“Sự Sáng Của Sự Sống”
Chương này dựa trên Giăng 8:12-59; Giăng 9. DA 463.1
“Đức Chúa Giê-su lại cất tiếng phán cùng chúng rằng: Ta là sự sáng của thế gian; người nào theo ta, chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.” (Giăng 8:12)
DA 463.2
Khi phán những lời này, Đức Chúa Giê-su đang ở trong sân đền thờ, nơi đặc biệt liên quan đến các nghi lễ của lễ Lều Tạm. Ở chính giữa sân này nổi lên hai cây cột cao, đỡ những chân đèn rất lớn. Sau lễ dâng buổi chiều, tất cả các đèn được thắp lên, tỏa ánh sáng khắp thành Giê-ru-sa-lem. Nghi lễ này nhằm kỷ niệm trụ sáng đã dẫn dắt dân Y-sơ-ra-ên trong đồng vắng, và cũng được xem là chỉ về sự đến của Đấng Mê-si. Vào buổi chiều khi các đèn được thắp lên, sân đền thờ là cảnh tượng vui mừng lớn lao. Những người tóc bạc, các thầy tế lễ của đền thờ và những người cai trị dân chúng, cùng nhau hòa vào những điệu múa lễ hội theo tiếng nhạc cụ và tiếng ca của người Lê-vi. DA 463.3
Trong sự chiếu sáng của thành Giê-ru-sa-lem, dân chúng bày tỏ niềm hi vọng về sự đến của Đấng Mê-si để chiếu ánh sáng của Ngài trên dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng đối với Đức Chúa Giê-su, cảnh tượng này mang một ý nghĩa rộng lớn hơn. Như những ngọn đèn rực rỡ của đền thờ soi sáng mọi vật chung quanh, thì Đấng Christ, nguồn của ánh sáng thuộc linh, cũng chiếu sáng sự tối tăm của thế gian. Tuy nhiên biểu tượng ấy vẫn chưa hoàn hảo. Nguồn ánh sáng vĩ đại mà chính tay Ngài đã đặt trên các tầng trời là sự biểu thị chân thật hơn về vinh quang của sứ mệnh Ngài. DA 463.4
Đó là buổi sáng; mặt trời vừa mọc lên trên núi Ô-li-ve, và những tia sáng của nó chiếu rọi với ánh sáng chói lòa trên các cung điện bằng cẩm thạch, và làm sáng lên lớp vàng của các vách đền thờ, khi Đức Chúa Giê-su, chỉ vào đó, phán rằng: “Ta là sự sáng của thế gian.” DA 463.5
Bởi một người đã lắng nghe những lời này, chúng được vang vọng lại rất lâu về sau trong đoạn văn cao cả ấy:
“Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người. Sự sáng soi trong tối tăm, tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng.” (Giăng 1:4-5)
“Sự sáng này là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người.” (Giăng 1:9)
Và rất lâu sau khi Đức Chúa Giê-su đã thăng thiên, Phi-e-rơ cũng vậy, viết dưới sự soi sáng của Đức Thánh Linh, đã nhắc lại biểu tượng mà Đấng Christ đã dùng:
“Nhân đó, chúng tôi càng tin lời các đấng tiên tri chắc chắn hơn, anh em nên chú ý lời đó, như cái đèn soi sáng trong nơi tối tăm, cho đến chừng nào ban ngày lộ ra, và sao mai mọc trong lòng anh em.” (II Phi-e-rơ 1:19)
DA 464.1
Trong sự bày tỏ Đức Chúa Trời cho dân Ngài, ánh sáng luôn là biểu tượng cho sự hiện diện của Ngài. Bởi lời sáng tạo lúc ban đầu, ánh sáng đã chiếu ra từ sự tối tăm. Ánh sáng đã được bao bọc trong trụ mây ban ngày và trụ lửa ban đêm, dẫn dắt những đạo quân đông đảo của dân Y-sơ-ra-ên. Ánh sáng đã chói lòa với vẻ uy nghiêm đáng sợ chung quanh Chúa trên núi Si-na-i. Ánh sáng đã ngự trên nắp thi ân trong đền tạm. Ánh sáng đã đầy dẫy đền thờ Sa-lô-môn khi cung hiến. Ánh sáng đã chiếu trên các ngọn đồi Bết-lê-hem khi các thiên sứ đem sứ điệp cứu chuộc đến cho những người chăn chiên đang thức canh. DA 464.2
Đức Chúa Trời là sự sáng; và trong lời phán: “Ta là sự sáng của thế gian,” Đấng Christ đã tuyên bố sự hiệp nhất của Ngài với Đức Chúa Trời, và mối liên hệ của Ngài với toàn thể nhân loại. Chính Ngài là Đấng lúc ban đầu đã khiến cho “sự sáng phải soi từ trong sự tối tăm.” 2 Cô-rinh-tô 4:6. Ngài là ánh sáng của mặt trời, mặt trăng và các ngôi sao. Ngài là ánh sáng thuộc linh mà bằng biểu tượng, hình bóng và lời tiên tri đã chiếu trên dân Y-sơ-ra-ên. Nhưng ánh sáng ấy không chỉ ban cho dân tộc Do Thái mà thôi. Như những tia nắng mặt trời thấu đến những góc xa xôi nhất của trái đất, thì ánh sáng của Mặt Trời Công Bình cũng chiếu trên mỗi linh hồn. DA 464.3
“Sự sáng này là sự sáng thật, khi đến thế gian soi sáng mọi người.” (Giăng 1:9)
Thế gian đã có những bậc thầy vĩ đại, những người có trí tuệ phi thường và sự nghiên cứu kỳ diệu, những người mà lời nói của họ đã kích thích tư tưởng, và mở ra cho người ta thấy những lĩnh vực kiến thức bao la; và những người này đã được tôn vinh như những bậc dẫn đường và ân nhân của nhân loại. Nhưng có Một Đấng đứng cao hơn họ.
“Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Đức Chúa Trời, là ban cho những kẻ tin danh Ngài,” (Giăng 1:12)
“Chẳng hề ai thấy Đức Chúa Trời; chỉ Con một ở trong lòng Cha, là Đấng đã giãi bày Cha cho chúng ta biết.” (Giăng 1:18)
Chúng ta có thể truy ra dòng dõi của những bậc thầy vĩ đại của thế gian xa đến tận khi sử sách loài người còn ghi chép; nhưng Ánh Sáng đã có trước họ. Như mặt trăng và các ngôi sao của thái dương hệ chiếu sáng nhờ ánh sáng phản chiếu của mặt trời, thì những nhà tư tưởng vĩ đại của thế gian, trong chừng mực sự dạy dỗ của họ là chân thật, cũng phản chiếu những tia sáng của Mặt Trời Công Bình. Mỗi viên ngọc của tư tưởng, mỗi tia chớp của trí tuệ, đều đến từ Ánh Sáng của thế gian. Trong những ngày này chúng ta nghe nói nhiều về “nền giáo dục cao hơn.” Nền “giáo dục cao hơn” chân thật là điều được ban bởi Đấng “mà trong Ngài đã giấu kín mọi sự quý báu về sự khôn ngoan thông sáng.”
“Trong Ngài có sự sống, sự sống là sự sáng của loài người.” (Giăng 1:4)
Cô-lô-se 2:3. “Ta là sự sáng,” Đức Chúa Giê-su phán, “ai theo Ta sẽ chẳng đi trong nơi tối tăm, nhưng có ánh sáng của sự sống.” DA 464.4
Trong lời phán: “Ta là sự sáng của thế gian,” Đức Chúa Giê-su đã tuyên bố Ngài là Đấng Mê-si. Si-mê-ôn già cả, trong đền thờ nơi mà Đấng Christ bấy giờ đang dạy dỗ, đã nói về Ngài như “ánh sáng để soi kẻ ngoại bang, và làm vinh hiển cho dân Y-sơ-ra-ên là dân Ngài.” Lu-ca 2:32. Trong những lời này ông đã áp dụng cho Ngài một lời tiên tri quen thuộc với cả dân Y-sơ-ra-ên. Bởi tiên tri Ê-sai, Đức Thánh Linh đã phán: “Ngươi làm tôi tớ ta đặng lập lại các chi phái Gia-cốp, và làm cho những kẻ được gìn giữ của Y-sơ-ra-ên lại được trở về, còn là việc nhỏ; ta sẽ khiến ngươi làm sự sáng cho các dân ngoại, hầu cho ngươi làm sự cứu rỗi của ta đến nơi đầu cùng đất.” Ê-sai 49:6. Lời tiên tri này thường được hiểu là nói về Đấng Mê-si, và khi Đức Chúa Giê-su phán: “Ta là sự sáng của thế gian,” dân chúng không thể nào không nhận ra lời tuyên bố của Ngài rằng Ngài là Đấng Được Hứa Ban. DA 465.1
Đối với người Pha-ri-si và những người cai trị, lời tuyên bố này dường như là một sự tự phụ kiêu ngạo. Họ không thể chịu nổi việc một người như chính họ lại dám đưa ra những lời tự xưng như thế. Dường như coi thường lời Ngài, họ gặng hỏi: “Thầy là ai?” Họ quyết ép buộc Ngài tự xưng mình là Đấng Christ. Diện mạo và công việc của Ngài quá khác biệt với những trông đợi của dân chúng, đến nỗi, như những kẻ thù xảo quyệt của Ngài tin tưởng, một lời tuyên bố trực tiếp rằng Ngài là Đấng Mê-si sẽ khiến Ngài bị chối bỏ như một kẻ mạo danh. DA 465.2
Nhưng đáp lại câu hỏi của họ: “Thầy là ai?” Đức Chúa Giê-su trả lời: “Như lời ta đã nói với các ngươi từ ban đầu.” Giăng 8:25. Điều đã được bày tỏ trong lời Ngài cũng được bày tỏ trong tánh hạnh của Ngài. Ngài là hiện thân của những lẽ thật mà Ngài giảng dạy. “Ta tự mình chẳng làm điều gì,” Ngài tiếp tục; “song ta nói điều Cha ta đã dạy ta. Đấng đã sai ta đến vẫn ở cùng ta, chẳng để ta ở một mình, vì ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.” Ngài không cố chứng minh lời tuyên bố Mê-si của Ngài, nhưng tỏ ra sự hiệp nhất của Ngài với Đức Chúa Trời. Nếu tâm trí họ đã mở ra cho tình yêu thương của Đức Chúa Trời, hẳn họ đã tiếp nhận Đức Chúa Giê-su. DA 465.3
Trong số những người nghe Ngài, nhiều người đã được lôi cuốn đến với Ngài bằng đức tin, và Ngài phán cùng họ: “Nếu các ngươi hằng ở trong đạo ta, thì thật là môn đồ ta; các ngươi sẽ biết lẽ thật, và lẽ thật sẽ buông tha các ngươi.” DA 466.1
Những lời này làm cho người Pha-ri-si phẫn nộ. Họ coi thường sự lệ thuộc lâu dài của dân tộc dưới ách ngoại bang, và giận dữ kêu lên: “Chúng tôi là dòng dõi Áp-ra-ham, chưa hề làm tôi mọi ai, vậy sao thầy nói rằng: Các ngươi sẽ trở nên tự do?” Đức Chúa Giê-su nhìn những người này, những kẻ nô lệ của lòng hiểm độc, mà tư tưởng họ hướng về sự báo thù, và buồn bã đáp: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, ai phạm tội lỗi là tôi mọi của tội lỗi.” Họ đang ở trong loại nô lệ tồi tệ nhất—bị cai trị bởi thần linh của sự gian ác. DA 466.2
Mỗi linh hồn từ chối dâng mình cho Đức Chúa Trời đều ở dưới sự kiểm soát của một quyền lực khác. Người ấy không thuộc về chính mình. Người ấy có thể nói về sự tự do, nhưng người ấy đang ở trong cảnh nô lệ thấp hèn nhất. Người ấy không được phép nhìn thấy vẻ đẹp của lẽ thật, vì tâm trí người ấy ở dưới sự kiểm soát của Sa-tan. Trong khi người ấy tự huyễn hoặc mình rằng mình đang làm theo sự phán đoán của chính mình, thì người ấy lại đang vâng theo ý muốn của chúa tể của bóng tối. Đấng Christ đã đến để bẻ gãy xiềng xích của ách nô lệ tội lỗi khỏi linh hồn. “Vậy nếu Con buông tha các ngươi, các ngươi sẽ thật được tự do.” “Luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Giê-su Christ” buông tha chúng ta “khỏi luật pháp của sự tội và sự chết.”
“vì luật pháp của Thánh Linh sự sống đã nhờ Đức Chúa Giê-su Cơ-đốc buông tha tôi khỏi luật pháp của sự tội và sự chết.” (Rô-ma 8:2)
DA 466.3
Trong công cuộc cứu chuộc không hề có sự cưỡng ép. Không có sức mạnh bên ngoài nào được sử dụng. Dưới ảnh hưởng của Thánh Linh Đức Chúa Trời, con người được tự do lựa chọn mình sẽ phục vụ ai. Trong sự thay đổi diễn ra khi linh hồn đầu phục Đấng Christ, có một ý thức cao cả nhất về sự tự do. Việc trục xuất tội lỗi là hành động của chính linh hồn. Quả thật, chúng ta không có quyền năng để tự giải thoát mình khỏi sự kiểm soát của Sa-tan; nhưng khi chúng ta khao khát được giải thoát khỏi tội lỗi, và trong nhu cầu lớn lao của mình kêu cầu một quyền năng ở ngoài và ở trên chính mình, thì những năng lực của linh hồn được đầy dẫy năng lượng thiêng liêng của Đức Thánh Linh, và chúng vâng theo mệnh lệnh của ý chí trong việc làm trọn ý muốn của Đức Chúa Trời. DA 466.4
Điều kiện duy nhất để con người có thể được tự do là trở nên một với Đấng Christ. “Lẽ thật sẽ buông tha các ngươi;” và Đấng Christ là lẽ thật. Tội lỗi chỉ có thể đắc thắng bằng cách làm suy yếu tâm trí và phá hủy sự tự do của linh hồn. Sự thuận phục Đức Chúa Trời là sự phục hồi của chính mình—phục hồi vinh quang và phẩm giá thật của con người. Luật pháp thiêng liêng, mà chúng ta được đem vào sự thuận phục, là “luật pháp tự do.”
“Hãy nói và làm dường như phải chịu luật pháp tự do đoán xét mình.” (Gia-cơ 2:12)
DA 466.5
Những người Pha-ri-si đã tuyên bố mình là con cháu của Áp-ra-ham. Đức Chúa Giê-su nói với họ rằng lời tuyên bố này chỉ có thể được xác lập bằng việc làm các công việc của Áp-ra-ham. Con cháu thật của Áp-ra-ham sẽ sống, như ông đã sống, một đời sống vâng phục Đức Chúa Trời. Họ sẽ không tìm cách giết một Đấng đang phán lẽ thật mà Đức Chúa Trời đã ban cho Ngài. Trong việc âm mưu chống lại Đấng Christ, các thầy thông giáo không hề làm các công việc của Áp-ra-ham. Việc chỉ đơn thuần là dòng dõi theo huyết thống của Áp-ra-ham chẳng có giá trị gì. Nếu không có sự liên kết thuộc linh với ông, được biểu lộ qua việc sở hữu cùng một tinh thần và làm cùng những công việc, thì họ không phải là con cháu của ông. DA 466.6
Nguyên tắc này cũng mang ý nghĩa tương đương đối với một vấn đề đã từ lâu khuấy động thế giới Cơ-đốc—vấn đề về sự kế thừa của các sứ đồ. Dòng dõi của Áp-ra-ham được chứng minh không phải bằng tên gọi và huyết thống, mà bằng sự giống nhau về tính cách. Cũng vậy, sự kế thừa của các sứ đồ không dựa trên việc chuyển giao thẩm quyền giáo hội, mà dựa trên mối quan hệ thuộc linh. Một đời sống được thúc đẩy bởi tinh thần của các sứ đồ, niềm tin và sự giảng dạy lẽ thật mà họ đã dạy, đó là bằng chứng thật về sự kế thừa của các sứ đồ. Đây là điều khiến cho con người trở thành những người kế thừa của những giáo sư đầu tiên của tin lành. DA 467.1
Đức Chúa Giê-su phủ nhận rằng người Do Thái là con cháu của Áp-ra-ham. Ngài phán: “Các ngươi làm công việc của cha các ngươi.” Họ chế nhạo đáp lại: “Chúng tôi chẳng phải là con ngoại tình; chúng tôi chỉ có một Cha, là Đức Chúa Trời.” Những lời này, ám chỉ đến hoàn cảnh ra đời của Ngài, nhằm đả kích Đấng Christ trước mặt những người đang bắt đầu tin Ngài. Đức Chúa Giê-su không để ý đến lời bóng gió hèn hạ đó, nhưng phán: “Ví bằng Đức Chúa Trời là Cha các ngươi, thì các ngươi sẽ yêu Ta, vì Ta bởi Đức Chúa Trời mà ra và từ Ngài mà đến.” DA 467.2
Các công việc của họ làm chứng về mối quan hệ của họ với kẻ đã là kẻ nói dối và kẻ giết người. Đức Chúa Giê-su phán: “Các ngươi bởi cha mình, là ma quỷ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu… Nhưng vì Ta nói lẽ thật, nên các ngươi không tin Ta.”
“Các ngươi bởi cha mình, là ma quỉ, mà sanh ra; và các ngươi muốn làm nên sự ưa muốn của cha mình. Vừa lúc ban đầu nó đã là kẻ giết người, chẳng bền giữ được lẽ thật, vì không có lẽ thật trong nó đâu. Khi nó nói dối, thì nói theo tánh riêng mình, vì nó vốn là kẻ nói dối và là cha sự nói dối. Nhưng vì ta nói lẽ thật, nên các ngươi không tin ta.” (Giăng 8:44,45)
Việc Đức Chúa Giê-su phán lẽ thật, và phán cách chắc chắn, đó là lý do tại sao Ngài không được các nhà lãnh đạo Do Thái tiếp nhận. Chính lẽ thật đã làm phật lòng những kẻ tự cho mình là công bình ấy. Lẽ thật phơi bày sự sai lầm của điều giả dối; nó kết án sự dạy dỗ và việc làm của họ, và nó không được hoan nghênh. Họ thà nhắm mắt trước lẽ thật còn hơn hạ mình thừa nhận rằng mình đã sai lầm. Họ không yêu mến lẽ thật. Họ không khao khát lẽ thật, dù đó là lẽ thật. DA 467.3
“Trong các ngươi có ai bắt Ta thú tội được chăng? Nếu Ta nói lẽ thật, sao các ngươi không tin Ta?” Ngày này qua ngày khác trong suốt ba năm, các kẻ thù của Ngài đã theo dõi Đấng Christ, cố tìm một vết nhơ nào đó trong tính cách của Ngài. Sa-tan và toàn bộ liên minh của sự dữ đã tìm cách thắng Ngài; nhưng chúng chẳng tìm thấy gì nơi Ngài để có thể chiếm lợi thế. Ngay cả các quỷ cũng buộc phải thừa nhận: “Ngài là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.”
“kêu lên rằng: Hỡi Giê-su, người Na-xa-rét, chúng tôi với Ngài có sự gì chăng? Ngài đến để diệt chúng tôi sao? Tôi biết Ngài là ai: Là Đấng Thánh của Đức Chúa Trời.” (Mác 1:24)
Đức Chúa Giê-su sống theo luật pháp trước mắt thiên đàng, trước mắt các thế giới chưa sa ngã, và trước mắt loài người tội lỗi. Trước các thiên sứ, loài người và các quỷ, Ngài đã phán, không ai bắt bẻ được, những lời mà nếu thốt ra từ bất kỳ môi miệng nào khác hẳn sẽ là sự phạm thượng: “Ta hằng làm sự đẹp lòng Ngài.” DA 467.4
Việc dù không tìm thấy tội lỗi nào nơi Đấng Christ mà người Do Thái vẫn không tiếp nhận Ngài đã chứng tỏ rằng chính họ không có sự liên kết với Đức Chúa Trời. Họ không nhận ra tiếng phán của Ngài trong sứ điệp của Con Ngài. Họ tưởng mình đang phán xét Đấng Christ; nhưng khi chối bỏ Ngài, họ đang tuyên án trên chính mình. Đức Chúa Giê-su phán: “Ai ra bởi Đức Chúa Trời, thì nghe lời Đức Chúa Trời; cho nên các ngươi chẳng nghe, tại các ngươi không thuộc về Đức Chúa Trời.” DA 468.1
Bài học này đúng cho mọi thời đại. Nhiều người ưa thích cãi cọ vặt vãnh, chỉ trích, tìm kiếm điều gì đó để chất vấn trong lời Đức Chúa Trời, nghĩ rằng nhờ đó mình đang chứng tỏ sự độc lập của tư tưởng và sự sắc bén của trí tuệ. Người ấy tưởng mình đang ngồi phán xét Kinh Thánh, trong khi thật ra người ấy đang phán xét chính mình. Người ấy bày tỏ rõ rằng mình không có khả năng trân trọng những lẽ thật bắt nguồn từ thiên đàng và bao trùm cõi đời đời. Trước ngọn núi vĩ đại của sự công bình của Đức Chúa Trời, tâm linh người ấy chẳng hề kính sợ. Người ấy bận rộn đi tìm những que củi và cọng rơm, và qua đó để lộ một bản chất hẹp hòi và thế tục, một tấm lòng đang mau chóng đánh mất khả năng trân trọng Đức Chúa Trời. Người nào có tấm lòng đáp lại sự đụng chạm thiêng liêng sẽ tìm kiếm điều gia tăng sự hiểu biết của mình về Đức Chúa Trời, và sẽ tinh luyện và nâng cao tính cách. Như một bông hoa hướng về mặt trời, để những tia sáng rực rỡ chạm đến nó với những sắc màu xinh đẹp, thì linh hồn cũng sẽ hướng về Mặt Trời Công Bình, để ánh sáng của thiên đàng làm tô điểm tính cách bằng những ân điển của tính cách Đấng Christ. DA 468.2
Đức Chúa Giê-su tiếp tục, vẽ ra sự tương phản rõ rệt giữa vị trí của người Do Thái và vị trí của Áp-ra-ham: “Cha các ngươi là Áp-ra-ham đã nức lòng nhìn thấy ngày của Ta; người đã thấy rồi, và mừng rỡ.” DA 468.3
Áp-ra-ham đã hết sức khao khát được thấy Đấng Cứu Thế đã hứa. Ông đã dâng lên lời cầu nguyện hết sức tha thiết rằng trước khi qua đời ông có thể nhìn thấy Đấng Mê-si. Và ông đã thấy Đấng Christ. Một ánh sáng siêu nhiên được ban cho ông, và ông thừa nhận tính cách thiêng liêng của Đấng Christ. Ông đã thấy ngày của Ngài, và vui mừng. Ông được ban cho một cái nhìn về của lễ hi sinh thiêng liêng vì tội lỗi. Ông đã có một minh họa về của lễ hi sinh này trong chính kinh nghiệm của mình. Mệnh lệnh đến với ông: “Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác,… mà dâng đứa con đó làm của lễ thiêu.”
“Đức Chúa Trời phán rằng: Hãy bắt đứa con một ngươi yêu dấu, là Y-sác, và đi đến xứ Mô-ri-a, nơi đó dâng đứa con làm của lễ thiêu ở trên một hòn núi kia mà ta sẽ chỉ cho.” (Sáng-thế Ký 22:2)
Trên bàn thờ dâng của lễ, ông đặt đứa con của lời hứa, đứa con mà mọi hi vọng của ông đặt vào. Rồi khi ông đứng bên bàn thờ với con dao giơ lên để vâng lời Đức Chúa Trời, ông nghe một tiếng nói từ trời phán: “Đừng tra tay vào mình con trẻ và chớ làm chi hại đến nó; vì bây giờ ta biết rằng ngươi thật kính sợ Đức Chúa Trời, bởi cớ không tiếc với ta con ngươi, tức con một ngươi.”
“Thiên sứ phán rằng: Đừng tra tay vào mình con trẻ và chớ làm chi hại đến nó; vì bây giờ ta biết rằng ngươi thật kính sợ Đức Chúa Trời, bởi cớ không tiếc với ta con ngươi, tức con một ngươi.” (Sáng-thế Ký 22:12)
Thử thách khủng khiếp này được đặt trên Áp-ra-ham để ông có thể thấy ngày của Đấng Christ, và nhận biết tình yêu thương lớn lao của Đức Chúa Trời đối với thế gian, lớn đến nỗi để nâng nó lên khỏi sự sa đọa, Ngài đã ban Con Một của Ngài chịu một cái chết hết sức nhục nhã. DA 468.4
Áp-ra-ham đã học được nơi Đức Chúa Trời bài học lớn nhất từng được ban cho loài người hay chết. Lời cầu nguyện của ông xin được thấy Đấng Christ trước khi qua đời đã được nhậm. Ông đã thấy Đấng Christ; ông đã thấy tất cả những gì một người phàm có thể thấy mà vẫn còn sống. Bằng cách dâng nộp trọn vẹn chính mình, ông đã có thể hiểu được khải tượng về Đấng Christ đã ban cho ông. Ông được tỏ cho thấy rằng khi ban Con Một Ngài để cứu kẻ có tội khỏi sự hư mất đời đời, Đức Chúa Trời đã thực hiện một sự hy sinh lớn lao và kỳ diệu hơn bất cứ điều gì con người có thể làm. DA 469.1
Kinh nghiệm của Áp-ra-ham đã trả lời cho câu hỏi:
“Ta sẽ đem vật gì chầu trước mặt Đức Giê-hô-va và quì lạy trước mặt Đức Chúa Trời rất cao? Ta sẽ đến trước mặt Ngài với những của lễ thiêu và với những bò con giáp niên sao? Đức Giê-hô-va há có thích những hàng ngàn chiên đực hay là hàng vạn sông dầu sao? Ta há nên dâng con đầu lòng của ta vì sự phạm pháp ta, và trái của thân thể ta vì tội lỗi linh hồn ta sao?” (Mi-chê 6:6-7)
Trong lời của Áp-ra-ham,
“Áp-ra-ham rằng: Con ơi! Chính Đức Chúa Trời sẽ sắm sẵn lấy chiên con đặng dùng làm của lễ thiêu; rồi cả hai cha con cứ đồng đi.” (Sáng-thế Ký 22:8)
và trong việc Đức Chúa Trời sắm sẵn một sinh tế thay cho Y-sác, đã tuyên bố rằng không một ai có thể tự chuộc tội cho chính mình. Hệ thống tế lễ của ngoại giáo hoàn toàn không được Đức Chúa Trời chấp nhận. Không người cha nào được dâng con trai hay con gái mình làm của lễ chuộc tội. Chỉ một mình Con Đức Chúa Trời mới có thể gánh lấy tội lỗi của thế gian. DA 469.2
Qua sự đau khổ của chính mình, Áp-ra-ham đã được ban cho khả năng nhìn thấy sứ mạng hy sinh của Đấng Cứu Thế. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên không chịu hiểu điều quá trái ngược với tấm lòng kiêu ngạo của họ. Những lời của Đấng Christ về Áp-ra-ham không truyền đạt ý nghĩa sâu xa nào cho những người nghe Ngài. Người Pha-ri-si chỉ thấy trong đó cớ mới để bắt bẻ. Họ vặn lại với một nụ cười khinh bỉ, như thể muốn chứng minh Đức Chúa Giê-su là một kẻ điên: “Thầy chưa đầy năm mươi tuổi, mà đã thấy Áp-ra-ham?” DA 469.3
Với phẩm cách trang nghiêm, Đức Chúa Giê-su đáp: “Quả thật, quả thật, ta nói cùng các ngươi, trước khi chưa có Áp-ra-ham, đã có ta.” DA 469.4
Sự im lặng bao trùm lên cả đám đông rộng lớn. Danh của Đức Chúa Trời, đã ban cho Môi-se để bày tỏ ý niệm về sự hiện diện đời đời, đã được vị Ra-bi người Ga-li-lê này xưng nhận là của chính Ngài. Ngài đã tuyên bố Ngài là Đấng Tự Hữu, Đấng đã được hứa ban cho dân Y-sơ-ra-ên, là “Đấng có gốc tích từ đời xưa, từ trước vô cùng.” Mi-chê 5:2, chú thích lề. DA 469.5
Một lần nữa, các thầy tế lễ và các ra-bi kêu la chống lại Đức Chúa Giê-su như một kẻ phạm thượng. Lời tuyên bố của Ngài rằng Ngài là một với Đức Chúa Trời trước đây đã khiến họ tìm cách lấy mạng Ngài, và vài tháng sau họ đã thẳng thừng tuyên bố:
“Người Giu-đa trả lời rằng: Ấy chẳng phải vì một việc lành mà chúng ta ném đá ngươi, nhưng vì lỗi lộng ngôn: Ngươi là người, mà tự xưng là Đức Chúa Trời.” (Giăng 10:33)
Bởi vì Ngài là, và Ngài xưng nhận chính mình là, Con Đức Chúa Trời, nên họ quyết tâm tiêu diệt Ngài. Bấy giờ nhiều người trong dân chúng, đứng về phía các thầy tế lễ và các ra-bi, lượm đá để ném Ngài. “Nhưng Đức Chúa Giê-su lánh mình, đi ra khỏi đền thờ, đi ngang qua giữa họ mà ra.” DA 470.1
Sự Sáng đang chiếu trong tối tăm; nhưng “sự tối tăm chẳng hề nhận lấy sự sáng.” Giăng 1:5, bản R.V. DA 470.2
“Đức Chúa Giê-su vừa đi qua, thấy một người mù từ thuở sanh ra. Môn đồ hỏi Ngài rằng: Thưa thầy, ai đã phạm tội, người hay là cha mẹ người, mà người sanh ra thì mù như vậy? Đức Chúa Giê-su đáp rằng: Đó chẳng phải tại người hay tại cha mẹ đã phạm tội; nhưng ấy để cho những việc Đức Chúa Trời được tỏ ra trong người. Trong khi còn ban ngày, ta phải làm trọn những việc của Đấng đã sai ta đến; tối lại, thì không ai làm việc được. Đương khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian. Nói xong, Ngài nhổ xuống đất, lấy nước miếng trộn thành bùn, và đem xức trên mắt người mù. Đoạn, Ngài phán cùng người rằng: Hãy đi, rửa nơi ao Si-lô-ê (nghĩa là chịu sai đi). Vậy, người đi đến ao đó, rửa, và trở lại, thì được thấy rõ.” (Giăng 9:1-7)
DA 470.3
Người Do Thái thường tin rằng tội lỗi bị trừng phạt ngay trong đời này. Mọi tai ương đều được xem là hình phạt cho một việc làm sai trái nào đó, hoặc của chính người chịu khổ, hoặc của cha mẹ người ấy. Quả thật mọi sự đau khổ đều phát xuất từ sự vi phạm luật pháp Đức Chúa Trời, nhưng lẽ thật này đã bị bóp méo. Sa-tan, kẻ chủ mưu của tội lỗi và mọi hậu quả của nó, đã dẫn dắt con người xem bệnh tật và sự chết là đến từ Đức Chúa Trời—như hình phạt giáng xuống cách tùy tiện vì cớ tội lỗi. Vì thế, một người mà tai họa hay hoạn nạn lớn nào giáng xuống còn phải gánh thêm gánh nặng bị xem là kẻ tội lỗi lớn. DA 471.1
Như vậy, con đường đã được dọn sẵn để người Do Thái chối bỏ Đức Chúa Giê-su. Đấng “đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta” lại bị người Do Thái xem là “bị Đức Chúa Trời đánh và làm cho khốn khổ;” và họ che mặt khỏi Ngài. Ê-sai 53:4, 3. DA 471.2
Đức Chúa Trời đã ban một bài học nhằm ngăn ngừa điều này. Lịch sử của Gióp đã cho thấy rằng sự đau khổ là do Sa-tan giáng xuống, và được Đức Chúa Trời điều khiển cho mục đích của lòng thương xót. Nhưng dân Y-sơ-ra-ên không hiểu bài học đó. Chính sự sai lầm mà Đức Chúa Trời đã quở trách các bạn của Gióp đã được người Do Thái lặp lại trong sự chối bỏ Đấng Christ của họ. DA 471.3
Niềm tin của người Do Thái về mối liên hệ giữa tội lỗi và đau khổ cũng được các môn đồ của Đấng Christ nắm giữ. Trong khi Đức Chúa Giê-su sửa lại sự sai lầm của họ, Ngài không giải thích nguyên nhân của tai ương người ấy, nhưng nói cho họ biết kết quả sẽ ra sao. Bởi điều đó, các công việc của Đức Chúa Trời sẽ được tỏ ra. Ngài phán: “Đương khi ta còn ở thế gian, ta là sự sáng của thế gian.” Rồi sau khi xức bùn lên mắt người mù, Ngài sai người đi rửa nơi ao Si-lô-ê, và thị lực của người ấy được phục hồi. Như vậy Đức Chúa Giê-su đã trả lời câu hỏi của các môn đồ bằng cách thực tế, như Ngài thường trả lời những câu hỏi nêu ra vì tò mò. Các môn đồ không được kêu gọi để bàn cãi về câu hỏi ai đã phạm tội hay không phạm tội, nhưng để hiểu quyền năng và lòng thương xót của Đức Chúa Trời trong việc ban thị lực cho kẻ mù. Rõ ràng là không có quyền năng chữa lành nào trong bùn, hay trong ao mà người mù được sai đến để rửa, nhưng quyền năng ấy ở trong Đấng Christ. DA 471.4
Người Pha-ri-si không thể không kinh ngạc trước sự chữa lành. Tuy nhiên họ càng đầy lòng căm ghét hơn bao giờ hết; vì phép lạ đã được thực hiện trong ngày Sa-bát. DA 471.5
Hàng xóm của người thanh niên, và những người trước kia biết anh trong cảnh mù lòa, nói: “Há chẳng phải là người vẫn ngồi ăn xin đó sao?” Họ nhìn anh với lòng nghi ngờ; vì khi mắt anh được mở ra, gương mặt anh đã thay đổi và rạng rỡ, và anh dường như là một người khác. Câu hỏi truyền từ người này sang người kia. Có người nói: “Ấy là hắn;” kẻ khác nói: “Hắn giống người đó.” Nhưng người đã nhận được phước lành lớn lao ấy đã giải quyết câu hỏi bằng cách nói: “Chính tôi đây.” Rồi anh thuật cho họ nghe về Đức Chúa Giê-su, và bằng cách nào anh đã được chữa lành, và họ hỏi: “Người ấy ở đâu? Anh thưa rằng: Tôi không biết.” DA 471.6
Bấy giờ họ dẫn anh đến trước hội đồng người Pha-ri-si. Một lần nữa người ấy được hỏi làm thế nào anh được sáng mắt. “Người trả lời rằng: Người ấy rịt bùn trên mắt tôi, tôi rửa rồi thấy được. Có mấy kẻ trong những người Pha-ri-si bèn nói rằng: Người nầy không phải từ Đức Chúa Trời đến đâu, vì không giữ ngày Sa-bát.” Người Pha-ri-si hy vọng làm cho Đức Chúa Giê-su trở thành kẻ tội lỗi, và do đó không phải là Đấng Mê-si. Họ không biết rằng chính Đấng đã lập nên ngày Sa-bát và biết tất cả nghĩa vụ của ngày ấy, là Đấng đã chữa lành người mù. Họ tỏ ra sốt sắng cách lạ thường cho sự giữ ngày Sa-bát, vậy mà lại đang mưu tính giết người ngay trong ngày đó. Nhưng nhiều người đã rất cảm động khi nghe về phép lạ này, và được thuyết phục rằng Đấng đã mở mắt kẻ mù không phải là một người tầm thường. Để đáp lại lời cáo buộc rằng Đức Chúa Giê-su là kẻ tội lỗi vì không giữ ngày Sa-bát, họ nói: “Một kẻ có tội làm phép lạ như vậy thể nào được?” DA 472.1
Một lần nữa, các ra-bi kêu gọi người mù: “Còn ngươi, ngươi nói người đã làm cho mắt mình được mở ra thể nào? Người trả lời rằng: Ấy là một đấng tiên tri.” Bấy giờ người Pha-ri-si quả quyết rằng anh đã không sinh ra mù và được sáng mắt. Họ gọi cha mẹ anh đến và hỏi: “Đây có quả thật là con trai các ngươi mà các ngươi nói rằng nó mù từ thuở sanh ra chăng?” DA 472.2
Người ấy đang đứng đó, tuyên bố rằng anh đã mù, và đã được phục hồi thị lực; nhưng người Pha-ri-si thà chối bỏ bằng chứng từ chính giác quan của họ còn hơn thừa nhận rằng họ đã sai lầm. Định kiến mạnh mẽ biết bao, sự công bình của người Pha-ri-si bóp méo biết bao. DA 472.3
Người Pha-ri-si vẫn còn một hy vọng cuối cùng, đó là hăm dọa cha mẹ của người đàn ông ấy. Với vẻ thành thật bề ngoài, họ hỏi: “Vậy thì sao bây giờ nó thấy được?” Cha mẹ của người ấy sợ tự làm liên lụy đến mình; vì đã có lệnh tuyên bố rằng bất cứ ai thừa nhận Đức Chúa Giê-su là Đấng Christ thì sẽ bị “đuổi ra khỏi nhà hội;” nghĩa là bị loại khỏi nhà hội trong ba mươi ngày. Trong thời gian này, không một đứa trẻ nào được cắt bì và không có người chết nào được khóc thương trong nhà của kẻ phạm tội. Án phạt này được xem là một tai họa lớn; và nếu nó không đem đến sự ăn năn, thì một hình phạt nặng nề hơn nhiều sẽ tiếp theo. Công việc lớn lao đã làm cho con họ đã đem lại sự xác tín cho cha mẹ người ấy, nhưng họ vẫn đáp: “Chúng tôi biết rằng đây là con chúng tôi, và nó sanh ra đã mù: nhưng làm sao mà bây giờ nó thấy được, thì chúng tôi không biết; hoặc ai đã mở mắt nó, chúng tôi cũng không biết: nó đã trộng tuổi rồi; hãy hỏi nó: nó sẽ tự nói về mình.” Như vậy họ trút hết mọi trách nhiệm khỏi mình mà đặt lên con trai họ; vì họ không dám xưng nhận Đấng Christ. DA 472.4
Tình thế khó xử mà người Pha-ri-si lâm vào, sự tra hỏi và thành kiến của họ, sự chẳng tin của họ vào những sự thật trong vụ việc này, đang mở mắt cho đám đông, đặc biệt là dân thường. Đức Chúa Giê-su thường làm phép lạ của Ngài giữa đường phố công khai, và công việc của Ngài luôn có tính chất xoa dịu sự đau khổ. Câu hỏi trong tâm trí nhiều người là: Liệu Đức Chúa Trời có làm những việc quyền năng như vậy qua một kẻ mạo danh, như người Pha-ri-si khăng khăng cho rằng Đức Chúa Giê-su là kẻ mạo danh chăng? Cuộc tranh luận đang trở nên rất sôi nổi từ cả hai phía. DA 473.1
Người Pha-ri-si thấy rằng họ đang làm cho công việc Đức Chúa Giê-su đã làm được công khai hóa. Họ không thể chối bỏ phép lạ ấy. Người mù được tràn đầy niềm vui và lòng biết ơn; anh nhìn ngắm những điều kỳ diệu của thiên nhiên, và lòng tràn ngập vui sướng trước vẻ đẹp của đất và trời. Anh kể lại kinh nghiệm của mình một cách thoải mái, và một lần nữa họ cố bắt anh im lặng, mà rằng: “Hãy ngợi khen Đức Chúa Trời: chúng ta biết người này là kẻ có tội.” Nghĩa là, đừng nói lại rằng người này đã cho ngươi sáng mắt; chính Đức Chúa Trời đã làm điều này. DA 473.2
Người mù đáp: “Tôi chẳng biết người có phải là kẻ có tội chăng: chỉ biết một điều, là tôi đã mù mà bây giờ lại sáng.” DA 473.3
Rồi họ lại hỏi: “Người đã làm điều chi cho ngươi? mở mắt ngươi thế nào?” Với nhiều lời lẽ, họ cố làm anh bối rối, để anh có thể nghĩ rằng mình đã bị lừa dối. Sa-tan cùng các thiên sứ ác của hắn đứng về phía người Pha-ri-si, hợp sức và mưu kế của chúng với lý luận của con người để chống lại ảnh hưởng của Đấng Christ. Chúng làm cùn nhụt những sự xác tín đang ngày càng sâu sắc trong tâm trí nhiều người. Các thiên sứ của Đức Chúa Trời cũng có mặt tại đó để thêm sức cho người đàn ông được phục hồi thị giác. DA 473.4
Người Pha-ri-si không nhận ra rằng họ đang đối phó với ai khác ngoài một người ít học sanh ra đã mù; họ chẳng biết Đấng mà họ đang tranh luận. Ánh sáng thiên thượng chiếu vào những ngăn phòng trong linh hồn người mù. Khi những kẻ giả hình này cố làm anh không tin, thì Đức Chúa Trời giúp anh tỏ ra, qua sự mạnh mẽ và sắc bén trong những lời đáp của mình, rằng anh không thể bị mắc bẫy. Anh đáp: “Tôi đã nói với các ông rồi, mà các ông chẳng nghe: tại sao còn muốn nghe lại làm chi? hay là các ông cũng muốn làm môn đồ người chăng? Họ liền mắng nhiếc anh mà rằng: Ấy chính ngươi là môn đồ người; còn chúng ta là môn đồ của Môi-se. Chúng ta biết Đức Chúa Trời đã phán cùng Môi-se: nhưng về người này, chúng ta chẳng biết bởi đâu mà đến.” DA 474.1
Đức Chúa Giê-su biết thử thách mà người đàn ông đang trải qua, và Ngài ban cho anh ân điển cùng lời nói, để anh trở thành một chứng nhân cho Đấng Christ. Anh đáp lại người Pha-ri-si bằng những lời quở trách sắc bén những kẻ tra hỏi anh. Họ tự nhận là những người giải nghĩa Kinh Thánh, là những người lãnh đạo tôn giáo của dân tộc; vậy mà ở đây có một Đấng đang làm các phép lạ, mà họ thú nhận là mình không biết nguồn quyền năng của Ngài đến từ đâu, cũng không biết về tánh hạnh và những lời tuyên bố của Ngài. “Ấy mới thật là một điều lạ,” người ấy nói, “các ông chẳng biết người đến bởi đâu, mà người lại mở mắt tôi. Chúng ta vẫn biết rằng Đức Chúa Trời chẳng nhậm lời kẻ có tội: nhưng nếu ai kính sợ Đức Chúa Trời, và làm theo ý muốn Ngài, thì Ngài nhậm lời. Từ khi sáng thế đến nay, người ta chưa từng nghe nói có ai mở mắt kẻ mù sanh ra. Nếu người này chẳng phải đến bởi Đức Chúa Trời, thì không làm gì được hết.” DA 474.2
Người ấy đã đối đáp với những kẻ tra hỏi mình ngay trên chính lập trường của họ. Lý luận của anh không thể bác bỏ được. Người Pha-ri-si kinh ngạc, và họ nín lặng,—như bị mê hoặc trước những lời sắc bén, quả quyết của anh. Trong giây lát, có sự im lặng. Rồi các thầy tế lễ và các thầy thông giáo nhăn mặt thu vén áo choàng của mình lại, như thể họ sợ bị ô uế vì đụng chạm với anh; họ phủi bụi nơi chân mình, và trút những lời lên án nghịch lại anh,—“Cả mình ngươi sanh ra trong tội lỗi, lại còn dạy dỗ chúng ta sao?” Và họ dứt phép thông công anh. DA 474.3
Đức Chúa Giê-su nghe việc họ đã làm; và chẳng bao lâu sau gặp anh, Ngài phán: “Ngươi có tin Con Đức Chúa Trời chăng?” DA 474.4
Lần đầu tiên người mù được nhìn ngắm gương mặt của Đấng đã chữa lành cho mình. Trước hội đồng, anh đã thấy cha mẹ mình bối rối và lo lắng; anh đã nhìn những gương mặt nhăn nhó của các thầy thông giáo; nay mắt anh được dừng lại trên gương mặt yêu thương, an bình của Đức Chúa Giê-su. Trước đó, dù phải trả giá đắt cho mình, anh đã thừa nhận Ngài là một sứ giả của quyền năng thiên thượng; nay một sự khải thị cao cả hơn được ban cho anh. DA 474.5
Trước câu hỏi của Đấng Cứu Thế, “Ngươi có tin Con Đức Chúa Trời chăng?” người mù đáp lại bằng cách hỏi: “Thưa Chúa, người là ai để tôi tin đến?” Đức Chúa Giê-su phán: “Ngươi đã thấy người và ấy là người đang nói cùng ngươi.” Người ấy sấp mình nơi chân Đấng Cứu Thế mà thờ lạy. Không những thị giác tự nhiên của anh được phục hồi, mà con mắt thuộc linh của anh cũng được mở ra. Đấng Christ đã được tỏ ra cho linh hồn anh, và anh tiếp nhận Ngài là Đấng được Đức Chúa Trời sai đến. DA 475.1
Một nhóm người Pha-ri-si đã tụ tập gần đó, và việc nhìn thấy họ khiến tâm trí Đức Chúa Giê-su nghĩ đến sự tương phản luôn hiển hiện trong tác động của lời nói và việc làm của Ngài. Ngài phán: “Ta đã đến thế gian đặng làm sự phán xét này: Hễ ai chẳng thấy, thì thấy; còn ai thấy, lại hóa mù.” Đấng Christ đã đến để mở mắt kẻ mù, để ban ánh sáng cho những kẻ ngồi trong tối tăm. Ngài đã tuyên bố mình là sự sáng của thế gian, và phép lạ vừa được thực hiện là bằng chứng cho sứ mạng của Ngài. Những người được chứng kiến Đấng Cứu Thế khi Ngài giáng lâm được ban ơn nhìn thấy sự hiện diện thiêng liêng cách đầy đủ hơn bất cứ điều gì thế gian từng được hưởng trước đây. Sự hiểu biết về Đức Chúa Trời được tỏ ra cách trọn vẹn hơn. Nhưng chính trong sự khải thị này, sự phán xét đang giáng trên loài người. Tánh hạnh của họ bị thử nghiệm, số phận của họ được định đoạt. DA 475.2
Sự bày tỏ quyền năng thiên thượng đã ban cho người mù cả thị giác tự nhiên lẫn thị giác thuộc linh, lại để người Pha-ri-si chìm trong sự tối tăm sâu thẳm hơn. Một vài người trong số những kẻ nghe Ngài, cảm thấy rằng lời của Đấng Christ áp dụng cho mình, liền hỏi: “Còn chúng ta cũng mù chăng?” Đức Chúa Giê-su đáp: “Nếu các ngươi là kẻ mù, thì không có tội lỗi chi hết.” Nếu Đức Chúa Trời đã khiến cho các ngươi không thể nào thấy được lẽ thật, thì sự ngu dốt của các ngươi sẽ chẳng mang tội gì. “Song vì các ngươi nói rằng: Chúng ta thấy.” Các ngươi tin rằng mình có thể thấy, và chối bỏ phương tiện duy nhứt nhờ đó các ngươi có thể nhận được thị giác. Đối với hết thảy những ai nhận biết nhu cầu của mình, Đấng Christ đã đến với sự cứu giúp vô hạn. Nhưng người Pha-ri-si không chịu thừa nhận có nhu cầu nào; họ khước từ đến cùng Đấng Christ, và do đó họ bị bỏ lại trong sự mù lòa,—một sự mù lòa mà chính họ phải gánh tội. Đức Chúa Giê-su phán: “Cho nên tội lỗi các ngươi vẫn còn lại.” DA 475.3