Chuyến Đi Cuối Cùng Rời Ga-li-lê
Chương này dựa trên Lu-ca 9:51-56; Lu-ca 10:1-24. DA 485.1
Khi sự kết thúc chức vụ của Ngài đến gần, có một sự thay đổi trong cách làm việc của Đấng Christ. Trước đây Ngài đã tìm cách tránh sự náo động và công khai. Ngài đã từ chối sự tôn kính của dân chúng, và đã nhanh chóng đi từ nơi này đến nơi khác khi lòng nhiệt thành của quần chúng dành cho Ngài dường như bừng cháy ngoài tầm kiểm soát. Hết lần này đến lần khác, Ngài đã truyền lệnh rằng không ai được công bố Ngài là Đấng Christ. DA 485.2
Vào dịp Lễ Lều Tạm, hành trình của Ngài đến Giê-ru-sa-lem đã được thực hiện cách nhanh chóng và bí mật. Khi bị các em trai thúc giục tự ra mắt công khai như Đấng Mê-si, câu trả lời của Ngài là, “Thì giờ ta chưa đến.”
“Đức Chúa Giê-su phán cùng anh em rằng: Thì giờ ta chưa đến; còn về các ngươi, thì giờ được tiện luôn luôn.” (Giăng 7:6)
Ngài đi đến Giê-ru-sa-lem mà không bị để ý, và bước vào thành mà không được loan báo, không được đám đông tôn kính. Nhưng không phải như vậy với hành trình cuối cùng của Ngài. Ngài đã rời Giê-ru-sa-lem một thời gian vì sự ác ý của các thầy tế lễ và các thầy thông giáo. Nhưng giờ đây Ngài lên đường trở lại, đi theo cách công khai nhất, theo một con đường vòng, và được loan báo về sự đến của Ngài như Ngài chưa từng làm trước đây. Ngài đang tiến đến hiện trường của sự hy sinh lớn lao của Ngài, và sự chú ý của dân chúng phải được hướng về điều này. DA 485.3
“Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy.”
“Xưa Môi-se treo con rắn lên nơi đồng vắng thể nào, thì Con người cũng phải bị treo lên dường ấy,” (Giăng 3:14)
Như mắt của cả Y-sơ-ra-ên đã được hướng về con rắn bị treo lên, biểu tượng được chỉ định cho sự chữa lành của họ, thì tất cả mọi mắt phải được hướng về Đấng Christ, của lễ đã mang sự cứu rỗi đến cho thế gian hư mất. DA 485.4
Chính một quan niệm sai lầm về công việc của Đấng Mê-si, và sự thiếu đức tin nơi bản tính thiêng liêng của Đức Chúa Giê-su, đã khiến các em trai Ngài thúc giục Ngài tự ra mắt công khai trước dân chúng tại Lễ Lều Tạm. Giờ đây, với tinh thần giống như vậy, các môn đồ muốn ngăn cản Ngài thực hiện hành trình đến Giê-ru-sa-lem. Họ nhớ những lời Ngài nói về điều sẽ xảy đến cho Ngài tại đó, họ biết sự thù địch chết người của các nhà lãnh đạo tôn giáo, và họ rất muốn can ngăn Thầy mình khỏi đi đến đó. DA 485.5
Đối với tấm lòng của Đấng Christ, đó là một nhiệm vụ cay đắng khi phải tiến bước ngược lại với sự sợ hãi, thất vọng và lòng không tin của các môn đồ yêu dấu của Ngài. Thật khó để dẫn họ tiến đến sự đau đớn và tuyệt vọng đang chờ đợi họ tại Giê-ru-sa-lem. Và Sa-tan đã ở bên cạnh để ép buộc những cám dỗ của hắn lên Con Người. Tại sao bây giờ Ngài phải đi đến Giê-ru-sa-lem, đến chỗ chết chắc chắn? Khắp xung quanh Ngài là những linh hồn đói khát bánh sự sống. Bên mọi phía là những người đau khổ đang chờ đợi lời chữa lành của Ngài. Công việc phải được thực hiện bởi tin lành của ân điển Ngài chỉ vừa mới bắt đầu. Và Ngài đang tràn đầy sức lực của thời kỳ sung mãn của tuổi tráng niên. Tại sao không tiến đến những cánh đồng rộng lớn của thế gian với những lời ân điển của Ngài, sự đụng chạm của quyền năng chữa lành của Ngài? Tại sao không nhận lấy cho mình niềm vui ban ánh sáng và sự vui mừng cho hàng triệu người đang tối tăm và sầu khổ ấy? Tại sao để việc thu hoạch mùa gặt lại cho các môn đồ của Ngài, những người đức tin còn yếu đuối, sự hiểu biết còn chậm chạp, hành động còn trì trệ như vậy? Tại sao bây giờ phải đối mặt với cái chết, và để công việc còn trong giai đoạn sơ khai? Kẻ thù đã đối đầu với Đấng Christ trong đồng vắng giờ đây tấn công Ngài bằng những cám dỗ dữ dội và tinh vi. Nếu Đức Chúa Giê-su nhượng bộ trong giây lát, nếu Ngài thay đổi đường lối của mình dù chỉ một chút để cứu lấy chính mình, thì các thế lực của Sa-tan sẽ thắng, và thế gian sẽ bị hư mất. DA 486.1
Nhưng Đức Chúa Giê-su đã “quyết định đi thẳng lên Giê-ru-sa-lem.” Luật pháp duy nhất của cuộc đời Ngài là ý muốn của Đức Chúa Cha. Trong chuyến viếng thăm đền thờ thuở thiếu thời, Ngài đã nói với Ma-ri, “Cha mẹ há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?”
“Ngài thưa rằng: Cha mẹ kiếm tôi làm chi? Há chẳng biết tôi phải lo việc Cha tôi sao?” (Lu-ca 2:49)
Tại Ca-na, khi Ma-ri mong muốn Ngài bày tỏ quyền năng làm phép lạ của Ngài, câu trả lời của Ngài là, “Giờ ta chưa đến.”
“Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Hỡi đàn bà kia, ta với ngươi có sự gì chăng? Giờ ta chưa đến.” (Giăng 2:4)
Với cùng những lời ấy, Ngài đã trả lời các em trai khi họ thúc giục Ngài đi đến lễ. Nhưng trong kế hoạch vĩ đại của Đức Chúa Trời, giờ đã được chỉ định cho việc hiến chính mình Ngài vì tội lỗi của loài người, và giờ ấy sắp điểm. Ngài sẽ không thất bại cũng không nao núng. Bước chân Ngài hướng về Giê-ru-sa-lem, nơi kẻ thù của Ngài đã từ lâu âm mưu lấy đi mạng sống Ngài; giờ đây Ngài sẽ phó nó xuống. Ngài quyết định đi đến sự bắt bớ, sự chối bỏ, sự cự tuyệt, sự lên án, và sự chết. DA 486.2
Và Ngài “sai sứ giả đi trước Ngài; họ ra đi và vào trong một làng của người Sa-ma-ri để sửa soạn cho Ngài.” Nhưng dân chúng từ chối tiếp đón Ngài, vì Ngài đang trên đường đến Giê-ru-sa-lem. Họ giải thích điều này có nghĩa là Đấng Christ tỏ lòng ưu ái người Do Thái, là những người họ căm ghét với sự cay đắng tột độ. Nếu Ngài đã đến để khôi phục đền thờ và sự thờ phượng trên núi Ga-ri-xim, họ hẳn đã vui mừng tiếp đón Ngài; nhưng Ngài đang đi đến Giê-ru-sa-lem, và họ sẽ không tỏ lòng hiếu khách với Ngài. Họ chẳng hề nhận biết rằng họ đang đẩy món quà tốt nhất của thiên đàng ra khỏi cửa nhà mình. Đức Chúa Giê-su mời gọi loài người tiếp nhận Ngài, Ngài cầu xin ân huệ từ tay họ, để Ngài có thể đến gần họ, mà ban cho những ơn phước phong phú nhất. Đối với mỗi ân huệ được tỏ ra cho Ngài, Ngài đáp lại bằng một ân điển quý báu hơn. Nhưng tất cả đều mất đi đối với người Sa-ma-ri vì thành kiến và sự cố chấp của họ. DA 486.3
Gia-cơ và Giăng, những sứ giả của Đấng Christ, vô cùng bực tức trước sự sỉ nhục tỏ ra cho Chúa của họ. Họ đầy lòng phẫn nộ vì Ngài đã bị người Sa-ma-ri đối xử thô lỗ như vậy, là những người mà Ngài đang ban vinh dự bằng sự hiện diện của Ngài. Họ vừa mới ở với Ngài trên núi hóa hình, và đã thấy Ngài được Đức Chúa Trời làm vinh hiển, và được Môi-se và Ê-li tôn vinh. Sự sỉ nhục lộ liễu này từ phía người Sa-ma-ri, họ nghĩ, không nên bỏ qua mà không có hình phạt rõ rệt. DA 487.1
Đến cùng Đấng Christ, họ thuật lại cho Ngài những lời của dân chúng, nói với Ngài rằng họ thậm chí từ chối cho Ngài chỗ trọ qua đêm. Họ nghĩ rằng một điều sai trái nghiêm trọng đã được làm với Ngài, và thấy núi Cạt-mên ở đằng xa, nơi Ê-li đã giết các tiên tri giả, họ nói, “Thưa Chúa, Chúa có muốn chúng tôi khiến lửa từ trên trời xuống thiêu hủy họ chăng, như Ê-li đã làm?” Họ ngạc nhiên khi thấy Đức Chúa Giê-su đau lòng vì những lời của họ, và càng ngạc nhiên hơn khi lời quở trách của Ngài lọt vào tai họ, “Các ngươi không biết mình thuộc về thần linh nào. Vì Con người đã đến không phải để hủy diệt mạng sống loài người, mà để cứu họ.” Và Ngài đi sang một làng khác. DA 487.2
Chẳng phải một phần nào trong sứ mạng của Đấng Christ là ép buộc loài người tiếp nhận Ngài. Chính là Sa-tan, và những kẻ bị thúc đẩy bởi tinh thần của hắn, mới tìm cách cưỡng ép lương tâm. Dưới chiêu bài nhiệt thành vì sự công bình, những kẻ liên kết với các thiên sứ ác mang sự đau khổ đến cho đồng loại mình, nhằm cải hóa họ theo ý tưởng tôn giáo của mình; nhưng Đấng Christ luôn tỏ lòng thương xót, luôn tìm cách chinh phục bằng sự bày tỏ tình yêu thương của Ngài. Ngài không thể chấp nhận một đối thủ nào trong linh hồn, cũng không chấp nhận sự phục vụ nửa vời; nhưng Ngài chỉ mong muốn sự phục vụ tự nguyện, sự đầu phục tấm lòng cách sẵn lòng dưới sự thôi thúc của tình yêu thương. Không thể có bằng chứng nào rõ ràng hơn rằng chúng ta sở hữu tinh thần của Sa-tan bằng khuynh hướng làm tổn thương và hủy diệt những người không trân trọng công việc của chúng ta, hoặc hành động trái với ý tưởng của chúng ta. DA 487.3
Mỗi con người, về thân thể, linh hồn và thần linh, đều là tài sản của Đức Chúa Trời. Đấng Christ đã chết để cứu chuộc tất cả. Không gì có thể xúc phạm Đức Chúa Trời hơn việc loài người, qua sự cố chấp tôn giáo, mang sự đau khổ đến cho những người là vật mua chuộc bằng huyết của Đấng Cứu Thế. DA 488.1
“Đức Chúa Giê-su từ đó mà đi, qua bờ cõi xứ Giu-đê, bên kia sông Giô-đanh. Đoàn dân đông lại nhóm họp cùng Ngài, Ngài dạy dỗ chúng y như lệ thường.”
“Đức Chúa Giê-su từ đó mà đi, qua bờ cõi xứ Giu-đê, bên kia sông Giô-đanh. Đoàn dân đông lại nhóm họp cùng Ngài, Ngài dạy dỗ chúng y như lệ thường.” (Mác 10:1)
DA 488.2
Một phần đáng kể trong những tháng cuối cùng của chức vụ Đấng Christ đã được trải qua tại Bê-rê, tỉnh nằm ở “bên kia sông Giô-đanh” cách xứ Giu-đê. Tại đây đám đông chen chúc theo bước chân Ngài, như trong chức vụ ban đầu của Ngài ở Ga-li-lê, và phần nhiều sự dạy dỗ trước kia của Ngài được lặp lại. DA 488.3
Như Ngài đã sai mười hai sứ đồ đi, Ngài cũng “lập bảy mươi người khác, sai từng đôi đi trước Ngài, đến các thành các nơi mà chính Ngài sẽ đi.”
“Kế đó, Chúa chọn bảy mươi môn đồ khác, sai từng đôi đi trước Ngài, đến các thành các chỗ mà chính Ngài sẽ đi.” (Lu-ca 10:1)
Những môn đồ này đã ở với Ngài một thời gian, được huấn luyện cho công việc của họ. Khi mười hai sứ đồ được sai đi trong sứ mạng riêng đầu tiên của họ, các môn đồ khác đã đồng hành với Đức Chúa Giê-su trong hành trình của Ngài qua xứ Ga-li-lê. Như vậy họ có đặc ân được gần gũi mật thiết với Ngài, và được dạy dỗ trực tiếp cách riêng tư. Giờ đây số đông hơn này cũng phải đi ra trong một sứ mạng riêng. DA 488.4
Những lời chỉ dẫn cho bảy mươi người cũng tương tự như những lời đã ban cho mười hai môn đồ; nhưng mệnh lệnh cho mười hai môn đồ, là không được vào bất cứ thành nào của dân ngoại hay của người Sa-ma-ri, thì lại không ban cho bảy mươi người. Dù Đấng Christ vừa mới bị người Sa-ma-ri cự tuyệt, nhưng tình yêu thương của Ngài đối với họ vẫn không hề thay đổi. Khi bảy mươi người đi ra trong danh Ngài, trước hết họ đã đến thăm các thành của xứ Sa-ma-ri. DA 488.5
Chính chuyến viếng thăm của Đấng Cứu Thế tại Sa-ma-ri, và về sau, lời khen ngợi người Sa-ma-ri nhân lành, cùng niềm vui đầy lòng biết ơn của người phung kia, một người Sa-ma-ri, là người duy nhất trong mười người đã trở lại tạ ơn Đấng Christ, tất cả đều đầy ý nghĩa đối với các môn đồ. Bài học ấy đã thấm sâu vào lòng họ. Trong lời ủy thác cho họ, ngay trước khi Ngài thăng thiên, Đức Chúa Giê-su đã nhắc đến Sa-ma-ri cùng với Giê-ru-sa-lem và Giu-đê là những nơi mà trước hết họ phải rao giảng tin lành. Lời ủy thác này mà sự dạy dỗ của Ngài đã chuẩn bị cho họ thực hiện. Khi họ nhân danh Thầy mình mà đến Sa-ma-ri, họ thấy dân chúng sẵn lòng tiếp đón họ. Người Sa-ma-ri đã nghe về những lời khen ngợi của Đấng Christ và những công việc thương xót của Ngài dành cho những người thuộc dân tộc họ. Họ thấy rằng, dù họ đã đối xử thô lỗ với Ngài, nhưng Ngài chỉ có những ý tưởng yêu thương đối với họ, và lòng họ đã được chinh phục. Sau khi Ngài thăng thiên, họ tiếp đón những sứ giả của Đấng Cứu Thế, và các môn đồ đã gặt được một mùa gặt quý báu giữa vòng những người trước kia là kẻ thù cay đắng nhất của họ.
“Người sẽ chẳng bẻ cây sậy đã giập, và chẳng dụt tim đèn còn hơi cháy. Người sẽ lấy lẽ thật mà tỏ ra sự công bình.” (Ê-sai 42:3)
“Dân ngoại sẽ trông cậy danh người.” (Ma-thi-ơ 12:21)
DA 488.6
Khi sai bảy mươi người ra đi, Đức Chúa Giê-su truyền cho họ, như Ngài đã truyền cho mười hai môn đồ, rằng đừng ép buộc sự hiện diện của mình ở nơi mà họ không được hoan nghênh. Ngài phán:
“Song hễ các ngươi vào thành nào, họ không tiếp rước, hãy đi ra ngoài chợ, mà nói rằng: Đối với các ngươi, chúng ta cũng phủi bụi của thành các ngươi đã dính chân chúng ta; nhưng phải biết nước Đức Chúa Trời đã đến gần các ngươi rồi.” (Lu-ca 10:10-11)
Họ làm điều này không phải vì lòng oán giận hay vì phẩm giá bị tổn thương, nhưng để cho thấy việc khước từ sứ điệp của Chúa hay những sứ giả của Ngài là điều nghiêm trọng dường nào. Khước từ các tôi tớ của Chúa tức là khước từ chính Đấng Christ. DA 489.1
Đức Chúa Giê-su nói thêm:
“Ta phán cùng các ngươi, đến ngày cuối cùng, thành Sô-đôm sẽ chịu nhẹ hơn thành này.” (Lu-ca 10:12)
Rồi tâm trí Ngài quay về với những thị trấn xứ Ga-li-lê là nơi mà phần lớn chức vụ của Ngài đã trải qua. Với giọng vô cùng sầu thảm, Ngài kêu lên:
“Khốn nạn cho mầy, thành Cô-ra-xin! Khốn nạn cho mầy, thành Bết-sai-đa! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa bây, đem làm trong thành Ty-rơ và Si-đôn, thì hai thành đó thật đã mặc áo gai, đội tro, ăn năn từ lâu rồi. Vậy nên ta bảo bây, đến ngày phán xét, thành Ty-rơ và thành Si-đôn sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn bây. Còn mầy, Ca-bê-na-um, là thành đã được cao tới trời, sẽ hạ xuống tới âm phủ! Vì nếu các phép lạ đã làm giữa mầy, đem làm trong thành Sô-đôm, thì thành ấy còn lại đến ngày nay.” (Ma-thi-ơ 11:21-23)
DA 489.2
Đối với những thị trấn nhộn nhịp quanh biển Ga-li-lê, những phước lành dư dật nhất của thiên đàng đã được tự do ban cho. Ngày này qua ngày khác, Chúa của sự sống đã đi ra đi vào giữa vòng họ. Sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, mà các tiên tri và các vua hằng mong ước được thấy, đã chiếu sáng trên đoàn dân đông chen chúc theo bước chân của Đấng Cứu Thế. Vậy mà họ đã khước từ Ân Tứ từ trời. DA 489.3
Với vẻ rất khôn ngoan, các thầy thông giáo đã cảnh báo dân chúng đừng tiếp nhận những giáo lý mới mà người thầy mới này dạy dỗ; vì những lý thuyết và cách thực hành của Ngài trái ngược với sự dạy dỗ của các tổ phụ. Dân chúng tin theo những điều các thầy tế lễ và người Pha-ri-si dạy dỗ, thay vì tìm cách tự mình hiểu biết lời Đức Chúa Trời. Họ tôn kính các thầy tế lễ và các quan trưởng thay vì tôn kính Đức Chúa Trời, và khước từ lẽ thật để giữ lấy những truyền thống riêng của mình. Nhiều người đã được cảm động và gần như bị thuyết phục; nhưng họ không hành động theo niềm xác tín của mình, và không được kể là đứng về phía Đấng Christ. Sa-tan đem những cám dỗ của nó đến, cho đến khi ánh sáng dường như trở thành bóng tối. Như vậy, nhiều người đã khước từ lẽ thật vốn có thể đem lại sự cứu rỗi cho linh hồn họ. DA 489.4
Đấng Làm Chứng Chân Thật phán:
“Nầy, ta đứng ngoài cửa mà gõ; nếu ai nghe tiếng ta mà mở cửa cho, thì ta sẽ vào cùng người ấy, ăn bữa tối với người, và người với ta.” (Khải-huyền 3:20)
Mỗi lời cảnh báo, lời quở trách, và lời khẩn nài trong lời Đức Chúa Trời hay qua những sứ giả của Ngài là một tiếng gõ vào cửa lòng. Đó là tiếng của Đức Chúa Giê-su xin được bước vào. Với mỗi tiếng gõ không được lưu tâm, lòng sẵn sàng mở cửa càng trở nên yếu hơn. Những ấn tượng của Đức Thánh Linh nếu hôm nay bị xem thường, thì ngày mai sẽ không còn mạnh mẽ nữa. Tấm lòng trở nên ít nhạy cảm hơn, và rơi vào tình trạng vô tâm nguy hiểm về sự ngắn ngủi của cuộc đời, và về cõi đời đời vĩ đại ở bên kia. Sự kết tội của chúng ta trong ngày phán xét sẽ không phải vì chúng ta đã sai lầm, nhưng vì chúng ta đã chểnh mảng những cơ hội từ trời ban cho để học biết điều gì là lẽ thật. DA 489.5
Giống như các sứ đồ, bảy mươi người đã nhận được những ân tứ siêu nhiên làm ấn chứng cho sứ mạng của họ. Khi công việc của họ hoàn tất, họ trở về với niềm vui mừng, mà nói rằng:
“Bảy mươi môn đồ trở về cách vui vẻ, thưa rằng: Lạy Chúa, vì danh Chúa các quỉ cũng phục chúng tôi.” (Lu-ca 10:17)
Đức Chúa Giê-su đáp:
“Đức Chúa Giê-su bèn phán rằng: Ta đã thấy quỉ Sa-tan từ trời sa xuống như chớp.” (Lu-ca 10:18)
DA 490.1
Những cảnh tượng của quá khứ và tương lai được bày ra trước tâm trí Đức Chúa Giê-su. Ngài thấy Lu-xi-phe khi nó bị đuổi khỏi những nơi thiên đàng lần đầu tiên. Ngài hướng về phía trước, đến những cảnh tượng của sự thống khổ của chính Ngài, khi trước mặt mọi thế giới, bản chất của kẻ lừa dối sẽ được phơi bày. Ngài nghe tiếng kêu, “Mọi việc đã được trọn” (John 19:30), công bố rằng sự cứu chuộc cho nhân loại hư mất đã được bảo đảm đời đời, rằng thiên đàng đã được an toàn vĩnh viễn khỏi những lời buộc tội, những sự lừa dối, những điều giả mạo mà Sa-tan sẽ xúi giục. DA 490.2
Vượt xa thập tự giá Gô-gô-tha, với sự thống khổ và nhục nhã của nó, Đức Chúa Giê-su hướng về phía trước đến ngày cuối cùng vĩ đại, khi kẻ cầm quyền chốn không trung sẽ gặp sự hủy diệt của nó trên trái đất đã bị hư hoại bấy lâu vì sự phản nghịch của nó. Đức Chúa Giê-su thấy công việc của sự ác chấm dứt đời đời, và sự bình an của Đức Chúa Trời đầy dẫy cả trời và đất. DA 490.3
Từ đó về sau, những kẻ theo Đấng Christ phải xem Sa-tan như một kẻ thù đã bị đánh bại. Trên thập tự giá, Đức Chúa Giê-su sẽ giành được sự đắc thắng cho họ; sự đắc thắng ấy Ngài mong muốn họ tiếp nhận như của chính mình. Ngài phán:
“Nầy, ta đã ban quyền cho các ngươi giày đạp rắn, bò cạp, và mọi quyền của kẻ nghịch dưới chân; không gì làm hại các ngươi được.” (Lu-ca 10:19)
DA 490.4
Quyền năng toàn năng của Đức Thánh Linh là sự bảo vệ cho mỗi linh hồn ăn năn thống hối. Đấng Christ sẽ không cho phép một linh hồn nào trong sự thống hối và đức tin đã cầu xin sự bảo vệ của Ngài phải rơi vào quyền lực của kẻ thù. Đấng Cứu Thế ở bên cạnh những kẻ bị cám dỗ và thử thách của Ngài. Với Ngài thì không thể nào có sự thất bại, mất mát, điều bất khả, hay sự bại trận; chúng ta có thể làm được mọi sự nhờ Đấng ban thêm sức cho chúng ta. Khi những cám dỗ và thử thách đến, đừng chờ đợi giải quyết hết mọi khó khăn, nhưng hãy nhìn xem Đức Chúa Giê-su, Đấng giúp đỡ của bạn. DA 490.5
Có những người Cơ-đốc suy nghĩ và nói quá nhiều về quyền lực của Sa-tan. Họ nghĩ về kẻ thù nghịch của mình, họ cầu nguyện về nó, họ nói về nó, và nó hiện lên ngày càng to lớn hơn trong trí tưởng tượng của họ. Đúng là Sa-tan là một kẻ có quyền lực; nhưng, tạ ơn Đức Chúa Trời, chúng ta có một Đấng Cứu Thế quyền năng, là Đấng đã đuổi kẻ ác ra khỏi thiên đàng. Sa-tan vui thích khi chúng ta phóng đại quyền lực của nó. Sao chúng ta không nói về Đức Chúa Giê-su? Sao không phóng đại quyền năng và tình yêu thương của Ngài? DA 493.1
Cầu vồng của lời hứa bao quanh ngôi cao là một chứng cớ đời đời rằng
“Vì Đức Chúa Trời yêu thương thế gian, đến nỗi đã ban Con một của Ngài, hầu cho hễ ai tin Con ấy không bị hư mất mà được sự sống đời đời.” (Giăng 3:16)
Nó làm chứng cho cả vũ trụ rằng Đức Chúa Trời sẽ không bao giờ lìa bỏ dân Ngài trong cuộc chiến đấu của họ với sự ác. Đó là một sự bảo đảm cho chúng ta về sức mạnh và sự bảo vệ chừng nào chính ngôi ấy còn tồn tại. DA 493.2
Đức Chúa Giê-su nói thêm rằng: “Dầu vậy, chớ mừng vì các quỉ phục các ngươi; nhưng hãy mừng vì tên các ngươi đã ghi trên thiên đàng.” Đừng vui mừng vì đã có quyền năng, kẻo các ngươi quên sự lệ thuộc của mình nơi Đức Chúa Trời. Hãy cẩn thận kẻo sự tự mãn xen vào, và các ngươi làm việc bằng sức riêng mình, thay vì trong tâm linh và sức mạnh của Chủ mình. Cái tôi luôn sẵn sàng nhận lấy công lao nếu công việc đạt được chút thành công nào. Cái tôi được tâng bốc và đề cao, và tâm trí người khác không nhận được ấn tượng rằng Đức Chúa Trời là tất cả và trong tất cả. Sứ đồ Phao-lô nói: “Khi tôi yếu đuối, ấy là lúc tôi mạnh mẽ.” 2 Cô-rinh-tô 12:10. Khi chúng ta ý thức được sự yếu đuối của mình, chúng ta học cách nương cậy nơi một quyền năng không phải tự bản thân mình có. Không có gì có thể nắm giữ tấm lòng mạnh mẽ bằng ý thức thường trực về trách nhiệm của chúng ta đối với Đức Chúa Trời. Không có gì chạm đến tận những động cơ sâu xa nhất của hành vi cách trọn vẹn bằng ý thức về tình yêu tha thứ của Đấng Christ. Chúng ta phải đến gần Đức Chúa Trời, rồi chúng ta sẽ được thấm nhuần Đức Thánh Linh của Ngài, là điều giúp chúng ta đến gần đồng loại của mình. Vậy hãy vui mừng vì qua Đấng Christ các ngươi đã được kết nối với Đức Chúa Trời, làm thành viên của gia đình thiên đàng. Khi các ngươi nhìn lên cao hơn chính mình, các ngươi sẽ luôn có ý thức về sự yếu đuối của con người. Càng ít trân quý cái tôi, sự lãnh hội của các ngươi về sự tuyệt hảo của Đấng Cứu Thế càng rõ ràng và trọn vẹn. Các ngươi càng kết nối mật thiết với nguồn ánh sáng và quyền năng, ánh sáng càng lớn được chiếu trên các ngươi, và quyền năng càng lớn sẽ thuộc về các ngươi để làm việc cho Đức Chúa Trời. Hãy vui mừng vì các ngươi là một với Đức Chúa Trời, một với Đấng Christ, và với cả gia đình thiên đàng. DA 493.3
Khi bảy mươi môn đồ lắng nghe lời của Đấng Christ, Đức Thánh Linh đang khắc sâu vào tâm trí họ những thực tại sống động, và viết lẽ thật lên bảng tâm hồn. Dù đám đông vây quanh họ, họ vẫn như được ở riêng với Đức Chúa Trời. DA 494.1
Biết rằng họ đã bắt được nguồn cảm hứng của giờ phút ấy, Đức Chúa Giê-su “nức lòng bởi Đức Thánh Linh, bèn nói rằng: Lạy Cha, là Chúa trời đất, tôi ngợi khen Cha, vì Cha đã giấu những sự nầy với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho trẻ con hay! Thưa Cha, phải, thật như vậy, vì Cha đã thấy điều đó là tốt lành. Cha ta đã giao mọi sự cho ta; ngoài Cha không ai biết Con là ai; ngoài Con, và người nào mà Con muốn tỏ ra cùng, thì cũng không có ai biết Cha là ai.” DA 494.2
Những người được thế gian tôn trọng, những người được gọi là vĩ đại và khôn ngoan, với tất cả sự khôn ngoan mà họ tự hào, không thể lãnh hội được tính cách của Đấng Christ. Họ xét đoán Ngài qua vẻ bề ngoài, qua sự hèn hạ mà Ngài đã mang lấy với tư cách một con người. Nhưng những người đánh cá và người thâu thuế lại được ban cho khả năng nhìn thấy Đấng Vô Hình. Ngay cả các môn đồ cũng không hiểu được tất cả những gì Đức Chúa Giê-su muốn bày tỏ cho họ; nhưng thỉnh thoảng, khi họ phó mình cho quyền năng của Đức Thánh Linh, tâm trí họ được soi sáng. Họ nhận ra rằng Đức Chúa Trời quyền năng, mặc lấy hình hài con người, đang ở giữa họ. Đức Chúa Giê-su vui mừng vì dù sự hiểu biết này không thuộc về những người khôn ngoan và sáng dạ, nó đã được bày tỏ cho những con người khiêm nhường này. Mỗi khi Ngài trình bày Kinh Thánh Cựu Ước, và chỉ ra sự ứng dụng của chúng vào chính Ngài và công việc chuộc tội của Ngài, họ đã được Thần Linh của Ngài đánh thức, và được nâng lên bầu không khí thiên đàng. Về những lẽ thật thuộc linh mà các tiên tri đã nói, họ có sự hiểu biết rõ ràng hơn chính những người đầu tiên viết ra chúng. Từ nay về sau họ sẽ đọc Kinh Thánh Cựu Ước, không phải như những giáo lý của các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, không phải như những lời của những người khôn ngoan đã chết, mà như một sự mặc khải mới từ Đức Chúa Trời. Họ chiêm ngưỡng Đấng “mà thế gian không thể nhận lãnh được, vì chẳng thấy và chẳng biết Ngài; nhưng các ngươi biết Ngài, vì Ngài vẫn ở với các ngươi và sẽ ở trong các ngươi.” Giăng 14:17. DA 494.3
Cách duy nhất để chúng ta có thể đạt được sự lãnh hội lẽ thật trọn vẹn hơn là giữ cho tấm lòng mềm mại và khuất phục dưới Thần Linh của Đấng Christ. Tâm hồn phải được thanh tẩy khỏi sự hư không và kiêu ngạo, và được dọn trống khỏi tất cả những gì đã chiếm hữu nó, và Đấng Christ phải được tôn lên ngôi bên trong. Khoa học loài người quá giới hạn để có thể lãnh hội sự chuộc tội. Kế hoạch cứu chuộc sâu rộng đến nỗi triết học không thể giải thích được. Nó sẽ mãi là một sự mầu nhiệm mà lý luận sâu sắc nhất cũng không thể dò thấu. Khoa học về sự cứu rỗi không thể giải thích được; nhưng có thể biết được qua kinh nghiệm. Chỉ người nào nhìn thấy sự tội lỗi của chính mình mới có thể nhận biết sự quý báu của Đấng Cứu Thế. DA 494.4
Đầy dẫy sự dạy dỗ là những bài học mà Đấng Christ đã giảng dạy khi Ngài chậm rãi đi từ Ga-li-lê hướng về Giê-ru-sa-lem. Dân chúng háo hức lắng nghe lời Ngài. Tại Phê-rê cũng như tại Ga-li-lê, dân chúng ít bị kiềm tỏa bởi sự cố chấp của người Do Thái hơn tại Giu-đê, và sự dạy dỗ của Ngài tìm được sự hưởng ứng trong lòng họ. DA 495.1
Trong những tháng cuối cùng của chức vụ Ngài, nhiều ẩn dụ của Đấng Christ đã được nói ra. Các thầy tế lễ và các thầy ra-bi truy đuổi Ngài với lòng cay đắng ngày càng gia tăng, và Ngài che giấu những lời cảnh báo dành cho họ trong các biểu tượng. Họ không thể hiểu lầm ý nghĩa của Ngài, nhưng họ cũng không thể tìm thấy trong lời Ngài điều gì để làm cơ sở buộc tội Ngài. Trong ẩn dụ về người Pha-ri-si và người thâu thuế, lời cầu nguyện tự mãn rằng: “Lạy Đức Chúa Trời, tôi tạ ơn Ngài, vì tôi không phải như người khác,” đối lập gay gắt với lời nài xin của kẻ ăn năn: “Lạy Đức Chúa Trời, xin thương xót lấy tôi, vì tôi là kẻ có tội!” Lu-ca 18:11, 13. Như vậy Đấng Christ đã quở trách sự giả hình của người Do Thái. Và dưới hình ảnh cây vả không trái và bữa tiệc lớn, Ngài đã báo trước số phận sắp giáng xuống dân tộc không ăn năn. Những kẻ đã khinh miệt khước từ lời mời đến dự tiệc tin lành nghe những lời cảnh báo của Ngài: “Ta nói cùng các ngươi, trong những kẻ đã mời đó, không có ai được nếm bữa tiệc của ta đâu.” Lu-ca 14:24. DA 495.2
Sự dạy dỗ ban cho các môn đồ thật quý báu. Ẩn dụ về người đàn bà góa cố nài và người bạn xin bánh lúc nửa đêm đã ban thêm sức lực mới cho lời Ngài: “Hãy xin, sẽ ban cho; hãy tìm, sẽ gặp; hãy gõ cửa, sẽ mở cho.” Lu-ca 11:9. Và đức tin chao đảo của họ thường được củng cố nhờ nhớ lại rằng Đấng Christ đã phán: “Vậy, có lẽ nào Đức Chúa Trời chẳng xét lẽ công bình cho những người đã được chọn, là kẻ đêm ngày kêu xin Ngài, mà lại chậm chạp đến cứu họ sao! Ta nói cùng các ngươi, Ngài sẽ vội vàng xét lẽ công bình cho họ.” Lu-ca 18:7, 8. DA 495.3
Đấng Christ lặp lại ẩn dụ tuyệt đẹp về con chiên lạc mất. Và Ngài còn đưa bài học ấy đi xa hơn, khi Ngài kể về đồng bạc bị mất và đứa con trai hoang đàng. Lúc bấy giờ các môn đồ không thể nhận thức trọn vẹn sức mạnh của những bài học này; nhưng sau khi Đức Thánh Linh được đổ xuống, khi họ thấy dân ngoại được quy tụ vào và cơn giận ganh tị của người Do Thái, họ hiểu rõ hơn bài học về đứa con trai hoang đàng, và có thể bước vào niềm vui trong lời của Đấng Christ: “Nhưng thật nên dọn tiệc và vui mừng, vì em con đây đã chết mà lại sống, đã mất mà lại thấy được.” Lu-ca 15:32, 24. Và khi họ ra đi nhân danh Chủ mình, đối diện với sự sỉ nhục, nghèo khó và bắt bớ, họ thường củng cố tấm lòng mình bằng cách lặp lại lời truyền dạy của Ngài, được phán trong chuyến đi cuối cùng này: “Hỡi bầy nhỏ, đừng sợ chi; vì Cha các ngươi đã bằng lòng cho các ngươi nước thiên đàng. Hãy bán gia tài mình mà bố thí. Hãy sắm cho mình túi không hư, và của báu không hề hao kém ở trên trời, là nơi kẻ trộm không đến gần, sâu mọt không làm hư nát. Vì của báu các ngươi ở đâu, thì lòng cũng ở đó.” Lu-ca 12:32-34. DA 495.4