Bữa Tiệc Tại Nhà Si-môn

Chương này dựa trên Ma-thi-ơ 26:6-13; Mác 14:3-11; Lu-ca 7:36-50; Giăng 11:55-57; Giăng 12:1-11. DA 557.1

Si-môn ở Bê-tha-ni được kể là một môn đồ của Đức Chúa Giê-su. Ông là một trong số ít người Pha-ri-si đã công khai gia nhập hàng ngũ những người theo Đấng Christ. Ông nhìn nhận Đức Chúa Giê-su là một thầy dạy, và hy vọng rằng Ngài có thể là Đấng Mê-si, nhưng ông chưa tiếp nhận Ngài là Đấng Cứu Thế. Tánh nết ông chưa được biến đổi; các nguyên tắc của ông không thay đổi. DA 557.2

Si-môn đã được chữa lành khỏi bệnh phung, và chính điều đó đã lôi cuốn ông đến với Đức Chúa Giê-su. Ông muốn tỏ lòng biết ơn, và trong lần thăm Bê-tha-ni cuối cùng của Đấng Christ, ông đã mở một tiệc đãi Đấng Cứu Thế và các môn đồ Ngài. Bữa tiệc này quy tụ đông đảo người Do Thái. Vào lúc đó, tại Giê-ru-sa-lem có nhiều sự xao động. Đấng Christ và sứ mạng của Ngài đang thu hút sự chú ý lớn hơn bao giờ hết. Những người đến dự tiệc chăm chú theo dõi từng cử động của Ngài, và một số trong họ nhìn với con mắt thù nghịch. DA 557.3

Đấng Cứu Thế đến Bê-tha-ni chỉ sáu ngày trước lễ Vượt Qua, và theo thói quen của Ngài, Ngài tìm sự nghỉ ngơi tại nhà của La-xa-rơ. Đám đông lữ khách đi ngang qua để vào thành đã loan truyền tin tức rằng Ngài đang trên đường lên Giê-ru-sa-lem, và Ngài sẽ nghỉ qua ngày Sa-bát tại Bê-tha-ni. Trong dân chúng dấy lên một sự hứng khởi lớn lao. Nhiều người đổ về Bê-tha-ni, một số vì lòng cảm mến Đức Chúa Giê-su, và những người khác vì tò mò muốn thấy người đã từ kẻ chết sống lại. DA 557.4

Nhiều người mong nghe La-xa-rơ thuật lại một câu chuyện kỳ diệu về những cảnh tượng đã chứng kiến sau khi chết. Họ ngạc nhiên vì ông chẳng nói gì với họ. Ông không có điều gì thuộc loại ấy để kể. Sự cảm động của Đức Thánh Linh tuyên bố,

“Kẻ sống biết mình sẽ chết; nhưng kẻ chết chẳng biết chi hết, chẳng được phần thưởng gì hết; vì sự kỷ niệm họ đã bị quên đi. Sự yêu, sự ghét, sự ganh gỗ của họ thảy đều tiêu mất từ lâu; họ chẳng hề còn có phần nào về mọi điều làm ra dưới mặt trời.” (Truyền-đạo 9:5,6)

Nhưng La-xa-rơ quả có một lời chứng kỳ diệu để làm chứng về công việc của Đấng Christ. Ông đã được sống lại từ kẻ chết vì mục đích này. Với sự quả quyết và quyền năng, ông tuyên bố rằng Đức Chúa Giê-su là Con Đức Chúa Trời. DA 557.5

Các bản tường thuật mà những người viếng thăm Bê-tha-ni mang về Giê-ru-sa-lem làm tăng thêm sự xao động. Dân chúng nóng lòng muốn thấy và nghe Đức Chúa Giê-su. Có một cuộc dò hỏi chung là liệu La-xa-rơ có cùng đi với Ngài lên Giê-ru-sa-lem chăng, và liệu vị tiên tri có được tôn lên làm vua trong lễ Vượt Qua chăng. Các thầy tế lễ và các quan trưởng thấy rằng ảnh hưởng của họ trên dân chúng vẫn cứ suy yếu, và cơn thịnh nộ của họ đối với Đức Chúa Giê-su càng thêm cay đắng. Họ khó mà chờ đợi nổi cơ hội để loại bỏ Ngài vĩnh viễn khỏi đường lối họ. Thời gian trôi qua, họ bắt đầu lo sợ rằng rốt cuộc Ngài có thể không đến Giê-ru-sa-lem. Họ nhớ lại biết bao lần Ngài đã phá hỏng những âm mưu sát hại của họ, và họ sợ rằng giờ đây Ngài đã nhìn thấu những ý đồ của họ chống lại Ngài, nên sẽ ở lánh xa. Họ khó che giấu nỗi lo âu, và bàn tán với nhau rằng, “Các ngươi tưởng thế nào? Người không đến giữ lễ hay sao?” DA 558.1

Một hội đồng các thầy tế lễ và người Pha-ri-si được triệu tập. Kể từ khi La-xa-rơ được sống lại, lòng cảm mến của dân chúng đã hoàn toàn nghiêng về Đấng Christ đến nỗi sẽ là nguy hiểm nếu bắt giữ Ngài cách công khai. Vì vậy, các nhà cầm quyền quyết định bắt Ngài cách bí mật, và tiến hành cuộc xét xử càng lặng lẽ càng tốt. Họ hy vọng rằng khi án phạt của Ngài được loan ra, làn sóng dư luận hay thay đổi sẽ chuyển sang phía họ. DA 558.2

Như vậy, họ trù tính tiêu diệt Đức Chúa Giê-su. Nhưng bao lâu La-xa-rơ còn sống, các thầy tế lễ và các thầy thông giáo biết rằng họ chưa được an toàn. Chính sự hiện diện của một người đã nằm trong mồ bốn ngày, và đã được phục hồi bởi một lời phán của Đức Chúa Giê-su, sớm muộn gì cũng gây nên phản ứng. Dân chúng sẽ báo thù những nhà lãnh đạo của họ vì đã giết hại Đấng có thể làm một phép lạ như thế. Vậy nên Tòa Công Luận quyết định rằng La-xa-rơ cũng phải chết. Lòng ghen ghét và thành kiến đẩy những kẻ làm nô lệ cho chúng đến mức độ như vậy đó. Lòng thù hận và sự vô tín của những nhà lãnh đạo Do Thái đã gia tăng đến nỗi họ thậm chí sẵn sàng giết một người mà quyền năng vô hạn đã giải cứu khỏi mồ mả. DA 558.3

Trong khi mưu kế này đang được tiến hành tại Giê-ru-sa-lem, thì Đức Chúa Giê-su và những bạn hữu của Ngài được mời đến dự tiệc của Si-môn. Tại bàn tiệc, Đấng Cứu Thế ngồi với Si-môn, người mà Ngài đã chữa lành khỏi một chứng bệnh gớm ghiếc, ở một bên, và La-xa-rơ, người mà Ngài đã khiến sống lại từ kẻ chết, ở bên kia. Ma-thê hầu việc tại bàn, còn Ma-ri thì chăm chú lắng nghe từng lời từ môi miệng Đức Chúa Giê-su. Trong lòng thương xót của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã tha thứ tội lỗi cho nàng, Ngài đã gọi người anh yêu dấu của nàng ra khỏi mồ mả, và lòng Ma-ri tràn đầy sự biết ơn. Nàng đã nghe Đức Chúa Giê-su nói về sự chết sắp đến của Ngài, và trong tình yêu thương sâu đậm cùng nỗi buồn rầu, nàng ao ước tỏ lòng tôn kính Ngài. Với một sự hy sinh lớn lao của bản thân, nàng đã mua một bình ngọc đựng “dầu cam tùng hương rất quý giá”, để xức cho thân Ngài. Nhưng bấy giờ nhiều người đang tuyên bố rằng Ngài sắp được tôn lên làm vua. Nỗi buồn rầu của nàng đã đổi thành niềm vui, và nàng nóng lòng được là người đầu tiên tôn kính Chúa mình. Đập bể bình dầu thơm, nàng đổ hết lên đầu và chân của Đức Chúa Giê-su; rồi khi quỳ xuống khóc lóc, lấy nước mắt làm ướt chân Ngài, nàng lấy mái tóc dài xõa của mình mà lau chân Ngài. DA 558.4

Nàng đã cố tránh sự để ý, và cử chỉ của nàng có thể qua đi không ai chú ý, nhưng dầu thơm tỏa hương ngào ngạt khắp phòng, và làm cho việc làm của nàng lộ ra cho hết thảy những ai có mặt. Giu-đa nhìn việc làm này với lòng rất bất bình. Thay vì chờ nghe Đấng Christ sẽ nói gì về việc đó, hắn bắt đầu thì thầm những lời phàn nàn với những người ngồi gần, đổ lời trách móc lên Đấng Christ vì đã để cho sự phí phạm như thế. Một cách xảo quyệt, hắn đưa ra những gợi ý có thể gây nên sự bất mãn. DA 559.1

Giu-đa là người giữ túi bạc cho các môn đồ, và từ số tiền ít ỏi của họ, hắn đã lén rút ra dùng cho riêng mình, khiến nguồn quỹ của họ thu hẹp lại còn một số tiền còm cõi. Hắn hăm hở bỏ vào túi tất cả những gì có thể kiếm được. Tiền trong túi thường được rút ra để cứu giúp người nghèo; và khi có thứ gì mà Giu-đa cho là không cần thiết được mua, hắn thường nói, Sao lại phí phạm như vậy? Sao không bỏ giá trị của thứ này vào cái túi mà ta giữ cho người nghèo? Bấy giờ việc làm của Ma-ri tương phản hết sức rõ rệt với lòng ích kỷ của hắn đến nỗi hắn phải hổ thẹn; và theo thói quen của mình, hắn tìm cách gán một động cơ cao thượng cho sự phản đối của hắn đối với món quà của nàng. Quay sang các môn đồ, hắn hỏi, “Sao không bán dầu thơm đó lấy ba trăm đơ-ni-ê đặng bố thí cho kẻ nghèo? Hắn nói vậy, chẳng phải lo cho kẻ nghèo đâu, song vì hắn là kẻ trộm, và giữ túi bạc, trộm lấy của người ta để ở trong.” Giu-đa chẳng có lòng nào đối với người nghèo. Nếu dầu thơm của Ma-ri được bán đi, và số tiền rơi vào tay hắn, thì người nghèo cũng chẳng được lợi ích gì. DA 559.2

Giu-đa tự cao về tài quản trị của mình. Là một người quản lý tài chánh, hắn tự cho mình vượt trội hơn nhiều so với các bạn đồng môn, và hắn đã khiến họ cũng nhìn hắn như vậy. Hắn đã chiếm được lòng tin của họ, và có ảnh hưởng mạnh mẽ trên họ. Lòng thương xót giả tạo của hắn đối với người nghèo đã đánh lừa họ, và lời bóng gió tinh ranh của hắn khiến họ nhìn lòng tận tụy của Ma-ri với con mắt ngờ vực. Lời lằm bằm lan truyền quanh bàn tiệc, “Sao lại phí phạm như vậy? Vì dầu thơm này có thể bán được nhiều tiền mà bố thí cho kẻ nghèo.” DA 559.3

Ma-ri nghe những lời chỉ trích. Lòng nàng run rẩy trong mình. Nàng sợ chị mình sẽ trách móc nàng về sự xa xỉ. Thầy nàng cũng có thể nghĩ nàng là kẻ hoang phí. Không phân trần hay biện hộ, nàng đang sắp lui đi, thì tiếng của Chúa nàng được nghe lên, “Hãy để mặc người; sao các ngươi làm rầy người mà chi?” Ngài thấy nàng bối rối và đau khổ. Ngài biết rằng trong hành động phục vụ này, nàng đã bày tỏ lòng biết ơn về sự tha thứ tội lỗi của mình, và Ngài đem lại sự an ủi cho tâm trí nàng. Cất cao tiếng mình trên những lời chỉ trích lằm bằm, Ngài phán, “Người đã làm một việc tốt cho ta. Vì các ngươi thường có kẻ nghèo ở cùng mình, khi nào muốn làm phước cho họ cũng được; nhưng các ngươi chẳng có ta ở luôn với đâu. Người đã làm điều mình có thể làm được: người đã xức xác cho ta trước để chôn.” DA 560.1

Món quà thơm ngát mà Ma-ri đã định đổ lên thân thể đã chết của Đấng Cứu Thế, thì nay nàng lại đổ lên hình hài đang sống của Ngài. Nếu để dùng cho việc chôn cất, hương thơm của nó chỉ có thể tỏa lan trong ngôi mộ; còn bây giờ, nó làm vui lòng Ngài bằng sự bảo đảm về đức tin và tình yêu thương của nàng. Giô-sép người A-ri-ma-thê và Ni-cô-đem đã không dâng món quà yêu thương của họ cho Đức Chúa Giê-su khi Ngài còn sống. Với những giọt nước mắt cay đắng, họ đã đem các hương liệu quý giá đến cho thân thể lạnh lẽo, vô tri của Ngài. Những người phụ nữ đem hương liệu đến mộ thì thấy công việc của họ trở nên vô ích, vì Ngài đã sống lại. Nhưng Ma-ri, khi đổ tình yêu thương của nàng trên Đấng Cứu Thế trong lúc Ngài còn ý thức được lòng tận tụy của nàng, là đã xức dầu cho Ngài để chuẩn bị cho sự chôn cất. Và khi Ngài bước vào sự tối tăm của cơn thử thách lớn lao của Ngài, Ngài đã mang theo ký ức về việc làm đó, một bằng chứng đầu tiên về tình yêu thương mà Ngài sẽ nhận được từ những người được cứu chuộc của Ngài mãi mãi. DA 560.2

Có nhiều người đem những món quà quý giá của họ cho người đã chết. Khi họ đứng quanh hình hài lạnh lẽo, im lìm, những lời yêu thương được thốt ra một cách tự do. Sự dịu dàng, lòng quý mến, sự tận tụy, tất cả đều được trút ra cho một người không thấy cũng chẳng nghe. Giá như những lời ấy được nói ra khi tâm hồn mỏi mệt cần đến chúng biết bao, khi tai còn có thể nghe và lòng còn có thể cảm nhận, thì hương thơm của chúng quý báu biết dường nào! DA 560.3

Ma-ri không biết hết ý nghĩa trọn vẹn của việc làm yêu thương của mình. Nàng không thể trả lời những kẻ tố cáo mình. Nàng không thể giải thích tại sao nàng đã chọn dịp đó để xức dầu cho Đức Chúa Giê-su. Đức Thánh Linh đã hoạch định cho nàng, và nàng đã vâng theo sự thúc giục của Ngài. Sự cảm thúc chẳng cúi xuống để đưa ra lý do nào. Là một sự hiện diện vô hình, nó nói với tâm trí và linh hồn, và làm động lòng người ta hành động. Nó tự là sự biện minh cho chính mình. DA 560.4

Đấng Christ đã nói cho Ma-ri biết ý nghĩa của việc nàng làm, và trong điều này Ngài đã ban cho nàng nhiều hơn những gì Ngài đã nhận. Ngài phán: “Người đổ dầu thơm trên mình ta là để sửa soạn chôn xác ta đó.” Như cái bình ngọc bị đập vỡ và làm cho cả nhà thơm ngát hương dầu, thì Đấng Christ cũng phải chết, thân thể Ngài phải bị tan vỡ; nhưng Ngài phải sống lại từ ngôi mộ, và hương thơm của đời sống Ngài phải lan tỏa khắp đất. Đấng Christ “đã yêu thương chúng ta, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thức hương có mùi thơm.”

“hãy bước đi trong sự yêu thương, cũng như Đấng Cơ-đốc đã yêu thương anh em, và vì chúng ta phó chính mình Ngài cho Đức Chúa Trời làm của dâng và của tế lễ, như một thức hương có mùi thơm.” (Ê-phê-sô 5:2)

DA 560.5

Đấng Christ tuyên bố: “Quả thật, ta nói cùng các ngươi, nếu Tin Lành nầy được giảng ra khắp cả thế gian, thì cũng thuật lại việc người ấy đã làm để nhớ đến người.” Nhìn vào tương lai, Đấng Cứu Thế đã nói cách chắc chắn về tin lành của Ngài. Nó sẽ được giảng ra khắp thế gian. Và tin lành lan đến đâu, thì món quà của Ma-ri sẽ tỏa hương thơm đến đó, và nhiều tấm lòng sẽ được ban phước qua việc làm không tính toán của nàng. Các vương quốc sẽ nổi lên rồi sụp đổ; tên của các vua chúa và những kẻ chinh phục sẽ bị lãng quên; nhưng việc làm của người phụ nữ này sẽ được lưu danh muôn đời trên những trang sử thánh. Cho đến khi thời gian không còn nữa, cái bình ngọc vỡ ấy sẽ kể lại câu chuyện về tình yêu thương dư dật của Đức Chúa Trời dành cho nhân loại sa ngã. DA 563.1

Việc làm của Ma-ri tương phản rõ rệt với điều mà Giu-đa sắp làm. Đấng Christ có thể đã ban một bài học sâu cay biết bao cho kẻ đã gieo hạt giống chỉ trích và tư tưởng xấu xa vào tâm trí các môn đồ! Kẻ tố cáo lẽ ra đã bị tố cáo một cách công bằng biết bao! Đấng đọc thấu động cơ của mỗi tấm lòng và hiểu rõ mọi hành động, lẽ ra đã có thể mở ra trước những người dự tiệc những chương tối tăm trong cuộc đời của Giu-đa. Sự giả vờ rỗng tuếch mà kẻ phản bội dựa vào để nói những lời ấy lẽ ra đã có thể bị phơi bày; bởi vì, thay vì thương xót người nghèo, hắn lại cướp đi số tiền dùng để cứu giúp họ. Sự phẫn nộ lẽ ra đã có thể dấy lên chống lại hắn vì sự áp bức của hắn đối với người góa bụa, kẻ mồ côi, và người làm thuê. Nhưng nếu Đấng Christ lột mặt nạ Giu-đa, thì điều này lẽ ra đã bị viện ra làm cớ cho sự phản bội. Và dù bị buộc tội là kẻ trộm, Giu-đa lẽ ra đã giành được sự thương cảm, ngay cả giữa vòng các môn đồ. Đấng Cứu Thế đã không quở trách hắn, và như vậy tránh việc cho hắn một cái cớ cho sự phản trắc của hắn. DA 563.2

Nhưng cái nhìn mà Đức Chúa Giê-su đặt trên Giu-đa đã khiến hắn tin chắc rằng Đấng Cứu Thế đã thấu suốt sự giả hình của hắn, và đọc được bản tính thấp hèn, đáng khinh của hắn. Và khi khen ngợi hành động của Ma-ri, là điều đã bị lên án nặng nề, Đấng Christ đã quở trách Giu-đa. Trước đó, Đấng Cứu Thế chưa bao giờ quở trách hắn cách trực tiếp. Bây giờ lời quở trách làm hắn nhức nhối trong lòng. Hắn quyết định trả thù. Từ bữa tiệc, hắn đi thẳng đến cung điện của thầy cả thượng phẩm, nơi hắn thấy hội đồng đang nhóm họp, và hắn ngỏ ý phản nộp Đức Chúa Giê-su vào tay họ. DA 563.3

Các thầy tế lễ vui mừng khôn xiết. Những nhà lãnh đạo Y-sơ-ra-ên này đã được ban cho đặc ân tiếp nhận Đấng Christ làm Đấng Cứu Thế của họ, không cần tiền bạc, không cần trả giá. Nhưng họ đã chối từ món quà quý giá được dâng cho họ trong tinh thần dịu dàng nhất của tình yêu thương đầy thúc giục. Họ từ chối tiếp nhận sự cứu rỗi quý hơn vàng ấy, và mua Chúa của họ với giá ba mươi miếng bạc. DA 564.1

Giu-đa đã chiều theo lòng tham lam cho đến khi nó lấn át mọi đức tính tốt đẹp trong bản tính của hắn. Hắn tiếc rẻ lễ vật dâng cho Đức Chúa Giê-su. Lòng hắn cháy bừng với sự ghen tị rằng Đấng Cứu Thế lại là người nhận một món quà xứng đáng cho các vua chúa trên đất. Với một số tiền ít hơn nhiều so với giá của bình dầu thơm, hắn đã phản bội Chúa của mình. DA 564.2

Các môn đồ không giống như Giu-đa. Họ yêu mến Đấng Cứu Thế. Nhưng họ không nhận biết đúng đắn bản tính cao cả của Ngài. Giá như họ nhận ra điều Ngài đã làm cho họ, họ sẽ cảm thấy rằng không có gì dâng cho Ngài là phí hoài cả. Những nhà thông thái từ phương Đông, là những người biết rất ít về Đức Chúa Giê-su, đã tỏ ra một sự trân trọng chân thật hơn đối với vinh dự đáng dành cho Ngài. Họ đem những món quà quý giá đến cho Đấng Cứu Thế, và cúi mình tôn kính trước Ngài khi Ngài chỉ là một hài nhi, nằm trong máng cỏ. DA 564.3

Đấng Christ trân quý những hành động lịch thiệp xuất phát từ tấm lòng. Khi ai làm ơn cho Ngài, với phép lịch sự thiên thượng Ngài ban phước cho người ấy. Ngài không từ chối bông hoa đơn sơ nhất do tay một em bé hái và dâng cho Ngài trong tình yêu thương. Ngài tiếp nhận những lễ vật của trẻ em, và ban phước cho những người dâng, ghi tên họ vào sách sự sống. Trong Kinh Thánh, việc Ma-ri xức dầu cho Đức Chúa Giê-su được nhắc đến để phân biệt nàng với những người Ma-ri khác. Những hành động yêu thương và tôn kính Đức Chúa Giê-su là bằng chứng của đức tin nơi Ngài là Con Đức Chúa Trời. Và Đức Thánh Linh nêu ra, làm bằng chứng về lòng trung thành của người phụ nữ đối với Đấng Christ: “Nếu từng rửa chân các thánh đồ, cứu giúp kẻ khốn nạn, và làm đủ các việc phước đức.”

“phải là người được tiếng khen vì việc phước đức mình, như đã nuôi con cái, đãi đằng khách lạ, rửa chân thánh đồ, cứu giúp kẻ khốn nạn, và làm đủ các việc phước đức.” (I Ti-mô-thê 5:10)

DA 564.4

Đấng Christ vui thỏa trong ước muốn tha thiết của Ma-ri được làm theo ý muốn của Chúa mình. Ngài đã tiếp nhận sự dư dật của tình thương trong sạch mà các môn đồ đã không, và sẽ không, hiểu được. Ước muốn của Ma-ri được làm sự phục vụ này cho Chúa mình thì quý giá đối với Đấng Christ hơn tất cả dầu thơm quý báu trên thế gian, vì nó bày tỏ lòng quý mến của nàng đối với Đấng Cứu Chuộc thế gian. Chính tình yêu thương của Đấng Christ đã thúc giục nàng. Sự tuyệt hảo vô song trong bản tính của Đấng Christ đã làm đầy linh hồn nàng. Dầu thơm ấy là một biểu tượng của tấm lòng người dâng. Nó là sự thể hiện ra bên ngoài của một tình yêu được nuôi dưỡng bởi những dòng suối thiên thượng cho đến khi tràn đầy. DA 564.5

Việc làm của Ma-ri chính là bài học mà các môn đồ cần đến để cho họ thấy rằng sự bày tỏ tình yêu thương của họ đối với Ngài sẽ làm đẹp lòng Đấng Christ. Ngài đã là tất cả đối với họ, và họ không nhận ra rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ bị tước mất sự hiện diện của Ngài, rằng chẳng bao lâu nữa họ sẽ không thể dâng cho Ngài bất cứ dấu hiệu nào về lòng biết ơn của họ đối với tình yêu thương lớn lao của Ngài. Sự cô đơn của Đấng Christ, lìa khỏi các triều đình thiên thượng, sống cuộc đời nhân loại, chưa bao giờ được các môn đồ hiểu hay trân trọng đúng như đáng phải có. Ngài thường buồn lòng vì các môn đồ Ngài không dâng cho Ngài điều mà lẽ ra Ngài phải nhận được từ họ. Ngài biết rằng nếu họ được ở dưới ảnh hưởng của các thiên sứ trên trời đã đồng hành cùng Ngài, thì họ cũng sẽ cho rằng không có lễ vật nào đủ giá trị để bày tỏ tình thương thuộc linh của tấm lòng. DA 565.1

Sự nhận biết muộn màng của họ đã cho họ một cảm giác chân thật về biết bao điều họ đáng lẽ đã có thể làm cho Đức Chúa Giê-su để bày tỏ tình yêu thương và lòng biết ơn trong lòng họ, trong khi họ còn ở gần Ngài. Khi Đức Chúa Giê-su không còn ở với họ nữa, và họ thật sự cảm thấy như chiên không có người chăn, họ bắt đầu thấy được rằng họ đáng lẽ đã có thể tỏ ra sự ân cần đối với Ngài để đem lại niềm vui cho lòng Ngài. Họ không còn đổ lỗi cho Ma-ri nữa, mà đổ lỗi cho chính mình. Ôi, ước gì họ có thể rút lại lời chỉ trích của mình, lời cho rằng người nghèo xứng đáng nhận món quà đó hơn Đấng Christ! Họ cảm thấy lời trách móc thấm thía khi hạ thân thể bầm dập của Chúa mình xuống khỏi thập tự giá. DA 565.2

Cùng một sự thiếu sót đó cũng rõ ràng trong thế gian ngày nay. Nhưng rất ít người trân trọng tất cả những gì Đấng Christ là đối với họ. Nếu họ làm vậy, thì tình yêu lớn lao của Ma-ri sẽ được bày tỏ, và sự xức dầu sẽ được dâng hiến cách rộng rãi. Loại dầu thơm đắt tiền ấy sẽ không bị gọi là sự lãng phí. Không có gì được xem là quá quý giá để dâng cho Đấng Christ, không có sự từ bỏ hay hy sinh bản thân nào là quá lớn để chịu đựng vì cớ Ngài. DA 565.3

Những lời nói ra trong cơn phẫn nộ, “Sao lại phí của như vậy?” đã đem đến trước mắt Đấng Christ cách sống động sự hy sinh lớn lao nhất từng được thực hiện—sự ban cho chính Ngài làm của lễ chuộc tội cho một thế gian hư mất. Chúa muốn rộng lượng với gia đình nhân loại của Ngài đến mức không ai có thể nói rằng Ngài đáng lẽ có thể làm nhiều hơn. Trong sự ban cho Đức Chúa Giê-su, Đức Chúa Trời đã ban cả thiên đàng. Theo quan điểm con người, sự hy sinh như vậy là một sự lãng phí vô độ. Theo lý luận của loài người, toàn bộ kế hoạch cứu rỗi là một sự lãng phí lòng thương xót và các nguồn lực. Sự từ bỏ bản thân và sự hy sinh trọn vẹn gặp chúng ta ở khắp mọi nơi. Thật phải lẽ khi cơ binh thiên đàng kinh ngạc nhìn vào gia đình nhân loại từ chối được nâng cao và làm cho giàu có bởi tình yêu vô biên được bày tỏ trong Đấng Christ. Thật phải lẽ khi họ thốt lên, Sao lại lãng phí lớn như vậy? DA 565.4

Nhưng sự chuộc tội cho một thế gian hư mất phải đầy đủ, dư dật và trọn vẹn. Của lễ của Đấng Christ vô cùng dư dật để vươn tới mỗi linh hồn mà Đức Chúa Trời đã tạo dựng. Nó không thể bị giới hạn để không vượt quá số người sẽ tiếp nhận món Quà lớn lao đó. Không phải tất cả mọi người đều được cứu; nhưng kế hoạch cứu chuộc không phải là sự lãng phí chỉ vì nó không hoàn thành tất cả những gì lòng quảng đại của nó đã dự liệu. Phải có đủ và dư ra. DA 565.5

Si-môn, người chủ nhà, đã bị ảnh hưởng bởi lời chỉ trích của Giu-đa đối với món quà của Ma-ri, và ông ngạc nhiên trước cách cư xử của Đức Chúa Giê-su. Sự kiêu ngạo của người Pha-ri-si trong ông bị xúc phạm. Ông biết rằng nhiều khách của mình đang nhìn Đấng Christ với sự nghi ngờ và bất mãn. Si-môn thầm nghĩ trong lòng, “Nếu người nầy là tiên tri, chắc biết người đờn bà rờ đến mình đó là ai, cùng biết ấy là người đờn bà xấu nết.” DA 566.1

Bằng việc chữa lành bệnh phung cho Si-môn, Đấng Christ đã cứu ông khỏi một cái chết sống. Nhưng giờ đây Si-môn lại nghi ngờ liệu Đấng Cứu Thế có phải là một tiên tri hay không. Vì Đấng Christ cho phép người đàn bà này đến gần Ngài, vì Ngài không phẫn nộ xua đuổi bà như một người mà tội lỗi quá lớn không thể tha thứ, vì Ngài không tỏ ra rằng Ngài nhận biết bà đã sa ngã, nên Si-môn bị cám dỗ nghĩ rằng Ngài không phải là tiên tri. Ông nghĩ, Đức Chúa Giê-su chẳng biết gì về người đàn bà này, là người tự do bày tỏ như vậy, nếu không Ngài đã chẳng cho phép bà rờ đến Ngài. DA 566.2

Nhưng chính sự thiếu hiểu biết của Si-môn về Đức Chúa Trời và về Đấng Christ đã khiến ông suy nghĩ như vậy. Ông không nhận ra rằng Con Đức Chúa Trời phải hành động theo đường lối của Đức Chúa Trời, với lòng trắc ẩn, dịu dàng và thương xót. Cách của Si-môn là chẳng để ý gì đến sự phục vụ ăn năn của Ma-ri. Hành động hôn chân Đấng Christ và xức dầu thơm lên chân Ngài là điều khiến lòng cứng cỏi của ông tức giận. Ông nghĩ rằng nếu Đấng Christ là tiên tri, thì Ngài sẽ nhận ra kẻ có tội và quở trách họ. DA 566.3

Đối với ý nghĩ thầm kín ấy, Đấng Cứu Thế đáp lại: “Hỡi Si-môn, ta có vài lời nói cùng ngươi… Một chủ nợ có hai người mắc nợ: một người mắc năm trăm đơ-ni-ê, một người mắc năm chục. Vì hai người đó không có chi mà trả, nên chủ nợ tha cả hai. Trong hai người đó, ai yêu chủ nợ hơn? Si-môn thưa rằng: Tôi tưởng là người mà chủ nợ đã tha nhiều nợ hơn. Đức Chúa Jêsus rằng: Ngươi đoán phải lắm.” DA 566.4

Như Na-than đã làm với Đa-vít, Đấng Christ giấu đòn đánh trúng đích của Ngài dưới tấm màn của một ẩn dụ. Ngài đặt lên người chủ nhà gánh nặng tự tuyên án cho chính mình. Si-môn đã dẫn người đàn bà mà giờ đây ông khinh thường vào tội lỗi. Bà đã bị ông làm tổn hại sâu sắc. Qua hai người mắc nợ trong ẩn dụ, Si-môn và người đàn bà được tượng trưng. Đức Chúa Giê-su không có ý dạy rằng hai người nên cảm thấy mức độ mắc nợ khác nhau, vì mỗi người đều mắc một món nợ biết ơn không bao giờ trả nổi. Nhưng Si-môn tự cho mình công bình hơn Ma-ri, và Đức Chúa Giê-su muốn ông thấy được thật ra tội lỗi của ông lớn đến dường nào. Ngài muốn cho ông thấy rằng tội của ông lớn hơn tội của bà, lớn hơn nhiều như món nợ năm trăm đơ-ni-ê vượt quá món nợ năm chục đơ-ni-ê. DA 566.5

Bấy giờ Si-môn bắt đầu thấy mình trong một ánh sáng mới. Ông thấy Ma-ri được nhìn nhận thế nào bởi Đấng vĩ đại hơn một tiên tri. Ông thấy rằng với con mắt tiên tri sắc bén, Đấng Christ đã đọc thấu lòng yêu thương và tận tụy của bà. Sự xấu hổ ập đến trên ông, và ông nhận ra rằng mình đang ở trước mặt một Đấng cao trọng hơn chính mình. DA 567.1

“Ta vào nhà ngươi,” Đấng Christ tiếp tục, “ngươi không cho nước rửa chân;” nhưng với nước mắt ăn năn, được thúc đẩy bởi tình yêu, Ma-ri đã rửa chân Ta, và lấy tóc mình mà lau. “Ngươi không hôn ta; nhưng người nầy,” người mà ngươi khinh thường, “từ khi ta vào, chẳng ngớt hôn chân ta.” Đấng Christ kể lại những cơ hội Si-môn đã có để bày tỏ tình yêu của ông đối với Chúa mình, và lòng trân trọng đối với những gì đã được làm cho ông. Cách rõ ràng, nhưng với sự lịch sự tế nhị, Đấng Cứu Thế bảo đảm với các môn đồ của Ngài rằng lòng Ngài đau buồn khi con cái Ngài bỏ bê việc tỏ lòng biết ơn đối với Ngài bằng lời nói và việc làm yêu thương. DA 567.2

Đấng Dò Xét Tấm Lòng đã đọc được động cơ dẫn đến hành động của Ma-ri, và Ngài cũng thấy tinh thần đã thúc đẩy lời nói của Si-môn. “Ngươi thấy đờn bà nầy không?” Ngài nói với ông. Bà là một kẻ có tội. “Ta nói cùng ngươi, tội lỗi đờn bà nầy nhiều lắm, đã được tha hết, vì người đã yêu mến nhiều; song kẻ được tha ít thì yêu mến ít.” DA 567.3

Sự lạnh lùng và lơ là của Si-môn đối với Đấng Cứu Thế cho thấy ông trân trọng lòng thương xót mình đã nhận được ít ỏi đến dường nào. Ông đã nghĩ mình tôn kính Đức Chúa Giê-su bằng cách mời Ngài đến nhà mình. Nhưng giờ đây ông thấy mình thật sự là gì. Trong khi ông tưởng mình đang đọc vị vị Khách của mình, thì vị Khách lại đang đọc thấu lòng ông. Ông thấy lời phán xét của Đấng Christ về ông chân thật biết bao. Tôn giáo của ông chỉ là chiếc áo choàng của thói Pha-ri-si. Ông đã khinh thường lòng trắc ẩn của Đức Chúa Giê-su. Ông đã không nhận biết Ngài là Đấng đại diện cho Đức Chúa Trời. Trong khi Ma-ri là kẻ có tội được tha thứ, thì ông là kẻ có tội chưa được tha. Quy tắc nghiêm khắc của công lý mà ông muốn áp dụng đối với bà lại lên án chính ông. DA 567.4

Si-môn cảm động trước lòng nhân từ của Đức Chúa Giê-su khi Ngài không công khai quở trách ông trước mặt các khách. Ông đã không bị đối xử như cách ông muốn Ma-ri bị đối xử. Ông thấy rằng Đức Chúa Giê-su không muốn phơi bày tội lỗi của ông cho người khác, nhưng tìm cách thuyết phục tâm trí ông bằng một lời trình bày chân thật về sự việc, và chinh phục tấm lòng ông bằng lòng nhân từ thương xót. Lời lên án nghiêm khắc đáng lẽ đã khiến Si-môn cứng lòng chống lại sự ăn năn, nhưng lời khuyên răn kiên nhẫn đã thuyết phục ông về sai lầm của mình. Ông thấy được sự lớn lao của món nợ ông mắc với Chúa mình. Sự kiêu ngạo của ông bị hạ xuống, ông ăn năn, và người Pha-ri-si kiêu hãnh trở thành một môn đồ khiêm nhường, biết hy sinh chính mình. DA 567.5

Ma-ri đã bị xem là một kẻ tội lỗi nặng nề, nhưng Đấng Christ biết những hoàn cảnh đã định hình đời sống bà. Ngài đáng lẽ có thể dập tắt mọi tia hy vọng trong linh hồn bà, nhưng Ngài đã không làm vậy. Chính Ngài là Đấng đã nâng bà lên khỏi sự tuyệt vọng và đổ nát. Bảy lần bà đã nghe Ngài quở trách các quỷ kiểm soát lòng và trí bà. Bà đã nghe tiếng kêu mạnh mẽ của Ngài thưa lên Đức Chúa Cha thay cho bà. Bà biết tội lỗi đáng ghê tởm dường nào đối với sự thanh khiết không tì vết của Ngài, và trong sức mạnh của Ngài, bà đã chiến thắng. DA 568.1

Khi dưới mắt loài người, trường hợp của bà dường như vô vọng, thì Đấng Christ lại nhìn thấy nơi Ma-ri những khả năng hướng thiện. Ngài nhìn thấy những nét tốt đẹp hơn trong tánh hạnh của bà. Kế hoạch cứu chuộc đã ban cho nhân loại những khả năng lớn lao, và nơi Ma-ri những khả năng ấy sẽ được thực hiện. Nhờ ân điển của Ngài, bà trở nên người dự phần vào bổn tánh thiêng liêng. Người đã sa ngã, người mà tâm trí từng là nơi ở của ma quỷ, được đem đến rất gần Đấng Cứu Thế trong sự thông công và phục vụ. Chính Ma-ri là người đã ngồi dưới chân Ngài và học hỏi nơi Ngài. Chính Ma-ri là người đã đổ dầu thơm quý giá trên đầu Ngài, và lấy nước mắt rửa chân Ngài. Ma-ri đã đứng bên thập tự giá, và theo Ngài đến mộ. Ma-ri là người đầu tiên có mặt tại ngôi mộ sau khi Ngài sống lại. Chính Ma-ri là người đầu tiên rao truyền về một Đấng Cứu Thế đã phục sinh. DA 568.2

Đức Chúa Giê-su biết rõ hoàn cảnh của mỗi linh hồn. Bạn có thể nói rằng: Tôi là kẻ tội lỗi, tội lỗi lắm. Có thể bạn là như vậy; nhưng bạn càng xấu xa bao nhiêu, bạn càng cần Đức Chúa Giê-su bấy nhiêu. Ngài không xua đuổi một người than khóc, ăn năn nào cả. Ngài không nói cho bất cứ ai biết tất cả những gì Ngài có thể tỏ ra, nhưng Ngài truyền cho mỗi linh hồn run rẩy hãy can đảm lên. Ngài sẽ vui lòng tha thứ cho tất cả những ai đến cùng Ngài để được tha tội và phục hồi. DA 568.3

Đấng Christ có thể truyền cho các thiên sứ trên trời đổ những chén thạnh nộ của Ngài trên thế gian chúng ta, để hủy diệt những kẻ đầy lòng thù ghét Đức Chúa Trời. Ngài có thể xóa sạch vết nhơ tăm tối này khỏi vũ trụ của Ngài. Nhưng Ngài không làm như vậy. Ngày nay Ngài đang đứng tại bàn thờ xông hương, dâng lên trước Đức Chúa Trời những lời cầu nguyện của những ai mong muốn sự giúp đỡ của Ngài. DA 568.4

Những linh hồn quay về cùng Ngài để tìm nơi nương náu, Đức Chúa Giê-su nâng họ lên trên những lời cáo buộc và sự tranh cãi của môi miệng. Không một người nào hay thiên sứ ác nào có thể buộc tội những linh hồn này. Đấng Christ kết hiệp họ vào bổn tánh thần-nhân của chính Ngài. Họ đứng bên cạnh Đấng Mang Tội Lớn, trong ánh sáng phát ra từ ngôi Đức Chúa Trời.

“Ai sẽ kiện kẻ lựa chọn của Đức Chúa Trời? Đức Chúa Trời là Đấng xưng công bình những kẻ ấy. Ai sẽ lên án họ ư? Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc là Đấng đã chết, và cũng đã sống lại nữa, Ngài đang ngự bên hữu Đức Chúa Trời, cầu nguyện thế cho chúng ta.” (Rô-ma 8:33,34)

DA 568.5