Đấng Chăn Chiên Thiên Thượng

Chương này dựa trên Giăng 10:1-30. DA 476.1

“Ta là người chăn hiền lành: người chăn hiền lành vì chiên mình phó sự sống mình.” “Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta, cũng như Cha biết ta và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình.” DA 476.2

Một lần nữa Đức Chúa Giê-su tìm được lối vào tâm trí những người nghe Ngài qua con đường của những hình ảnh quen thuộc với họ. Ngài đã ví ảnh hưởng của Đức Thánh Linh như nước mát mẻ, tươi mới. Ngài đã tự ví mình như ánh sáng, là nguồn của sự sống và niềm vui cho thiên nhiên cũng như cho loài người. Giờ đây, trong một bức tranh chăn chiên tuyệt đẹp, Ngài bày tỏ mối liên hệ của Ngài với những ai tin nơi Ngài. Không có bức tranh nào quen thuộc với những người nghe hơn bức tranh này, và lời của Đấng Christ đã gắn liền nó với chính Ngài mãi mãi. Các môn đồ không bao giờ có thể nhìn những người chăn chăm sóc bầy chiên mà không nhớ lại bài học của Đấng Cứu Thế. Họ sẽ thấy Đấng Christ trong mỗi người chăn trung tín. Họ sẽ thấy chính mình trong mỗi bầy chiên yếu đuối và lệ thuộc. DA 476.3

Tiên tri Ê-sai đã áp dụng hình ảnh này cho sứ mạng của Đấng Mê-si, trong những lời an ủi: “Ai rao tin lành cho Si-ôn, hãy lên trên núi cao! Ai rao tin lành cho Giê-ru-sa-lem, hãy ra sức cất tiếng lên! Hãy cất tiếng lên, đừng sợ! Hãy bảo các thành của Giu-đa rằng: Đức Chúa Trời các ngươi đây!… Ngài sẽ chăn bầy mình như người chăn chiên; thâu các con chiên con vào cánh tay mình mà ẵm vào lòng.” Ê-sai 40:9-11. Đa-vít đã hát rằng: “Đức Giê-hô-va là Đấng chăn giữ tôi: tôi sẽ chẳng thiếu thốn gì.” Thi thiên 23:1. Và Đức Thánh Linh qua Ê-xê-chi-ên đã tuyên phán: “Ta sẽ lập trên chúng nó chỉ một kẻ chăn, người sẽ chăn chúng nó.” “Ta sẽ tìm con nào đã mất, dắt về con nào đã bị đuổi, rịt thuốc cho con nào bị gãy, và làm cho mạnh con nào đau.” “Ta sẽ kết với chúng nó một giao ước hòa bình.” “Chúng nó sẽ chẳng làm mồi của các dân ngoại nữa;… nhưng chúng nó sẽ ở yên ổn, chẳng ai làm cho sợ hãi.” Ê-xê-chi-ên 34:23, 16, 25, 28. DA 476.4

Đấng Christ đã áp dụng những lời tiên tri này cho chính Ngài, và Ngài đã chỉ ra sự tương phản giữa bản tính của chính Ngài với bản tính của các nhà lãnh đạo trong Y-sơ-ra-ên. Người Pha-ri-si vừa mới đuổi một người ra khỏi bầy, vì người đó dám làm chứng về quyền năng của Đấng Christ. Họ đã loại bỏ một linh hồn mà Người Chăn Chân Thật đang kéo về với chính Ngài. Trong việc này, họ đã tỏ ra mình dốt nát về công việc đã được giao phó cho mình, và không xứng đáng với sự tin cậy được đặt nơi họ như những người chăn của bầy. Đức Chúa Giê-su giờ đây bày tỏ trước mặt họ sự tương phản giữa họ với Người Chăn Hiền Lành, và Ngài chỉ về chính Ngài là người giữ thật sự của bầy chiên Chúa. Tuy nhiên, trước khi làm điều này, Ngài nói về chính mình dưới một hình ảnh khác. DA 477.1

Ngài phán: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, kẻ nào chẳng bởi cửa mà vào chuồng chiên, nhưng trèo vào trgranh khác, thì người đó là trộm cướp. Nhưng kẻ bởi cửa mà vào, là người chăn chiên.” Người Pha-ri-si không nhận ra rằng những lời này được nói nghịch cùng họ. Khi họ tự lý luận trong lòng về ý nghĩa của những lời ấy, Đức Chúa Giê-su nói rõ ràng với họ: “Ta là cái cửa: nếu ai bởi ta mà vào, thì sẽ được cứu rỗi; họ sẽ vào ra và gặp đồng cỏ. Kẻ trộm chỉ đến để cướp giết và hủy diệt; còn ta đã đến, hầu cho chiên được sự sống, và được sự sống dư dật.” DA 477.2

Đấng Christ là cái cửa dẫn vào bầy của Đức Chúa Trời. Qua cái cửa này, tất cả con cái Ngài, từ thuở xa xưa nhất, đã tìm được lối vào. Trong Đức Chúa Giê-su, như được tỏ ra qua các hình bóng, như được phác họa qua các biểu tượng, như được biểu lộ trong sự mặc khải của các tiên tri, như được tỏ bày trong các bài học ban cho các môn đồ Ngài, và trong các phép lạ được làm ra vì con cái loài người, họ đã chiêm ngưỡng “Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi thế gian đi” (Giăng 1:29), và nhờ Ngài họ được đem vào trong bầy của ân điển Ngài. Nhiều người đã đến, trình bày những đối tượng khác cho đức tin của thế gian; những nghi lễ và hệ thống đã được nghĩ ra, qua đó người ta hy vọng nhận được sự xưng công bình và sự hòa thuận với Đức Chúa Trời, và nhờ đó tìm được lối vào bầy của Ngài. Nhưng cái cửa duy nhất là Đấng Christ, và tất cả những ai đã đặt vào điều gì khác để thế chỗ Đấng Christ, tất cả những ai đã cố vào bầy bằng một con đường nào khác, đều là trộm cướp. DA 477.3

Người Pha-ri-si đã không vào bởi cửa. Họ đã trèo vào bầy bằng một con đường khác hơn Đấng Christ, và họ đã không làm trọn công việc của người chăn chân thật. Các thầy tế lễ và các quan trưởng, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, đã hủy hoại những đồng cỏ tươi tốt, và làm ô uế những suối nguồn của nước sự sống. Lời của sự cảm thúc đã mô tả thật trung thực những người chăn giả dối ấy: “Các ngươi chẳng làm cho những con chiên mềm yếu nên mạnh, chẳng chữa lành con đau, chẳng rịt thuốc con bị thương; con bị đuổi, các ngươi chẳng đem nó về;… song các ngươi lấy sự độc dữ tàn bạo mà cai trị chúng nó.” Ê-xê-chi-ên 34:4. DA 478.1

Trong mọi thời đại, các triết gia và những người dạy dỗ đã trình bày cho thế gian những lý thuyết nhằm thỏa mãn nhu cầu của linh hồn. Mỗi dân ngoại đạo đều có những bậc thầy lớn và những hệ thống tôn giáo của mình, đưa ra những phương tiện cứu chuộc nào khác hơn Đấng Christ, làm cho mắt người ta quay khỏi mặt Đức Chúa Cha, và làm cho lòng họ đầy sự sợ hãi Đấng chỉ ban cho họ những phước lành. Khuynh hướng của công việc họ là cướp khỏi Đức Chúa Trời điều thuộc về Ngài, cả bởi sự sáng tạo lẫn bởi sự cứu chuộc. Và những kẻ dạy dỗ giả dối này cũng cướp đoạt con người nữa. Hàng triệu người bị trói buộc dưới những tôn giáo giả dối, trong xiềng xích của sự sợ hãi nô lệ, của sự thờ ơ trơ trẽn, lao khổ như thú vật chở nặng, bị tước mất hy vọng, niềm vui hay ước vọng ở đời này, và chỉ còn lại một nỗi sợ hãi mờ mịt về đời sau. Chỉ duy tin lành về ân điển của Đức Chúa Trời mới có thể nâng linh hồn lên. Sự chiêm ngưỡng tình yêu thương của Đức Chúa Trời được biểu lộ trong Con Ngài sẽ khuấy động tấm lòng và đánh thức các năng lực của linh hồn như không có điều gì khác có thể làm được. Đấng Christ đã đến để Ngài có thể tái tạo hình ảnh của Đức Chúa Trời trong con người; và bất cứ ai làm cho người ta quay khỏi Đấng Christ là đang làm cho họ quay khỏi nguồn của sự phát triển chân thật; người đó đang lừa gạt họ khỏi hy vọng, mục đích và vinh quang của cuộc đời. Người đó là kẻ trộm cướp. DA 478.2

“Kẻ bởi cửa mà vào, là người chăn chiên.” Đấng Christ vừa là cái cửa vừa là người chăn. Ngài vào bởi chính mình Ngài. Chính nhờ sự hy sinh của chính Ngài mà Ngài trở nên người chăn của bầy chiên. “Người canh cửa mở cho chiên nghe tiếng người chăn; người chăn kêu tên chiên mình mà dẫn ra ngoài. Khi người đã đem chiên ra hết, thì đi trước, chiên theo sau, vì chiên quen tiếng người.” DA 478.3

Trong tất cả các loài vật, chiên là một trong những loài nhút nhát và yếu đuối nhất, và ở phương Đông, sự chăm sóc của người chăn đối với bầy chiên mình là không mệt mỏi và không ngừng nghỉ. Thuở xưa cũng như nay, bên ngoài những thị trấn có tường bao thì ít có sự an toàn. Những kẻ cướp từ các bộ lạc biên giới lang thang, hay những thú dữ ẩn núp trong hốc đá, đều rình rập để cướp phá bầy chiên. Người chăn canh giữ đàn chiên mình, biết rằng việc ấy có thể nguy hiểm đến chính mạng sống mình. Gia-cốp, người chăn bầy của La-ban trên những đồng cỏ Cha-ran, khi mô tả công khó không mệt mỏi của chính mình, đã nói: “Ban ngày tôi chịu nắng nồng, ban đêm chịu lạnh lẽo, ngủ nào có an giấc được đâu.” Sáng thế ký 31:40. Và chính trong khi canh giữ bầy chiên của cha mình mà cậu bé Đa-vít đã một mình đối đầu với sư tử và gấu, và giải cứu con chiên bị bắt khỏi nanh vuốt chúng. DA 478.4

Khi người chăn dẫn bầy mình băng qua những đồi đá, qua rừng và những khe núi hoang dã, đến những góc cỏ xanh bên bờ sông; khi người canh giữ chúng trên núi suốt đêm cô tịch, che chở khỏi kẻ cướp, dịu dàng chăm sóc những con đau yếu và yếu đuối, thì đời sống người trở nên một với đời sống chúng. Một mối liên kết mạnh mẽ và dịu dàng ràng buộc người với những đối tượng người chăm sóc. Dù bầy lớn đến đâu, người chăn cũng biết từng con chiên. Mỗi con đều có tên, và đáp lại tên khi người chăn gọi. DA 479.1

Như người chăn dưới đất biết chiên mình thể nào, thì Người Chăn thiêng liêng cũng biết bầy của Ngài đang tản lạc khắp thế gian thể ấy. “Bay là chiên của ta, là chiên của đồng cỏ ta; bay là loài người, và ta là Đức Chúa Trời bay, Chúa Giê-hô-va phán vậy.” Đức Chúa Giê-su phán: “Ta đã gọi ngươi bằng tên; ngươi thuộc về ta.” “Nầy ta đã chạm ngươi trong lòng bàn tay ta.” Ê-xê-chi-ên 34:31; Ê-sai 43:1; 49:16. DA 479.2

Đức Chúa Giê-su biết chúng ta từng người một, và cảm thông với những yếu đuối của chúng ta. Ngài biết tất cả chúng ta bằng tên. Ngài biết chính ngôi nhà chúng ta đang ở, và tên của mỗi người sống trong đó. Đôi khi Ngài đã chỉ dẫn các đầy tớ của Ngài đi đến một con đường nào đó trong một thành phố nào đó, đến một ngôi nhà như thế, để tìm một con chiên của Ngài. DA 479.3

Mỗi linh hồn đều được Đức Chúa Giê-su biết đến cách trọn vẹn như thể người ấy là người duy nhất mà Đấng Cứu Thế đã chịu chết cho. Nỗi đau khổ của mỗi người đều chạm đến lòng Ngài. Tiếng kêu cầu cứu giúp thấu đến tai Ngài. Ngài đã đến để kéo mọi người đến cùng chính Ngài. Ngài kêu gọi họ rằng: “Hãy theo Ta,” và Thần Linh Ngài tác động trên lòng họ để kéo họ đến cùng Ngài. Nhiều người từ chối không chịu được kéo đến. Đức Chúa Giê-su biết họ là ai. Ngài cũng biết ai vui mừng nghe tiếng gọi của Ngài, và sẵn sàng đến dưới sự chăn dắt của Ngài. Ngài phán: “Chiên ta nghe tiếng ta, ta quen nó, và nó theo ta.” Ngài chăm sóc mỗi người như thể không có người nào khác trên mặt đất. DA 480.1

“Người gọi tên chiên mình mà dẫn ra khỏi chuồng… Chiên theo người, vì chiên quen tiếng người.” Người chăn chiên phương Đông không lùa chiên của mình. Người ấy không nương cậy vào sức mạnh hay sự sợ hãi; nhưng đi trước, người ấy gọi chúng. Chúng quen tiếng người và vâng theo tiếng gọi. Đấng Cứu Thế là Người Chăn cũng làm như vậy với bầy chiên của Ngài. Kinh Thánh chép: “Chúa cậy tay Môi-se và A-rôn mà dẫn dắt dân sự Ngài như một đoàn chiên.” Qua tiên tri, Đức Chúa Giê-su tuyên phán: “Ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi; nên đã lấy sự nhân từ mà kéo ngươi đến.” Ngài không ép buộc ai phải theo Ngài. Ngài phán: “Ta đã dùng dây nhân tình, dùng xích yêu thương kéo chúng nó đến.”

“Chúa cậy tay Môi-se và A-rôn Mà dẫn dắt dân sự Ngài như một đoàn chiên.” (Thi-thiên 77:20)

“Đức Giê-hô-va từ thuở xưa hiện ra cùng tôi và phán rằng: Phải, ta đã lấy sự yêu thương đời đời mà yêu ngươi; nên đã lấy sự nhân từ mà kéo ngươi đến.” (Giê-rê-mi 31:3)

“Ta đã dùng dây nhân tình, dùng xích yêu thương kéo chúng nó đến. Ta đã như những kẻ cởi ách khỏi hàm chúng nó, và để đồ ăn trước mặt chúng nó.” (Ô-sê 11:4)

DA 480.2

Không phải vì sợ bị hình phạt, hay vì hy vọng được phần thưởng đời đời, mà các môn đồ của Đấng Christ theo Ngài. Họ chiêm ngưỡng tình yêu thương vô song của Đấng Cứu Thế, được tỏ ra suốt cuộc hành trình của Ngài trên đất, từ máng cỏ Bết-lê-hem cho đến thập tự giá trên đồi Gô-gô-tha, và cảnh tượng ấy thu hút, làm mềm và chinh phục linh hồn. Tình yêu thương thức tỉnh trong lòng những người chiêm ngưỡng. Họ nghe tiếng Ngài, và họ theo Ngài. DA 480.3

Như người chăn chiên đi trước bầy chiên mình, chính người đối diện trước với những hiểm nguy trên đường, thì Đức Chúa Giê-su cũng làm như vậy với dân Ngài. “Khi người đã đem chiên ra hết, thì đi trước chúng nó.” Con đường lên thiên đàng đã được thánh hóa bởi dấu chân của Đấng Cứu Thế. Con đường có thể dốc đứng và gồ ghề, nhưng Đức Chúa Giê-su đã đi qua con đường ấy; bàn chân Ngài đã giẫm lên những gai nhọn tàn nhẫn, để làm cho lối đi dễ dàng hơn cho chúng ta. Mọi gánh nặng mà chúng ta được kêu gọi phải mang, chính Ngài đã mang lấy. DA 480.4

Dù nay Ngài đã thăng thiên về trước mặt Đức Chúa Trời, và chia sẻ ngôi vị của vũ trụ, Đức Chúa Giê-su vẫn không hề mất đi bản tánh thương xót của Ngài. Ngày nay tấm lòng dịu dàng, đồng cảm ấy vẫn rộng mở với mọi nỗi khốn khổ của nhân loại. Ngày nay bàn tay từng bị đâm thủng vẫn đưa ra để ban phước dư dật hơn cho dân Ngài đang ở trong thế gian. “Chẳng một ai cướp nó khỏi tay ta.” Linh hồn đã dâng mình cho Đấng Christ thì quý báu trong mắt Ngài hơn cả thế gian. Đấng Cứu Thế hẳn sẽ trải qua nỗi thống khổ ở Gô-gô-tha chỉ để một người được cứu trong nước Ngài. Ngài sẽ chẳng bao giờ bỏ rơi một người nào mà Ngài đã chịu chết cho. Trừ khi những kẻ theo Ngài lựa chọn lìa bỏ Ngài, Ngài sẽ giữ chặt họ. DA 480.5

Qua mọi thử thách, chúng ta có một Đấng Cứu Giúp không hề thất bại. Ngài không để chúng ta một mình vật lộn với cám dỗ, chiến đấu với điều ác, để rồi cuối cùng bị nghiền nát bởi gánh nặng và buồn rầu. Dù nay Ngài bị che khuất khỏi mắt người phàm, nhưng tai của đức tin có thể nghe được tiếng Ngài phán: Đừng sợ; Ta ở cùng ngươi. “Ta là Đấng sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời.”

“là Đấng Sống, ta đã chết, kìa nay ta sống đời đời, cầm chìa khóa của sự chết và Âm phủ.” (Khải-huyền 1:18)

Ta đã chịu những nỗi buồn của ngươi, đã trải qua những trận chiến của ngươi, đã đối diện những cám dỗ của ngươi. Ta biết những giọt nước mắt của ngươi; chính ta cũng đã khóc. Những nỗi đau buồn quá sâu thẳm không thể thổ lộ vào tai người nào, ta đều biết. Đừng nghĩ rằng ngươi cô đơn và bị bỏ rơi. Dù nỗi đau của ngươi không chạm đến một sợi dây đồng cảm nào trong lòng người nào trên đất, hãy nhìn xem Ta, và được sống. “Dầu núi dời, dầu đồi chuyển, nhưng lòng nhân từ ta đối với ngươi chẳng dời khỏi ngươi, lời giao ước bình an của ta chẳng chuyển, Đức Giê-hô-va, là Đấng thương xót ngươi, phán vậy.”

“Dầu núi dời, dầu đồi chuyển, nhưng lòng nhân từ ta đối với ngươi chẳng dời khỏi ngươi, lời giao ước bình an của ta chẳng chuyển, Đức Giê-hô-va, là Đấng thương xót ngươi, phán vậy.” (Ê-sai 54:10)

DA 483.1

Dầu người chăn chiên yêu thương bầy chiên mình đến đâu, người ấy còn yêu con trai con gái mình nhiều hơn. Đức Chúa Giê-su không chỉ là người chăn của chúng ta; Ngài là “Cha Đời Đời” của chúng ta. Và Ngài phán: “Ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta, cũng như Cha biết ta, và ta biết Cha vậy.”

“Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta, cũng như Cha biết ta, và ta biết Cha vậy; ta vì chiên ta phó sự sống mình.” (Giăng 10:14,15)

Đây là lời tuyên phán biết bao!—Con độc sanh, Đấng ở trong lòng Đức Chúa Cha, Đấng mà Đức Chúa Trời đã tuyên phán là “người làm bạn hữu ta”

“Đức Giê-hô-va vạn quân phán rằng: Hỡi gươm, hãy thức dậy nghịch cùng kẻ chăn của ta, và nghịch cùng người làm bạn hữu ta; hãy đánh kẻ chăn, cho những chiên tản lạc; và ta sẽ trở tay lại trên những con nhỏ.” (Xa-cha-ri 13:7)

—sự tương giao giữa Ngài và Đức Chúa Trời đời đời được dùng để tiêu biểu cho sự tương giao giữa Đấng Christ và con cái Ngài trên đất! DA 483.2

Bởi vì chúng ta là sự ban tặng của Đức Chúa Cha, và là phần thưởng cho công lao Ngài, nên Đức Chúa Giê-su yêu thương chúng ta. Ngài yêu thương chúng ta như con cái Ngài. Hỡi bạn đọc, Ngài yêu thương bạn. Chính thiên đàng cũng không thể ban cho điều gì lớn hơn, không gì tốt hơn. Vậy nên hãy tin cậy. DA 483.3

Đức Chúa Giê-su nghĩ đến những linh hồn khắp trên đất bị những kẻ chăn giả dối dẫn lạc. Những người mà Ngài khao khát quy tụ như bầy chiên trong đồng cỏ của Ngài đang bị tản lạc giữa bầy sói, và Ngài phán: “Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi.”

“Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng này; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi.” (Giăng 10:16)

DA 483.4

“Nầy, tại sao Cha yêu ta: Ấy vì ta phó sự sống mình để được lấy lại.” Nghĩa là, Cha ta đã yêu thương các ngươi đến nỗi Ngài còn yêu ta hơn vì ta phó sự sống mình để cứu chuộc các ngươi. Trong khi trở nên Đấng thay thế và bảo lãnh cho các ngươi, bằng cách hiến dâng sự sống mình, bằng cách gánh lấy trách nhiệm của các ngươi, gánh lấy những sự vi phạm của các ngươi, ta được yêu mến bởi Cha ta. DA 483.5

“Ta phó sự sống mình để được lấy lại. Chẳng có ai cất sự sống ta đi, nhưng tự ta phó cho. Ta có quyền phó sự sống, và có quyền lấy lại.” Trong khi là một thành viên của gia đình nhân loại Ngài chịu là người phàm phải chết, nhưng với tư cách là Đức Chúa Trời Ngài là nguồn sự sống cho thế gian. Ngài có thể đã chống lại sự tiến đến của cái chết, và từ chối không chịu phục dưới quyền lực nó; nhưng Ngài tự nguyện phó sự sống mình, để Ngài có thể đem sự sống và sự bất tử ra ánh sáng. Ngài đã gánh lấy tội lỗi của thế gian, chịu đựng sự rủa sả của nó, hiến dâng sự sống mình làm của lễ, để loài người không phải chết đời đời. “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta… Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy; Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.”

“Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương, bởi sự sửa phạt người chịu chúng ta được bình an, bởi lằn roi người chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người.” (Ê-sai 53:4-6)

DA 484.1