt trời đang lặn, sáng lên như thể với một vẻ vinh quang mượn từ thiên đàng. DA 575.2
Đức Chúa Giê-su nhìn cảnh tượng ấy, và đám đông vô số người ngừng những tiếng reo hò của họ, ngẩn ngơ bởi cảnh tượng đẹp đẽ chợt hiện ra. Mọi ánh mắt đều hướng về Đấng Cứu Thế, mong đợi sẽ thấy trên gương mặt Ngài niềm thán phục mà chính họ đang cảm nhận. Nhưng thay vào đó họ thấy một đám mây sầu khổ. Họ ngạc nhiên và thất vọng khi thấy mắt Ngài đầy lệ, và thân thể Ngài lắc lư qua lại như một cái cây trước cơn giông, trong khi một tiếng than khóc thống khổ bật ra từ đôi môi run rẩy của Ngài, như từ tận đáy lòng tan vỡ. Thật là một cảnh tượng cho các thiên sứ chứng kiến! Vị Chỉ huy yêu dấu của họ trong nỗi thống khổ đẫm lệ! Thật là một cảnh tượng cho đám đông hân hoan đang với những tiếng reo khải hoàn và những nhánh kè vẫy chào hộ tống Ngài đến thành vinh hiển, nơi họ tha thiết hy vọng Ngài sắp trị vì! Đức Chúa Giê-su đã từng khóc tại mộ La-xa-rơ, nhưng đó là nỗi đau buồn giống như của Đức Chúa Trời trong sự đồng cảm với nỗi khổ của con người. Nhưng nỗi đau buồn đột ngột này giống như một nốt nhạc ai oán trong một bài hợp xướng khải hoàn vĩ đại. Giữa cảnh hân hoan, nơi tất cả đều tôn vinh Ngài, Vua của Y-sơ-ra-ên lại đầm đìa nước mắt; không phải những giọt nước mắt vui mừng lặng lẽ, mà là những giọt nước mắt và những tiếng rên rỉ của nỗi thống khổ không thể kìm nén. Đám đông bỗng chìm vào u ám. Những tiếng tung hô của họ im bặt. Nhiều người khóc trong sự đồng cảm với một nỗi đau buồn mà họ không thể hiểu được. DA 575.3
Những giọt nước mắt của Đức Chúa Giê-su không phải vì đoán trước sự đau khổ của chính Ngài. Ngay trước mặt Ngài là Ghết-sê-ma-nê, nơi mà chẳng bao lâu nữa nỗi kinh hoàng của một sự tối tăm lớn sẽ bao trùm lấy Ngài. Cửa Chiên cũng nằm trong tầm mắt, qua đó suốt nhiều thế kỷ những con thú dùng làm của lễ đã được dẫn vào. Cửa này chẳng bao lâu nữa sẽ mở ra cho Ngài, Đấng Phản Ảnh vĩ đại, mà tất cả những của lễ ấy đều chỉ về sự hy sinh của Ngài vì tội lỗi của thế gian. Gần đó là đồi Gô-gô-tha, nơi của nỗi thống khổ sắp đến của Ngài. Tuy nhiên, không phải vì những điều nhắc nhở về cái chết tàn nhẫn này mà Đấng Cứu Chuộc khóc lóc và rên rỉ trong nỗi thống khổ của tâm linh. Nỗi đau buồn của Ngài không phải là nỗi đau buồn ích kỷ. Ý nghĩ về nỗi thống khổ của chính Ngài không làm cho linh hồn cao thượng, hy sinh ấy phải khiếp sợ. Chính là cảnh tượng thành Giê-ru-sa-lem đã đâm thấu tấm lòng của Đức Chúa Giê-su—Giê-ru-sa-lem đã chối bỏ Con Đức Chúa Trời và khinh thường tình yêu thương của Ngài, đã từ chối để cho những phép lạ vĩ đại của Ngài thuyết phục, và sắp sửa lấy đi mạng sống của Ngài. Ngài thấy thành ấy là gì trong tội lỗi chối bỏ Đấng Cứu Chuộc của mình, và thành ấy đã có thể trở nên thế nào nếu nó tiếp nhận Đấng duy nhất có thể chữa lành vết thương của nó. Ngài đã đến để cứu nó; làm sao Ngài có thể từ bỏ nó? DA 576.1
Y-sơ-ra-ên đã từng là một dân tộc được ưu ái; Đức Chúa Trời đã lập đền thờ của họ làm nơi ngự của Ngài; nó “đẹp đẽ về vị thế, là sự vui mừng của cả thế gian.” Thi thiên 48:2. Bản ghi chép hơn một ngàn năm về sự chăm sóc canh giữ và tình yêu thương dịu dàng của Đấng Christ, như tình yêu của một người cha dành cho đứa con một, đều ở đó. Trong đền thờ ấy các tiên tri đã thốt lên những lời cảnh báo nghiêm trọng của họ. Tại đó những bình hương cháy rực đã được vẫy lên, trong khi hương thơm hòa lẫn với những lời cầu nguyện của những người thờ phượng đã bay lên cùng Đức Chúa Trời. Tại đó huyết của các con thú đã đổ ra, tượng trưng cho huyết của Đấng Christ. Tại đó Đức Giê-hô-va đã tỏ bày vinh quang của Ngài trên nắp thi ân. Tại đó các thầy tế lễ đã hành lễ, và sự nguy nga của những biểu tượng và nghi lễ đã tiếp diễn qua bao thời đại. Nhưng tất cả những điều này phải đi đến chỗ kết thúc. DA 576.2
Đức Chúa Giê-su giơ tay Ngài lên,—bàn tay đã biết bao lần ban phước cho những kẻ đau ốm và khổ sở,—và vẫy tay về phía thành bị định cho sự diệt vong, trong những lời than khóc đứt quãng vì đau buồn mà kêu lên: “Ước gì, ít nữa ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an!—” Đến đây Đấng Cứu Thế ngừng lại, và để lại không nói ra điều có thể là tình trạng của Giê-ru-sa-lem nếu nó tiếp nhận sự giúp đỡ mà Đức Chúa Trời ao ước ban cho nó,—món quà là Con yêu dấu của Ngài. Nếu Giê-ru-sa-lem đã biết điều mà nó có đặc ân để biết, và đã lưu ý đến ánh sáng mà Thiên đàng đã gửi đến cho nó, thì nó đã có thể đứng vững trong niềm tự hào của sự thịnh vượng, là nữ hoàng của các vương quốc, được tự do trong sức mạnh của quyền năng do Đức Chúa Trời ban cho. Sẽ không có những binh lính vũ trang đứng tại các cổng thành của nó, không có những lá cờ La-mã phất phới trên những bức tường của nó. Số phận vinh hiển có thể đã ban phước cho Giê-ru-sa-lem nếu nó tiếp nhận Đấng Cứu Chuộc của mình hiện ra trước mặt Con Đức Chúa Trời. Ngài thấy rằng nhờ Ngài, nó đã có thể được chữa lành khỏi căn bệnh trầm trọng của mình, được giải phóng khỏi sự nô lệ, và được lập làm thủ đô hùng mạnh của thế gian. Từ những bức tường của nó, chim bồ câu hòa bình đã có thể bay ra đến mọi dân tộc. Nó đã có thể là vương miện vinh quang của thế gian. DA 576.3
Nhưng bức tranh tươi sáng về những gì mà Giê-ru-sa-lem có thể trở thành dần phai mờ khỏi tầm nhìn của Đấng Cứu Thế. Ngài nhận thức được tình trạng hiện tại của thành dưới ách của La-mã, mang lấy cơn thạnh nộ của Đức Chúa Trời, bị định cho sự phán xét báo trả của Ngài. Ngài tiếp tục mạch lời than khóc dang dở:
“Ước gì, ít nữa là ngày nay, mầy đã hiểu biết sự làm cho mầy được bình an! Song hiện nay những sự ấy kín giấu nơi mắt mầy. Vì sẽ có ngày xảy đến cho mầy, khi quân nghịch đào hố xung quanh mầy, vây mầy chặt bốn bề. Họ sẽ hủy hết thảy, mầy và con cái ở giữa mầy nữa. Không để cho mầy hòn đá này trên hòn đá kia, vì mầy không biết lúc mình đã được thăm viếng.” (Lu-ca 19:42-44)
DA 577.1
Đấng Christ đã đến để cứu Giê-ru-sa-lem cùng con cái của thành; nhưng lòng kiêu ngạo, sự giả hình, lòng ghen tị và ác ý của người Pha-ri-si đã ngăn trở Ngài hoàn thành mục đích của mình. Đức Chúa Giê-su biết sự báo trả khủng khiếp sẽ giáng xuống thành phố bị định cho hư mất ấy. Ngài thấy Giê-ru-sa-lem bị vây quanh bởi các đạo quân, dân cư bị bao vây bị đẩy đến cảnh đói khát và chết chóc, những người mẹ ăn thịt thi thể của chính con mình, cả cha mẹ lẫn con cái giành giật miếng ăn cuối cùng của nhau, tình thương tự nhiên bị hủy diệt bởi cơn đói cồn cào. Ngài thấy sự cứng cỏi của người Do Thái, được thể hiện qua việc họ chối bỏ sự cứu rỗi của Ngài, cũng sẽ dẫn họ đến chỗ từ chối quy phục các đạo quân xâm lăng. Ngài thấy đồi Gô-gô-tha, nơi Ngài sẽ bị treo lên, dày đặc những cây thập tự như rừng cây. Ngài thấy những cư dân khốn khổ chịu cực hình trên giá tra tấn và bằng sự đóng đinh, những cung điện xinh đẹp bị phá hủy, đền thờ thành đống đổ nát, và những bức tường đồ sộ của nó không còn một hòn đá nào chồng trên hòn đá khác, trong khi thành bị cày như một cánh đồng. Quả thật Đấng Cứu Thế có lý do để khóc trong đau đớn trước cảnh tượng đáng sợ ấy. DA 577.2
Giê-ru-sa-lem từng là đứa con được Ngài chăm sóc, và như một người cha dịu hiền than khóc về đứa con ngỗ nghịch, Đức Chúa Giê-su cũng khóc thương thành phố yêu dấu. Làm sao Ta có thể từ bỏ ngươi? Làm sao Ta có thể thấy ngươi bị định cho sự hủy diệt? Lẽ nào Ta phải để ngươi làm đầy chén tội ác của mình? Một linh hồn có giá trị đến nỗi, so với nó, các thế giới trở nên không đáng kể; nhưng đây là cả một dân tộc sắp bị hư mất. Khi mặt trời lặn dần về phương tây khuất khỏi tầm nhìn trên bầu trời, ngày ân điển của Giê-ru-sa-lem sẽ chấm dứt. Trong khi đoàn người dừng lại trên đỉnh Ô-li-ve, vẫn chưa quá muộn để Giê-ru-sa-lem ăn năn. Lúc ấy thiên sứ của lòng thương xót đang xếp đôi cánh để bước xuống khỏi ngai vàng, nhường chỗ cho sự công bình và sự phán xét đang mau đến. Nhưng tấm lòng yêu thương lớn lao của Đấng Christ vẫn nài xin cho Giê-ru-sa-lem, là thành đã khinh dể lòng thương xót của Ngài, coi thường những lời cảnh báo của Ngài, và sắp nhúng tay vào huyết của Ngài. Nếu Giê-ru-sa-lem chịu ăn năn, thì vẫn chưa quá muộn. Trong khi những tia nắng cuối cùng của mặt trời lặn còn vương trên đền thờ, tháp và nóc nhà, lẽ nào không có một thiên sứ tốt lành nào dẫn dắt thành đến với tình yêu của Đấng Cứu Thế, và ngăn tránh số phận của thành sao? Thành phố xinh đẹp nhưng bất khiết, đã ném đá các tiên tri, đã chối bỏ Con Đức Chúa Trời, đang tự khóa mình bằng sự cứng lòng không ăn năn trong xiềng xích nô lệ,—ngày thương xót của thành gần như đã hết! DA 577.3
Tuy nhiên, một lần nữa Thần của Đức Chúa Trời phán cùng Giê-ru-sa-lem. Trước khi ngày tàn, một lời chứng khác được dâng lên cho Đấng Christ. Tiếng làm chứng cất lên, đáp lại lời kêu gọi từ quá khứ tiên tri. Nếu Giê-ru-sa-lem chịu nghe lời kêu gọi, nếu thành chịu tiếp nhận Đấng Cứu Thế đang bước vào cổng thành, thì thành vẫn có thể được cứu. DA 578.1
Những lời đồn đã đến tai các nhà cầm quyền tại Giê-ru-sa-lem rằng Đức Chúa Giê-su đang đến gần thành cùng với một đoàn người đông đảo. Nhưng họ không hề chào đón Con Đức Chúa Trời. Trong sự sợ hãi, họ đi ra gặp Ngài, hy vọng giải tán đám đông. Khi đoàn người sắp đi xuống núi Ô-li-ve, các nhà cầm quyền chặn họ lại. Họ tra hỏi nguyên do của sự vui mừng huyên náo ấy. Khi họ hỏi: “Người này là ai?”, các môn đồ, được tràn đầy thần cảm thúc, đáp lại câu hỏi này. Bằng những lời hùng hồn, họ nhắc lại các lời tiên tri liên quan đến Đấng Christ: DA 578.2
A-đam sẽ nói cho các ngươi biết rằng, Ấy là dòng dõi của người nữ sẽ giày đạp đầu con rắn. DA 578.3
Hãy hỏi Áp-ra-ham, người sẽ nói cho các ngươi biết rằng, Ấy là “Mên-chi-xê-đéc, vua Sa-lem,” Vua Bình An. Sáng-thế Ký 14:18. DA 578.4
Gia-cốp sẽ nói cho các ngươi biết, Ngài là Si-lô thuộc chi phái Giu-đa. DA 578.5
Ê-sai sẽ nói cho các ngươi biết, “Em-ma-nu-ên,” “Đấng Lạ Lùng, Đấng Mưu Luận, Đức Chúa Trời Quyền Năng, Cha Đời Đời, Chúa Bình An.” Ê-sai 7:14; 9:6. DA 578.6
Giê-rê-mi sẽ nói cho các ngươi biết, Nhánh của Đa-vít, “Đức Giê-hô-va sự công bình chúng ta.” Giê-rê-mi 23:6. DA 578.7
Đa-ni-ên sẽ nói cho các ngươi biết, Ngài là Đấng Mê-si. DA 579.1
Ô-sê sẽ nói cho các ngươi biết, Ngài là “Giê-hô-va Đức Chúa Trời vạn quân; Đức Giê-hô-va là danh kỷ niệm của Ngài.” Ô-sê 12:5. DA 579.2
Giăng Báp-tít sẽ nói cho các ngươi biết, Ngài là “Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi.” Giăng 1:29. DA 579.3
Đấng Giê-hô-va vĩ đại đã công bố từ ngai Ngài rằng, “Này là Con yêu dấu của Ta.” Ma-thi-ơ 3:17. DA 579.4
Chúng tôi, các môn đồ của Ngài, tuyên bố rằng, Đây là Đức Chúa Giê-su, Đấng Mê-si, Vua Sự Sống, Đấng Cứu Chuộc của thế gian. DA 579.5
Và chúa của các quyền lực tối tăm cũng thừa nhận Ngài mà nói rằng, “Tôi biết Ngài là ai, là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.” Mác 1:24. DA 579.6