Những Âm Mưu Của Thầy Tế Lễ

Chương này dựa trên Giăng 11:47-54. DA 537.1

Bê-tha-ni gần thành Giê-ru-sa-lem đến nỗi tin tức về việc La-xa-rơ sống lại chẳng bao lâu đã được loan truyền đến thành. Qua những kẻ do thám đã chứng kiến phép lạ, các nhà cầm quyền Do Thái nhanh chóng nắm được sự việc. Một cuộc họp của Tòa Công Luận lập tức được triệu tập để quyết định phải làm gì. Bấy giờ Đấng Christ đã hoàn toàn bày tỏ quyền kiểm soát của Ngài trên sự chết và mồ mả. Phép lạ trọng đại ấy là bằng chứng tột đỉnh mà Đức Chúa Trời ban cho loài người để chứng tỏ rằng Ngài đã sai Con Ngài vào thế gian để cứu rỗi họ. Đó là một sự biểu lộ quyền năng thiêng liêng đủ để thuyết phục mọi tâm trí đang chịu sự chi phối của lý trí và lương tâm được soi sáng. Nhiều người chứng kiến sự sống lại của La-xa-rơ đã được dẫn dắt để tin nơi Đức Chúa Giê-su. Nhưng lòng căm ghét của các thầy tế lễ đối với Ngài lại càng gay gắt thêm. Họ đã chối bỏ mọi bằng chứng nhỏ hơn về thần tính của Ngài, và họ chỉ thêm phẫn nộ trước phép lạ mới này. Người chết đã được làm cho sống lại giữa ban ngày, trước một đám đông nhân chứng. Không một mưu mẹo nào có thể giải thích đi bằng chứng như thế. Chính vì lẽ đó mà lòng thù nghịch của các thầy tế lễ càng trở nên chết người hơn. Họ quyết tâm hơn bao giờ hết phải chấm dứt công việc của Đấng Christ. DA 537.2

Người Sa-đu-sê, dù không có thiện cảm với Đấng Christ, nhưng không đầy lòng hiểm độc đối với Ngài như người Pha-ri-si. Lòng căm ghét của họ không cay đắng đến thế. Nhưng giờ đây họ hoàn toàn hoảng sợ. Họ không tin vào sự sống lại của kẻ chết. Viện dẫn cái gọi là khoa học, họ đã lập luận rằng việc một thân thể chết được đem trở lại sự sống là điều không thể nào có được. Nhưng chỉ với vài lời của Đấng Christ, lý thuyết của họ đã bị lật đổ. Họ bị tỏ ra là không hiểu biết cả Kinh Thánh lẫn quyền năng của Đức Chúa Trời. Họ chẳng thấy cách nào có thể xóa bỏ ấn tượng mà phép lạ đã in sâu trong lòng dân chúng. Làm sao có thể khiến người ta lìa bỏ Đấng đã thắng được để giật khỏi mồ mả kẻ chết của nó? Những lời báo cáo dối trá được loan ra, nhưng phép lạ không thể chối cãi được, và họ chẳng biết làm thế nào để phản tác dụng của nó. Cho đến lúc ấy, người Sa-đu-sê chưa cổ vũ kế hoạch giết Đấng Christ. Nhưng sau sự sống lại của La-xa-rơ, họ quyết định rằng chỉ có cái chết của Ngài mới có thể chấm dứt những lời tố cáo dạn dĩ của Ngài chống lại họ. DA 537.3

Người Pha-ri-si tin vào sự sống lại, và họ không thể không nhận thấy rằng phép lạ này là một bằng chứng cho thấy Đấng Mê-si đang ở giữa họ. Nhưng họ luôn chống đối công việc của Đấng Christ. Ngay từ đầu họ đã căm ghét Ngài vì Ngài đã vạch trần những điều giả hình của họ. Ngài đã xé tan tấm áo choàng của các nghi lễ khắt khe mà dưới đó sự xấu xa đạo đức của họ ẩn náu. Tôn giáo thanh sạch mà Ngài giảng dạy đã lên án sự xưng nhận giả dối về lòng tin kính của họ. Họ khao khát trả thù Ngài vì những lời quở trách thẳng thắn của Ngài. Họ đã cố khiêu khích Ngài nói hay làm điều gì để có cớ lên án Ngài. Đôi ba lần họ đã toan ném đá Ngài, nhưng Ngài lặng lẽ lánh đi, và họ đã không thấy Ngài đâu nữa. DA 538.1

Những phép lạ Ngài làm trong ngày Sa-bát đều nhằm cứu giúp kẻ khổ đau, nhưng người Pha-ri-si lại tìm cách lên án Ngài là kẻ phạm ngày Sa-bát. Họ đã cố khích động đảng Hê-rốt chống lại Ngài. Họ trình bày rằng Ngài đang tìm cách lập một vương quốc đối nghịch, và bàn bạc với họ cách tiêu diệt Ngài. Để xúi giục người La-mã chống lại Ngài, họ đã trình bày Ngài như đang tìm cách lật đổ quyền lực của họ. Họ đã thử mọi cớ để ngăn không cho Ngài ảnh hưởng đến dân chúng. Nhưng cho đến lúc ấy, mọi mưu toan của họ đều thất bại. Đoàn dân đông chứng kiến những việc làm thương xót của Ngài và nghe những lời dạy thanh sạch, thánh khiết của Ngài đều biết rằng đó không phải là việc làm và lời nói của một kẻ phạm ngày Sa-bát hay kẻ lộng ngôn. Ngay cả những lính lệ mà người Pha-ri-si sai đến cũng bị lời Ngài ảnh hưởng đến nỗi không thể bắt Ngài. Trong cơn tuyệt vọng, cuối cùng người Do Thái đã ban một sắc lệnh rằng bất cứ ai xưng nhận đức tin nơi Đức Chúa Giê-su đều sẽ bị đuổi khỏi nhà hội. DA 538.2

Vì vậy, khi các thầy tế lễ, các nhà cầm quyền và các trưởng lão nhóm lại bàn luận, họ có một quyết tâm vững chắc là làm cho im bặt Đấng đã làm những việc kỳ diệu khiến mọi người kinh ngạc. Người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê liên kết với nhau khắng khít hơn bao giờ hết. Từ trước vốn chia rẽ, nay họ trở nên một trong sự chống đối Đấng Christ. Trong những hội đồng trước đây, Ni-cô-đem và Giô-sép đã ngăn cản việc lên án Đức Chúa Giê-su, và vì lẽ đó, lần này họ không được triệu tập. Có mặt tại hội đồng còn có những người có thế lực khác tin nơi Đức Chúa Giê-su, nhưng ảnh hưởng của họ chẳng làm gì được trước ảnh hưởng của những người Pha-ri-si hiểm độc. DA 538.3

Tuy nhiên, các thành viên của hội đồng không phải đều đồng lòng. Tòa Công Luận vào thời điểm ấy không phải là một hội đồng hợp pháp. Nó tồn tại chỉ nhờ được dung thứ. Một số thành viên nghi ngờ về sự khôn ngoan của việc giết Đấng Christ. Họ sợ rằng điều này sẽ khích động một cuộc nổi loạn trong dân chúng, khiến người La-mã không còn ưu ái chức tế lễ nữa, và tước đi quyền lực mà họ vẫn còn nắm giữ. Người Sa-đu-sê hiệp nhau trong lòng căm ghét Đấng Christ, nhưng họ có khuynh hướng thận trọng trong hành động của mình, vì sợ người La-mã sẽ tước mất địa vị cao trọng của họ. DA 539.1

Trong hội đồng này, nhóm lại để mưu định cái chết của Đấng Christ, có một Nhân Chứng hiện diện, là Đấng đã nghe những lời khoe khoang của Nê-bu-cát-nết-sa, đã chứng kiến tiệc thờ thần tượng của Bên-xát-sa, đã có mặt khi Đấng Christ tại Na-xa-rét tuyên bố chính Ngài là Đấng Được Xức Dầu. Nhân Chứng này giờ đây đang khiến các nhà cầm quyền ý thức về việc họ đang làm. Những biến cố trong đời sống Đấng Christ hiện ra trước mắt họ với một sự rõ ràng khiến họ kinh hãi. Họ nhớ lại cảnh trong đền thờ, khi Đức Chúa Giê-su, lúc đó là một cậu bé mười hai tuổi, đứng trước các tấn sĩ uyên bác về luật pháp, đặt cho họ những câu hỏi khiến họ phải kinh ngạc. Phép lạ vừa được thực hiện làm chứng rằng Đức Chúa Giê-su chẳng phải ai khác hơn là Con Đức Chúa Trời. Trong ý nghĩa chân thật của chúng, những lời Kinh Thánh Cựu Ước về Đấng Christ lóe lên trong tâm trí họ. Bối rối và lo âu, các nhà cầm quyền hỏi: “Chúng ta làm gì đây?” Có một sự chia rẽ trong hội đồng. Dưới ấn tượng của Đức Thánh Linh, các thầy tế lễ và các nhà cầm quyền không thể xua đuổi niềm tin chắc rằng họ đang chống lại Đức Chúa Trời. DA 539.2

Trong khi hội đồng đang ở đỉnh cao của sự bối rối, Cai-phe, thầy cả thượng phẩm, đứng dậy. Cai-phe là một người kiêu căng và độc ác, hống hách và bất khoan dung. Trong vòng những người thân của ông có những người Sa-đu-sê, kiêu ngạo, táo bạo, liều lĩnh, đầy tham vọng và độc ác, mà họ giấu dưới tấm áo choàng của sự công bình giả tạo. Cai-phe đã nghiên cứu các lời tiên tri, và mặc dầu không hiểu được ý nghĩa chân thật của chúng, ông nói với đầy uy quyền và quả quyết: “Các ngươi chẳng biết gì hết, cũng chẳng xét rằng thà một người vì dân chịu chết, còn hơn cả nước bị hư mất.” Thầy cả thượng phẩm nài rằng, dù cho Đức Chúa Giê-su vô tội đi nữa, thì Ngài cũng phải bị diệt trừ. Ngài gây phiền nhiễu, lôi kéo dân chúng về phía mình, và làm giảm uy quyền của các nhà cầm quyền. Ngài chỉ có một mình; thà Ngài chết còn hơn để uy quyền của các nhà cầm quyền bị suy yếu. Nếu dân chúng mất lòng tin nơi các nhà cầm quyền của họ, thì quyền lực quốc gia sẽ bị tiêu diệt. Cai-phe nài rằng sau phép lạ này, những kẻ theo Đức Chúa Giê-su rất có thể sẽ nổi lên làm loạn. Bấy giờ người La-mã sẽ đến, ông nói, và sẽ đóng cửa đền thờ chúng ta, hủy bỏ luật pháp chúng ta, tiêu diệt chúng ta như một dân tộc. Mạng sống của người Ga-li-lê này có giá trị gì so với mạng sống của cả dân tộc? Nếu Ngài cản trở phúc lợi của Y-sơ-ra-ên, thì chẳng phải việc trừ khử Ngài là phục vụ cho Đức Chúa Trời sao? Thà một người chết còn hơn cả dân tộc bị tiêu diệt. DA 539.3

Khi tuyên bố rằng một người phải chết vì dân tộc, Cai-phe cho thấy rằng ông có chút hiểu biết về các lời tiên tri, dù rất giới hạn. Nhưng Giăng, trong lời tường thuật cảnh này, đã tiếp nối lời tiên tri ấy và bày tỏ ý nghĩa rộng lớn và sâu xa của nó. Ông nói: “Và không những vì dân tộc đó thôi, lại để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn.” Cai-phe kiêu ngạo đã mù quáng thừa nhận sứ mạng của Đấng Cứu Thế biết bao! DA 540.1

Trên môi miệng Cai-phe, lẽ thật quý báu nhất này đã bị biến thành lời dối trá. Chính sách ông cổ vũ dựa trên một nguyên tắc vay mượn từ tà giáo. Trong vòng dân tà giáo, ý thức mơ hồ rằng một người phải chết thay cho cả loài người đã dẫn đến việc dâng người làm sinh tế. Vì vậy, Cai-phe đề nghị nhờ sự hy sinh của Đức Chúa Giê-su để cứu dân tộc tội lỗi này, không phải khỏi sự vi phạm, nhưng trong sự vi phạm, để họ có thể tiếp tục sống trong tội lỗi. Và bằng lập luận của mình, ông tưởng rằng có thể làm im bặt những lời phản đối của những kẻ dám nói rằng cho đến lúc ấy chưa tìm thấy nơi Đức Chúa Giê-su điều gì đáng tội chết. DA 540.2

Tại buổi hội nghị này, các kẻ thù của Đấng Christ đã bị cáo trách sâu sắc. Đức Thánh Linh đã cảm động tâm trí họ. Nhưng Sa-tan ra sức giành quyền kiểm soát họ. Hắn nhắc nhở họ về những nỗi bất bình mà họ phải chịu đựng vì cớ Đấng Christ. Ngài đã coi thường sự công bình của họ biết bao. Ngài đã trình bày một sự công bình lớn lao hơn nhiều, mà tất cả những ai muốn làm con cái Đức Chúa Trời đều phải có. Không màng đến các nghi thức và lễ nghi của họ, Ngài đã khích lệ những kẻ tội lỗi đến thẳng với Đức Chúa Trời như một Cha nhân từ, và bày tỏ những nhu cầu của họ. Như vậy, theo quan điểm của họ, Ngài đã gạt bỏ chức tế lễ. Ngài đã khước từ việc thừa nhận thần học của các trường phái thầy thông giáo. Ngài đã phơi bày những việc làm gian ác của các thầy tế lễ, và đã làm tổn hại không thể cứu vãn đến ảnh hưởng của họ. Ngài đã làm giảm tác dụng những châm ngôn và truyền thống của họ, khi tuyên bố rằng dù họ nghiêm khắc thi hành luật lệ nghi thức, họ lại làm cho luật pháp của Đức Chúa Trời trở nên vô hiệu. Sa-tan bây giờ đem tất cả những điều này vào tâm trí họ. DA 540.3

Sa-tan bảo họ rằng để giữ vững quyền hành của mình, họ phải giết Đức Chúa Giê-su. Họ đã làm theo lời khuyên này. Sự kiện rằng họ có thể mất đi quyền lực mà họ đang nắm giữ, theo họ nghĩ, là lý do đủ để đi đến một quyết định nào đó. Ngoại trừ một số ít người không dám nói lên suy nghĩ của mình, hội đồng Tòa Công Luận tiếp nhận lời của Cai-phe như lời của Đức Chúa Trời. Sự nhẹ nhõm đến với buổi hội nghị; sự bất hòa chấm dứt. Họ quyết định giết Đấng Christ tại cơ hội thuận tiện đầu tiên. Khi chối bỏ bằng chứng về thần tánh của Đức Chúa Giê-su, các thầy tế lễ và những kẻ cầm quyền này đã tự nhốt mình trong bóng tối không thể xuyên thấu. Họ đã hoàn toàn rơi vào quyền lực của Sa-tan, để bị hắn xô đẩy qua bờ vực của sự diệt vong đời đời. Tuy nhiên, sự lừa dối của họ đến nỗi họ rất hài lòng về chính mình. Họ tự xem mình là những người yêu nước, đang tìm kiếm sự cứu rỗi cho dân tộc. DA 541.1

Tuy nhiên, Tòa Công Luận sợ phải dùng những biện pháp hấp tấp chống lại Đức Chúa Giê-su, e rằng dân chúng sẽ nổi giận, và sự bạo lực mà họ toan tính đối với Ngài sẽ giáng xuống chính họ. Vì lý do đó, hội đồng trì hoãn việc thi hành bản án mà họ đã tuyên. Đấng Cứu Thế hiểu rõ mưu kế của các thầy tế lễ. Ngài biết họ mong muốn loại trừ Ngài, và rằng mục đích của họ sẽ sớm được thực hiện. Nhưng đó không phải là lúc Ngài phải đẩy nhanh cơn khủng hoảng, nên Ngài rời khỏi vùng đó, đem các môn đồ đi cùng. Như vậy, bằng chính tấm gương của mình, Đức Chúa Giê-su một lần nữa nhấn mạnh lời chỉ dạy mà Ngài đã ban cho các môn đồ,

“Khi nào người ta bắt bớ các ngươi trong thành này, thì hãy trốn qua thành kia; vì ta nói thật, các ngươi đi chưa khắp các thành dân Y-sơ-ra-ên thì Con người đã đến rồi.” (Ma-thi-ơ 10:23)

Có một cánh đồng rộng lớn để làm việc cho sự cứu rỗi của các linh hồn; và trừ phi lòng trung thành với Ngài đòi hỏi, các tôi tớ của Chúa không nên liều mạng sống mình. DA 541.2

Đức Chúa Giê-su giờ đây đã dâng ba năm công lao công khai cho thế gian. Tấm gương về sự tự chối mình và lòng nhân từ vô vị lợi của Ngài đã ở trước mắt họ. Đời sống thanh sạch, đầy đau khổ và tận hiến của Ngài đã được mọi người biết đến. Tuy nhiên, khoảng thời gian ngắn ngủi ba năm này đã là lâu nhất mà thế gian có thể chịu đựng được sự hiện diện của Đấng Cứu Chuộc mình. DA 541.3

Đời sống Ngài đã là một đời sống đầy bắt bớ và sỉ nhục. Bị đuổi khỏi Bết-lê-hem bởi một vị vua ghen tị, bị chính dân tộc mình chối bỏ tại Na-xa-rét, bị kết án tử hình vô cớ tại Giê-ru-sa-lem, Đức Chúa Giê-su, cùng với số ít những kẻ theo Ngài trung thành, tìm được nơi nương náu tạm thời trong một thành phố xa lạ. Đấng luôn động lòng trước nỗi đau khổ của loài người, Đấng chữa lành kẻ đau, ban lại thị giác cho kẻ mù, thính giác cho kẻ điếc, và tiếng nói cho kẻ câm, Đấng cho kẻ đói ăn và an ủi kẻ buồn rầu, lại bị xua đuổi khỏi chính dân tộc mà Ngài đã lao nhọc để cứu. Đấng bước đi trên những đợt sóng cuồn cuộn, và bằng một lời làm yên lặng tiếng gầm thét giận dữ của chúng, Đấng đuổi tà ma mà khi ra đi chúng thừa nhận Ngài là Con Đức Chúa Trời, Đấng phá vỡ giấc ngủ của kẻ chết, Đấng khiến hàng ngàn người mê mẩn bởi những lời khôn ngoan của Ngài, lại không thể chạm đến tấm lòng của những kẻ bị mù quáng bởi thành kiến và lòng thù ghét, và những kẻ ngoan cố chối bỏ ánh sáng. DA 541.4