Người Sa-ma-ri Nhân Lành
Chương này dựa trên Lu-ca 10:25-37. DA 497.1
Trong câu chuyện về người Sa-ma-ri nhơn lành, Đấng Christ minh họa bản chất của tôn giáo chân thật. Ngài cho thấy rằng tôn giáo ấy không nằm ở các hệ thống, giáo điều, hay nghi lễ, nhưng ở việc thực hiện những hành động yêu thương, ở việc đem lại điều tốt đẹp lớn nhất cho người khác, ở lòng tốt chân thật. DA 497.2
Khi Đấng Christ đang dạy dỗ dân chúng, “một thầy dạy luật đứng dậy hỏi đặng thử Ngài rằng: Thưa thầy, tôi phải làm gì để được hưởng sự sống đời đời?” Cả đoàn dân đông nín thở chờ đợi câu trả lời. Các thầy tế lễ và các thầy thông giáo đã tưởng có thể gài bẫy Đấng Christ bằng cách để thầy dạy luật hỏi câu này. Nhưng Đấng Cứu Thế không bước vào cuộc tranh luận nào. Ngài đòi chính người hỏi phải trả lời. “Trong luật pháp có chép điều gì?” Ngài phán; “ngươi đọc gì trong đó?” Người Do Thái vẫn cáo buộc Đức Chúa Giê-su xem nhẹ luật pháp được ban từ núi Si-na-i; nhưng Ngài hướng vấn đề cứu rỗi vào việc tuân giữ các điều răn của Đức Chúa Trời. DA 497.3
Thầy dạy luật đáp: “Ngươi phải hết lòng, hết linh hồn, hết sức, hết trí mà kính mến Chúa là Đức Chúa Trời ngươi; và yêu người lân cận như mình.” Đức Chúa Giê-su phán: “Ngươi đáp phải lắm; hãy làm điều đó, thì được sống.” DA 497.4
Thầy dạy luật không thỏa lòng với lập trường và việc làm của người Pha-ri-si. Ông đã nghiên cứu Kinh Thánh với ước ao học biết ý nghĩa thật sự của nó. Ông quan tâm thiết tha đến vấn đề này, và đã chân thành hỏi: “Tôi phải làm gì?” Trong câu trả lời về những đòi hỏi của luật pháp, ông đã bỏ qua tất cả khối lễ nghi và các giới luật nghi thức. Đối với những điều ấy ông không cho là có giá trị gì, nhưng trình bày hai nguyên tắc lớn mà trên đó cả luật pháp và lời tiên tri đều tùy thuộc. Câu trả lời này, được Đấng Christ khen ngợi, đã đặt Đấng Cứu Thế vào thế thuận lợi đối với các thầy thông giáo. Họ không thể lên án Ngài vì đã tán thành điều mà một người giải nghĩa luật pháp đã đưa ra. DA 497.5
“Hãy làm điều đó, thì được sống,” Đức Chúa Giê-su phán. Ngài trình bày luật pháp như một thể thống nhất thiêng liêng, và trong bài học này Ngài dạy rằng không thể giữ một giới luật mà phá vỡ giới luật khác; vì cùng một nguyên tắc xuyên suốt qua tất cả. Số phận của con người sẽ được định đoạt bởi sự vâng phục toàn bộ luật pháp. Lòng yêu mến tối thượng đối với Đức Chúa Trời và lòng yêu thương không thiên vị đối với con người là những nguyên tắc phải được thể hiện trong đời sống. DA 498.1
Thầy dạy luật nhận thấy chính mình là kẻ phạm luật. Ông bị cáo trách dưới những lời dò xét của Đấng Christ. Sự công bình của luật pháp, mà ông tự nhận là hiểu rõ, ông đã không thực hành. Ông đã không bày tỏ tình yêu thương đối với người đồng loại. Sự ăn năn được đòi hỏi; nhưng thay vì ăn năn, ông cố tự biện minh. Thay vì thừa nhận lẽ thật, ông tìm cách cho thấy điều răn ấy khó được thực hiện đến chừng nào. Như vậy ông hy vọng vừa tránh được sự cáo trách vừa biện hộ cho mình trước mắt dân chúng. Những lời của Đấng Cứu Thế đã cho thấy câu hỏi của ông là thừa, bởi ông đã có thể tự trả lời. Tuy nhiên ông lại đưa ra một câu hỏi khác, rằng: “Ai là người lân cận tôi?” DA 498.2
Trong vòng người Do Thái, câu hỏi này gây ra cuộc tranh cãi không dứt. Họ không nghi ngờ gì về dân ngoại bang và người Sa-ma-ri; đó là những kẻ xa lạ và thù nghịch. Nhưng phải phân biệt thế nào giữa người trong chính dân tộc mình, và giữa các giai cấp khác nhau của xã hội? Thầy tế lễ, thầy thông giáo, trưởng lão phải xem ai là người lân cận? Họ dành cả đời mình trong vòng quay các nghi lễ để làm cho mình được tinh sạch. Họ dạy rằng tiếp xúc với đám đông ngu dốt và buông tuồng sẽ gây nên sự ô uế đòi hỏi phải nỗ lực nhọc nhằn mới gột rửa được. Họ phải xem những kẻ “ô uế” là người lân cận sao? DA 498.3
Một lần nữa Đức Chúa Giê-su từ chối bị lôi kéo vào cuộc tranh luận. Ngài không lên án sự cố chấp mù quáng của những kẻ đang rình rập để kết tội Ngài. Nhưng bằng một câu chuyện đơn sơ, Ngài đã giương lên trước những người nghe một bức tranh về dòng tuôn tràn của tình yêu thương sanh ra từ thiên đàng, đến nỗi chạm đến mọi tấm lòng, và khiến thầy dạy luật phải xưng nhận lẽ thật. DA 498.4
Cách để xua tan bóng tối là cho ánh sáng vào. Cách tốt nhất để đối phó với sai lầm là trình bày lẽ thật. Chính sự bày tỏ tình yêu thương của Đức Chúa Trời làm lộ ra sự méo mó và tội lỗi của tấm lòng tập trung vào bản thân. DA 498.5
“Có một người,” Đức Chúa Giê-su phán, “từ thành Giê-ru-sa-lem xuống thành Giê-ri-cô, lâm vào kẻ cướp, nó giựt lột hết, đánh cho mình mẩy bị thương rồi đi, để người đó nửa sống nửa chết. Vả, gặp một thầy tế lễ đi xuống đường đó, thấy người ấy, thì đi qua khỏi. Lại có một người Lê-vi cũng đến nơi, lại gần, thấy, rồi đi qua khỏi.” Lu-ca 10:30-32, R. V. Đây không phải là một cảnh tưởng tượng, mà là một sự việc có thật, được biết là đã xảy ra đúng như được mô tả. Thầy tế lễ và người Lê-vi đã đi qua khỏi ở phía bên kia đường đang ở trong đám người lắng nghe lời Đấng Christ. DA 499.1
Khi đi từ Giê-ru-sa-lem xuống Giê-ri-cô, người lữ hành phải băng qua một phần đồng vắng xứ Giu-đê. Con đường dẫn xuống một khe núi đá hoang dại, là nơi đầy dẫy bọn cướp, và thường là nơi xảy ra bạo lực. Chính tại đây người lữ hành bị tấn công, bị cướp hết mọi vật quý giá, bị thương tích bầm dập, và bị bỏ lại nửa sống nửa chết bên vệ đường. Trong khi người ấy nằm như vậy, thầy tế lễ đến nơi; nhưng ông chỉ liếc nhìn người bị thương. Rồi người Lê-vi xuất hiện. Tò mò muốn biết điều gì đã xảy ra, ông dừng lại và nhìn kẻ đau khổ. Ông bị cáo trách về điều mình phải làm; nhưng đó không phải là bổn phận dễ chịu. Ông ước chi mình đừng đi theo con đường ấy, để khỏi phải thấy người bị thương. Ông tự thuyết phục rằng việc này chẳng liên quan gì đến mình. DA 499.2
Cả hai người này đều giữ chức vụ thiêng liêng, và tự xưng là giải nghĩa Kinh Thánh. Họ thuộc giai cấp được chọn riêng để làm đại diện của Đức Chúa Trời cho dân chúng. Họ phải “thương xót kẻ ngu dốt sai lầm” (Hê-bơ-rơ 5:2), hầu cho họ có thể dẫn dắt người ta hiểu được tình yêu thương lớn lao của Đức Chúa Trời đối với nhân loại. Công việc mà họ được kêu gọi để làm cũng chính là công việc mà Đức Chúa Giê-su đã mô tả về chính Ngài khi phán: “Thần của Chúa ngự trên ta; vì Ngài đã xức dầu cho ta đặng truyền tin lành cho kẻ nghèo; Ngài đã sai ta để rao cho kẻ bị cầm được tha, kẻ mù được sáng, kẻ bị hà hiếp được tự do.” Lu-ca 4:18. DA 499.3
Các thiên sứ trên trời nhìn xem nỗi khốn khổ của gia đình Đức Chúa Trời trên đất, và họ sẵn sàng cộng tác với loài người trong việc xoa dịu sự áp bức và đau khổ. Trong sự quan phòng của Ngài, Đức Chúa Trời đã đưa thầy tế lễ và người Lê-vi đi qua con đường nơi kẻ bị thương đau khổ đang nằm, hầu cho họ thấy nhu cầu được thương xót và giúp đỡ của người ấy. Cả thiên đàng đều dõi theo xem lòng những người này có động lòng trắc ẩn trước nỗi đau của con người chăng. Đấng Cứu Thế chính là Đấng đã dạy dỗ dân Hê-bơ-rơ trong đồng vắng; từ trụ mây và trụ lửa, Ngài đã dạy một bài học rất khác với bài học mà dân chúng nay đang nhận lãnh từ các thầy tế lễ và các thầy dạy của họ. Những điều khoản nhân từ của luật pháp còn vươn đến cả các loài thú thấp kém, là loài không thể dùng lời nói diễn tả sự thiếu thốn và đau khổ của chúng. Những chỉ thị đã được ban cho Môi-se cho con cái Y-sơ-ra-ên về điều này như sau: “Nhược bằng ngươi gặp bò hay lừa của kẻ thù nghịch mình đi lạc, thì buộc phải đem nó về cho họ. Ngộ ngươi thấy lừa của kẻ ghét mình bị chở nặng phải quỵ, chớ khá bỏ ngơ, phải cứu nó cho được nhẹ.” Xuất Ê-díp-tô Ký 23:4, 5. Nhưng nơi người bị bọn cướp đánh trọng thương, Đức Chúa Giê-su đã trình bày trường hợp của một người anh em đang đau khổ. Lòng họ lẽ ra phải động lòng thương xót người ấy nhiều hơn là đối với một con thú chở nặng biết bao! Sứ điệp đã được ban cho họ qua Môi-se rằng Giê-hô-va Đức Chúa Trời của họ, “Đức Chúa Trời rất lớn, có quyền năng và đáng sợ,” “bào chữa công bình cho kẻ mồ côi và người góa bụa, thương người khách lạ.” Vậy nên Ngài truyền lịnh: “Các ngươi phải thương người khách lạ.” “Hãy thương yêu người như mình.” Phục Truyền Luật Lệ Ký 10:17-19; Lê-vi Ký 19:34. DA 500.1
Gióp đã nói: “Người lạ không có ngủ đêm ở ngoài đường; tôi mở cửa cho kẻ hành khách.” Và khi hai thiên sứ trong hình dạng loài người đến thành Sô-đôm, Lót cúi mặt xuống đất, mà nói: “Nầy, hai chúa, tôi xin hai chúa hãy đến ở nhà của kẻ tôi tớ hai chúa, và hãy nghỉ đêm tại đó.” Gióp 31:32; Sáng-thế Ký 19:2. Thầy tế lễ và người Lê-vi đều thông thuộc tất cả những bài học này, nhưng họ đã không đem chúng vào đời sống thực tế. Được đào tạo trong ngôi trường của thói cố chấp dân tộc, họ đã trở nên ích kỷ, hẹp hòi và bài ngoại. Khi họ nhìn người bị thương, họ không thể biết người ấy có thuộc dân tộc của họ hay không. Họ nghĩ rằng người ấy có thể là người Sa-ma-ri, và họ tránh đi. DA 500.2
Trong hành động của họ, như Đấng Christ đã mô tả, thầy dạy luật không thấy điều gì trái với những gì ông đã được dạy về những đòi hỏi của luật pháp. Nhưng giờ đây một cảnh tượng khác được trình bày ra: DA 503.1
Một người Sa-ma-ri kia, trên đường đi, đến chỗ người bị nạn nằm, và khi thấy người ấy, động lòng thương xót. Ông không hỏi xem kẻ xa lạ là người Do Thái hay dân ngoại. Nếu là người Do Thái, người Sa-ma-ri biết rõ rằng, nếu hoàn cảnh của họ đổi ngược lại, người ấy hẳn sẽ nhổ vào mặt ông, và khinh bỉ bỏ ông qua một bên. Nhưng ông không vì điều này mà do dự. Ông không nghĩ rằng chính mình có thể gặp nguy hiểm bị hành hung khi nán lại nơi đó. Chỉ cần biết rằng trước mặt ông có một con người đang khốn cùng và đau đớn là đủ rồi. Ông cởi áo của chính mình ra để che phủ cho người ấy. Dầu và rượu dự bị cho chuyến đi của mình, ông đem dùng để chữa lành và làm tươi tỉnh người bị thương. Ông đỡ người ấy lên con vật của mình, và đi chậm rãi với bước đều đặn, để cho kẻ xa lạ không bị xóc, không phải chịu thêm đau đớn. Ông đưa người ấy đến một quán trọ, và chăm sóc người suốt đêm, dịu dàng trông nom người. Đến sáng, khi người bệnh đã khá hơn, người Sa-ma-ri mới dám lên đường. Nhưng trước khi làm vậy, ông giao người ấy cho chủ quán chăm sóc, trả tiền phí tổn, và để lại một khoản đặt cọc vì lợi ích của người; và ngay cả như vậy vẫn chưa thỏa lòng, ông còn dự liệu cho bất cứ nhu cầu nào về sau, mà nói với chủ quán: “Hãy săn sóc người nầy, nếu tốn hơn nữa, khi tôi trở về sẽ trả.” DA 503.2
Khi câu chuyện kết thúc, Đức Chúa Giê-su nhìn chăm vào thầy dạy luật, bằng một cái nhìn dường như thấu suốt linh hồn ông, và phán: “Trong ba người đó, ngươi tưởng ai là lân cận với kẻ bị cướp dập?” Lu-ca 10:36. DA 503.3
Ngay cả lúc này, thầy dạy luật vẫn không chịu nói danh xưng Sa-ma-ri trên môi mình, và ông đáp: “Ấy là người đã lấy lòng thương xót đãi người.” Đức Chúa Giê-su phán: “Hãy đi, làm theo như vậy.” DA 503.4
Như vậy câu hỏi: “Ai là người lân cận tôi?” đã được giải đáp mãi mãi. Đấng Christ đã chỉ ra rằng người lân cận của chúng ta không chỉ có nghĩa là một người thuộc Hội Thánh hay đức tin mà chúng ta thuộc về. Nó không liên quan gì đến chủng tộc, màu da, hay sự phân biệt giai cấp. Người lân cận của chúng ta là mọi người đang cần sự giúp đỡ của chúng ta. Người lân cận của chúng ta là mọi linh hồn bị kẻ thù làm cho bị thương và bầm dập. Người lân cận của chúng ta là mọi người thuộc về Đức Chúa Trời. DA 503.5
Trong câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành, Đức Chúa Giê-su đã vẽ nên một bức tranh về chính Ngài và sứ mạng của Ngài. Loài người đã bị Sa-tan lừa dối, đánh đập, cướp bóc và hủy hoại, rồi bị bỏ mặc cho chết; nhưng Đấng Cứu Thế động lòng thương xót tình trạng bất lực của chúng ta. Ngài đã lìa bỏ vinh hiển của mình để đến giải cứu chúng ta. Ngài tìm thấy chúng ta sắp chết, và Ngài đã đảm nhận trường hợp của chúng ta. Ngài đã chữa lành những vết thương của chúng ta. Ngài đã lấy áo công bình của Ngài che phủ chúng ta. Ngài đã mở cho chúng ta một nơi ẩn náu an toàn, và dự liệu đầy đủ cho chúng ta bằng chính phí tổn của Ngài. Ngài đã chịu chết để cứu chuộc chúng ta. Chỉ vào tấm gương của chính mình, Ngài phán cùng những kẻ theo Ngài: “Ta truyền cho các ngươi những điều răn nầy, đặng các ngươi yêu mến lẫn nhau.” “Như ta đã yêu các ngươi thể nào, thì các ngươi cũng hãy yêu nhau thể ấy.” Giăng 15:17; 13:34. DA 503.6
Câu hỏi của thầy dạy luật dành cho Đức Chúa Giê-su là: “Tôi phải làm gì?” Và Đức Chúa Giê-su, nhìn nhận lòng yêu mến Đức Chúa Trời và yêu người là tổng kết của sự công bình, đã phán: “Hãy làm điều đó, thì ngươi sẽ sống.” Người Sa-ma-ri đã vâng theo sự thúc giục của một tấm lòng nhân từ và yêu thương, và trong việc đó đã chứng tỏ mình là người làm theo luật pháp. Đấng Christ truyền cho thầy dạy luật: “Hãy đi, làm theo như vậy.” Làm, chứ không phải chỉ nói, ấy là điều được mong đợi nơi con cái Đức Chúa Trời. “Ai nói mình ở trong Ngài, thì cũng phải làm theo như chính Ngài đã làm.” 1 Giăng 2:6. DA 504.1
Bài học này ngày nay trong thế gian không kém cần thiết hơn so với khi nó thốt ra từ môi miệng Đức Chúa Giê-su. Sự ích kỷ và hình thức lạnh lùng gần như đã dập tắt ngọn lửa yêu thương, và xua đuổi những ân điển lẽ ra phải làm cho phẩm hạnh thơm ngát. Nhiều người xưng nhận danh Ngài đã quên mất sự thật rằng những người Cơ-đốc phải đại diện cho Đấng Christ. Trừ phi có sự hy sinh quên mình thực tế vì lợi ích của người khác, trong vòng gia đình, trong khu xóm, trong Hội Thánh, và bất cứ nơi nào chúng ta có mặt, thì dù chúng ta xưng nhận điều gì đi nữa, chúng ta cũng không phải là những người Cơ-đốc. DA 504.2
Đấng Christ đã gắn liền lợi ích của Ngài với lợi ích của nhân loại, và Ngài yêu cầu chúng ta trở nên một với Ngài để cứu rỗi nhân loại. Ngài phán: “Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không.” Ma-thi-ơ 10:8. Tội lỗi là điều dữ lớn nhất trong mọi điều dữ, và bổn phận của chúng ta là thương xót và giúp đỡ kẻ có tội. Có nhiều người lầm lạc, và cảm thấy sự xấu hổ cùng sự dại dột của mình. Họ đang đói khát những lời khích lệ. Họ cứ nhìn vào những lỗi lầm và sai phạm của mình, cho đến khi gần như bị đẩy đến chỗ tuyệt vọng. Chúng ta không được phép bỏ bê những linh hồn này. Nếu chúng ta là những người Cơ-đốc, chúng ta sẽ không tránh qua phía bên kia, giữ khoảng cách càng xa càng tốt với chính những người cần sự giúp đỡ của chúng ta nhất. Khi chúng ta thấy con người trong cảnh khốn khổ, dù vì hoạn nạn hay vì tội lỗi, chúng ta sẽ không bao giờ nói: Điều này không liên quan đến tôi. DA 504.3
“Anh em là kẻ thiêng liêng, hãy lấy lòng mềm mại mà sửa họ lại.” Ga-la-ti 6:1. Bằng đức tin và lời cầu nguyện, hãy đẩy lui quyền lực của kẻ thù. Hãy nói những lời đức tin và can đảm, sẽ như một thứ dầu thơm chữa lành cho người bị bầm dập và bị thương. Rất nhiều, rất nhiều người đã ngã lòng và trở nên nản chí trong cuộc tranh đấu lớn của đời sống, trong khi chỉ một lời khích lệ ân cần hẳn đã thêm sức cho họ đắc thắng. Chúng ta đừng bao giờ bỏ qua một linh hồn đau khổ nào mà không tìm cách san sẻ cho người sự yên ủi mà chính chúng ta đã được Đức Chúa Trời yên ủi. DA 504.4
Tất cả những điều này chỉ là sự ứng nghiệm của nguyên tắc luật pháp—nguyên tắc được minh họa trong câu chuyện người Sa-ma-ri nhân lành, và được tỏ ra trong đời sống của Đức Chúa Giê-su. Phẩm hạnh của Ngài bày tỏ ý nghĩa thật của luật pháp, và cho thấy yêu người lân cận như mình là gì. Và khi con cái Đức Chúa Trời tỏ lòng thương xót, nhân từ và yêu thương đối với mọi người, họ cũng đang làm chứng cho phẩm cách của các luật lệ thiên đàng. Họ đang làm chứng cho sự thật rằng “luật pháp của Đức Giê-hô-va là trọn vẹn, bổ linh hồn lại.” Thi-thiên 19:7. Và bất cứ ai không bày tỏ tình yêu thương này thì đang vi phạm chính luật pháp mà mình tuyên xưng là tôn kính. Vì tinh thần chúng ta tỏ ra đối với anh em mình tuyên bố tinh thần của chúng ta đối với Đức Chúa Trời ra sao. Tình yêu thương của Đức Chúa Trời trong lòng là nguồn duy nhất của tình yêu thương đối với người lân cận. “Vì có ai nói rằng: Ta yêu Đức Chúa Trời, mà lại ghét anh em mình, thì là kẻ nói dối; vì kẻ nào chẳng yêu anh em mình thấy, thì không thể yêu Đức Chúa Trời mình chẳng thấy được.” Hỡi kẻ rất yêu dấu, “nếu chúng ta yêu nhau, thì Đức Chúa Trời ở trong chúng ta, và sự yêu mến Ngài được trọn vẹn trong chúng ta.” 1 Giăng 4:20, 12. DA 505.1