“La-xa-rơ, Hãy Ra”

Chương này dựa theo Lu-ca 10:38-42; Giăng 11:1-44. DA 524.1

Trong số những môn đồ trung kiên nhất của Đấng Christ có La-xa-rơ ở Bê-tha-ni. Ngay từ lần gặp gỡ đầu tiên, đức tin của ông nơi Đấng Christ đã mạnh mẽ; tình yêu thương của ông dành cho Ngài rất sâu đậm, và ông được Đấng Cứu Thế hết lòng yêu mến. Chính vì La-xa-rơ mà phép lạ lớn nhất của Đấng Christ đã được thực hiện. Đấng Cứu Thế ban phước cho tất cả những ai tìm kiếm sự giúp đỡ của Ngài; Ngài yêu thương cả gia đình nhân loại, nhưng đối với một số người, Ngài gắn bó bởi những mối liên hệ trìu mến đặc biệt. Tấm lòng Ngài được kết chặt bằng một mối tình thương yêu mạnh mẽ với gia đình ở Bê-tha-ni, và vì một người trong số họ mà công việc kỳ diệu nhất của Ngài đã được thực hiện. DA 524.2

Tại nhà của La-xa-rơ, Đức Chúa Giê-su thường tìm được sự nghỉ ngơi. Đấng Cứu Thế không có nhà riêng cho mình; Ngài phải nương nhờ vào lòng hiếu khách của các bạn hữu và môn đồ, và thường khi mệt mỏi, khao khát tình thân hữu của con người, Ngài vui mừng tìm đến mái nhà yên bình này, lánh xa sự nghi ngờ và lòng ganh tị của những người Pha-ri-si đang giận dữ. Tại đây Ngài tìm được sự tiếp đón chân thành, và tình bằng hữu thanh sạch, thánh khiết. Tại đây Ngài có thể nói cách giản dị và hoàn toàn tự do, biết rằng những lời Ngài sẽ được hiểu và trân trọng. DA 524.3

Đấng Cứu Thế của chúng ta trân quý một mái nhà tĩnh lặng và những người nghe chăm chú. Ngài khao khát sự dịu dàng, lịch thiệp và tình thương yêu của con người. Những ai tiếp nhận sự dạy dỗ từ trời mà Ngài luôn sẵn sàng ban cho thì được phước dồi dào. Khi đoàn dân đông theo Đấng Christ qua những cánh đồng rộng mở, Ngài bày tỏ cho họ những vẻ đẹp của thế giới tự nhiên. Ngài tìm cách mở mắt sự hiểu biết của họ, để họ có thể thấy bàn tay của Đức Chúa Trời nâng đỡ thế giới như thế nào. Để khơi dậy lòng cảm kích đối với sự nhân từ và lòng nhân lành của Đức Chúa Trời, Ngài hướng sự chú ý của người nghe đến những giọt sương nhẹ rơi, đến những cơn mưa dịu dàng và ánh nắng tươi sáng, được ban cho cả người lành lẫn người dữ như nhau. Ngài mong muốn con người nhận thức đầy đủ hơn về sự quan tâm mà Đức Chúa Trời dành cho những công cụ con người mà Ngài đã tạo dựng. Nhưng đoàn dân đông chậm hiểu, và trong mái nhà ở Bê-tha-ni, Đấng Christ tìm được sự nghỉ ngơi khỏi cuộc xung đột mệt nhọc của đời sống công khai. Tại đây Ngài mở ra cho một cử tọa biết cảm kích cuốn sách về sự Quan phòng. Trong những cuộc trò chuyện riêng tư này, Ngài bày tỏ cho người nghe những điều mà Ngài không cố nói với đám đông hỗn tạp. Ngài không cần phải nói với các bạn hữu của Ngài bằng những lời ví dụ. DA 524.4

Khi Đấng Christ ban những bài học kỳ diệu của Ngài, Ma-ri ngồi dưới chân Ngài, một người nghe đầy lòng tôn kính và tận tụy. Có một lần, Ma-thê, bối rối với việc lo dọn bữa ăn, đến với Đấng Christ và thưa, “Lạy Chúa, em tôi để một mình tôi hầu việc, Chúa há không nghĩ đến sao? Xin biểu nó giúp tôi.” Đây là thời gian Đấng Christ viếng thăm Bê-tha-ni lần đầu tiên. Đấng Cứu Thế và các môn đồ Ngài vừa đi bộ một quãng đường nhọc nhằn từ Giê-ri-cô. Ma-thê lo lắng để chu cấp cho sự thoải mái của họ, và trong sự lo lắng ấy, bà quên đi phép lịch sự phải dành cho Vị Khách của mình. Đức Chúa Giê-su đáp lại bà bằng những lời nhu mì và nhẫn nại, “Hỡi Ma-thê, Ma-thê, ngươi chịu khó và bối rối về nhiều việc; nhưng có một việc cần mà thôi. Ma-ri đã lựa phần tốt, là phần không có ai cất lấy được.” Ma-ri đang chất chứa trong tâm trí mình những lời quý báu tuôn ra từ môi của Đấng Cứu Thế, những lời quý giá hơn cả những bửu ngọc đắt giá nhất trên đất đối với bà. DA 525.1

“Một việc” mà Ma-thê cần là một tinh thần điềm tĩnh, sùng kính, một sự khao khát sâu xa hơn về sự hiểu biết liên quan đến đời sống tương lai, bất diệt, và những ân tứ cần thiết cho sự tiến bộ thuộc linh. Bà cần bớt lo lắng về những điều chóng qua, và quan tâm nhiều hơn đến những điều còn lại đời đời. Đức Chúa Giê-su muốn dạy con cái Ngài nắm lấy mọi cơ hội để đạt được sự hiểu biết khiến họ khôn ngoan để được cứu rỗi. Sự nghiệp của Đấng Christ cần những người làm việc cẩn thận, đầy nghị lực. Có một cánh đồng rộng lớn cho những Ma-thê, với lòng sốt sắng trong công việc tôn giáo tích cực. Nhưng trước hết hãy để họ ngồi với Ma-ri dưới chân Đức Chúa Giê-su. Hãy để sự siêng năng, mau mắn và nghị lực được thánh hóa bởi ân điển của Đấng Christ; bấy giờ đời sống sẽ là một quyền năng không thể chế ngự được cho điều thiện. DA 525.2

Sự buồn rầu xâm nhập vào mái nhà yên bình nơi Đức Chúa Giê-su đã nghỉ ngơi. La-xa-rơ bị căn bệnh bất ngờ tấn công, và hai chị em ông sai người đến với Đấng Cứu Thế, thưa rằng, “Lạy Chúa, nầy, kẻ Chúa yêu mắc bịnh.” Họ thấy mức độ dữ dội của căn bệnh đã hành hạ anh mình, nhưng họ biết rằng Đấng Christ đã chứng tỏ Ngài có khả năng chữa lành mọi thứ tật bệnh. Họ tin rằng Ngài sẽ đồng cảm với họ trong nỗi đau buồn; vì vậy họ không nài nỉ đòi hỏi sự hiện diện tức thì của Ngài, mà chỉ gửi đi lời nhắn đầy tin cậy, “Kẻ Chúa yêu mắc bịnh.” Họ nghĩ rằng Ngài sẽ lập tức đáp lại lời nhắn của họ, và ở cùng họ ngay khi Ngài có thể đến được Bê-tha-ni. DA 525.3

Họ lo lắng chờ đợi một lời từ Đức Chúa Giê-su. Hễ còn một tia sự sống trong anh mình, họ vẫn cầu nguyện và trông chờ Đức Chúa Giê-su đến. Nhưng sứ giả trở về mà không có Ngài. Tuy vậy, người ấy mang về lời nhắn, “Bịnh nầy không đến chết đâu,” và họ bám lấy hy vọng rằng La-xa-rơ sẽ sống. Họ dịu dàng cố nói những lời hy vọng và an ủi với người bệnh gần như đã bất tỉnh. Khi La-xa-rơ qua đời, họ vô cùng thất vọng; nhưng họ cảm nhận được ân điển nâng đỡ của Đấng Christ, và điều này giữ họ khỏi việc đổ bất cứ lời trách móc nào lên Đấng Cứu Thế. DA 526.1

Khi Đấng Christ nghe được lời nhắn, các môn đồ tưởng rằng Ngài tiếp nhận nó cách lạnh lùng. Ngài không bày tỏ nỗi buồn mà họ mong đợi Ngài tỏ ra. Ngước nhìn họ, Ngài phán, “Bịnh nầy không đến chết đâu, nhưng vì sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, hầu cho Con Đức Chúa Trời bởi đó được sáng danh.” Ngài ở lại nơi mình đang ở trong hai ngày. Sự chậm trễ này là một điều bí ẩn đối với các môn đồ. Họ nghĩ, sự hiện diện của Ngài sẽ là niềm an ủi biết bao cho gia đình đang đau khổ! Tình thương yêu mạnh mẽ của Ngài dành cho gia đình ở Bê-tha-ni được các môn đồ biết rõ, và họ ngạc nhiên khi Ngài không đáp lại lời nhắn buồn thảm, “Kẻ Chúa yêu mắc bịnh.” DA 526.2

Trong hai ngày đó, dường như Đấng Christ đã gạt lời nhắn ra khỏi tâm trí Ngài; vì Ngài không hề nói đến La-xa-rơ. Các môn đồ nghĩ đến Giăng Báp-tít, vị tiền hô của Đức Chúa Giê-su. Họ từng thắc mắc tại sao Đức Chúa Giê-su, với quyền năng làm những phép lạ kỳ diệu, lại để cho Giăng héo mòn trong tù, và chết một cái chết tàn bạo. Sở hữu quyền năng như vậy, tại sao Đấng Christ không cứu mạng sống của Giăng? Câu hỏi này thường được những người Pha-ri-si nêu ra, họ dùng nó như một lý luận không thể bác bỏ chống lại sự xưng nhận của Đấng Christ rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. Đấng Cứu Thế đã cảnh báo các môn đồ về những thử thách, mất mát và bắt bớ. Liệu Ngài có bỏ rơi họ trong cơn thử thách chăng? Một số người tự hỏi liệu họ có hiểu lầm sứ mạng của Ngài chăng. Tất cả đều bối rối sâu xa. DA 526.3

Sau khi chờ đợi hai ngày, Đức Chúa Giê-su phán cùng các môn đồ, “Chúng ta hãy trở về xứ Giu-đê.” Các môn đồ thắc mắc tại sao, nếu Đức Chúa Giê-su định đi đến xứ Giu-đê, Ngài lại chờ đến hai ngày. Nhưng nỗi lo lắng cho Đấng Christ và cho chính họ giờ đây chiếm lấy tâm trí họ trên hết. Họ chẳng thấy gì khác ngoài sự nguy hiểm trong đường lối mà Ngài sắp theo đuổi. Họ thưa, “Thưa thầy, hôm trước dân Giu-đa tìm ném đá thầy, thầy còn trở lại nơi họ sao? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Trong ban ngày há chẳng phải có mười hai giờ sao?” Ta ở dưới sự hướng dẫn của Cha Ta; hễ Ta còn làm theo ý muốn Ngài, sự sống của Ta được an toàn. Mười hai giờ ban ngày của Ta chưa kết thúc. Ta đã bước vào phần cuối cùng còn lại của ngày Ta; nhưng hễ còn phần nào của nó, Ta vẫn an toàn. DA 526.4

“Nếu ai đi ban ngày,” Ngài tiếp tục, “thì không vấp vì thấy sự sáng của thế gian nầy.” Người nào làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời, người đi trong con đường mà Đức Chúa Trời đã vạch ra, thì không thể vấp ngã. Ánh sáng của Đức Thánh Linh dẫn dắt ban cho người ấy một sự nhận thức rõ ràng về bổn phận mình, và dẫn dắt người cách đúng đắn cho đến khi công việc của người kết thúc. “Nhưng nếu ai đi ban đêm, thì vấp, vì không có sự sáng.” Người đi trong con đường tự mình chọn, nơi Đức Chúa Trời không kêu gọi, sẽ vấp ngã. Đối với người ấy ngày biến thành đêm, và dù người ở bất cứ nơi đâu, người cũng không được an toàn. DA 527.1

“Ngài phán như vậy, rồi tiếp rằng: La-xa-rơ, bạn của chúng ta, đương ngủ; nhưng ta đi đánh thức người.” “La-xa-rơ, bạn của chúng ta, đương ngủ.” Lời ấy thật cảm động làm sao! thật đầy lòng thương xót làm sao! Trong khi suy nghĩ về sự nguy hiểm mà Thầy mình sắp gặp phải khi đi đến Giê-ru-sa-lem, các môn đồ gần như đã quên gia đình tang chế tại Bê-tha-ni. Nhưng Đấng Christ thì không như vậy. Các môn đồ cảm thấy bị quở trách. Họ đã thất vọng vì Đấng Christ không đáp lại lời nhắn cách mau lẹ hơn. Họ đã bị cám dỗ để nghĩ rằng Ngài không có tình yêu dịu dàng đối với La-xa-rơ và các chị của người như họ tưởng, nếu không thì Ngài đã vội vàng trở về cùng với người đưa tin. Nhưng lời, “La-xa-rơ, bạn của chúng ta, đương ngủ,” đã đánh thức những cảm xúc đúng đắn trong lòng họ. Họ tin chắc rằng Đấng Christ đã không quên những người bạn đang chịu khổ của Ngài. DA 527.2

“Môn đồ thưa rằng: Thưa Chúa, nếu người ngủ, chắc sẽ được lành. Vả, Đức Chúa Giê-su phán lời đó chỉ về sự chết của La-xa-rơ; song môn đồ tưởng nói về giấc ngủ thường.” Đấng Christ tả sự chết như một giấc ngủ đối với những con cái tin kính của Ngài. Sự sống của họ đã giấu với Đấng Christ trong Đức Chúa Trời, và cho đến khi tiếng kèn cuối cùng vang lên thì những kẻ chết sẽ ngủ trong Ngài. DA 527.3

“Đức Chúa Giê-su bèn nói tỏ tường cùng môn đồ rằng: La-xa-rơ chết rồi. Ta vì các ngươi mừng không có ta tại đó, để cho các ngươi tin; nhưng chúng ta hãy đi đến cùng người.” Thô-ma chỉ có thể thấy sự chết đang chờ đợi Thầy mình nếu Ngài đi đến xứ Giu-đê; nhưng người đã thắt chặt tâm thần mình lại, và nói với các môn đồ khác rằng, “Chúng ta cũng hãy đi tới đó đặng chết với Ngài!” Người biết lòng căm ghét của người Do Thái đối với Đấng Christ. Ý định của họ là gây nên sự chết cho Ngài, nhưng ý định ấy chưa thành công, bởi vì vẫn còn lại một phần thời gian đã định cho Ngài. Trong thời gian này Đức Chúa Giê-su có sự gìn giữ của các thiên sứ trên trời; và ngay cả tại các miền của xứ Giu-đê, nơi các thầy thông giáo đang mưu tính làm thế nào để bắt Ngài và giết Ngài đi, thì không có điều hại nào có thể đến với Ngài. DA 527.4

Các môn đồ lấy làm lạ về lời của Đấng Christ khi Ngài nói, “La-xa-rơ chết rồi. Ta vui mừng… vì không có ta tại đó.” Phải chăng Đấng Cứu Thế đã tự mình lựa chọn tránh xa nhà của những người bạn đang chịu khổ của Ngài? Trông bề ngoài thì Ma-ri, Ma-thê và La-xa-rơ hấp hối dường như bị bỏ lại một mình. Nhưng họ không cô đơn. Đấng Christ đã quan sát toàn bộ cảnh tượng, và sau cái chết của La-xa-rơ thì hai chị em tang chế đã được nâng đỡ bởi ân điển của Ngài. Đức Chúa Giê-su đã chứng kiến nỗi buồn của những tấm lòng tan vỡ của họ, khi anh em họ vật lộn với kẻ thù mạnh mẽ của mình là sự chết. Ngài đã cảm nhận mỗi cơn đau đớn của sự thống khổ, khi Ngài nói với các môn đồ, “La-xa-rơ chết rồi.” Nhưng Đấng Christ không chỉ nghĩ đến những người thân yêu tại Bê-tha-ni; Ngài còn phải xét đến sự huấn luyện các môn đồ Ngài. Họ sẽ là những đại diện của Ngài cho thế gian, hầu cho phước lành của Đức Chúa Cha có thể bao phủ tất cả mọi người. Vì cớ họ mà Ngài đã để cho La-xa-rơ chết. Nếu Ngài đã chữa người khỏi bệnh để được mạnh khỏe, thì phép lạ là bằng chứng tích cực nhất về bản tánh thiên thượng của Ngài đã không được thực hiện. DA 528.1

Nếu Đấng Christ đã ở trong phòng bệnh, thì La-xa-rơ đã không chết; vì Sa-tan đã không có quyền lực gì trên người. Sự chết đã không thể nhắm mũi tên của nó vào La-xa-rơ trước mặt Đấng Ban Sự Sống. Vì vậy Đấng Christ đã ở xa. Ngài đã để cho kẻ thù thi thố quyền lực của nó, hầu cho Ngài có thể đánh đuổi nó lui, một kẻ thù bại trận. Ngài đã để cho La-xa-rơ rơi vào dưới quyền thống trị của sự chết; và hai chị em đang chịu khổ đã thấy anh em mình được đặt vào trong mồ mả. Đấng Christ biết rằng khi họ nhìn vào gương mặt đã chết của anh em mình thì đức tin của họ nơi Đấng Cứu Chuộc sẽ bị thử thách nặng nề. Nhưng Ngài biết rằng vì cớ sự tranh đấu mà họ đang trải qua lúc này thì đức tin của họ sẽ chiếu sáng với quyền năng lớn lao hơn nhiều. Ngài đã chịu đựng mỗi cơn đau buồn mà họ đã trải qua. Ngài yêu họ không kém đi vì Ngài đã nán lại; nhưng Ngài biết rằng vì họ, vì La-xa-rơ, vì chính Ngài, và vì các môn đồ Ngài, một chiến thắng sẽ phải giành được. DA 528.2

“Vì các ngươi,” “để cho các ngươi tin.” Đối với tất cả những ai đang vươn tay ra để cảm nhận bàn tay dìu dắt của Đức Chúa Trời, thì giây phút nản lòng nhất chính là lúc sự cứu giúp thiên thượng đến gần nhất. Họ sẽ nhìn lại với lòng biết ơn về phần tối tăm nhất trên con đường của họ. “Chúa biết cứu chữa những người tin kính,” 2 Phi-e-rơ 2:9. Từ mỗi cơn cám dỗ và mỗi sự thử thách Ngài sẽ đem họ ra với đức tin vững vàng hơn và một kinh nghiệm phong phú hơn. DA 528.3

Trong việc trì hoãn đến cùng La-xa-rơ, Đấng Christ có một mục đích thương xót đối với những kẻ chưa tiếp nhận Ngài. Ngài đã nán lại, hầu cho qua việc làm cho La-xa-rơ sống lại từ kẻ chết, Ngài có thể ban cho dân cứng cỏi, vô tín của Ngài thêm một bằng chứng nữa rằng Ngài thật là “sự sống lại và sự sống.” Ngài không nỡ từ bỏ mọi hy vọng cho dân sự, những con chiên lạc đường khốn khổ của nhà Y-sơ-ra-ên. Lòng Ngài tan vỡ vì cớ sự không ăn năn của họ. Trong lòng thương xót của Ngài, Ngài đã có ý ban cho họ thêm một bằng chứng nữa rằng Ngài là Đấng Phục Hồi, là Đấng duy nhất có thể đem sự sống và sự bất tử ra ánh sáng. Đây sẽ là một bằng chứng mà các thầy tế lễ không thể giải thích sai được. Đây là lý do của sự trì hoãn của Ngài trong việc đi đến Bê-tha-ni. Phép lạ tột đỉnh này, sự làm cho La-xa-rơ sống lại, sẽ đóng ấn của Đức Chúa Trời trên công việc của Ngài và trên lời tuyên bố của Ngài về thần tánh. DA 529.1

Trên hành trình đến Bê-tha-ni, theo thói quen của Ngài, Đức Chúa Giê-su đã phục vụ cho những người đau yếu và túng thiếu. Khi đến làng, Ngài sai một người đưa tin đến cùng hai chị em với tin tức về sự đến của Ngài. Đấng Christ không lập tức vào trong nhà, nhưng vẫn ở lại tại một nơi yên tĩnh bên vệ đường. Sự phô bày bề ngoài rầm rộ mà người Do Thái thường làm khi bạn bè hoặc người thân qua đời thì không hòa hợp với tâm thần của Đấng Christ. Ngài nghe tiếng khóc than của những người than khóc được thuê mướn, và Ngài không muốn gặp hai chị em trong cảnh hỗn loạn ấy. Trong số những người bạn đang than khóc có những người bà con của gia đình, một số người trong họ giữ những địa vị trách nhiệm cao trọng tại Giê-ru-sa-lem. Trong số những người này có một số là kẻ thù cay đắng nhất của Đấng Christ. Đấng Christ biết những ý định của họ, và vì vậy Ngài không lập tức tỏ mình ra. DA 529.2

Lời nhắn được truyền đến Ma-thê cách lặng lẽ đến nỗi những người khác trong phòng không nghe được. Đắm chìm trong nỗi đau buồn, Ma-ri đã không nghe lời ấy. Lập tức đứng dậy, Ma-thê đi ra để gặp Chúa mình, nhưng tưởng rằng bà đã đi đến nơi La-xa-rơ được chôn cất, nên Ma-ri vẫn ngồi yên trong nỗi buồn của mình, không kêu khóc gì. DA 529.3

Ma-thê vội vàng đi gặp Đức Chúa Giê-su, lòng bà xao động bởi những cảm xúc trái ngược nhau. Trong gương mặt biểu cảm của Ngài, bà đọc thấy chính sự dịu dàng và yêu thương vẫn luôn luôn hiện diện ở đó. Lòng tin cậy của bà nơi Ngài không hề lay chuyển, nhưng bà nghĩ đến người anh em yêu dấu của mình, là người mà Đức Chúa Giê-su cũng đã yêu thương. Với nỗi buồn dâng trào trong lòng vì Đấng Christ đã không đến sớm hơn, nhưng vẫn với hy vọng rằng ngay cả lúc này Ngài cũng sẽ làm điều gì đó để an ủi họ, bà nói, “Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết.” Hết lần này đến lần khác, giữa sự náo động do những người than khóc gây ra, hai chị em đã lặp đi lặp lại những lời này. DA 529.4

Với lòng thương xót vừa nhân loại vừa thiên thượng, Đức Chúa Giê-su nhìn vào gương mặt buồn rầu, lo âu của bà. Ma-thê không có lòng muốn kể lại quá khứ; tất cả đã được diễn tả qua những lời thống thiết, “Lạy Chúa, nếu Chúa có đây, thì anh tôi không chết.” Nhưng nhìn vào gương mặt yêu thương ấy, bà nói thêm, “Mà bây giờ tôi cũng biết mọi điều Ngài sẽ xin Đức Chúa Trời, thì Đức Chúa Trời ắt ban cho.” DA 529.5

Đức Chúa Giê-su khích lệ đức tin của bà, mà rằng, “Anh ngươi sẽ sống lại.” Câu trả lời của Ngài không có ý gợi nên hy vọng về một sự thay đổi tức thời. Ngài đưa tư tưởng của Ma-thê vượt ra ngoài sự phục hồi hiện tại của người anh em bà, và hướng chúng vào sự sống lại của những người công bình. Ngài làm điều này hầu cho bà có thể thấy trong sự sống lại của La-xa-rơ một lời cam kết về sự sống lại của tất cả những kẻ chết công bình, và một sự bảo đảm rằng điều đó sẽ được hoàn thành bởi quyền năng của Đấng Cứu Thế. DA 530.1

Ma-thê thưa rằng, “Tôi vẫn biết rằng đến sự sống lại ngày cuối cùng, anh tôi sẽ sống lại.” DA 530.2

Vẫn tìm cách hướng đức tin của bà theo một đường đúng đắn, Đức Chúa Giê-su tuyên bố: “Ta là sự sống lại và sự sống.” Trong Đấng Christ có sự sống, nguyên thủy, không vay mượn, không bắt nguồn từ đâu khác.

“Ai có Đức Chúa Con thì có sự sống; ai không có Con Đức Chúa Trời thì không có sự sống.” (I Giăng 5:12)

Thần tánh của Đấng Christ là sự bảo đảm cho người tin nhận về sự sống đời đời. Đức Chúa Giê-su phán: “Ai tin Ta thì sẽ sống, mặc dầu đã chết rồi; còn ai sống mà tin Ta thì không hề chết. Ngươi tin điều đó chăng?” Tại đây Đấng Christ hướng đến thời kỳ Ngài tái lâm. Bấy giờ những người công bình đã chết sẽ được sống lại không hề hư nát, còn những người công bình còn sống sẽ được biến hóa cất lên thiên đàng mà không phải nếm sự chết. Phép lạ mà Đấng Christ sắp sửa thực hiện, trong việc khiến La-xa-rơ sống lại từ kẻ chết, sẽ tiêu biểu cho sự sống lại của tất cả những người công bình đã qua đời. Bằng lời phán và việc làm của Ngài, Ngài tự tuyên bố mình là Đấng Tác Giả của sự sống lại. Đấng mà chính mình chẳng bao lâu nữa sẽ phải chết trên thập tự giá đã đứng đó với những chìa khóa của sự chết, là Đấng chiến thắng phần mộ, và khẳng định quyền hạn cùng năng lực của Ngài để ban cho sự sống đời đời. DA 530.3

Đáp lại lời của Đấng Cứu Thế: “Ngươi có tin chăng?” Ma-thê thưa: “Lạy Chúa, phải, tôi tin Chúa là Đấng Christ, Con Đức Chúa Trời, là Đấng phải đến thế gian.” Bà không hiểu hết tất cả ý nghĩa sâu xa của những lời Đấng Christ phán, nhưng bà đã xưng nhận đức tin của mình nơi thần tánh của Ngài, và lòng tin chắc rằng Ngài có thể làm bất cứ điều gì Ngài đẹp lòng. DA 530.4

“Người nói xong, liền về, lén kêu em là Ma-ri, mà rằng: Thầy ở đằng kia, đương gọi em lại.” Bà truyền lời nhắn cách thầm lặng nhất có thể; vì các thầy tế lễ và các nhà cai trị đã sẵn sàng bắt Đức Chúa Giê-su khi có cơ hội. Tiếng than khóc của những người chịu tang đã ngăn không cho lời bà bị nghe thấy. DA 530.5

Khi nghe lời nhắn, Ma-ri vội vàng đứng dậy, với vẻ mặt khao khát rời khỏi phòng. Tưởng rằng bà đi ra mộ để khóc, những người chịu tang liền đi theo bà. Khi đến nơi Đức Chúa Giê-su đang chờ, bà quỳ dưới chân Ngài, và nói với đôi môi run rẩy: “Lạy Chúa, nếu Chúa có đây thì anh tôi không chết.” Tiếng than khóc của những người chịu tang khiến bà đau lòng; vì bà mong mỏi có được đôi lời yên tĩnh riêng với Đức Chúa Giê-su. Nhưng bà biết về lòng ganh tị và đố kỵ mà một số người có mặt ấp ủ chống lại Đấng Christ, nên bà bị kìm hãm không thể bày tỏ trọn vẹn nỗi đau buồn của mình. DA 533.1

“Đức Chúa Giê-su thấy người khóc, và những người Giu-đa đi với người cũng khóc, bèn đau lòng cảm động mà phán rằng.” Ngài đọc thấu lòng của tất cả những người tụ họp tại đó. Ngài thấy rằng với nhiều người, điều dường như là biểu lộ sự đau buồn chỉ là giả vờ. Ngài biết rằng một số người trong đám đông, lúc này đang tỏ vẻ thương tiếc giả dối, chẳng bao lâu nữa sẽ mưu tính cái chết, không chỉ của Đấng làm phép lạ quyền năng, mà còn của người được khiến sống lại từ kẻ chết. Đấng Christ có thể đã lột bỏ chiếc áo thương tiếc giả vờ của họ. Nhưng Ngài đã kìm nén cơn phẫn nộ chính đáng của mình. Những lời mà Ngài hoàn toàn có thể nói theo lẽ thật, Ngài đã không nói ra, vì cớ người được Ngài yêu thương đang quỳ dưới chân Ngài trong nỗi buồn, là người thật lòng tin nơi Ngài. DA 533.2

“Các ngươi đã chôn người ở đâu?” Ngài hỏi, “Chúng thưa rằng: Lạy Chúa, xin hãy lại coi.” Họ cùng nhau tiến ra mộ. Đó là một cảnh tượng tang thương. La-xa-rơ đã được yêu mến rất nhiều, và hai chị em ông khóc thương ông với tấm lòng tan vỡ, trong khi những người từng là bạn của ông hòa lẫn giọt nước mắt mình với nước mắt của hai chị em chịu tang. Trước nỗi đau khổ của loài người này, và trước sự thật rằng những người bạn đang đau buồn có thể than khóc cho người chết trong khi Đấng Cứu Thế của thế gian đang đứng bên cạnh, — “Đức Chúa Giê-su khóc.” Dầu Ngài là Con Đức Chúa Trời, song Ngài đã mang lấy bản tánh loài người, và Ngài đã cảm động bởi nỗi buồn của con người. Tấm lòng dịu dàng, thương xót của Ngài luôn luôn được khơi dậy lòng cảm thông trước sự đau khổ. Ngài khóc với những kẻ khóc, và vui với những kẻ vui. DA 533.3

Nhưng không phải chỉ vì lòng cảm thông nhân loại của Ngài đối với Ma-ri và Ma-thê mà Đức Chúa Giê-su khóc. Trong những giọt nước mắt của Ngài có một nỗi buồn cao hơn nỗi buồn của loài người như trời cao hơn đất. Đấng Christ không khóc cho La-xa-rơ; vì Ngài sắp sửa gọi ông ra khỏi mộ. Ngài khóc vì nhiều người trong số những kẻ giờ đây đang than khóc cho La-xa-rơ chẳng bao lâu nữa sẽ mưu tính cái chết của Đấng vốn là sự sống lại và sự sống. Nhưng những người Do Thái không tin đã không sao hiểu được cách đúng đắn những giọt nước mắt của Ngài! Một số người chỉ có thể thấy không gì hơn ngoài hoàn cảnh bên ngoài của cảnh tượng trước mặt Ngài là nguyên do của nỗi buồn Ngài, bèn nói nhỏ rằng: “Kìa, người yêu La-xa-rơ là dường nào!” Những kẻ khác, tìm cách gieo hạt giống của lòng vô tín vào lòng những người có mặt, nói cách mỉa mai: “Người đã mở mắt kẻ mù được, há chẳng có thể cũng làm cho người này khỏi chết sao?” Nếu việc cứu La-xa-rơ ở trong quyền năng của Đấng Christ, thì tại sao Ngài lại để ông chết? DA 533.4

Với con mắt tiên tri, Đấng Christ thấy lòng thù nghịch của người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê. Ngài biết rằng họ đang toan tính giết Ngài. Ngài biết rằng một số người giờ đây dường như đầy lòng cảm thông sẽ chẳng bao lâu nữa tự đóng lại cánh cửa hy vọng và cổng thành của Đức Chúa Trời chống lại chính mình. Một cảnh tượng sắp sửa diễn ra, trong sự sỉ nhục và đóng đinh Ngài, mà sẽ dẫn đến sự hủy diệt thành Giê-ru-sa-lem, và lúc bấy giờ sẽ không một ai than khóc cho người chết. Sự báo ứng sắp giáng xuống thành Giê-ru-sa-lem đã hiện ra rõ ràng trước mặt Ngài. Ngài thấy thành Giê-ru-sa-lem bị các quân đoàn La-mã vây hãm. Ngài biết rằng nhiều người giờ đây đang khóc thương La-xa-rơ sẽ chết trong cuộc vây hãm thành, và trong cái chết của họ sẽ không còn hy vọng. DA 534.1

Không phải chỉ vì cảnh tượng trước mặt mà Đấng Christ khóc. Sức nặng của nỗi buồn qua các thời đại đè trên Ngài. Ngài thấy những hậu quả khủng khiếp của sự vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời. Ngài thấy rằng trong lịch sử thế giới, bắt đầu từ cái chết của A-bên, cuộc tranh đấu giữa thiện và ác đã không hề ngừng nghỉ. Nhìn xuống những năm tháng sắp tới, Ngài thấy sự đau khổ và buồn thảm, nước mắt và sự chết, sẽ là số phận của loài người. Tấm lòng Ngài bị xuyên thấu bởi nỗi đau của gia đình nhân loại qua mọi thời đại và ở mọi xứ. Những tai họa của loài người tội lỗi đè nặng trên linh hồn Ngài, và suối nước mắt của Ngài tuôn trào khi Ngài khao khát làm vơi đi mọi nỗi khốn khổ của họ. DA 534.2

“Bấy giờ, Đức Chúa Giê-su lại đau lòng nữa, bèn đến phần mộ.” La-xa-rơ đã được đặt trong một cái hang trong vầng đá, và một tảng đá lớn đã được đặt trước lối vào. “Hãy lăn hòn đá đi,” Đấng Christ phán. Tưởng rằng Ngài chỉ muốn nhìn người chết, Ma-thê phản đối, nói rằng thi thể đã được chôn bốn ngày, và sự rữa nát đã bắt đầu công việc của nó. Lời nói này, được thốt ra trước khi La-xa-rơ sống lại, không để chỗ nào cho kẻ thù của Đấng Christ nói rằng đã có sự lừa dối nào đó được thực hiện. Trong quá khứ, người Pha-ri-si đã loan truyền những lời gian dối về những biểu lộ kỳ diệu nhất của quyền năng Đức Chúa Trời. Khi Đấng Christ khiến con gái Giai-ru sống lại, Ngài đã phán:

“Vào nhà rồi, Ngài phán cùng chúng rằng: Sao các ngươi làm ồn ào và khóc lóc vậy? Đứa trẻ chẳng phải chết, song nó ngủ.” (Mác 5:39)

Vì cô bé chỉ đau ốm trong một thời gian ngắn, và được sống lại ngay sau khi chết, nên người Pha-ri-si tuyên bố rằng đứa trẻ chưa chết; rằng chính Đấng Christ đã nói cô bé chỉ ngủ thôi. Họ đã cố làm cho có vẻ như Đấng Christ không thể chữa lành bệnh tật, rằng có sự gian dối trong các phép lạ của Ngài. Nhưng trong trường hợp này, không một ai có thể chối cãi rằng La-xa-rơ đã chết. DA 534.3

Khi Chúa sắp sửa làm một việc, Sa-tan tác động trên một người nào đó để phản đối. “Hãy lăn hòn đá đi,” Đấng Christ phán. Hãy dọn đường cho công việc của Ta hết sức có thể. Nhưng bản tánh quả quyết và đầy tham vọng của Ma-thê đã trỗi dậy. Bà không sẵn lòng để cho thi thể đang phân hủy phải bị phơi bày ra trước mắt. Lòng người chậm hiểu lời của Đấng Christ, và đức tin của Ma-thê đã không nắm bắt được ý nghĩa thật của lời hứa Ngài. DA 535.1

Đấng Christ quở trách Ma-thê, nhưng lời Ngài phán ra với sự dịu dàng tột bậc. “Ta há chẳng từng nói với ngươi rằng nếu ngươi tin thì sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời sao?” Tại sao ngươi lại nghi ngờ về quyền năng của Ta? Tại sao lại lý luận chống lại các đòi hỏi của Ta? Ngươi có lời của Ta. Nếu ngươi tin, ngươi sẽ thấy sự vinh hiển của Đức Chúa Trời. Những điều không thể về mặt tự nhiên không thể ngăn cản công việc của Đấng Toàn Năng. Sự hoài nghi và lòng vô tín chẳng phải là sự khiêm nhường. Lòng tin tuyệt đối nơi lời của Đấng Christ mới là sự khiêm nhường thật, là sự đầu phục chính mình thật sự. DA 535.2

“Hãy lăn hòn đá đi.” Đấng Christ có thể ra lệnh cho hòn đá lăn đi, và nó sẽ vâng theo tiếng phán của Ngài. Ngài có thể truyền cho các thiên sứ đang đứng kề bên Ngài làm việc đó. Theo lệnh của Ngài, những bàn tay vô hình sẽ lăn hòn đá đi. Nhưng nó phải được dời đi bởi bàn tay con người. Như vậy, Đấng Christ muốn bày tỏ rằng nhân tánh phải cộng tác với thần tánh. Việc gì sức người có thể làm được thì quyền năng thiêng liêng không được kêu gọi đến để làm thay. Đức Chúa Trời không bỏ qua sự giúp sức của con người. Ngài thêm sức cho con người, cộng tác với người khi người sử dụng năng lực và khả năng mà Ngài đã ban cho. DA 535.3

Mệnh lệnh được vâng theo. Hòn đá được lăn đi. Mọi việc đều được thực hiện công khai và thận trọng. Mọi người đều được dịp thấy rằng không hề có sự lừa dối nào. Thi thể của La-xa-rơ nằm đó trong ngôi mộ bằng đá, lạnh lẽo và lặng yên trong sự chết. Tiếng khóc than của những người tang chế đã lắng xuống. Kinh ngạc và trông đợi, đoàn người đứng quanh ngôi mộ, chờ xem điều gì sẽ xảy ra. DA 535.4

Đấng Christ điềm tĩnh đứng trước ngôi mộ. Một sự trang nghiêm thánh khiết bao trùm tất cả những người có mặt. Đấng Christ bước lại gần ngôi mộ hơn. Ngước mắt lên trời, Ngài phán: “Thưa Cha, Con tạ ơn Cha vì đã nhậm lời Con.” Không lâu trước đó, các kẻ thù của Đấng Christ đã cáo buộc Ngài phạm thượng, và đã lượm đá để ném Ngài vì Ngài tự xưng là Con Đức Chúa Trời. Họ cáo buộc Ngài làm phép lạ bằng quyền năng của Sa-tan. Nhưng nơi đây, Đấng Christ tuyên xưng Đức Chúa Trời là Cha của Ngài, và với lòng tin cậy hoàn toàn, Ngài tuyên bố rằng Ngài là Con Đức Chúa Trời. DA 535.5

Trong tất cả những gì Ngài làm, Đấng Christ đều cộng tác với Cha Ngài. Ngài luôn cẩn thận làm cho rõ ràng rằng Ngài không hành động độc lập; chính nhờ đức tin và lời cầu nguyện mà Ngài đã làm các phép lạ. Đấng Christ muốn mọi người biết về mối quan hệ giữa Ngài với Cha Ngài. Ngài phán: “Thưa Cha, Con tạ ơn Cha vì đã nhậm lời Con. Con biết rằng Cha luôn nhậm lời Con; nhưng Con nói vậy là vì cớ đoàn dân đang đứng chung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con đến.” Nơi đây, các môn đồ và đoàn dân được ban cho bằng chứng thuyết phục nhất về mối quan hệ tồn tại giữa Đấng Christ và Đức Chúa Trời. Họ được tỏ cho thấy rằng lời tuyên xưng của Đấng Christ không phải là một sự lừa dối. DA 536.1

“Khi Ngài phán vậy rồi, thì kêu lên một tiếng lớn rằng: Hỡi La-xa-rơ, hãy ra!” Tiếng Ngài, rõ ràng và xuyên thấu, lọt vào tai của người đã chết. Khi Ngài phán, thần tánh chiếu sáng qua nhân tánh. Trên gương mặt Ngài, được rạng ngời bởi vinh quang của Đức Chúa Trời, đoàn dân thấy sự bảo đảm về quyền năng của Ngài. Mọi con mắt đều dán chặt vào cửa hang. Mọi lỗ tai đều lắng nghe để bắt được âm thanh nhỏ nhất. Với sự quan tâm mãnh liệt và đau đáu, mọi người chờ đợi sự thử nghiệm về thần tánh của Đấng Christ, bằng chứng sẽ xác chứng lời tuyên xưng của Ngài là Con Đức Chúa Trời, hoặc sẽ dập tắt niềm hy vọng đó mãi mãi. DA 536.2

Có sự chuyển động trong ngôi mộ im lặng, và người đã chết đứng nơi cửa mộ. Cử động của ông bị cản trở bởi vải liệm đã quấn ông, và Đấng Christ phán với những người chứng kiến đang sửng sốt: “Hãy mở cho người, và để người đi.” Một lần nữa, họ được tỏ cho thấy rằng người làm việc là con người phải cộng tác với Đức Chúa Trời. Nhân loại phải làm việc cho nhân loại. La-xa-rơ được tự do, và đứng trước đoàn người, không phải như một kẻ tiều tụy vì bệnh tật, với tay chân yếu ớt và run rẩy, nhưng như một người đang độ thanh xuân, tràn đầy sức sống của một nam tử cao quý. Đôi mắt ông sáng ngời sự thông sáng và lòng yêu mến Đấng Cứu Thế của ông. Ông sấp mình thờ phượng nơi chân Đức Chúa Giê-su. DA 536.3

Những người chứng kiến lúc đầu lặng người vì kinh ngạc. Rồi tiếp theo là một cảnh tượng vui mừng và cảm tạ không sao tả xiết. Hai chị em đón nhận lại người em mình sống lại như một món quà của Đức Chúa Trời, và với những giọt nước mắt vui mừng, họ nghẹn ngào bày tỏ lòng biết ơn đối với Đấng Cứu Thế. Nhưng trong khi anh em, chị em, và bạn hữu đang vui mừng trong cuộc đoàn tụ này, thì Đức Chúa Giê-su rút lui khỏi cảnh ấy. Khi họ tìm Đấng Ban Sự Sống, thì không thấy Ngài đâu nữa. DA 536.4